
Kobayashi
Yatarõ được tôn sùng khắp hoàn cầu với cái tên Issa,
có nghĩa là Một Tách Trà. Issa sanh năm 1763 làng Kashiwabara
trong nông trại quận Nagano trung tâm Nhật Bản bây giờ. Núi
non bao bọc vùng nông thôn Shinano vĩnh viễn gắng liền với
tên của ông, cũng là vùng núi non phương Bắc trong Hồi Ký
“Con Đường Hẹp Đi Sâu vào Miền Bắc “ của
Bashõ Matsũ.
Nhưng
cuộc đời bất hạnh của Issa cho ta ấn tượng một cuộc
đời không may với sức chịu đựng âm thầm nhẫn nại nổi
bật hơn cảnh sắc nên thơ hữu tình nơi ông chào đời. Cuộc
đời mồ côi của ông luôn luôn bao phủ tang tóc. Từ khi còn
quá nhỏ để nhận thức được những ngược đãi bất công
đổ xuống đầu do tâm cay độc của người đời còn đáng
sợ hơn những bão táp tuyết giá của thiên nhiên. Từ hai
tuổi mất mẹ khiến đời ông là một hành trình đi đi lại
lại, những chuyến di chuyểnquanh quẩn không ngừng từ
nhà bà nội trở về nhà với cha nhưng nơi đó cũng không
phải là nhà của mình mà chỉ là nơi dừng để nhận tất
cả sự hành hạ thù ghét vô cớ mà một đứa trẻ có thể
hiểu được tại sao. Ở nhà bị hành hạ quá sức phải lên
chùa tá túc ngủ nhờ, nhưng lại phải quay về nhà làm ruộng
khi
người cha cần giúp đỡ. Chùa là nơi nương tựa khi
bị ruồng rẫy, sau này khi ra khỏi gia đình thì nay ở nhờ
nhàbạn vài tháng bạn kia vaì tuần, đôi khi ở nhờ cả học
trò, bất cứ đâu quá khứ bà mẹ ghẻ đáng ghê sợ như
trong truyện cổ tích luôn luôn ám ảnh suốt thời gian lang
thang không nơi cư trú. Vì thế Issa tự cho mình là Issa ăn
mày.
Nhưng
thơ của ông bộc lộ một tâm từ bi yêu thương thấu
hiểu cái kiếp nhỏ nhoi yếu đuối của những con côn trùng
không đủ sức tự bảo vệ như đời ông khi còn thơ ấu.
Hãy
bay đi, bươm bướm ơi !
bụi
nhân gian ta nghe phủ
chĩu
trên thân xác ta rồi !
Fly,
butterfly !
I
feel the dust of this world
weighting
my body
Tại
Nhật Bản tất cả trẻ con trong trường đều được học
thơ của Issa về thú vật và côn trùng, hầu hết ai cũng có
thể ngâm một vài bài thơ của ông. Làm thơ không những bộc
lộ những ẩn ức đau khổ sâu xa mà còn là một phần cảm
nhận của tâm linh thấu đáo lẽ nhân quả vô thường. Ông
viết với tất cả tâm hiến dâng, sáng tác hơn hai mươi ngàn
bài thơ hài cú, hàng trăm đoản ca và nhiều dòng hài văn
là văn suôi.
Dưới
bóng những tàng cây
nơi
này ta với bướm
nhân
quả cũng là đây.
Under shady trees,
sharing
space with a butterfly-
this,
too, is karma
Issa
không bao giờ nói nhiều về nghiệp quả, mặc dầu qua trong
thơ ông chỉ nhẹ nhàng nhắc tới như một ngẫu nhiên như
tự biết mình đã gieo những hạt giống xấu từ nhiều kiếp
trước.
Mới
đầy hai tuổi thì mất me, cha phải gửi đến bà nội nuôi
dưỡng. Khi bắt đầu đi học, bà nội đưa đến một nhà
thơ hài cú địa phương là Shimpo. Đến khi Issa bẩy tuổi
người cha tái giá, mười tuổi phải quay về ở với cha vì
dì ghẻ sanh một trai cần người giúp đỡ. Không ai biết
sự thật ra sao, nhưng những năm sau đó quần áo ông “luôn
luôn sũng nước tiểu của em trai”, “bị đánh đập
hàng trăm lần một ngày” (đó là lời ông ghi lại của).
Bất cứ đứa bé khóc vì lý do gì Issa đều bị tội và bị
đánh đập, rồi sự học hành gián đoạn vì phải ra đồng
làm việc. Có khi ông phải chạy lên chùa ẩn náu để
tránh những trậïn đòn phũ phàng dáng xuống thân hình ốm
yếu thiếu ăn thiếu ngủ. Ở chùa Mỹsen, nhiều khi ông khóc
suốt không hiểu được tại sao lại phải chịu những trận
đòn như vậy, nhiều lần ông nhắm mắt nghe đau đớn ê ẩm
cả thân thể nghĩ đến cái chết có lẽ dễ dàng hơn là
ngày mai đối diện với những gì không biết trước. Ẩn
lánh nơi chùa trong hòan cảnh như vậy chắc chắn ảnh hưởng
sâu đậm đời đứa con trai đang lớn .
Khi
Issa được mười ba tuổi bà nội ông mất một tình thương
che chở cuối cùng cũng không tồn tại lâu hơn trong đời.
Ông mất nơi nương tựa tinh thần. Những cay nghiệt càng dáng
xuống nặng nề hơn, để làm dịu bớt căm thù trong gia đình,
người cha gửi thi sĩ trẻ Issa đến học tập với một nhà
văn học ở Edo (Tokyo). Ông sao chép các bản văn để trả
chi phí ăn và ở, nhưng Issa không thể nào quen được với
lối sống viết thuê và bó mình vào một chỗ đứng an phận.
Ông biến vào thành phố náo nhiệt, khoảng thời gian đó ông
không ghi lại gì cả. Cũng có thể ông làm thơ ký cho một
chùa Phật giáo dựa theo bài thơ như sau:
Thu
bao nhiêu là tiền
các
vị tăng thông minh
dùng
những cành mẫu đơn
So
much money made
by
clever temple priests
using
peonies
Tuy
thế Issa đã sống những năm ở Edo không nhà và đói
rét .
Đến
năm 1880, trong xã hội của nhóm thi sĩ hài cú học trò của
Chikua bắt đầu biết đến tên Issa. Chikua là người đã theo
“truyền thống Bashõ”tức am tường sự chân chất,
lối viết thẳng sâu vào chất lượng thiền. Hàng trăm năm
trước, Bashõ là một thượng thủ nâng cao hài cú từ một
thể loại của những người trí thức mơ mộng trở nên một
nghệ thuật cao tột trong thiền. Bashõ tán thành đường lối
thi ca (kado) thay thế cho giá trị đang lên của giới phú
thương và cũng theo con Đường Tao Nhã (fuga no michi), Bashõ
cho đó là “ một sợi chỉ độc nhất may đời ông với
nghệ thuật”. Bashõ không bị bó buộc bởi “luật tôn giáo
hay tập quán dân gian” nhưng qua hài cú và hài văn ông
đã xóa tan những năm tháng phiền muộn để “ theo bước
chân của những bậc thầy của ” thi ca thiền và thi ca cổ
điển Trung Hoa”. Bashõ luôn luôn mang theo bên mình những bản
văn của Trang Tử từ đó nguồn tâm linh thiền phát khởi
trong thi ca theo thể mono no aware, một cảm nhận làm tăng vẻ
đẹp trực nhận trong chốc lát là sabi một thứ tâm
linh đơn độc, một trạng thái trực nhận nỗi cô đơn trong
thiền.Chikua cũng theo cảm nhận sống động hài hước của
Trang Tử cũng phản chiếu trong nhiều thi văn của Bashõ.
Giá
trị của mono no aware và sabi cũng hiện rõ trong khắp
các bài thi ca của Issa. Những bài hài cú đầu của ông mang
âm hưởng sâu xa Bashõ, mặc dù vậy đôi khi quay về than thân
trách phận. Issa cũng như Bashõ đi học trường thi ca với
bậc đại thi sĩ theo thiền sư Saigỹ, người đem đạo
vị chân lý thiền vào “thi ca tự nhiên” Nhật Bản. Lời
độc nhất của Issa nổi bật chỉ sau những năm thực tập
hằng ngày và hấp thụ sâu xa giáo lý Phật giáo cùng thi ca
cổ điển.
Đầu
năm 1792, ở tuổi hai mươi chín, tự hứa noi theo con Đường
Thi Ca. Ông bỏ cái tên Yatarõ và “bắt đầu một năm mới
một tên mới” là Issa và sống đời ẩn dật mười năm.
Cũng thời gian này thi sĩ đã thực hiện hành trình thám hiểm
Nhật Bản từ mũi phía Nam đến các đảo phía Đông và Tây
biển Nhật Bản. Thi sĩ đi theo mô hình “Con Đường Hẹp
đi sâu vào miền Bắc” của Bashõ, Issa du hành không để
giải trí hay để tìm điểm du lịch cho thế giới của ông,
mà để đi tìm chính mình. “Issa ăn mày” sanh ra biết
chắc chắn là thi ca không thể là con đường giải thoát.
Ông tin rằng một phần của con đường đó là “chỉ quán”,
trạng thái thiền định mà tri giác hoàn toàn hòa nhập giữa
thể và tâm, cái ta và đối tượng, không có gì là vĩnh cửu
vì vĩnh cửu là vô thường; chỉ có giây phút hiện hữu là
thực chất.
Trong
thi ca cổ điển Nhật Bản hoa anh đào nở có ẩn ý tượng
trưng nhiều hơn cái tướng đẹp của bông hoa nở vì
đặc tính ngắn ngủi khi hoa mãn khai là dáng dấp tối thượng
của thể mono no aware, trạng thái nở chỉ nhất thời nên
vẻ đẹp trong trắng nhẹ nhàng càng có tính cách cao
quí, cánh hoa mở ra dưới nắng xuân ấm hay dưới mưa phùn
ngày xuân rồi buông rơì từng cánh bay lất phất nhẹ theo
gió, hoa đến và hoa đi thanh thoát nhẹ nhàng không vấn vương.
Hoa chợt hiện rồi hoa chợt mất. Đó là tất cả hình ảnh
tượng trưng của vô thường mà biết bao nhiêu giấy mực
viết thành những hài cú cuả Basho và Issa.
Tất
cả những bài thơ Nhật Bản về anh đào nở thường thường
biểu lộ giáng tiếp dấu vết bất hạnh, ngay khi hoa
nở đã biết hoa sẽ tàn. Chỉ đang sống đây thôi là có
thể tán tụng vẻ đẹp khi đó. Hoa nở nhắc rằng đời sống
ngắn ngủi của vạn vật và chính con người cũng trong vòng
vô thường ấy mà thôi.
Chỉ
đang sống đây thôi !
diệu
kỳ thay trong bóng
hoa
anh đào nở rồi!
Just
being alive !
-miraculous
to be in
cherry
blossom shadows !
*
“Haya
sabissi (cô đơn đã hiện diện)”. Issa đã nói vậy. Đã
có cô đơn trong ngay phút đầu tiên khi hạt giống vừa trổ
mầm. Chết và sống đã có mặt trong hạt anh đào, chết và
sống đã có trong mầm gieo buổi sáng rực rỡ vinh quang, chết
và sống có mặt khắp nơi trong không gian và thời gian thi
sĩ lang thang. Nhà thiền có câu “ Sống y như thể ta đã
chết” hạt mầm của chết và sống là một .
Đơn
côi vốn đã từng mầm
mầm
gieo từng hạt
vào
vườn triều nhân
Loneliness
already
planted
with each seed in
Morning
glory bed
*
Hài
cú như chú ý quan sát đời sống chân that và bình thường,
Issa là bậc thầy phơi bầy khía cạnh không thể chối bỏ
được cái tầm thường đó, không hiểu sao điệu vận thơ
của ông luôn luôn truyền cảm hơn là lời nói diễn tả.
Tất
cả là giản đơn ,
như chẳng còn gì hơn
nặng
ướt sương mùa xuân
Simply
for all this,
as
if there were nothing else
heavy
wet spring frost
Những
câu thơ không gượng ép, vì tài ba của Issa là điển hình
đơn giản : “Tất cả đơn giản”, không có chỗ cho phong
cảnh chi tiết. Cuộc đời đau khổ côi cút của chính mình
Issa cũng cho là đơn giản như sương mùa xuân ướt át đâu
có khác gì hơn. Thơ Issa không phức tạp nên lộ rõ đơn giản
tuyệt đối dù là ông ngầm nhận sự hiện hữu nằm trong
vô thường của con người và của chính mình .
*
Theo
âm lịch mùa xuân là dấu hiệu cuối đông bắt đầu một
năm mới, vì thế ngày trước Bashõ đã gọi mùa xuân là mùa
cấy bắt đầu. Issa viết về mùa xuân như sau :
Trong
không Có lẽ lúc này là lúc thi sĩ thoải mái tận hưởng
hương xuân nên con rùa kia cũng hân hoan với trăng xuân.
Êm
đềm tịnh dưới trăng xuân
cả
con rùa cũng
hân
hoan mùa này
Under
such a calm
spring
moon, even the tortoise
crows
in this season !
Còn
lời nào tả được đêm xuân ngắm ánh trăng chiếu tự trên
cao ẩn hiện trên sườn đồi.
Như tự trên trời
Sườn
đồi ẩn hiện
Trăng
xuân rạng ngời
As
if from the gods,
spring
moonlight illuminates
the
hillside thief
Còn
giây phút nhẹ nhàng bình an nào hơn sự bình an vào thơi gian
Issa hạ bút viết bài hài cú sau đây
Ngồi
đây trong đại sảnh đường
không
gian tịch tĩnh
sương
xuân lờ mờ
In
hazy spring mist,
sitting
inside the great hall,
not
a hint of sound
Đề
tài thơ chứng tỏ trạng thái ẩn hiện tâm tính thay đổi
luôn luôn và gần như lập đi lập lại một giọng điệu
buồn thảm ẩn dấu một đứa trẻ bị bạc đãi. Bài thơ
sau đây hồi tưởng lại thời sáu tuổi hay bị trẻ con trong
làng trêu chọc chúng hát :
Ai
biết thằng mồ côi
đứng
một mình cửa chòi
nhai
ngón tay bụng đói
Everyone
knows the motherless boy
he
stands alone in the door
chewing
the thumb from hunger
Tự
mình lại viết lại chính mình thời gian ngây thơ đói khổ
cô đơn không dùng những lê thê tả chi tiết mà chỉ là những
chữ tả hình đủ thẩm thấu hoàn cảnh một đứa trẻ
đói đến nỗi phải nhai ngón tay khiến người đọc không
khỏi ngậm ngùi thương cảm.
Để
tránh những trận đòn, lại thường hay trốn trong đống củi
vườn sau khuất trong góc tối, có lẽ khi ấy dáng vẻ thật
khốn khổ cô đơn thật đáng thương. Mất mẹ nên ông nghĩ
con chim sẻ cũng mất mẹ khốn khổ như mình và đem lòng thương
con chim muốn chim có bạn nên tha thiết gọi chim đến chơi.
Không than van nhưng ẩn trong ý thơ đứa bé mồ côi chỉ có
bạn là con chim sẻ cũng mồ côi như mình
Con
se sẻ bé của tôi
bé
giờ mất mẹ rồi
xuống
đây chơi với tôi
My
litlle sparrow,
-you
too now are motherless
come
play with me !
Trong
“ Mùa Xuân của Đời Tôi “ (Oraga baru), ông diễn tả niềm
đau đớn của kiếp nhân sinh vô thường trong những bài hài
cú nổi danh, nhất là khi ông khóc cái chết của con gái ông:
Cõi này nhân thế mù sương
Vậy
mà… Ô và vẫn vậy …
vẫn
là nhân thế mù sương
This
world of dew
is
only the world of dew-
and
yet…oh and yet…
Cũng
có người cho là Issa làm bài thơ này khi người con trai đầu
lòng chết vì Issa không chỉ thẳng vào cái chết của con gái, thật ra không cần thiết luật sinh hoại trụ diệt của pháp
Phật thì cái chết của con trai hay con gái hay của bất cứ
ai thì bài thơ này của Issa đã đóng góp tuyệt vời cho mỗi
hoàn cảnh mất mát khổ đau. Không kêu gào lăn lộn la
khóc thảm thiết trước cái chết của con mình mà chỉ kêu
lên nhân thế mù sương và chỉ mù sương đâu là cõi
thật mà có và mất.
Khi
về già nhìn lại quãng đời đã qua và hiện tại thì hai
cuộc đời đều bất hạnh như nhau, đều đau khổ quằn quại.
Nhân thế mù sương vẫn là nhân thế mù sương. Chỉ khác
là nay ông đã quán thấy được chính mình và tất cả không
còn gì là quan trọng
Rọi
chiếu lại tôi đây
mặt
cau có xấu xí
cái
ao cóc già này
He
glares back at me
with
an ugly, surly face,
this
old pond frog
Tuy
nhiên suốt cuộc đời long đong lúc nào Issa cũng tràn đầy
niềm tin vào Pháp tu giải thoát cuả Đức Phật nên dù chỉ
là tiếng rì rào của bụi hoa ông nghe như tiếng tụng kinh
của cây cỏ như chính ông hằng thầm tụng
Sáng
nay bụi tụng rì rào
Hoa
Nghiêm kinh gửi
cho
đời khổ đau
Just
the bush warbler
to
sing morning Lotus Sutra
to
this suffering world
*
Nhân
sinh như những con rận bé nhảy nhót không bao giờ ngưng cho
đến khi cạn kiệt sức lực. Cho đến khi biết được thế
giới này là hành trình phiền não thì quá trễ, thế sao ngay
từ khi bắt đầu hành trình ta không theo ngay phương pháp tu
giaỉ thoát sinh tử, mà cứ nhẩy nhót lăng xăng tạo
nghiệp làm gì, sao không dùng hết sức nhảy vào hoa sen, vào
tòa Như Lai. Chợt hiểu ra cõi thế gian tất bật này Issa viết
về con rận bé hay viết chính bản thân lăng xăng cuả chính
Issa
Thật rằng phải nhẩy lăng xăng
này
con rận bé, sao không nhẩy vào
hoa
sen
If
you really must
leap,
my little fleas, why not
leap
on the lotus ?
*
Cho
dù là đang thưởng thức trà ngày xuân trong khí lạnh
vị trà như ngọt nhưng khi thưởng thức đã có nghẹn ngào
của nước mắt pha trong trà, nước mắt đau khổ của
đời, hay trà chưa ngọt đủ cần thêm nước mắt cho ngọt
hơn. Trà rót suốt ngày xuân, nước mắt đổ suốt cuộc đời
Issa. Tắm ướt Phật bằng trà, hay bằng nước mắt hay Phật
ướt vì mưa xuân. Bấy nhiêu chữ nói tất cả đắng cay chua
chát của kiếp người đã tưới bao nhiêu nước mắt lên
thân Phật và chỉ có Phật vẫn bình an tự tại
Tràn
trề ướt Phật cả ngày xuân
nước
trà thì ngọt,
nước
mắt còn ngọt hơn
Sweet
tea and more sweet tears
flow
wetly over Buddha
through
the whole spring day
*
Mùa
Xuân Của Đời Tôi là công trình nổi tiếng nhất
chỉ trong một năm ngẫu hứng Issa đã chọn lọc những hài
cú, nhưng lại là một sáng tạo kể lại cuộc đời đã trải
bao cực nhục. Ý thơ vô cùng súc tích, một tuyển tập thơ,
một bảo vật thiêng liêng và cũng là một bằng chứng về
thế giới phức tạp điên đảo vô định của ông.
Như
Bashõ, Issa không giữ nguyên một tên mà chúng ta biết ngày
nay. Đầu tiên là tên “Kobayshi Ikyo” và “ Nirokuan Kikumei”.
Dù rằng thơ Issa nhiều hứa hẹn ngay từ khi còn trẻ, ông
vẫn không bằng lòng với một cái tên thông dụng. Năm 1972
ông lấy bút hiệu Haiki-ji Nyudo Issa-bo.
Mùa
xuân đang đến rồi
Yatarõ
mới ra đời
là
Issa đây thôi
With
spring’s arrival
Yatarõ
become reborn
as
Issabo
Tuy
Issa không phải là người thích những buổi lễ trà tỳ, vậy
mà tên lại do ngẫu nhiên vào một buổi uống trà Issa nhận
thấy bọt trà tan mau trong chớp mắt khiến ông cảm xúc liền
chọn cái tên tầm thường ISSA (bọt trà) vì cảm nhận đời
người cũng ngắn ngủi như bọt trà .
Sau
đó trong hơn 5 năm trên đường đi khắp miền Nam Nhật
Bản, Issa làm bạn với các thi nhân, khi trở về Edo năm 1778
cho ra tập tự thuật khiến ông nổi tiếng. Dầu vậy
cũng không thật sự là một sáng tác như tập Mùa Xuân Của
Đời Tôi, tập này cho thấy rõ ông thấu hiểu hán thi hợp
tuyển cùng hài cú và đoản ca của các thi sĩ Nhật Bản.
Năm
1801 cha Issa ngã bệnh thương hàn nặng. Issa trở về Kashiwabara
kịp để săn sóc cha già được một tháng trước khi cha ông
qua đời. Dì ghẻ với người em khác mẹ tranh chấp di chúc
và tước quyền thừa hưởng của ông. Về cái chết của
người cha, thi sĩ viết trong tập thơ thể hiện rõ tình cảm
cha con đã lơ là, tuy thế lời lẽ cảm thông và thương hại
cuộc đời cha mình.
Hơn
một thập niên, Issa sống nghèo khổ, đi đi về về nơi sinh
trưởng và Edo vì tranh chấp pháp lý với người mẹ ghẻ.
Đến khi gần năm mươi, ông cảm thấy cuộc tranh chấp không
bao giờ dứt. Năm 1810 ông viết
Ô
ánh trăng sáng ngời
ta
hoang phí cuộc đời
đang
đi dưới trăng đó
bốn
mươi chín năm rồi
O
moonlit blossom
I’ve
squandered forty nine years
walking
beneath you
*
Cuối
cùng, năm 1813 dàn xếp xong với gia đình Issa trở về Kashiwabara.
Ông cưới một người vợ trẻ, và năm 1816 nàng sinh cho ông
một đứa bé trai chỉ sống được một tháng. Đó là đứa
con mà Issa viết bài thơ : “Thế giới của sương mù”. Đứa
con gái sinh năm 1818, chết một năm sau đó về bệnh đậu
mùa
Đời
của Issa là một chuỗi khó khăn bất hạnh. Đứa con trai thứ
hai sinh năm 1820 chỉ sống được vài tháng. Năm 1822 đứa
con trai thứ ba ra đời nhưng vợ Issa lại chết đau đớn vì căn bệnh phong thấp sau khi sanh và đứa con trai cũng chết
sau đó vài tháng. Suốt thời gian này Issa đau khổ vì sức
khỏe yếu kém do chứng bệnh bại liệt trường kỳ. Đến
năm 1810, ông tắt tiếng không nói được ông viết:
thật bực bội vô ngần !
cả ngỗng hoang lang thang
cũng
còn kêu thành tiếng
Such
irritation !
Even
wandering wild geese
can
manage to speak
*
Có
lẽ chỉ là chứng động não nhỏ nên thi sĩ hồi phục lại.
Hẳn muốn xóa tan những năm tháng phiền muộn, ông lấy vợ
lần nữa vào năm 1824. Ông chọn người vợ mới là người
đàn bà trong một gia đình võ sĩ đạo cao sang địa phương.
Rõ ràng nàng kết hôn vì nhắm vào cái nhà của ông và gây
khổ thêm vào cuộc đời đã tan nát bất hạnh của ông.
Nàng trở về nhà cha mẹ chỉ sau vài tuần lễ cưới.
Issa
lại bị bệnh bại liệt trở lại khi đến viếng chùa Zenkõ,
rồi ở lại một thời gian để chữa trị. Khi bệnh thuyên
giảm ông viết:
Tôi
như màng bụi mỏng tơ
nhẹ
như tờ giấy
màn
che muỗi trời
I,
too, made of dust-
thin
and light as the paper
mosquito
curtain
*
Không
ghi rõ ngày tháng, ở tuổi sáu mươi bốn ông lấy vợ lần
thứ ba. Nhưng những năm sau đó nhà ông bị cháy rụi tới
nền. Vì giữ thể diện hay vì muốn sống thoải mái
cố vượt qua thảm họa cuối cùng, ông từ chối không muốn
trú ngụ với bạn và môn sinh, Issa cùng người vợ đang có
mang dọn vào sống nhiều tháng trong một cái kho hàng nhỏ
không có cửa sổ không có cả lò nấu.
Issa
chết thình lình vào ngày 19 tháng mười một năm 1827, không
được thấy mặt đứa con sắp chào đời và đó là người
con gái duy nhất sống sót.
Hai
bài thơ như là hai bài thơ cuối cùng của Issa, đã tìm thấy
dưới gối của ông
Món
quà Tịnh Độ tạ ơn
tuyết
rơi cả đến
chiếu
nằm trải lên
Gratitude
for gifts
even
snow on my bedspread
a
gift from the Pure Land
*
Ông
cố ý lưu lại bài thơ trên như lời cuối, nhưng sau
cái chết của ông bài thơ thứ hai là bài thơ chết khác có
thể thật là bài cuối cùng của ông
Từ trong lòng chậu sinh ra
chết
trong lòng chậu cũng là như không
sao
mà bá láp rỗng không
From
birthing’s washbowl
to
the washbowl of the death-
bathering
nonsense !
Cũng
như những bài thơ trước, bài thơ này thu hút nhiều người
đọc. Nỗi đau khổ triền miên của nhân loại và thế giới
si mê đã khiến thi sĩ kết luận chua cay chính đời mình bằng
chữ nghĩa chăng. Có lẽ tâm của Issa thâm nhập cái ngã tự
rỗng không trong kinh của Phổ Hiền Bồ Tát, tất cả “rỗng
không vô tướng” thì cái ồn ào si mê bao quanh không cần
thiết vì ngay khi sinh đã có diệt
Tình
cảm cuộc đời nặng nề quằn quại, hơn nửa đời người
lạc lỏng tha hương và bị ruồng bỏ phải tự đi suốt con
đường đời đầy thử thách, những vết khốn khổ cắt
sâu vào tâm khảm khó quên, thế mà những bất hạnh đó đã
tôi luyện cho Issa cho một can đảm phi thường đối đầu
với bản án nhân quả. Thời bấy giờ một thi sĩ sống gò
bó mang cảm súc cả một đời lận đận vào thi ca bàng bạc
thiền là một điều rất hiếm, thế gian này có gì là hoàn
hảo đâu ông viết :
Đi
tìm khắp cả nhân gian
tìm
đâu cho thấy giọt sương vẹn toàn
dẫu
tìm trên cánh sen hồng
Searching
all this world
there
is no perfect dewdrop
even
on the lotus
*
Niềm
chung thủy của Issa trong thi ca như con đường giải thoát
cần phải kinh qua tương tự như Đỗ Phủ, Lý Bạch ,
Saigỹ và Bashõ. Issa tỏ ra coi thường chức vị, đi lang thang
ngoài đường phố Edo trong manh áo rách rưới . ông nổi danh
về hành động cũng như những thơ văn của mình vậy. Có
một lần, một nhà quý tộc quyền hành nhất tỉnh thành mời
đến để bàn bạc về nghệ thuật thi ca với Issa. Issa nhìn
thẳng vào mắt ông ta và trả lời rằng ông không thể hạ
thấp nghệ thuật của ông xuống cùng hạng với những tay
chơi tài tử. Nhưng với những người khác ông lại là một
người lập dị dễ thương. Trẻ con tôn sùng ông như một
thi sĩ đại diện cho những con chim nhỏ, những con sâu con
và những cánh hoa của bốn mùa.
Như
Bashõ thơ Issa bàng bạc thiền và được kính trọng trong hầu
hết ở mọi cấp bực
Có
rất nhiều “ đài kỷ niệm Issa” và “bia hài cú
“ thơ của ông cho thế hệ mai sau; nông trại xưa nơi
ông ra đời ở Kashiwabara được bảo tồn .
Ba Tiểu Phẩm
ĐÓN NĂM MỚI
Ngày
xưa, trong chùa Fuko ở thành phố Tango có một nhà sư tu hành
rất nhiệt tâm. Sư quyết định đón mừng ngày đầu năm
mới thật toàn vẹn. Sư viết một lá thư vào chiều
giao thừa và đưa lá thư cho một tăng sinh dặn phải trao lại
cho ông ngay phút đầu tiên buổi sớm mai ngày đầu năm.
Vị
tăng sinh thức dậy khi ánh sáng đầu tiên của năm mới có
tiếng quạ kêu sớm nhất, cái bóng đen ngả dài lướt theo
sau mỗi bước chân vị tăng sinh lom khom rón rén đến gõ cửa
phòng nhà sư.
Giọng
Sư từ bên trong vọng ra hỏi
“
Ai gọi cửa đó ?”.
Tăng
sinh thưa “Người đưa tin mang lời chúc tụng đầu năm từ Đức Phật A Di Đà trên Niết Bàn”.
Cửa
phòng nhẹ kéo sang bên, Sư chân không tiến đến mời tăng
sinh vào và mời ngồi lên chiếc gối danh dự. Sư quì xuống cúi gập mình nhận thư mở ra đọc:
“
Buông bỏ thế gian khổ đau ! Trở về Niết Bàn .
Ta
sẽ gặp con dọc đường với các vị Bồ Tát hướng dẫn
con ! “
Hai
hàng nước mắt nhà sư rơi đầm đìa cho đến khi ướt sũng
hai cánh tay áo.
Lướt
qua câu chuyện này có vẻ thật lạ lùng Ai mà muốn đón mừng
năm mới với hai cánh tay áo đẫm nước mắt, cuối cùng nước
mắt đó là tự cảm nghiệm do chính những lời tự viết
trong lá thư như nhắc nhở. Tuy nhiên nhà sư đã thực hành
thật đúng: bổn phận chính của ông là mang pháp Phật
giảng dạy cho thế gian thì còn cách gì hay hơn là đón đầu
năm mới bằng cách đó?
Còn
tôi , tôi hãy còn mặc áo quần bụi bặm của thế gian đau
khổ đón ngày đầu tiên của năm mới theo lối của
tôi. Và cũng như nhà sư, tôi tránh mừng năm mới theo lệ
thường như mọi người. Nào là hạc là rùa tượng trưng
cho những lời chúc rỗng tuếch, những nghệ sĩ đến xin những
lời chúc tụng của kẻ giầu sang cũng rỗng tuếch. Cây thông
là phong tục đầu năm sẽ không dựng cạnh cửa nhà, tôi
không quét bụi, sống trong cái chòi nhỏ xíu luôn luôn bị
gió Bắc khắc nghiệt đe dọa thổi xập. Tôi đặt tất cả
vào bàn tay của Phật như trong truyện cổ tích vậy.
Con
đường trước mặt có thể nguy hiểm, sâu như những lối
mòn ngập tuyết loanh quanh trên núi cao kia, tuy nhiên tôi đón
chào năm mới như vậy đó
Năm
mới là lễ chào mừng
Tôi
đây như vẫn bình thường đón xuân
CHÚ TIỂU TAKAMARU.
Một
buồi sáng mùa xuân thật đẹp, chú tiểu tên Takamaru mới
được mười một tuổi, cùng sư huynh Kanrỹ rời chùa
Mỹsen. Họ dự định đi hái một vài loại cỏ và hoa nhân
sâm. Nhưng chú tiểu trượt chân trên một thanh cầu gẫy và
nhào xuống con sông nước giá lạnh đang chảy siết, nước
dâng cao vì tuyết đang tan từ núi Lizuna.
Nghe
chú tiểu kêu cứu, sư Kanrỹ lao xuống dòng nước, nhưng
ông không làm gì được. Cái đầu Takamaru nhô lên rồi biến
mất. Cánh tay giơ ra trên dòng nước cuồn cuộn. Nhưng
rồi tiếng la thất thanh của chú tiểu nghe như tiếng
vo vo của những con muỗi đồng thời chú biến mất theo dòng
sông; chẳng còn gì chỉ có hình ảnh chú in sâu vào mắt
sư Kanrỹ.
Chiều
hôm đó, bao nhiêu ngọn đuốc sáng rực theo dòng sông để
tìm Takamaru. Cuối cùng xác chú được tìm thấy kẹt giữa
những tảng đá, và quá trễ không ai cứu được chú.
Khi
mang xác chú lên họ tìm thấy một nắm hạt đậu bơ
trong túi áo, có lẽ đó là quà của cha mẹ cho chú. Ngay cả
những người không hay khóc cũng nước mắt đầm đìa ướt
cả hai cánh tay áo. Người ta đặt thân thể chú lên tấm
khiên tre mang về nhà. Tối hôm đó mọi người đứng nhìn
với niềm thương cảm khi cha mẹ chú hớt hãi chạy đến
từ cánh đồng xa, nhìn thi thể con trai khóc những
giọt nước mắt sót thương đau khổ .
Thật
ra như những tín đồ theo lời giáo huấn, họ luôn luôn thuyết
giảng về đời sống khốn khổ này, nhưng ai có thể
làm khác hơn để tránh sinh tử ? Tất cả mọi trái
tim của con người tan nát bởi tình yêu con bất diệt của
mẹ cha. Có phải khi chú Takamaru rời nhà lúc sáng sớm, chú
hãy còn sống và cười nói, vậy mà chiều nay thì…….
Chiều
nay chú tiểu nằm bất động lạnh lẽo. Hai ngày sau, đám
táng của chú.
Những
cánh hoa đã nở ra đón mùa xuân ấm áp sau bao nhiêu tháng
tuyết đông có khóc nhiều như cha mẹ Takamaru khi biết là
con người có thể hái hoa ném xuống và đốt bất cứ
lúc nào. Hoa có đời sống chăng? Hoa có như chúng ta nhận
thức được là có niết bàn đợi chờ ?
Tôi
nghĩ chưa một lần
ném
hoa tươi mùa xuân
vào
vầng khói mù đặc
đứng
nhìn khói lên cao
trên
mây khói tan vào
CÂY HẠT DẺ
Khi
đến thăm cánh rừng trên ngọn núi Thiên Sơn làng Rokugawa
trong khu vực Takai, tôi hái ba hạt dẻ mang về gieo xuống góc
vườn sau nhà. Mầm non xanh tươi chồi lên vào mùa xuân đó,
trông thật tươi mát dưới nắng ấm.
Ít
lâu sau, người hàng xóm ở phía Tây khu vườn sửa lại căn
nhà của anh cao hơn che khuất mặt trăng lẫn mặt trời.
Năm đó cây hạt dẻ lớn chậm.
Suốt
mùa đông, anh hàng xóm lại xúc tuyết từ trên mái đổ xuống
phủ đầy quanh căn nhà cho đến khi trông như một ngọn núi
tuyết khổng lồ hiện ra trong có một đêm. Trong con hẻm hẹp
họ đi qua đi lại mang củi sưởi và nước uống lên tầng
trên căn nhà. Những bước chân dậm đi dậm lại làm thành
những bậc thang rắn chắc như xây bằng đá tảng mang từ
núi Atago. Đến cuối đông, dấu hiệu vui tươi đầu tiên
của mùa xuân rải những nụ non xanh tươi khắp cả cánh đồng,
cây bắt đầu trổ lá đơm hoa. Đống tuyết khổng lồ vẫn
sừng sững, trắng toát và lạnh băng.
Ngày
mùng 8 tháng 4 ngoài vườn những con chim hót líu lo liên hồi.
Theo tục lệ tôi sửa soạn giấy mực làm thơ. Khi ra vườn
tìm cây hạt dẻ tí hon bị chôn dưới tuyết tôi chỉ tìm
thấy cành gẫy. Cây có phải là người không?. Tôi cố chăm
sóc cho cây không gục ngã, đến cuối năm có vài chiếc lá
nho nhỏ lú ra và cây vươn cao lên được một đoạn.
Rồi
mùa đông năm đó và những mùa đông sau đó đều đặn núi
tuyết lại hiện ra trong có một đêm rồi cây hạt dẻ đáng
thương lại bị đè bẹp dưới sức nặng của tuyết. Như
vậy trải qua bẩy mùa đông. Tiếc thay cây hạt dẻ không
bao giờ có hoa và cũng chẳng bao giờ có trái mà cũng không
chết. Hầu như không có đời sống cho cây hạt dẻ. Có phải
kiếp người cũng trường kỳ đấu tranh để đứng vững
trên thế gian này.
Cuộc
đời của tôi cũng gần giống như cây hạt dẻ của tôi.
Khi mới sanh ra, mới chớm nở trong gia đình, tôi đã bị đẩy
ra ngoài để tự sinh tồn giữa những cỏ dại đang vươn
cao, tiếp nhận ngọn gió nghiệt ngã của ngọn núi mẹ ghẻ.
Tôi không còn nhớ là tôi có được một ngày vui hưởng tự
do dưới trời rộng thênh thang. Không biết bao nhiêu sợi tơ
chịu đựng được đan suốt năm mươi bẩy năm dài đăng
đẳng. Tha thứ cho tôi cây hạt dẻ ơi! Tôi không cố ý gieo
cái hạt xuống sau vườn nhà để chia xẻ với tôi cái nghiệp
không hạnh phúc trong kiếp này!!!.
Sống
sót mầm non
dưới
bóng cây con
xin
nơi nương tựa
Mẹ cây cao hơn.
Phật
dậy rằng tất cả những sự kiện đều bắt nguồn từ nghiệp
quả. Vậy thì cuộc đời đau khổ của tôi không thể ngoài
luật định đó. Có phải tôi đã tự tạo ra đấy thôi.
Discussion about this post