DO BAN BIÊN TẬP THƯ VIỆN HOA SEN PHỤ TRÁCH
NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 36
PHÓNG
SINH
(Nghe
audio bấm vào hàng chữ này)
Thưa
quý thính giả,
Trong
thời gian qua chúng tôi nhận được thư của một thính giả,
nguyên văn bức thư như sau:
Thưa
ban biên tập,
Vào
các ngày lễ như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan và lễ Rằm Tháng
Giêng, tôi thấy các chùa thường có lễ phóng sinh tiếp ngay
sau phần nghi thức lễ chính. Vậy xin vui lòng cho tôi
biết ý nghĩa của việc phóng sinh và có phải phóng sanh sẽ
làm giảm bớt nghiệp bệnh của mình hay được phước
thật hay không? Có người nói rằng mua chim phóng sanh
không có phước mà lại vô tình sát hại chim và bị những
người buôn bán chim cá lợi dụng bắt nhiều thêm để bán
thủ lợi, xin quý vị cho biết ý kiến.
Thưa
quý thính giả,
Đạo
Phật xuất hiện trên thế gian là từ thành quả tu hành của
thái tử Tất Đạt Đa. Sau một quá trình thanh tịnh hóa tâm,
thái tử bừng tỉnh, giác ngộ thành Phật. Phật là phiên
âm của chữ Phạn “Buddha”, có nghĩa là “người tỉnh
thức”. Từ ngữ Buddha dịch sang tiếng Trung Hoa là “giác
giả ”, có nghĩa là “người giác ngộ”. Người Trung Hoa
phiên âm chữ Buddha thành ra Phật Đà, hoặc Phật.
Do
sự bừng tỉnh, giác ngộ này, đức Phật thấu suốt cội
nguồn của thế giới hiện tượng tương đối, trực nhận
được rằng tất cả các loài hữu tình chúng sinh cũng đều
có đầy đủ trí huệ, giác tánh — còn gọi là Phật tánh
— y như Ngài, cũng có khả năng thành Phật như Ngài. Cho nên
tuyên ngôn đầu tiên của Ngài sau khi thành Phật là:
“Tất
cả chúng sinh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai”
và:
“Ta
là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Từ
ngữ chúng sinh ở đây không để chỉ riêng loài người, mà
là bao gồm tất cả mọi loài sinh vật có cảm giác.
Đức
Phật do tu chứng mà giác ngộ được những điều trên. Khoa
học ngày nay dù không do tu chứng, nhưng nhờ những nghiên
cứu, thí nghiệm, cũng đã xác nhận phát biểu của Ngài là
có cơ sở thực tế, không phải là mê tín.
Bản
tin về Đại Hội Khoa Học ở Dublin, Ái Nhĩ Lan hồi tháng
Chín năm 2005 thông báo rằng, theo kết quả thí nghiệm của
bác sĩ Filippo Aureli, đồng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu
về Nhân Chủng và Cổ Sinh Học của trường đại học Liverpool
John Moores, thì có lẽ mối liên hệ giữa loài người và loài
vật gần nhau hơn là những điều trước kia người ta đã
tưởng. Trình bày kết quả công trình nghiên cứu từ
các thú vật có lông, bác sĩ Aureli cho biết rằng ông thấy
chúng biểu lộ cảm xúc y như loài người trong đời sống
hằng ngày. Ông giải thích rằng trong khi nghiên cứu,
ông đã thấy chúng có những hành động như kỳ cọ thân
thể để được sạch sẽ, lo lắng khi cảm thấy có điều
bất thường, nguy hiểm có thể xảy ra. Trong tình trạng bồn
chồn, khắc khoải, chúng cũng cắn móng chân hoặc bứt lông
như loài người cắn móng tay, bứt tóc khi thần kinh căng thẳng. Ông cho rằng khỉ và vượn là những loài phân biệt đối
xử dựa theo tình cảm bằng hữu rất rõ ràng. Tùy theo
mối liên hệ thân sơ mà chúng quyết định cách ứng xử
với đối phương khác nhau theo từng trường hợp.
Nhiều
nhà khoa học trải qua những năm tháng theo dõi đời sống
của loài vật nhận thấy rằng không phải chúng là những
sinh vật vô cảm, chỉ biết ăn rồi sinh đẻ, như những bộ
máy chỉ cần cho nhiên liệu vào là sản xuất . Trái
lại, đời sống của chúng đầy ắp những tình cảm, cũng
sôi động yêu đương, đau khổ vì ghen tuông, vì sự chết
chóc của con cái, vân vân. Một nhà nghiên cứu thú hoang
kể lại rằng trong dịp theo dõi một đàn voi, ông chợt phát
hiện một con voi lớn bỗng nhiên rời khỏi đàn, đứng lại,
rống lên ai oán. Ông ta cố gắng tìm hiểu, thì phát
hiện ra rằng con voi đó đang đứng bên cạnh một con voi nhỏ
nằm dưới đất, có thể là con nó, dường như đã chết
rồi. Theo dõi suốt hai ngày tiếp theo, ông thấy voi mẹ
vẫn quanh quẩn bên voi con, và cả đàn voi thì cũng không đi
xa, chỉ loanh quanh gần đó, như chờ đợi. Cho đến sáng
ngày thứ ba, có lẽ voi mẹ đã nhận ra được thực tế chăng,
hay là nhờ đồng loại thuyết phục, nên nó dùng vòi hất
đất cát như muốn lấp xác con nó, rồi vừa rống lên thê
thảm, vừa bước theo đàn ra đi.
Nhiều
người trong chúng ta cũng đã từng chứng kiến những biểu
lộ tình cảm của loài vật. Chúng ta cũng đã được
nghe kể về những con chó trung thành với chủ, bỏ ăn khi
chủ đi xa, hoặc như tại địa phương kia, có con chó chiều
chiều ra sân ga xe lửa đón chủ đi làm trở về. Một
hôm, chủ bị bạo bệnh bất thình lình ở sở, được chở
vào nhà thương rồi qua đời. Vì không có thân nhân lãnh
xác nên bạn bè chôn cất ngay tại nghĩa địa gần nhà thương. Con chó vẫn như thường lệ, ngày ngày ra ga ngồi đón chủ
hàng mấy tiếng đồng hồ, cho tới đêm tối lại lủi thủi
một mình về nhà. Mọi người thấy lạ, đem đồ ăn
cho mà nó không ăn. Mãi tới hai tuần lễ sau, nó gầy
rạc rồi nằm lử ra ở sân ga mà chết. Dân chúng gần
đó bèn xây một bức tượng của nó ngay tại sân ga để
vinh danh tấm lòng trung thành của nó đối với chủ.
Có
rất nhiều câu chuyện về lòng trung thành của loài vật nuôi
trong nhà, được chủ âu yếm, săn sóc, đã đối đáp lại
bằng những tấm chân tình. Ngay cả những con vật không
được săn sóc, âu yếm, sự biểu lộ cảm xúc, lo âu của
chúng nó cũng rất rõ ràng, thí dụ những người ở gần
lò sát sinh, như lò heo Chánh Hưng, thường kể lại những
câu chuyện thương tâm khi những con bò bị lôi vào lò mổ,
có thể là do linh tính báo trước, hoặc do mùi đặc biệt
nơi lò sát sinh, mà chúng thường trì lại, đôi khi khuỵu
hai chân trước xuống như van lạy, nước mắt ứa ra từ cặp
mắt bi thương, thống thiết. Có những bà nội trợ kể
chuyện khi làm món ếch xào lăn phải lột da con ếch, thấy
nó chắp hai chân trước như là người ta chắp tay lạy xin
tha mạng.
Các
nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tuy loài vật không thể
biểu lộ cảm xúc bằng ngôn từ của loài người, thay vào
đó, chúng phát biểu bằng hành động.
Đức
Phật là bậc Toàn Trí và Toàn Bi. Sau khi thành đạo,
Ngài dùng tất cả quãng đời còn lại gần nửa thế kỷ
để đi các nơi từ gần đến xa mà giáo hóa chúng sinh. Tựu trung, những lời dạy dỗ của Ngài đều nhằm mục tiêu
phát triển lòng từ bi và trí tuệ nơi con người. Những
lời dạy đó đã được chư đệ tử của Ngài thu thập và
viết lại trong kinh tạng, nhờ vậy, chúng ta ngày nay tuy ra
đời sau khi Phật diệt độ đã trên hai ngàn năm trăm năm,
mà vẫn còn được thấm nhuần những lời dạy dỗ vàng ngọc
của Ngài.
Về
mặt Trí Tuệ, Ngài dạy các phương pháp thiền quán,
giữ gìn giới hạnh, tu tập để sống tỉnh thức, hóa giải
Tham Sân Si, thanh tịnh hóa tâm.
Về
mặt Từ Bi, đức Phật dạy mở rộng lòng trắc ẩn,
tăng trưởng tình thương đối với chúng sinh, không chỉ riêng
đối với loài người, mà còn phải dàn trải tâm từ tới
tất cả các chủng loại sinh vật, vốn cũng có giác quan
cảm xúc, cũng biết đau đớn, thậm chí cũng biết ghen tuông,
buồn vui, biết thương yêu cha mẹ con cái, đau khổ khi phải
biệt ly nhau, y như con người.
Với
hành trang tinh thần phong phú và cao quý đó trong tâm, chư Tăng
Ni và các Phật tử thuần thành của nhà Phật đều siêng
năng thực hành lời dạy này. Đó là nguồn gốc của
tục lệ phóng sinh trong những dịp lễ lớn của nhà Phật,
hành động đã trở thành một biểu tượng nói lên lòng tri
ân sâu xa, như là một lễ vật tinh thần thiêng liêng dâng
lên đức Phật, để tỏ lòng thành kính vâng theo những lời
dạy của Ngài.
Vậy
phóng sanh là gì?
Phóng
sanh có nghĩa là giải thoát những sinh vật đang bị tù
đày, giam hãm trong lồng chậu, nhà giam, đang bị tra tấn,
đánh đập hoặc sắp bị giết, tức là hành động mang lại
sự sống cho chúng sinh đang bị đe dọa đến tính mạng.
Bắt
nguồn từ hai bộ kinh Phật giáo Bắc Tông là kinh Phạm Võng
Bồ Tát Giới và kinh Kim Quang Minh, tục lệ phóng sinh được
phát triển mạnh ở Trung Hoa, truyền sang Tây Tạng, Nhật Bản,
Triều Tiên và Việt Nam.
Trong
kinh Phạm Võng, đức Phật dạy: “Người con Phật vì lòng
từ bi mà làm việc phóng sanh và khuyên bảo người khác làm.
Nếu thấy người đời sát sanh thì nên tìm cách cứu cho chúng
được thoát khỏi nạn khổ.” Kinh Kim Quang Minh cũng kể
lại những thí dụ về lòng từ bi cứu giúp chúng sinh khỏi
chết.
Vào
thời đại nhà Tùy bên Trung Hoa, đại sư Trí Khải ở núi
Thiên Thai truyền giảng kinh Kim Quang Minh và kinh Pháp Hoa, phát
động phong trào đào ao phóng sinh, tiết kiệm tiền để mua
lương thực nuôi cá. Sự việc này mở đầu cho việc
phóng sinh và đào ao phóng sanh ở Trung Hoa từ đó. Đến
cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những
cao tăng rất tích cực truyền bá việc phóng sinh. Ngài
đã để lại các bài thuyết giảng về ăn chay, về giới
sát, về phóng sinh, cũng như về nghi thức phóng sinh trong tập
“Trúc Song Tùy Bút”, khuyên mọi người không nên ăn thịt
chúng sinh để khuyến khích tôn trọng giới sát và tích cực
phóng sinh.
Tục
phóng sinh được phát khởi từ tinh thần từ bi và bình đẳng
giữa chúng sinh. Phóng sinh cũng như ăn chay, chính là một
phần của việc giữ giới không sát sinh, một trong năm giới
cấm mà người Phật tử khi quy y Tam Bảo thường phát lên
lời nguyện giữ gìn, không vi phạm.
Gần
năm chục năm giáo hóa chúng sinh, đức Phật để lại rất
nhiều lời dạy trong kinh tạng, nhưng tóm lại đều cô đọng
trong mấy câu sau đây:
—
Không làm điều ác
—
Siêng làm việc thiện
—
Thanh tịnh hóa tâm
Không
sát hại sinh vật, dù gián tiếp như ăn thịt động vật,
hoặc trực tiếp như cầm dao giết con vật, là làm việc
thiện một cách thụ động, nằm trong lời dạy thứ nhất
“Không làm điều ác”
Phóng
sinh cứu mạng sống, là làm việc thiện tích cực, nằm
trong lời dạy thứ hai “Siêng làm việc thiện”
Đối
với những người tu tập trên con đường Bồ Tát đạo thì
ngoài những giới luật gọi là “chỉ trì”, là những giới
“cấm không được làm”, còn phải giữ những giới
gọi là “tác trì”, nghĩa là những giới “phải làm”,
thí dụ nếu thấy có sự lâm nguy, đau khổ tới cho chúng
sinh mà người tu theo Bồ Tát đạo lại khoanh tay đứng nhìn,
không giúp kẻ khốn cùng, thì tức là đã phạm vào giới
“tác trì”, tức là giới “phải làm”. Như thế theo
tinh thần này, người Phật tử không những không sát hại
sinh vật mà còn phải cứu sinh vật đang bị đe dọa đến
tính mạng, đang bị giam giữ tù đầy trong lồng chậu, cứu
cho chúng khỏi chết, nghĩa là giải thoát chúng, trả tự do
cho chúng về với bầu trời sông nước, về với gia đình
tổ ấm của chúng. Chính vì vậy, theo truyền thống Phật
giáo Bắc Tông, Giới Sát bao gồm cả việc phóng sinh.
Như
vậy, phóng sinh là một việc làm rất tốt, rất đáng đươc
ca ngợi. Tuy nhiên, nhà Phật có câu “tùy duyên, bất
biến”. Bản chất của sự tu hành để tăng trưởng
lòng từ bi là bất biến. Nhưng trong hành động thì
cần tùy duyên, nghĩa là tùy trường hợp, tùy địa phương
mà hành động, để vẫn có thể phù hợp với chân lý, đồng
thời cũng hợp thời, hợp cảnh, kinh Phật gọi là khế
lý và khế cơ.
Vào
thời xa xưa, trong những dịp lễ có phóng sanh, các cụ mua
cá cho bơi trong chậu nước hoặc mua cả dỏ cua đồng, loại
cua nhỏ bằng ngón chân cái, đem lên chùa cúng rồi đem ra
sông thả. Sau khi được thả, mấy con vật thường lặn ngay
xuống nước.
Ngày
nay thì khác. Chúng ta ở trong thành phố nên ít khi có được
cá hoặc cua sống, cho nên chúng ta mua chim để thả. Những
con chim bị bắt để bán cho người phóng sinh này thường
phải chờ đợi một thời gian trước khi tới giờ phút được
tháo cũi xổ lồng. Trong thời gian chờ đợi đó, chúng không
được săn sóc chu đáo vì dường như không ai có bổn phận
phải chăm lo cho mấy con chim trong lồng nằm chờ nơi góc sân
kia được ăn uống no đủ.
Chúng
tôi xin trình bày một trường hợp cụ thể về phóng sinh
ngay tại một ngôi chùa ở quận Cam. Vì phải trải qua nhiều
thời gian chờ đợi buổi lễ cầu an, cầu siêu nên chim đã
chịu đói khát, lại phải chịu thân phận tù đày thêm cả
buổi nữa ngay nơi chánh điện chùa. Cuối cùng, sau khi chấm
dứt phần chót của lễ quy y cho chúng do vị ThượngToạ chủ
lễ thì chim cũng được sổ lồng đấy, nhưng có một số
đã quá yếu sức, lừ đừ, bay lên không nổi, chỉ là đà
rồi rớt xuống, quờ quạng, tắt hơi.
Vậy
thì chúng ta cần phải xét lại việc phóng sinh chim và thả
cá. Chim bị bắt nhốt vào lồng, cá bị bắt thả trong
chậu bán ngoài chợ là do người giăng lưới vây bắt vì
nhu cầu tiêu thụ, để ăn hoặc để phóng sinh. Điều này
có nghĩa là nếu không có nhu cầu mua chim cá thì chim cá sẽ
không bị giăng lưới và nhốt vào lồng chậu. Qua sự kiện
này chúng ta nhận thấy, vì muốn phóng sinh nhằm tạo phước
mà người phóng sinh lại vô tình thúc đẩy những người
khác giăng lưới bắt chim cá, đến nỗi tự họ lại mắc
vào nghiệp sát sinh.
Ngoài
ra, chim cá bán ngoài thị trường để cung ứng cho nhu cầu
phóng sinh tại các đô thị thường là do người ta bắt ở
các ao cá, vườn chim. Những sinh vật này có thể sẽ không
thích ứng với hoàn cảnh mới. Hơn nữa, các giống chim, cá
đều có thói quen của chúng. Có những loài cá phải sống
trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu,
độ chảy. Cá sông không thể sống dưới biển và cá biển
không thể sống dưới sông. Chỉ có những con chim bồ câu
bị bắt để phóng sinh thì may ra ít khổ nhất, chúng chỉ
bị tù túng mấy ngày, có thể là phải chịu đói khát, nhưng
nếu sống sót cho đến lúc được phóng sinh mà còn đủ sức
để bay thì cũng có nhiều cơ may có thể “trở về mái nhà
xưa”, vì loài chim bồ câu vốn nhớ đường về, chúng sẽ
có thể bay về với gia đình, sẽ được chủ nó cho ăn uống
bồi bổ lại sau những ngày bị giam cầm tù tội và đói
khát.
Trong
tình hình như vậy, có nên phóng sinh hay không ? Chúng
tôi nghĩ rằng điều này nên để quý vị tự định đoạt.
Tuy nhiên, việc bắt, mua bán rồi thả, rồi bắt lại ..v..v..là
không đúng với tinh thần phóng sinh. Phóng sinh chỉ
có ý nghĩa khi chúng ta giải thoát được con vật trong hoàn
cảnh ngẫu nhiên hay thả chúng sống trong một môi trường
thích hợp, tạo cho chúng có cơ hội sống dài lâu hơn. Không nhất thiết phải mang chúng đến chùa mới phóng sinh
được. Chỗ nào thích hợp thì thả chúng.
Thật
ra việc phóng sinh ai cũng có thể làm, không nhất thiết phải
có tiền (mua chim cá) mới thực hành được. Chỉ cần
có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh, xem mọi loài chúng
sinh đều bình đẳng, đều có quyền sống. Khi
đi bộ trên đường thấy con giun đang giẫy giụa trước sức
nóng mặt trời, chúng ta mang chúng vào nơi có đất ẩm, hay
gặp con sên đang bò trên vỉa hè, chúng ta nhặt chúng đem
vào bãi cỏ xanh mát. Hoặc là khi khởi tâm muốn phóng sinh,
chúng ta rủ bạn bè, thân nhân, đi ăn một bữa cơm với
rau đậu, như thế là chúng ta cũng đã có thể cứu dăm
ba mạng tôm, cua, sò, cá, chim câu, vân vân, thế là cũng đã
thực hiện hạnh phóng sinh rồi.
Theo
quy luật nhân quả, mình có lòng muốn cho chúng sinh khỏi đau
đớn, giải thoát chúng sinh, thì mình cũng sẽ được khỏi
đau đớn, được giải thoát. Nhưng đó chỉ là kết quả
tự nhiên của những hành động từ thiện, không phải mục
tiêu của sự phóng sinh trong nhà Phật. Nhà Phật phóng sinh
là vì lòng từ bi. Nói như thế không có nghĩa là hành động
phóng sinh chỉ đem lại ít lợi ích. Thật ra việc phóng
sinh đúng cách và với Tâm Vô Sở Cầu thì sẽ có kết quả
vô cùng lớn lao, là vơi đi nghiệp sát đã vướng phải trong
vô lượng kiếp.
Ban
Biên Tập
(Bài
này đã được phát thanh ngày 29 tháng 10 tại Nam California
và 30 tháng 10, 2005 tại Houston Texas)
Discussion about this post