Tây Phương Xác Chỉ
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát giảng
Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội) Cư Sĩ Như Hòa dịch
Lời Tựa
Mùa Hạ năm Đinh Mùi (1), tôi qua thăm phương trượng
Hòa Thượng Tuyết Sơn. Hòa Thượng lấy một cuốn sách trao cho tôi bảo:
– Đây là
chiếc thuyền báu. Duyên khởi của cuốn sách này rất lạ lùng: Vào cuối đời nhà
Minh, ở Ngô Thành có tám người bạn cùng tu huyền môn. Ngày ngày thường thỉnh
tiên giáng cơ luận bàn đạo thuật. Rốt sau có một vị tiên giáng xuống, luận đạo
khác hẳn chư tiên khác. Do đàm đạo lâu ngày nên càng thêm thân thiết. Mãi lâu
sau, tiên chợt khuyên niệm Phật. Mọi người hỏi: “Có nên niệm Phật không?” Tiên
đáp: “Nên chứ!”. Mọi người đều niệm Nam Mô Phật. Tiên bảo: “Không phải niệm như
vậy”. Mọi người hỏi: “Vậy thì niệm ra sao?” Đáp: “Các ông nên chắp tay, chí
tâm, hướng về Tây đảnh lễ, niệm Nam Mô A Di Đà Phật”. Mọi người vâng lời. Từ
đó, tiên khéo ngầm dạy pháp môn Niệm Phật cho mọi người khiến họ bỏ ngụy quy
chơn, cầu sanh Cực Lạc. Đến khi đó, tiên mới bảo cho họ biết những nhân duyên
quá khứ, danh hiệu Bồ Tát (ngài là một vị Bồ Tát thị hiện) và hóa hiện những
điềm lành như mùi hương lạ, các thứ hoa trời… Tám người ấy đều bỏ lối tu tà vạy
xưa kia, quy hướng chánh tín. Ông Vô Hủ là thầy của bọn tám người ấy. Bồ Tát
bảo ông đến xin thọ giới với hòa thượng Tam Muội để được trọn vẹn Tăng tướng.
Lúc đầu, Hòa Thượng cật vấn, nhưng sau khi đọc xong bài kệ vịnh trăng của Bồ
Tát, ngài liền hướng về Tây kính lễ, rồi làm lễ thế độ cho ông. Nguyên do là
lúc Bồ Tát mới giáng cơ, ai cũng tưởng ngài là tiên, bèn lấy vầng trăng làm đề
mục bảo ngài làm thơ. Nhân đó, Bồ Tát bèn ban bài kệ như sau:
Nhất nguyệt quang hàm thiên thế giới
Phân thân vô lượng chiếu quần mê
Đương tri bổn thể nguyên vô nhị
Bất động trang nghiêm biến hóa cơ
(Dịch
nghĩa:
Một ánh
trăng chiếu trọn khắp tam thiên đại thiên thế giới. Phân thân vô lượng giác ngộ
tất cả những kẻ còn đang si mê. Mới biết là bổn thể vốn chẳng hai. Pháp thân bất
động trang nghiêm biến hóa độ khắp các căn cơ).
Bắt đầu từ
ngày 28 tháng 5 năm Quý Mùi đời vua Sùng Trinh nhà Minh cho đến ngày mồng Hai
tháng Mười năm Đinh Hợi đời vua Thuận Trị nhà Thanh (2) trước
sau Bồ Tát giáng cơ hăm bốn lần. Những lời ngài giảng ra đều là những điểm
trọng yếu mầu nhiệm trong việc tu hành. Do trong bài kệ của ngài có chữ “xác
chỉ chánh tu lộ” (chỉ đích xác con đường chánh tu hành) nên họ bèn đặt tên tác
phẩm này là Tây Phương Xác Chỉ.
Tôi đọc
xong, thân tâm hớn hở khác gì được giọt đề hồ thấm sâu vào gan ruột. Bởi thế,
cứ khen lạ không ngớt. Hòa Thượng bảo: “Lúc ban đầu tôi cũng chẳng tin, nhưng
đọc xong rồi thần trí sáng rỡ, muốn không tin cũng chẳng nổi”. Tôi thưa: “Trong
những nhân duyên xưa kia, Bồ Tát với tám người ấy có duyên lớn, nghĩ thương xót
họ hết mực nên mới quyền xảo tiếp dẫn họ như thế, chứ đâu có giống như những
bọn thần quỷ thường giáng cơ. Hơn nữa, con xem lúc sắp chia tay Bồ Tát có nói:
“Bày ra cầu cơ vốn là chuyện để thần quỷ dựa dẫm vào, chứ nào phải là việc thường
ứng hóa của bậc Đại Bồ Tát”. Lẽ đâu lại coi cuốn sách này giống như sách cầu cơ
ư?”
Khi ấy,
tôi nguyện khắc in sách này để lưu truyền rộng rãi nhằm lợi lạc khắp các hữu
tình, nhưng chưa đủ nhân duyên. Mãi đến mùa Xuân năm Kỷ Dậu, các bạn đạo Tăng,
tục không ai chẳng hớn hở, mừng rỡ, nguyện góp của để giúp hoàn thành việc ấn
loát. Thậm chí có kẻ đọc đến liền khóc, khóc xong đọc tiếp, bỏ ngay nhà cửa, y
phục, đồ đạc mình vốn yêu thích để vào núi sâu niệm Phật. Há có phải là Bồ Tát
dùng lòng vô duyên từ nhiếp hóa chúng sanh thật chẳng thể nghĩ bàn hay không?
Tôi bèn cùng hai vị lão pháp sư Linh Hy và Huệ Tiếp thuê người khắc ván. Khắc
xong, bèn ghi đầu đuôi sự việc như thế.
Ngày
rằm tháng Chín năm Kỷ Dậu (1669) đời Khang Hy,
Cổ
Ngô Tịnh nghiệp đệ tử Lương Tây Kim Ngạc soạn.
(1) Năm Đinh Mùi đời Khang Hy (1667), hòa thượng Tuyết Sơn truyền
cho ông Kim Ngạc cuốn sách Tây Phương Xác Chỉ này.
(2) Năm Quý Mùi đời vua Minh Sùng Trinh đến năm Đinh Hợi đời vua
Thanh Thuận Trị là từ năm 1643 đến năm 1647. Từ lúc Bồ Tát giáng xuống pháp hội
cho đến khi ngài chia tay, thời gian hơn bốn năm. Tất cả gồm hăm bốn hội. Trong
khoảng thời gian đó, vào năm 1645, quân Thanh vây hãm Dương Châu, tàn sát dân
trong thành suốt cả mười ngày, giết chết tám mươi vạn người; rồi lại vây hãm
Giang Lăng, giết thêm mười ba vạn người nữa. Ngô thành nay là thành phố Tô
Châu, nằm ở phía dưới Giang Lăng, gần Thái Hồ. Như sử nhà Thanh chép: ‘Vương
binh (quân Thanh) đánh xuống Tam Ngô, bọn giặc ở vùng Thái Hồ bị tấn công bất
ngờ, không chỗ đào thoát” chính là nói đến thời gian này.
Tây Phương Xác Chỉ
Một thuở
nọ, Bồ Tát từ cõi Cực Lạc hiện đến, giáng xuống đàn cầu cơ ở đất Cổ Câu Ngô xứ
Chấn Đán (Trung Hoa) cõi Sa Bà. Chúng đệ tử trong hội do có nhân duyên xưa kia
với ngài đều được hóa độ. Để dạy họ pháp môn Tịnh Độ, Bồ Tát bèn nói kệ rằng:
Pháp yếu của chư Phật
Vi mật chẳng nghĩ bàn
Do chẳng nghĩ bàn nổi
Chẳng thể nói hết được
Đại Từ Phụ Mâu Ni,
Xót thương các chúng sanh
Nói pháp chẳng thể nói
Dạy đời này, đời sau
Lại dùng phương tiện lạ
Hiển thị cõi An Lạc
Khiến phát nguyện vãng sanh
Cắt ngang các nẻo ác
Do Phật A Di Đà
Đại nguyện nhiếp các phẩm
Nghe danh Phật thọ trì
Quyết định sanh, chẳng lầm
(Quyết định được vãng sanh không còn
lầm lẫn chi nữa)
Nếu có kẻ đại lực
Chuyên niệm thường nhất tâm
Thành tựu tam muội sâu
Hiện tiền cũng thấy Phật
Nay ta theo đúng như
Lời đức Phật đã dạy
Sẽ khai hóa chỉ dạy
Nghĩ các ngươi mê đảo (si mê, điên
đảo)
Chỉ đích xác con đường
Hầu tu hành chơn chánh
Đây chẳng phải là duyên
Hèn kém, nhỏ nhoi đâu!
Phải nghĩ tưởng khó gặp
Đường Tây phương vạn ức
Một niệm tin liền được
Bồ Tát nói
kệ xong, bảo các đệ tử đọc to một lượt, lại bảo: “Các ông từ trước đến nay tu
học huyền thuật, tâm yếu kém, tu hành tà vạy. Do túc duyên ta nghĩ rất thương
các ông nên đến đây dạy bảo. Nay trước hết ta chỉ ra Tây phương Tịnh Độ là một
môn chánh hướng, chánh tu. Sợ các ông còn lo ngờ chưa thể sanh lòng tin cùng
cực nên tiếp đây, ta sẽ nói danh hiệu của mình cùng pháp chính mình đã chứng để
mọi người biết kẻ nói pháp này là một vị đại Bồ Tát.
Này các
thiện nam tử! Trong lúc tu nhân xưa kia, ta dùng diệu trạm giác tâm thấy rõ:
trong hết thảy tất cả các cõi nước, các chúng sanh đều cùng có đủ [cái tâm ấy]
nên liền giác ngộ trọn vẹn Diệu Giác, giác ngộ rõ ràng diệu tâm, khởi ra vô
lượng diệu hạnh độ các chúng sanh. Bởi thế, A Di Đà Phật ban cho ta danh hiệu
Giác Minh Diệu Hạnh. Từ nay các ông nên quy y, đừng ngờ vực chi nữa”.
Khi ấy tám
người trong hội cùng chắp tay, chí tâm niệm Nam Mô Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát,
đứng lên lễ kính. Bồ Tát bảo: “Lành thay! Đúng như vậy đó!”
* Có người
hỏi về cách trì tụng kinh chú, Bồ Tát dạy: “Trì kinh chú nghĩa là tự trì cái
tâm của mình. Cốt yếu là phải hiểu rõ thẳng vào tâm địa. Nếu chỉ nghĩ cứ trì
cho thuần thục, tụng cho nhiều, lại niệm kinh này, chú nọ, vị Phật kia rồi bảo
là mình có công đức lớn, nhưng chẳng thể câu nào cũng quy trọn về tự tánh, cũng
chẳng hiểu sâu xa nổi chơn lý mầu nhiệm của Như Lai mà bảo là có thể nhờ đó
chứng quả thì các ông có thấy chăng: Nơi ngã tư đường, hoặc là kẻ không mắt, kẻ
không chân, hoặc ăn mày nam, hoặc ăn mày nữ suốt ngày miệng ra rả niệm đến tận
đêm. Tính số câu niệm Phật họ niệm suốt năm kể ra cũng phải hơn mấy mươi vạn
biến. Rốt cuộc vẫn là kẻ tàn tật, kẻ ăn mày, chưa hề chứng được mảy may quả vị
nào cả. Vì sao vậy? Chỉ vì họ chẳng hiểu biết, thiếu hạnh mà thôi. Cho nên các
ông phải biết là: trì kinh nào thì phải nên nương theo kinh đó mà tu hành. Lại
phải phát đại nguyện: hoặc cầu sanh về cõi Phật, hoặc cầu sáng tỏ tâm địa, hoặc
phát sanh đại trí huệ, hoặc lợi lạc khắp các chúng sanh. Đều nhờ vào sức thần
thông to lớn, sâu xa của đức Như Lai để thành tựu sở nguyện của hành nhân. Có
thế mới đúng là trì kinh, trì chú, niệm Phật!”
* Vị sư
già Thiên Nhiên vì bịnh lâu chẳng lành, tính vào Kính Sơn chờ chết, đem xương
gởi vào tháp Phổ Đồng. Bồ Tát dạy: “Ông muốn ở trong núi chờ chết thì thật là
đang vô sự lại bới việc ra. Ông lo không có chỗ để an bài mấy khúc xương già ư?
Ông không biết là một khi mắt đã nhắm lại rồi, hai chân đã duỗi xuôi thì mặc
tình kẻ khác dao bằm, búa chặt, lửa đốt, nước trôi cũng chẳng ăn nhằm chi đến
ông hết. Ông lại toan bày kế lâu dài cho kẻ khác thì thật là ngu si quá đỗi! Vả
lại, cái thân này lúc sống còn đã là vô ích huống hồ là sau khi chết đi. Nay
ông nên bỏ bớt các sự, chỉ trì mỗi một câu A Di Đà Phật, niệm niệm chẳng buông
thì Phật Di Đà trở thành bạn tốt của ông. Lúc đại hạn xảy đến, ngài sẽ hiện
thân tiếp dẫn, được sanh về Cực Lạc, chẳng tốt hơn vào núi đợi chết hay sao?
Hơn nữa, sanh lão bịnh tử là những nỗi khổ thế gian khó lòng tránh khỏi. Ông
mắc bịnh đã lâu thì cũng chẳng quan tâm là bịnh lành hay không lành, cứ nhất
tâm niệm Phật. Sống cũng được mà chết cũng được là xong!”
* Ông Tăng
Bất Nhị tính theo thầy thọ giới. Bồ Tát dạy: “Tiếc thay, tiếc thay! Tướng mạo
đường đường, oai nghi bệ vệ, chẳng biết tự quy. Xét việc ông làm khác chi kẻ
tục! Ta thấy ông thân ở chốn này mà hồn đã dạo nơi địa ngục. Phải nên gấp rút
tu tỉnh, đoạn ác làm lành, thượng cầu Phật quả, hạ hóa quần sanh. Chẳng nên hôn
hôn muội muội, để lỡ tấc bóng hữu hạn, tự vướng phải phiền lụy muôn kiếp. Còn
như việc thọ giới, chẳng thọ thì thôi; chứ nếu đã thọ thì chẳng được hủy phạm
dẫu bằng tơ tóc. Phải giữ gìn giới luật thanh tịnh như bạch bích, minh châu,
trọn không chút tì vết. Có như vậy mới thành được giới phẩm. Giới chính là căn
bản để tam thế chư Phật nhập đạo, đừng coi như trò đùa. Lại phải tĩnh tu hoặc
cầu học các phương và thân cận bạn lành, xa lìa những kẻ thô tháp, hèn kém.
Thân bạn lành thì đạo nghiệp dễ hành, gần bạn ác thì giới hạnh dễ mất. Hai câu
ấy chính là yếu quyết để học đạo của cả một đời, nên nhớ kỹ lấy!”
*Anh em
ông Mã Vĩnh Tích đời trước làm thợ săn. Một buổi nọ vào núi cùng giết chết một
con nai nên bị quả báo đoản mạng. Nhưng hễ họ thấy tượng Phật trong tháp bị đổ
xuống đất liền nâng lên, kê cho chắc chắn, lễ bái xong mới đi. Do bởi nhân lành
đó, họ lại được thọ thân người. Trước hết, Bồ Tát vì ông Vĩnh Tích khai thị
việc ấy xong, Vĩnh Tích hoảng sợ, cầu phương cách sống lâu.
Bồ Tát
bảo: “Xưa kia nơi chùa Diệu Giác ở phương Bắc có một chú bé Sa Di, tuổi mới
mười sáu. Có một thầy tướng nói về lẽ sống chết của con người không sai một
mảy, bảo chú Sa Di rằng: ‘Giữa Thu năm mười tám tuổi, chú sẽ chết!’. Chú Sa Di
sợ quá, ban đêm cầu đảo đức Phật, nguyện Phật ban cho một quyển kinh nào đó
trong Đại Tạng để chú trọn đời thọ trì hầu cầu trường thọ. Bạch xong, buồn khóc
khôn ngăn được nổi, lại lễ Phật lui ra. Vào trong [gian phòng chứa] Đại Tạng
kinh, tiện tay lấy được quyển Kim Cang Bát Nhã, chú bèn chép lấy để thọ trì
ngày đêm chẳng biếng nhác. Chú còn trì giới tinh nghiêm, liễu ngộ huyền lý. Đến
năm bốn mươi tuổi, đạo phong của sư lưu truyền rộng khắp, tứ chúng quy ngưỡng.
Sau đến năm tám mươi tuổi, sư mới tọa hóa (ngồi mà viên tịch). Đấy chính là Vi
Hạnh thiền sư ở Lạc Dương. Chuyện xảy ra vào niên hiệu Khai Nguyên thứ sáu đời
Đường Huyền Tông (1), ta đích thân thấy.
Nay ông sợ
đoản mạng, muốn cầu sống lâu thì nên bắt chước chú Sa Di đó, tìm bản kinh Kim
Cang chép đầy đủ nhất rồi phát tâm biên chép, siêng tu tập đọc tụng, lại cầu
hiểu được ý nghĩa kinh. Đấy chính là nội công đức. Kể từ ngày hôm nay chẳng
được sát hại sanh mạng loài vật, phải thương yêu chúng như chính thân mình. Lại
phải tích chứa nhiều âm đức, đó là ngoại công đức. Tu cả trong lẫn ngoài thì
công đức rất lớn. Tự mình hợp với lẽ trời, lý yểu thọ chẳng hai đã lập như thế
thì lo gì tuổi thọ chẳng lâu dài? Nhưng từ đầu đến cuối phải cẩn thận gìn giữ
như thế khác nào chú Sa Di kia mãi đến năm tám mươi tuổi chẳng hề biếng trễ thì
mới hợp đạo. Chớ nên có đầu không đuôi, hoặc hành mười ngày, nửa tháng, một
năm, hai năm rồi buông tay bỏ lửng. Nếu thật có thể trọn đời tuân phụng, trước
sau chẳng gián đoạn mà ông chẳng được toại nguyện sở cầu thì chư Phật cùng ta
đều mắc tội vọng ngữ”.
* Bồ Tát
dạy ông Trần Định Chuyên như sau: “Cha con ông phụng hành lời ta dạy, thật là
hiếm có. Nhưng các ông phải bền chí lâu dài, chẳng được sanh ý niệm mong cầu
cảm ứng. Đối với hai chữ Tu Hành phải giữ đúng như việc mặc áo, ăn cơm hằng
ngày mới được”.
* Bồ Tát
dạy mẹ ông Tra Định Hoằng: “Bà trước kia có tâm niệm hướng về Đạo, nhưng chưa
gặp được người chơn chánh, thật là đáng thương. Nay ta sẽ vì bà phân biệt khai
thị. Đời xưa kia bà làm tỳ kheo, tận lực tu hành tinh tấn, ngày đêm chẳng
biếng nhác vì tâm chí mãnh liệt. Trong lúc tịnh định, bà chợt khởi lên ý nghĩ:
‘Tại sao mình chẳng được mau thành Phật?’ Lại một ngày kia, nghe nói chư Phật
vô tướng, tâm này chính là Phật, sư càng thêm suy nghĩ bậy bạ, cho là: các pháp
không tịch, tâm ta là Phật thì cần gì tu tập nữa! Sư chẳng biết câu ấy nói về
lý Không rốt ráo, chứ chẳng phải lời để kẻ mới nhập pháp giới dễ dàng nói được.
Ông Tỳ Kheo từ đấy đọa vào tà kiến, chẳng siêng năng tu tập nữa, tự bảo mình đã
chứng đại đạo cho nên mê càng thêm mê, trầm luân trong đêm dài. Thương thay
chúng sanh, cầu đạo chẳng gặp được thiện tri thức chơn chánh, chưa thoát được
lưới rập, không thể không thận trọng! Nay bà nên biết: Do vì xưa kia tà kiến
nên chịu báo ngũ lậu, đánh mất chánh tri kiến, lại gặp tà sư, vướng phải nọc
độc, há chẳng nên sanh lòng khiếp sợ ư? Nay bà phải mau phát chánh tín, chí tâm
ức niệm Nam Mô A Di Đà Phật, cầu sanh cõi nước Cực Lạc”.
* Ông Vô
Hủ vì một người bạn hỏi: “Thọ được bao lâu?” Bồ Tát dùng kệ đáp:
Mạng người như sương sớm,
Hư phù không định kỳ
Nếu chưa thoát mộng huyễn
Mong biết trước làm chi?
Ngài lại
dạy: “Đừng hỏi kỳ hạn cho ông ta làm chi, đến ngày ba mươi tháng Chạp sẽ phải
bận rối rít chân tay cả lên” (người bạn ấy quả nhiên bị bịnh mất vào ngày ba
mươi tháng Chạp năm sau). Ông Vô Hủ nghe dạy, lại xin Bồ Tát khai thị. Bồ Tát
nói: “Ông Nguyên Bá nên biết: Học đạo mà chẳng minh được cái tâm này thì giống
như xây nhà không có nền, qua sông không bè. Muốn minh tâm nên vi tế quán sát
đến tột cùng xem cái thân, cái tâm này tự đâu mà có? Thân đã là tứ đại hư huyễn
thì tâm biết gửi vào đâu? Thân tâm đã là huyễn thì thế giới và vi trần trọn
chẳng sai biệt. Muôn pháp trước mắt sanh ra từ đâu, diệt đi về đâu? Nếu không
sanh diệt thì cả hai thứ năng chiếu, sở chiếu đều không có chỗ để nương vào, tự
thấy Chơn Như Tịch Diệt khắp chốn”.
* Cú
Khúc Khổng Sanh trì trai suốt hai mươi năm, tự nghĩ mình già yếu, băn khoăn sau
khi chết sẽ ra sao nên buồn khóc không dứt. Bồ Tát dạy: “Đừng có buồn khóc. Chỉ
cần tin sâu, tuân hành theo đúng lời ta, tự sẽ có chỗ tốt lành để an thân”. Nói
xong, Bồ Tát dạy bài kệ rằng:
Tây phương có Tịnh Độ
Nhân thiên đều nương về
Ông tu pháp môn này
An ổn chẳng kinh nghi.
* Trầm Văn
Châu là thầy trị thương hàn (*) nổi tiếng chợt đến làm lễ. Bồ Tát hỏi: “Nếu hàn
khí xâm nhập tâm bào thì gọi là bịnh gì?” Ông Trầm đáp: “Gọi là trúng hàn”.
Nhân đó, Bồ Tát dạy đại chúng: “Các ông chỉ biết hễ hàn khí xâm nhập tâm bào
thì gọi là chứng trúng hàn, [chứ chẳng biết] nếu tà xâm nhập tâm thì gọi là
bịnh tổn mạng. Các vị chỉ nghĩ thân bịnh mới là bịnh, lo điều trị; còn cái tâm
mắc bịnh nặng thì chẳng cần tìm thầy thuốc giỏi, chẳng cầu diệu dược, mặc lòng
chịu khổ chẳng hay biết chi. Đáng buồn thay!”
* Vâng lời
Bồ Tát dạy, ông Trần Đại Tâm niệm Phật cực kỳ chí thành. Bồ Tát dạy cho bài kệ
sau:
Trong ao bát đức đã trồng sen
Quả nhiên nhất niệm thật thâm huyền
Vun bồi tuy cậy Như Lai lực
Nở lớn toàn nhờ quyết định tâm.
(Bát đức trì trung liên dĩ chủng,
Quả nhiên nhất niệm thậm thâm huyền
Tư bồi tuy tạ Như Lai lực
Trưởng dưỡng toàn bằng quyết định
tâm)
Ngài
lại dạy đại chúng: “Cõi này có kẻ phát nguyện vãng sanh thì cõi An Lạc liền
sanh một đóa sen nên ta mới nói như vậy. Các ông phải nên sanh lòng tin sâu
xa”.
* Ông Tôn
Trung Bạch ưa thuật luyện linh đan, lâu ngày chẳng có công hiệu gì. Nhân đó,
đến pháp hội lễ bái Bồ Tát. Ngài quở: “Hôm nay ông già hói đầu mới chịu mất mặt
đến gặp ta đó ư? Ta hỏi ông: kim đan khi nào luyện mới thành?” Ông thưa: “Vẫn
còn đang cầu luyện được thành”. Bồ Tát bảo: “Nếu luyện thành thì ngàn vạn viên
kim đan nhớ lưu lại mấy viên đừng có nuốt hết vô bụng, đợi đến khi ông gặp mặt
lão già Diêm La hãy khéo đem tặng mấy người thuộc hạ của ổng! Này ông lão si
ngốc! Chuyện đó chẳng phải là phận sự của ông, chi bằng ông hãy lo bổn phận của
mình đi!”
Ông Tôn
bái tạ. Lát sau, Bồ Tát lại bảo: “Này ông già si ngốc! Ông có biết được bổn
phận của mình rồi chưa?” Ông Tôn đáp: “Cầu tự tánh chính là bổn phận của con”.
Bồ Tát dạy: “Ông biết tự tánh đó là lớn hay nhỏ, là xanh hay vàng?” Đáp: “Tự
tánh không có những tướng như thế”. Bồ Tát dạy: “Nếu vậy thì ông muốn hướng đến
chỗ nào để cầu thấy được?” Ông Tôn nín lặng, rồi sanh lòng tin, quy y, nguyện
làm đệ tử, cầu Bồ Tát ban cho pháp danh. Bồ Tát lại dạy bài kệ sau:
Tánh không tướng lớn, nhỏ, xanh,
vàng,
Nào có thanh, danh để ông gọi
Chẳng đạt chỗ huyền diệu trong ấy
Một câu, nửa chữ cũng sai ngoa.
Ta nay
miễn cưỡng đặt tên cho ông là Đạt Bổn. Từ nay quang âm (2) của ông
chỉ còn bảy, tám năm là nhiều, đừng bỏ lỡ công tu hành khổ hạnh suốt băm sáu
năm trong tám trăm năm trước kia”.
Nhân đấy,
ông Tôn hỏi kết cục của thân mình sẽ ra sao. Bồ Tát đáp: ‘Kết cục là kết cục,
lại còn hỏi kết cục là như thế nào nữa ư?’ Ông Tôn bèn hỏi nên tu trì như thế
nào? BồTát dạy: “Một pháp môn Tịnh Độ có thể nhiếp hóa rộng khắp các phẩm. Ông
đã hỏi cách tu trì thì nên niệm A Di Đà Phật, phát nguyện vãng sanh. Hễ đạt
được một điều thì trăm việc đều xong, ông còn phải lo chi nữa”.
* Bồ Tát
lại dạy mọi người như sau: “Từ cổ, giáo pháp của các bậc đại thánh, đại hiền
lúc mới được thành lập đều thật tinh yếu, thật giản dị. Bậc thượng căn nghe đến
liền giác ngộ, kẻ trung căn, hạ căn nghe rồi đều tu tập, đều quy về đại đạo.
Đời sau trước thuật, bày ra lời lẽ rườm rà, lý thuyết phức tạp khiến kẻ phàm
phu chấp chặt thành kiến chấp, đến nỗi càng dạy càng sai, tin sâu những điều tà
quái, lầm lạc cả đời, trọn chẳng tự giác. Như ông Đạt Bổn vì đọc các sách nói
dạy về cách tu tiên, chẳng biết pháp yếu nên tin tưởng tà vạy vào những điều
ngoa truyền, tự cho là mình chứng đắc, chấp chặt không buông bỏ nổi, bạc đầu
vẫn chẳng thành tựu, sanh ra lắm nỗi phiền não. Bồ Tát thấy ông ta thật là đáng
thương quá. Vì thế các ông phải biết lỗi xưa, nên tôn sùng chánh tín”.
* Một khi
nọ, lúc Bồ Tát sắp giáng lâm pháp hội, cả tám người đệ tử: Vô Hủ, Thường Nhiếp,
Thường Nguyên, Định Mậu, Đạt Bổn, Tra Định Hoằng, Trần Định Chuyên, Tra Định
Mẫn cung kính, nghiêm trang chờ đợi, cùng xướng Phật hiệu, chợt nghe mùi hương
lạ từ trên không trung lan tới. Mọi người đều hoan hỷ, cho là chưa từng có. Bồ
Tát nói:
– Lành
thay! Lành thay! Các ông có biết là chúng ta họp mặt ngày nay là do túc nhân
hay chăng? Xưa kia, vào năm Thiên Giám thứ sáu đời Lương Võ Đế (năm 507), ta
xuất gia ở chùa Tịnh Nhân thuộc Đông Quận của nước Bắc Ngụy làm một vị đại tỳ
kheo. Nhân tránh loạn nên đi xuống miền Nam, trụ tích (3) dưới chân
núi Kê Minh. Lúc ấy, tám người theo ta tu học. Chẳng lâu sau, do nạn binh đao
nên lạc mất nhau. Hai năm sau đó, ta thị tịch tại chùa Thiên Trúc ở Vũ Lâm. Sau
đấy, dưới triều vua Đường Hy Tông (4) ta lại làm con cả của Hiến
Vương ở Thanh Hà, cũng bỏ quan vị xuất gia. Hiện tại, tám người các ông cùng tụ
hội niệm Phật cũng do chính ta khai phát đạo tâm, thật giống hệt như xưa chẳng
khác. Nhưng kể từ khi các ông xa cách ta đến nay suốt hơn tám trăm năm, vẫn cứ
nổi trôi chưa biết hồi đầu, thật là đáng thương, thật là đau đớn! Nay ta vì các
ông chỉ rõ lại các hạnh nghiệp đã tu cho mau được thành tựu, sớm được giải
thoát, ai nấy phải lắng nghe kỹ”.
* Bồ Tát
dạy ông Vô Hủ: “Từ trước đến nay, tuy ông học theo huyền môn nhưng vẫn cung
kính chư Phật. Nên biết rằng đấy là do túc nhân. Giờ đây ông phải nên mau phát
thâm tâm, siêng tu Tịnh nghiệp làm người hướng dẫn những người khác, chẳng để
lỡ uổng thời gian mười ba năm này. Ta truyền cho ông bài kệ sau đây:
Tám trăm năm trước sẵn tiền duyên
Ngày nay gặp gỡ chỉ thanh thiên,
Đã biết trăng thu nơi bổn tánh
Chớ đến Trường giang nhọc kiếm
thuyền”
* Bồ Tát
dạy ông Thường Nhiếp: “Ông thường trì Đại Bi thần chú, vậy ông trì như thế
nào?” Thường Nhiếp thưa: “Chú được trì rành rẽ phân minh, tâm trì chú trọn bất
khả đắc”. Bồ Tát bảo: “Trì được như thế mới gọi là trì chú chơn chánh. Ta có
bài kệ phó chúc cho ông:
Ông trì Đại Bi chú
Nên biết đại bi tâm
Ly danh lẫn ly tướng
Dùng đó độ quần sanh”
* Bồ Tát
dạy ông Thường Nguyên: “Ông đã xuất gia thì cần phải khiêm nhường, nhu hòa,
kính thờ sư trưởng, chẳng nghĩ cầu lợi cho mình, tăng trưởng chí khí, chớ đừng
suốt ngày ngồi lẫn trong mây khói”. Ông Nguyên không hiểu.
Bồ Tát lại
dạy: “Ông mù mờ như vậy thì có hiểu được cái tâm của chính mình hay không?” Ông
Nguyên im lặng. Bồ Tát dạy ông tụng một biến chú Chuẩn Đề, ông Nguyên vâng lời
tụng theo. Bồ Tát bảo: “Đấy chẳng phải là cái tâm của ông thì gọi nó là cái
gì?” Kệ rằng:
Thấy cái sơ vô tâm
Chính là bổn tâm ông
Một biến chú Chuẩn Đề
Toàn thể thảy phân minh
* Bồ Tát
dạy ông Định Mậu: “Ông trì chú Chuẩn Đề hằng ngày phải dụng tâm miên mật, vi
tế; quán hết thảy cảnh dù ồn hay lặng, dù vật hay chẳng phải vật, dù ưa hay
chán, không thứ chi chẳng phải là hiện thể của chú này, chính là diệu tâm của
ta lưu xuất trong mỗi khắc. Phụng trì như thế ắt đắc quả chứng. Ta cũng dùng
thần lực giúp ông thành tựu, nên tụng bài kệ của ta:
Đôi dòng bí mật
Tức bổn tâm ông
Chớ bảo diệu pháp
Là pháp thậm thâm.
* Bồ Tát
hỏi ông Đạt Bổn: “Ông muốn gì?” Đáp: “Con muốn minh tâm”. Bồ Tát bảo: “Nói
suông đầu môi chót lưỡi mà được sao? Phải siêng niệm Phật, công ấy gấp mười.
Lại dạy cho ông bài kệ như sau:
Ngoài tâm không Phật
Phật là tâm ông.
Tin sâu chẳng ngờ
Nhất niệm vô sanh”.
* Bồ Tát
dạy ông Tra Định Hoằng: “Ông trì kinh Kim Cang Bát Nhã nên biết là có bảy lúc
chẳng nên trì kinh, tức là: tâm hôn ám thì chẳng nên trì, có lầm lỗi thì chẳng
nên trì, vào chỗ bất tịnh vừa xong chẳng nên trì, sau khi uống rượu chẳng nên
trì, bị người quấy nhiễu chẳng thanh tịnh thì không trì, có sự sắp phải làm mà
mình chưa làm thì không trì, tâm nhớ giữ điều chi khác thì đừng trì. Nếu bền
lòng thọ trì thì phải tránh điều ấy. Tụng đến thuần thục thì liền ngay trong
khi quán tâm mà trì. Nếu làm được như vậy thì công đức chẳng thể nghĩ bàn, quả
báo chẳng thể nghĩ bàn. Phật nói ra lời thành thật, ông phải nên gìn giữ lấy.
Ta dạy ông bài kệ sau đây:
Một kinh Bát Nhã
Công đức vô tận
Nhổ gốc vọng tưởng
Thoát bịnh sanh tử”
* Bồ Tát
dạy ông Trần Định Chuyên: “Kẻ tiểu nhân làm ác chỉ sợ người khác biết; người
quân tử làm lành cũng chỉ sợ người khác biết. Ông nên dùng cái tâm dè dặt của
người quân tử để làm Phật sự. Ta bèn có bài kệ như sau:
Đừng mong người khác biết
Chớ mong trời cảm ứng
Thường giữ được nhất tâm
Cho kiên cố, chơn chánh”.
* Bồ Tát
dạy ông Trần Định Mẫn như sau: “Ông chưa đầy 20 tuổi đã biết quy hướng về đạo,
thật là sẵn túc nhân. Nay ta đặt tên cho ông là Mẫn. Chữ Mẫn có bốn nghĩa: thông
duệ, siêng gắng, mầu nhiệm, và nhanh chóng. Thông duệ để trừ sự tối tăm của
ông. Siêng năng là ngăn trừ biếng lười, mầu nhiệm là khai phát trí huệ, nhanh
chóng là phát khởi những gì ông bỏ phế. Ông nên nhìn vào cái tên ấy, suy nghĩ ý
nghĩa, đừng nghĩ là Bồ Tát chỉ cho ông một cái tên suông mà thôi! Ta lại dạy
ông bài kệ sau:
Ông tuổi còn nhỏ
Nên học hiếu đễ
Để mà giữ thân
Đừng đánh mất chí”.
* Ngày hôm
ấy, ông Trần Đại Tâm đến sau mọi người, Bồ Tát hỏi: “Ông tu trì thế nào?” Ông
đáp: “Con chỉ tu Tịnh Độ”. Bồ Tát bảo: “Ngoài pháp này ra, còn có pháp nào hơn
được nổi đâu? Ta ban cho ông một bài kệ:
Đạo không nói gì khác,
Chỉ là tâm mà thôi
Thai sen vừa mới thành
Chuyên ròng, đừng nhị tâm”.
* Bồ Tát
nói: “Một môn Tịnh Độ ta dạy đó thật sự là tâm tông của chư Phật, là đường tắt
của trời người. Nay các ông tuy cầu vãng sanh nhưng phát nguyện chưa thiết tha,
như người vào trong biển cả chẳng nhặt lấy bảo châu thì chỉ nhọc nhằn vô ích
thôi! Xưa kia vào thời Tấn Minh Đế (323-326), ta mang thân nghèo hèn. Vì bần
khổ nên phát đại nguyện rằng: ‘Tôi do túc nghiệp chịu lấy khổ báo này. Nếu ngày
hôm nay tôi chẳng được thấy đức A Di Đà Phật, sanh về cõi Cực Lạc, thành tựu
hết thảy công đức thì dẫu cho táng thân trọn chẳng lui nghỉ’. Thề xong, trong
bảy ngày bảy đêm, chuyên tinh ức niệm, tâm liền được khai ngộ, thấy A Di Đà
Phật: tướng hảo quang minh khắp cả mười phương thế giới. Ở ngay trước Phật, ta
đích thân được thọ ký. Sau đấy, đến năm bảy mươi lăm tuổi ngồi tịch.
Đã sanh về
cõi Cực Lạc rồi, sau vì ý nguyện độ sanh sâu nặng nên lại sanh vào thế giới
này, tùy theo từng nơi mà hiển hóa: hoặc làm tỳ kheo, hoặc làm cư sĩ, hoặc làm
quốc vương, hoặc làm quan lại, hoặc mang thân nữ, hoặc làm kẻ đồ tể, ăn mày, dù
ẩn hay hiển, dù thuận hay nghịch, đều tùy thuận thuyết pháp, dẫn dắt các phẩm
loại. Lại vì đa số chư tiên chẳng ngộ chơn thường, ham thuốc trường sanh, chẳng
mong tấn tu, ta bèn hiện thân tiên cứu họ khỏi đọa đường mê như chuyện đời vua
Đường Hy Tông. Nay ta lại vì các ông phân biệt rõ tà chánh, xiển dương Tịnh Độ.
Các ông phải nên nhất ý nhất tâm, tu trì bền chặt pháp môn này, chẳng lầm lạc
nữa. Nếu tâm chí chuyên nhất bền chặt thì chẳng cần phải đợi chết đi mới vãng
sanh mà ngay hiện tiền cũng được thấy Phật giống như ta khi xưa chẳng khác. Ta
có bốn câu kệ như sau:
Nói ít một câu chuyện
Niệm nhiều một câu Phật
Đánh chết được vọng niệm
Pháp thân ngươi hiển lộ”
* Hoặc có
kẻ hỏi: “Kẻ học nhân làm thế nào để lìa được trần dục, được vô chướng ngại?”
Bồ Tát
dạy: – Ta sẽ do cái nhỏ mà suy ra cái lớn, từ cái bên ngoài suy ra cái bên
trong. Các ông nên khéo hiểu nghĩa ấy. Có kẻ làm như thế này: Vô cớ đoạt mất
của ông một tiền thì các ông có nổi nóng hay không?
Đáp: – Tuy
một tiền là nhỏ nhưng thấy có kẻ đoạt mất thì sân.
– Lại có
kẻ vô cớ cho các ông một tiền, có sanh lòng vui sướng chăng?
– Dẫu một
tiền là nhỏ, nhưng thấy có người cho ắt mừng.
Có người
đáp: “Một tiền rất ít nên được cho cũng chẳng đáng vui, bị đoạt mất cũng chẳng
đáng giận!”
Bồ Tát
bảo: “Ông biết được như thế thì tâm phải thanh tịnh từ lâu, sao mãi đến giờ đây
vẫn còn chìm đắm trong trược cấu? Các ông phải biết đó là vì học nhân chẳng cẩn
mật tẩy trừ cái tâm nên thấy có, thấy không, chỗ nào cũng dính mắc hết, niệm
nào cũng tham. Do vì nghiệp thức rộn ràng không thể tạm đình chỉ cho nên dẫu
niệm một câu A Di Đà Phật, tâm tưởng vẫn rong ruổi theo cảnh ngoài như cũ, chưa
thể trong khoảnh khắc quy về một chỗ được. Ấy là do các ông trong vô lượng kiếp
chưa hề phát khởi cái tâm xa lìa trần dục dẫu trong một lúc hay trong một ngày.
Bởi thế, từ vô thỉ kiếp đến nay, trần dục chưa hề chịu lìa khỏi tâm các ông
trong một lúc hay trong một ngày. Thân trói buộc, tâm vấn vít, thâm nhập lưới
trần, nào có được như hoa sen tuy mọc lên từ bùn nhơ nhưng chẳng bị nhiễm bẩn!
Vì vậy, muốn đoạn tham chấp thì trước hết đối với chuyện người khác đoạt mất
hay ban cho một tiền phải quán sát buông bỏ, phải coi đó chẳng phải là chuyện
của mình, bị đoạt mất không sân, được cho cũng chẳng vui. Như thế cho đến trăm
ngàn vạn tiền, cho đến ức ức vạn tiền, cho tới quốc thành, thê tử, cho đến thân
nhục cốt tủy, cho đến tâm ý, ý thức quá khứ hiện tại vị lai, thậm chí sanh tử
nghiệp báo, Bồ Đề, Niết Bàn, hết thảy đều coi giống như chuyện được cho hay bị
đoạt mất một tiền chẳng khác gì thì tự nhiên tập khí, hữu lậu tiêu mất, chướng
duyên vĩnh viễn diệt mất, dần dần được thanh tịnh, thành tựu đạo phẩm. Các ông
nên y theo đó mà tu hành, đừng đắn đo đến nỗi bị vướng vất, trở ngại”.
* Ngày
mồng Hai đầu mùa Đông là ngày đản sanh của Bồ Tát, mọi người bày lễ chúc thọ.
Bồ Tát hỏi: “Các ông lấy vật gì mừng thọ ta?” Ai nấy đều thưa: “Dùng tâm cúng”.
Bồ Tát hỏi: “Tâm là vật gì mà đem cúng được?” Đáp: “Chỉ một tấm lòng chí thành,
vốn không có vật gì!” Bồ Tát bảo: “Đã bảo là không vật thì ai biết là chí thành?
Nếu biết là chí thành thì ắt phải có xứ sở. Đã nêu bày được sao còn nói là
chẳng có vật gì?” Đáp: “Thật chẳng thể được”. Bồ Tát nói: “Các ông nói là chẳng
được thì đó là tạm không có hay là quyết định không có?” Mọi người suy nghĩ
chưa đáp nổi thì Bồ Tát nói: “Nếu không thì quyết định là không, hễ có thì
quyết định là có. Nghi ngờ chút xíu sai cách muôn trùng. Phải biết là các ông
nói là chơn thành hay hư vọng, bảo có, nói không đều là tâm khởi diệt, suy
tính, cân nhắc, so đo. Đem cái tâm ấy chúc thọ ta thì đều vô ích cả. Hãy nghe
diệu kệ của ta:
Chí chơn vô nhị tâm
Chí chơn vô lượng tâm
Tâm chẳng phải hết thảy tâm
Hết thảy tánh chẳng phải tâm
Trừ vọng tâm chẳng thật,
Nương chơn tâm cưỡng gọi
Chơn lẫn vọng chẳng lập
Nam mô Phật Thích Ca
Hiểu tâm không xứ sở
Phương tiện phước quần sanh”
* Khi ấy,
các đệ tử lại đều làm lễ, xin được nghe pháp yếu. Bồ Tát bảo:
– Lành
thay! Lành thay! Các ông lại mong được nghe pháp yếu, chí thành tin hiểu lời ta
dạy, hãy khéo đáp câu hỏi của ta: Ví như có kẻ bảo người khác là Yên Kinh (Bắc
Kinh) là kinh đô của đế vương, phú quý khôn sánh. Người ấy nghe nói có mong đến
được nơi đó hay không?
Mọi người
cùng đáp: – Dạ có.
Bồ Tát
bảo: – Ông chẳng biết đường đi thì làm sao đây?
Mọi người
cùng đáp: – Đã có người chỉ vẽ thì cứ theo lời chỉ ấy mà đi.
Bồ Tát
nói: – Chẳng được! Nếu kẻ đó chỉ đi về phương Nam hay phương Đông mà các ông
chẳng rành, cứ theo lời chỉ mà đi thì càng lúc càng xa Yên Kinh hơn nữa.
Mọi
người hỏi: – Nếu vậy thì nên làm như thế nào?
Bồ Tát
dạy: – Rốt cuộc, có người đã từng đến Yên Kinh, dạy người ấy như sau: “Ngươi
phải đi theo hướng Bắc thì mới thẳng đến đế đô được”. Này các đệ tử! Lời dạy
của người đó có sai lầm hay chăng?
Ai nấy cúi
lạy đáp: – Chẳng sai!
Bồ Tát
bảo: – Lại ví như có người muốn lên được dãy núi cao cả vạn nhận (5),
lên đảnh núi chín tầng thì nên dạy kẻ đó như thế nào?
– Phải từ
thấp lên cao.
Bồ Tát
dạy: – Đúng thế. Cổ nhân bảo: “Đi ngàn dặm bắt đầu từ lúc đặt bàn chân xuống”.
Cần phải từ nấc thứ nhất tiến lên nấc thứ hai, cho đến nấc cao nhất thì mới là
nói đúng. Nếu bảo chỉ cần một bước lên ngay được chỗ cao nhất thì là nói khoác.
Lại ví như có người được vua phong cho làm quan, vua hỏi kẻ ấy: “Ngươi muốn làm
tể tướng hay làm chức quan nhỏ?” Người ấy sẽ tâu như thế nào?
Mọi người
đáp: – Chắc chắn là muốn làm tể tướng.
Bồ Tát
bảo: – Đúng vậy! Lại ví như có người ở nơi đường rẽ chẳng biết theo đường nào.
Có kẻ thương hại đến bảo: “Phía bên này thật hiểm trở, thật ngoắt nghoéo, chẳng
tiện ra khỏi được, Còn phía bên này thật thẳng, thật rộng, thật bằng phẳng, đi
theo đường ấy sẽ được thoát ra khỏi”. Người ấy nghe chỉ, đối với hai con đường
ấy sẽ đi theo đường nào?
Mọi người
đáp: – Đi theo đường con đường ngay thẳng, to lớn, đi con đường bằng phẳng.
Bồ Tát
bảo: – Hay thay! Hay thay! Những câu các ông đáp lời ta hỏi đều hợp chánh lý,
nhưng các ông có hiểu rõ các thí dụ ta vừa nói đó chăng?
Mọi người
lại làm lễ thưa: – Kính xin Bồ Tát khai thị.
Bồ Tát
nói: – Hãy nghe kỹ! Từ trước đến nay các ông tuy có tâm cầu đạo nhưng chẳng
biết bí quyết tu hành, không biết hướng theo lối nào, giống như người muốn tới
Yên Kinh nhưng chẳng biết đường nào là đúng. Nếu gặp phải tà sư dạy cho tà pháp
thì giống như đế đô ở phía Bắc lại bảo là hướng về phía Đông, phía Nam mới
đúng. Do vậy, kẻ ấy trọn ngày tu hành nhưng vẫn bơ vơ không chỗ nương náu, làm
sao thân cận đấng Chí Tôn, làm sao thành đại đạo được! Nay ta bảo các ông cõi
Tịnh Độ Di Đà chính là đế đô. Ba thứ Tín, Hạnh, Nguyện càng thêm siêng tinh
tấn, rốt cuộc sẽ vãng sanh. Đó là từ nấc thứ nhất tiến dần tới nấc tối thượng,
mong lên được thượng phẩm. Nguyện như vậy thì làm tể tướng, chẳng nguyện như
thế thì làm quan nhỏ. Tu hành theo đúng như thế là đi theo con đường to lớn,
ngay ngắn, chẳng đi theo con đường cong quẹo vậy. Ta chính là người đã từng đến
Yên kinh. Nếu các ông chẳng tin tưởng sâu xa vào ta thì chính là bỏ đế đô hướng
đến biên địa, bỏ ngôi vị tể tướng cao quý để cầu lấy chức quan nhỏ kém hèn; bỏ
con đường to ngay, cầu con đường hiểm trở, rắc rối. Đảnh núi cao ngàn nhận, đảnh
tháp chín tầng chẳng phải là chỗ các ông đạt đến được, thật đau xót lắm thay!”
* Đại
chúng tính tậu ruộng để giúp cho việc tu hành. Bồ Tát bảo: “Các ông muốn khuyến
khích những người đồng học tụ tập lâu dài chẳng tan rã; muốn tạ tuyệt việc đời,
tính kế chẳng phải cầu cơm áo từ nơi người khác nữa nên mới bàn như vậy. Nhưng
ta xem ra: ý niệm ban đầu tuy tốt, nhưng xét rốt ráo lại chính là trần lao tham
luyến, chẳng phải là pháp thanh tịnh. Vì sao vậy? Một chén cơm bên đường, tối
ngủ nơi gò mả chính là khuôn phép hành đạo của đức Phật khi trước. Nếu nhất
định cần phải nhờ vào ruộng mới tu hành được thì giả như việc ấy không thành
bọn các ông sẽ trọn chẳng có một ngày nào tu hành ư! Các ông lại bảo tự mình
chẳng có vốn sẽ ra sức tự mộ hóa (khuyên người khác đóng góp), như vậy lại càng
không được! Trong một đời giáo pháp của Phật chẳng có hai chữ ấy (tức là hai
chữ “mộ hóa”). Đấy là hành vi của kẻ trong đời mạt, chẳng biết lễ nghĩa, chẳng
sợ nhân quả, chẳng biết liêm sỉ. Người tu đạo chơn chánh thiết tha lo việc sanh
tử, dứt khoát chẳng nghĩ đến chuyện ấy. Ta lại có một lời bảo các ông: Bọn các
ông chỉ nên chấp trì chánh niệm, ai nấy nỗ lực thì chính là chẳng tụ tập mà lại
tụ tập. Còn nếu thân tâm tán loạn, phóng dật, chẳng thường tu hành thì dẫu có
tụ tập mà thật ra là tan tác. Chỉ cần hiểu được ý này, cứ nên tùy phận, tùy
thời, chẳng cần phải bận tâm tính trước chi cả!”
* Bồ Tát
lại bảo đại chúng: “Các ông lo ngại thân mình bị ràng buộc trong lưới rập thế
sự, ý niệm chẳng được thanh tịnh ư? Ta có một pháp: các ông chỉ cần phát nguyện
xa lìa, cầu giải thoát, tâm khăng khăng quy hướng thế giới Cực Lạc gặp Phật A
Di Đà, buông bỏ cái tâm bon chen danh lợi liền có thể dứt trần lao, bước trên
đường giác”.
* Có người
hỏi niệm Phật chẳng nhất tâm nổi, nên dùng phương cách gì, Bồ Tát dạy: “Ông chỉ
cần dứt ý tưởng lo cầu đắc định, cứ từ từ niệm, cốt sao tiếng hợp với tâm, tâm
nương theo tiếng. Niệm lâu ngày, tự được các niệm lặng trong, tâm cảnh tuyệt
chiếu, chứng nhập Niệm Phật Tam Muội. Nhưng thường ngày cần phải niệm cho
nhiều, từ ngàn niệm đến vạn niệm. Tâm không gián đoạn thì căn khí mới dễ thành
thục nhất. Nếu cưỡng ép tâm chuyên nhất thì trọn chẳng chuyên nhất nổi”. Ngay
khi ấy, ông Đạt Bổn ngồi dưới tòa Bồ Tát chợt niệm lên mấy tiếng. Bồ Tát
bảo: “Như thế đó! Như thế đó!”.
* Các đệ
tử muốn tạo tượng cúng dường, thỉnh Bồ Tát hiện bày pháp tướng. Bồ Tát đáp:
“Các đệ tử muốn tạo tượng cúng dường, sẵn lòng thành từ lâu, đúng lẽ ta phải
hiện bày; nhưng các ông trong trần lao, ta trong diệu minh, nay ta có hiển
hiện, các ông cũng chẳng thấy được. Hơn nữa, ta tùy cơ cảm hóa, thân tướng bất
nhất. Nay chỉ căn cứ vào gốc gác khởi tu, các ông có thể vẽ ta dưới hình dạng
một vị đại tỳ kheo, mặt như trăng tròn, hình thể khôi ngô, đắp ca sa, ngồi trên
hoa sen, tay trái úp trên gối, tay phải trong tư thế thuyết pháp. Giữa hai mày
phóng ánh sáng bạch hào, trong quang minh ấy có đức A Di Đà Phật ngồi xếp bằng.
Cần phải vẻ tướng hảo trang nghiêm, chẳng được vẽ sơ sài”.
Mọi người
nghe xong, liền chắp tay đứng suy tưởng pháp tướng như thế. Bồ Tát bèn nói:
“Này các đệ tử! Ai ai cũng có giác minh diệu hạnh, chẳng ở ngay nơi đây, cũng
chẳng rời lìa, tìm nó ngay nơi các ông, đừng chấp vào đâu cả. Giác minh diệu
hạnh luôn xuất hiện trong mỗi thời. Nay các ông đã minh bạch thì chẳng cần phải
tạo tượng cúng dường, nguyện có ngày sẽ được gặp ta”.
* Ông Tra
Định Hoằng làm đám ma cho con mình xong, muốn bỏ nhà xuất gia. Bồ Tát dạy: “Ông
chớ nghĩ đến điều ấy. Điều ấy ông làm không nổi! Ông chỉ cần chánh tâm để trị
tâm, chánh thân để trị thân, dứt việc vô ích, tuyệt giao bạn bè vô ích, quy tâm
về Đại Giác, nguyện thoát khỏi đường mê, rót con sóng lớn để thấm nhuần cõi đất
khô khan của chính mình, siêng cầu gia bị, diệt các chướng duyên. Ông tính cầu
thọ để giữ gìn tấm thân thì nên dốc sức vào chuyện đó, đừng nói nhiều”.
Ông Định
Hoằng lại hỏi là ông phụng trì kinh Kim Cang, nhưng câu chữ [trong các bản lưu
hành] chẳng giống nhau, nên tuân theo bản nào để khỏi bị lầm lẫn? Bồ Tát bảo:
“Bảy chữ Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật trọn không lầm lẫn”.
* Ông Trầm
Thiên Vũ mắc bệnh, bày lễ cầu Bồ Tát chỉ dạy. Bồ Tát bảo: “Ông nay mắc bịnh vẫn
còn chưa chết thì nên dứt mọi buộc ràng, an tâm đoan tọa, niệm thân vô thường,
niệm thế vô thường. Tất cả vọng duyên buông bỏ xuống hết, từ từ niệm một câu A
Di Đà Phật, tự nhiên lục trần chẳng sanh, nhất tâm thanh tịnh thì chẳng những
lành được căn bịnh trong đời này mà căn bịnh sanh tử cũng nhờ đó được dứt khỏi.
Nay ông bày lễ xin chỉ dạy, chẳng qua chỉ mong ta có phương thuốc thật hay dành
cho ông hay sẽ truyền khẩu quyết trị lành bịnh cho ông. Ông nào có biết là Bồ
Tát không hề có những pháp hư ngụy như thế, chỉ có đôi lời thành thật này dạy
ông mà thôi. Ông nếu tin tưởng làm theo thì đó thật sự là một thang thuốc
thượng phẩm, linh đan diệu được. Ta truyền cho ông bài kệ sau đây:
Bịnh tự mình sanh ra
Cũng do mình chữa dứt
Gìn giữ tâm thanh tịnh
Thường sẽ được an vui
Bền lòng chẳng tham luyến
Sẽ giống Vô Lượng Thọ”
* Bồ Tát
dạy ông Đạt Bổn: “Ông muốn tỏ thấu rốt ráo cái tâm, thật là có chí, nhưng ông
ôm cả một bụng châu sa, chì, thủy hỏa; những chuyện như bổn lai diện mục, chơn
không, chơn tịnh… thực chẳng biết gì thì làm sao làm được? Ông nên đem cái mớ
đó ném ra ngoài biển Đông mới được. Nếu không thì uổng cả tâm trí, lầm lạc công
phu. Chẳng bằng đích đích xác xác niệm một câu A Di Đà Phật. Minh tâm cũng bởi
đấy, vãng sanh Cực Lạc cũng do đấy, nhất cử lưỡng tiện, thật là hết sức tiện
lợi”.
* Ông Vô
Hủ hỏi: “Làm thế nào để báo đáp tổ phụ?” Bồ Tát hỏi: “Thế gian nghĩ thế nào là
hiếu bậc nhất?” Thưa: “Cung kính, phụng dưỡng, làm lành, chẳng quên ân đức tổ
tiên”. Bồ Tát dạy: “Đấy tuy là hiếu nhưng còn hữu hạn. Chỉ nên phát đại nguyện,
tu pháp xuất thế. Nếu như đạo thành quả mãn thì phước chẳng những ảnh hưởng đến
chín đời tổ tiên mà kẻ oán người thân trong bao kiếp cũng nhờ đó được giải
thoát. Ông nếu có thể chuyên tu Tịnh Độ thì là đại hiếu vậy”.
* Ông Định
Mậu hỏi: “Trì chú như thế nào để minh tâm, thế nào là trì chú rốt ráo?” Bồ
Tát dạy: “Tâm chẳng lìa chú, chú chẳng rời tâm; ấy là ý nghĩa của trì chú.
Trong tất cả thời ông nên quán sát bản thể của chú và bản thể của tâm ông là
một hay là hai? Nếu bảo là hai, làm sao tâm trì được chú, chú hiển lộ được tâm?
Nếu bảo là một thì tại sao hễ quên thì không có chú, hễ nhớ lại có chú. Do vậy,
biết là chú này cùng tâm lìa các danh tướng, rốt ráo không tịch. Đó gọi là rốt
ráo. Nếu chỉ trì mà chẳng rốt ráo thì chẳng có diệu giải, làm sao hiển phát
được đại trí huệ bình đẳng? Đại trí huệ bình đẳng chẳng hiện thì biết nhờ đâu
để soi tỏ hôn mê sanh tử, đạt được thật tế của tam giới?”
* Ông Đạt
Bổn hỏi: “Mỗi lần con niệm Phật ra tiếng là dễ nổi nóng, con có nên thầm niệm
hay không?” Bồ Tát nói: “Ông nói niệm Phật một tiếng là nổi nóng. Vậy sao ông
suốt ngày trò chuyện cùng người khác chẳng nổi nóng chút nào? Ông nên biết rằng
sự nóng giận đó chính là vô minh phiền não của ông từ bao kiếp tích tụ lại. Do
ngày nay ông tin chưa chơn thật nên lửa nóng giận theo câu niệm mà sanh, lửa
nóng giận theo vọng niệm sanh ra thiêu đốt pháp thân huệ mạng của ông.
Xưa kia,
đức Mâu Ni Thế Tôn vì đại pháp trong vô lượng kiếp xả thân cầu đạo nên mới
thành đấng Vô Thượng Bảo Vương. Nay ông tuổi tác, sức lực đã suy, sáng tối
siêng năng tu hành còn sợ chậm trễ, lẽ đâu vẫn luyến tiếc trần lao, mong cầu
linh đan, diệu dược hòng được sống lâu tăng thọ? Ông chẳng nghe cõi trời Phi
Phi Tưởng còn có lúc báo tận, kiếp hỏa cháy rụi hư hoại đến tận cõi Tam Thiền,
huống hồ là khăng khăng bám vào pháp thủy, hỏa, châu sa, thủy ngân giả duyên
hòa hợp hòng cầu vĩnh viễn chẳng bị biến diệt ư? Ông nay nghe lời ta nói như
người ngủ mơ mới thức dậy, như người say mới tỉnh, phải siêng tu Tịnh Độ, chánh
niệm vãng sanh. Trong thế giới ấy, thọ mạng vô cùng vô tận, thành tựu pháp
thân, đắc Nhất Thiết Trí, nào có phải giống như là thuật trường sanh thô thiển
ta thường thấy, thường bàn luận hằng ngày đâu?”
* Ông Tra
Định Hoằng hỏi: “Lúc trì chú, con hay sanh sợ hãi, xin Bồ Tát dạy cho!” Bồ Tát
nói: “Ai đến dọa ông? Ai là kẻ sợ hãi? Do tập khí bất tịnh trong đời quá khứ
của ông nên từ trong ý tưởng nhỏ nhiệm chợt hiện ra những tướng trạng ấy. Ông
chỉ nên tinh thành trì tụng, tự nó sẽ trừ diệt, được việc lành tùy thuận như ý,
dẹp được phiền não, tạo nhập huyền vi, còn sợ hãi chi!”
* Ông Trần
Định Dục vì mẹ bị bệnh nên đến cầu đảo, hỏi nên làm công đức gì để mẹ được lành
hẳn. Bồ Tát dạy cho bài kệ như sau:
Hiếu đứng đầu muôn đức
Quý nhất trong tam tài
Lớn lao thay hiếu hạnh
Là thầy của loài người
Ông vì lòng hiếu hạnh
Cầu mẹ được bịnh lành
Ông đang lúc vui sướng
Nghĩ nhớ mẹ đớn đau
Ông dùng thức ăn ngon
Nhớ mẹ ăn không nổi
Ông mặc áo mịn mềm
Nhớ mẹ thân máu mủ
Dơ bẩn cả áo chăn
Lộ bày cả hông ngực.
Thường nghĩ suy như thế
Sáng tối chẳng hề quên
Quy mạng đức Đại Thánh
Tinh thành chẳng nhị tâm
Tận lực làm việc thiện
Hầu báo đáp tứ ân
Nguyện mẹ được thêm phước
Nguyện mẹ tăng tuổi thọ
Nguyện bịnh mẹ được lành
Nguyện mẹ thân mạnh khỏe
Đức Bồ Tát Giác Minh
Là đấng ông dựa nương
Chỉ làm đúng lời ta
Không nguyện chi chẳng thỏa
* Ông Định
Mậu muốn bỏ trì chú để niệm Phật nên thưa hỏi. Bồ Tát dạy: “Ông muốn bỏ trì chú
để niệm Phật, nhất chí chuyên tu rất tốt, nhưng ông chưa biết pháp yếu, chỉ
đáng gọi là người hiền lành trì trai, chưa đáng gọi là người niệm Phật. Vì sao
vậy? Muốn vượt biển cả phải sắm thuyền to. Muốn đi ngàn dặm phải chọn ngựa hay.
Bởi vậy, người niệm Phật phải có thủ đoạn lớn: cắt đứt mọi trói buộc, xé toang
lưới trần, ngay cái niệm này chính là Phật, ngay đức Phật là tâm (tức niệm thị
Phật, tức Phật thị tâm), cho đến lìa cả cái tức lẫn cái phi đó, đốn nhập Như
Lai Đại Quang Minh Tạng. Như vậy mới gọi là chánh niệm niệm Phật, mới đáng gọi
là người niệm Phật. Ông phải khéo hiểu nghĩa này”.
* Có bốn
vị tăng nhỏ tuổi đến yết kiến Bồ Tát. Ngài dạy: “Các chàng trai trẻ! Chúng sanh
từ vô thỉ đến nay do ân ái nên thành quyến thuộc. Trong quyến thuộc, cha mẹ có
ân nặng nhất đối với con cái, yêu mến thiết tha nhất, khó cắt đứt, khó buông bỏ
nổi. Nay các ông xuất gia lìa tục, được làm tỳ kheo thì nên biết là cha mẹ lại
có ân càng sâu nặng hơn nữa đối với các ông, chẳng thể dùng lời lẽ nào để ví dụ
được nổi.
Vì vậy,
các ông phải tận dụng lúc tuổi trẻ, sức mạnh này để siêng tu đạo nghiệp hòng
báo đáp tấm lòng cha mẹ đau đớn cắt ân đoạn ái lúc ban đầu thì mới chẳng thẹn
cho hai chữ ‘xuất gia’. Nếu lại phóng dật, biếng nhác đến nỗi suốt đời đọa lạc
thì là gã bất hiếu nhất trong những kẻ bất hiếu, làm kẻ tội nặng nhất trong
vòng trời đất. Phải nên đau đáu nghĩ nhớ lời ta dạy”.
* Bồ Tát
lại dạy đại chúng rằng: “Này các đệ tử! Một thân người do cha mẹ sanh ra, cha
mẹ nuôi nấng. Đối với mọi việc làm ăn, các thứ thọ dụng hiện tại của các ông
dẫu cho cha mẹ chưa từng cho ông được đồng nào, nhưng thân các ông vẫn là do
cha mẹ sanh ra nên mới có được như ngày nay! Trong muôn sự, thân là lớn, thân
là gốc. Cứ từ gốc mà suy, chẳng phải là ân cha mẹ khó nói hết được hay chăng?
Vì thế Phật dạy: ở bên cha mẹ nói lớn tiếng, nói nặng lời còn mắc vô lượng tội,
huống hồ là ngày nay có kẻ còn tệ quá hơn thế nữa!
Nếu bảo là
chẳng nhịn nổi cha mẹ, không thể không tranh cãi thì xem cha mẹ có khác chi
người ngoài đường! Chỉ nên vui vẻ thuận theo, cha mẹ ắt có ngày cảm động, quyết
chẳng nên tranh cãi rằng cha mẹ sai, mình đúng, làm kẻ trái trời nghịch người!”
* Bồ Tát
nói: “Này các đệ tử! Nên biết rằng mười phương chư Phật là tâm chúng sanh, mười
phương chúng sanh là tâm chư Phật. Vì vậy, nhớ Phật, niệm Phật chính là mười
phương chư Phật hiện trong tâm các ông, nhưng cũng chẳng phải là mười phương
chư Phật vào trong tâm các ông, cũng chẳng phải là tâm các ông rời khỏi chư
Phật. Đấy đều là giác diệu bổn minh chẳng thể nghĩ bàn”.
* Bồ Tát
nói: “Tâm hành xứ diệt là chơn tâm thường trụ của chư Phật. Tâm hành xứ hữu là
nghiệp tâm sanh tử của chúng sanh, chẳng có kẽ hở bằng tơ tóc. Nếu các ông có
thể miên mật gia công, khiến cho cái tâm này không chút hở trống thì mới được
tương ưng đôi chút. Đừng tu sơ sài nửa năm, mười tháng rồi tự cho là mình đã
khổ tâm tu đạo, chẳng biết rằng đấy chính là điều chướng đạo, cần phải dè
chừng.
Hơn nữa,
dẫu gia công tu tập mạnh mẽ nhưng nếu chưa đạt đến mức như tường đồng, vách
sắt, đẩy chẳng đổ, dời chẳng lay thì vẫn chưa tạo thành một phiến [nhất tâm],
chớ nên thấy có chút ảnh hưởng đã ngừng tay. Ấy là nửa đường bỏ dở, đến nỗi phí
hết công lao khi trước, chẳng lợi ích mảy may. Đây chính là căn bịnh lớn của
người học đạo, các ông chẳng nên không biết! Cần phải biết rằng: Phật pháp như
biển cả, càng vào bên trong càng thấy sâu, dứt khoát chẳng thể dùng chút tri
kiến nhỏ nhoi hòng lãnh hội được hết nổi. Phải tu tập suốt đời, gắng hết sức tu
tập, đừng nghĩ là dễ dàng”.
* Bồ Tát
nói: “Niệm Phật Tam Muội là từ do đại thế lực nơi tâm ông tạo thành chứ chẳng
phải là do cái khác mà có. Nay các ông niệm Phật suốt ngày đêm vẫn chẳng được
nhất tâm, loạn tưởng vẫn còn cách trở chơn tâm đều là vì chưa tận lực dụng
tâm”.
* Ông Cố
Định Thành xin Bồ Tát chỉ dạy, ngài bảo: “Ông đến am này muốn tu Tịnh nghiệp,
có biết làm sao để được vãng sanh Cực Lạc không?” Đáp: “Niệm Phật vãng sanh”.
Bồ Tát hỏi: “Ông biết niệm Phật thế nào để được vãng sanh chăng?” Định Thành
đáp: “Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn”. Bồ Tát hỏi: “Thế nào là nhất tâm
bất loạn?” Định Thành chẳng đáp được.
Bồ Tát
dạy: “Ta thấy ông chỉ nói giỏi chứ chưa thể tu hành đúng pháp. Ông nên lắng
nghe lời ta nói. Này thiện nam tử! Tâm vốn vô niệm, hễ niệm thì tưởng sanh.
Tưởng ấy hư vọng, lưu chuyển sanh tử. Nay ông nên biết: Một câu A Di Đà Phật
đây chẳng từ tưởng sanh, chẳng từ niệm có; chẳng trụ vào trong hay ngoài; chẳng
có tướng mạo thì các vọng tưởng chấm dứt. Thân thanh tịnh vi diệu chơn thật của
Như Lai chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng thể phân biệt. Niệm như thế thì
phiền não trần lao liền chẳng đoạn, chẳng trói, chỉ là nhất tâm. Phải đạt nhất
tâm mới gọi là chấp trì danh hiệu, mới gọi là nhất tâm bất loạn, Tịnh nghiệp
thành tựu, chứng ngay vào thượng phẩm”.
Ông
ĐịnhThành lại làm lễ, thưa: “Phàm phu đời trược tâm trí cạn cợt, kém cỏi, chưa
thể thâm đạt chí lý, xin ngài dạy rõ cho!” Bồ Tát nói: “Ông nay nên phát đại
nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc. Sau đó, chí thành khẩn thiết xưng niệm A Di Đà
Phật sao cho tiếng niệm duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tiếng và tâm
nương dựa lẫn nhau như mèo rình chuột, lâu ngày chẳng mất thì nhập chánh ức
niệm tam muội. Lại phải tiến thêm bước nữa, nên học hỏi với mọi hạng tri thức,
học cao hiểu rộng, tự ngộ chơn lý mầu nhiệm ‘tâm này chính là Phật’. Ông nay
nên đầy đủ lòng tin sâu xa, đừng bắt chước hạng ngu tối nghe rồi chẳng tin,
cũng đừng học theo bọn nửa chơn, nửa giả, nửa tin, nửa ngờ; tuy mang tiếng lãnh
thọ nhưng chẳng có tâm phụng hành chơn thành”.
* Bồ Tát
bảo bà mẹ ông Tra: “Sao bà chẳng siêng năng niệm Phật?” Đáp: “Do tôi có thêm
con cháu, thường hay ẵm bồng, sợ mình bất tịnh’. Bồ Tát dạy: “Bà nghĩ mình bất
tịnh niệm Phật sợ bị mắc tội chứ chẳng biết không niệm Phật mang tội vô lượng.
Đừng ngại tịnh hay chẳng tịnh, chỉ cứ niệm mà thôi”.
* Ông Trần
Vĩnh Thọ hỏi về kết cục, Bồ Tát dạy cho bài kệ:
Tiết dục, tránh sân,
Là phép giữ thân
Thâu liễm an tịnh
Là phép giữ nhà
Cưới xin tùy sức
Là cách bớt việc
Làm lành niệm Phật
Là pháp xuất thế
Giữ bốn pháp ấy
Kết cục thông đạt.
* Ông Cố
Thiện Ký hỏi việc chung thân và cách thức làm lành, Bồ Tát dạy: “Nếu ông giữ
được tâm chánh đáng, làm việc chánh đáng thì sẽ được chung thân chánh đáng. Nếu
ông ôm lòng tà, làm việc tà, ắt bị tà chung thân. Còn với một chữ Thiện thì tùy
thời, tùy chốn mà làm. Việc lớn, việc nhỏ đều được. Cũng nên tránh giết chóc,
phải phóng sanh, tùy sức giúp kẻ nghèo, giúp người khổ; trì niệm A Di Đà Phật,
hồi hướng Cực Lạc. Ngày ngày [làm như thế] chẳng gián đoạn, suốt cả ba năm
chẳng thay đổi thì ông mới xứng đáng với bốn chữ ‘hảo tâm hành thiện’.
* Bồ Tát
dạy ông Vô Hủ: “Đại để người tu Tịnh nghiệp: đi, đứng, nằm, ngồi, đứng lên,
ngồi xuống, ăn uống đều nên hướng về phương Tây thì sự cơ cảm dễ thành, căn
cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ bày một tượng Phật, một quyển kinh, một lò
hương, một cái bàn, một cái giường, một cái ghế, chẳng được bày nhiều thứ khác.
Trên sân cũng quét dọn thanh tịnh để đi kinh hành không trở ngại gì. Cần giữ
cho tâm này chẳng vướng bận mảy may gì, quên hết muôn mối lo, trống rỗng, chẳng
biết có thân, chẳng hay có đời, cũng chẳng biết việc mình đang làm ngày nay là
việc tu hành. Được vậy thì ngày càng gần với đạo, ngày càng cách xa đời, mới xu
hướng Tịnh nghiệp được. Lúc bình thời ông đã có thể buông bỏ sạch hết thảy sự,
trong ý niệm chẳng còn chút mắc mứu nào thì khi đại hạn xảy đến, thanh thản,
thảnh thơi, chẳng có ý tưởng lưu luyến con cái, nuối tiếc tấm thân, con cháu,
há chẳng phải là hành vi của bậc đại trượng phu ư? Bởi vậy, ông nên nhất ý tu
hành, chẳng còn dính mắc điều gì khác nữa. Đó chính là điều then chốt nhất.
Còn như
cách thức Tịnh tu thì chẳng ngoài hai chữ ‘chuyên cần’. Chuyên là chẳng làm
chuyện gì khác. Cần chẳng bỏ uổng lúc nào. Nay ông sáng dậy liền tụng một quyển
kinh Di Đà, trì một ngàn câu A Di Đà Phật, đối trước Phật hồi hướng, niệm bài
Nhất Tâm Quy Mạng (xin xem phụ lục) vì bài này lời lẽ giản dị nhưng ý nghĩa súc
tích. Đấy chính là công khóa trong một thời. Như lúc sơ khởi nếu thân tâm còn
chưa yên thì mỗi ngày chỉ hành trì bốn thời. Đã hơi yên thì dần dần tăng đến
sáu thời, lại tăng dần đến mười hai thời: tụng được mười hai quyển kinh, niệm
danh hiệu Phật một vạn hai ngàn tiếng. Trong lúc hồi hướng lại lễ Phật trăm
lạy, cũng có thể chia làm bốn thời. Đấy là thường khóa mỗi ngày. Những lúc khác
chẳng cần tính vô số ấy.
Dù niệm
thầm hay niệm ra tiếng đều phải nhiếp tâm niệm chắc chắn mà thôi. Hơn nữa,
trong pháp trì danh, cần phải mỗi câu mỗi chữ, tâm và tiếng phải nương theo
nhau, chẳng được xen tạp mảy may ý niệm thế tục. Lâu ngày thành thục, quyết
định được vãng sanh Cực Lạc, ngồi trên hoa sen báu, đạt lên địa vị Bất Thối.
Nếu năm tháng tuổi già chưa hết, do ông đã chứng đắc như thế, ông sẽ dạy dỗ đại
chúng hòng báo ân sâu của Phật. Nếu ông có thể nhất nhất tuân thủ lời ta thì
mới chẳng phụ công Giác Minh Bồ Tát dạy ông chánh đạo, khiến cho ông xuất gia
đã chẳng phụ công hòa thượng Tam Muội thế độ, truyền cho ông đại giới. Đây thật
chẳng phải là nhân duyên nhỏ nhoi, ông chớ nên tự sanh lòng khinh mạn, cẩn
thận, cẩn thận!”
* Bồ Tát
dạy ông Thường Nhiếp: “Ông tính trì tụng thần chú Đại Bi, cầu đức Quán Âm thầm
gia hộ cho mau được nhập đạo. Rất tốt! Nhưng ông chẳng được chần chừ đến nỗi
chí nguyện lẫn sự nghiệp chẳng thành. Cần phải làm ngay đi, cứ thẳng đường mà
tiến. Ông nay nên tự ấn định thời hạn, định mức số câu, thời khóa, dứt tuyệt
việc đời, ở yên trong một thất. Mỗi một thời tụng chú trăm lần và lạy một lần
[Đại Bi] Sám Pháp do ngài Tứ Minh soạn để sám hối nghiệp chướng hầu giúp phát
khởi công hạnh thù thắng. Đó là một thời. Một ngày một đêm chia thành sáu thời:
Năm thời trì chú, một thời lễ sám. Các thời khác an tọa tu Thiền, thâm nhập bất
tư nghị huệ.
Vì sao gọi
là bất tư nghị huệ? Hiểu trọn vẹn rằng ngoài tâm không pháp, các pháp chẳng có
tên, thấu đạt không có mảy may gì được thành lập cả. Nhất niệm viên dung, chẳng
thể suy nghĩ nổi, chẳng thể bàn luận nổi nên gọi là bất tư nghị huệ. Nương vào
diệu huệ đó thì tâm gom vào nơi vi tế, nhiếp vô nhiếp tướng, nghĩa là chẳng
thâu nhiếp gì hết, nhưng chẳng trở ngại gì đến nhiếp cả thì gọi là khéo nhiếp
tâm! Do tâm đã được thâu nhiếp nên không việc gì chẳng hoàn thành. Nói tóm lại,
không có lúc nào không hiện hữu nhưng luôn nhập vào tâm, ấy là cái gốc của việc
trì chú nhiếp tâm. Tự nhiên túc chướng băng tiêu, định tâm hiển hiện rỡ ràng
hoặc là được tam muội khai phát, khế hợp diệu tâm sẵn có. Chẳng để uổng phí năm
tháng, nên khắc định kỳ hạn để tấn tu đạo nghiệp. Nếu không thì hôm nay, ngày
mai, năm tới, tháng sau hoặc làm hoặc chẳng làm, muốn tiến chẳng tiến, bảo đảm
cả trăm năm sau ông vẫn giậm chân tại chỗ, trọn chẳng thể dời nổi một bước. Cẩn
thận! Gắng lên!”
* Bồ Tát
lại dạy ông Thường Nhiếp: “Chỉ tám chữ ‘cưỡng thuận nhân tình gắng gỏi việc
đời’ khiến ông lầm lạc đại sự cả một đời người. Từ ngày nay trở đi, quyết chẳng
nên trì kéo, nắm níu, bon chen như trước nữa. Đạo nghiệp chưa thành, vô thường
đã xộc tới. Gấp nên thu hình ẩn tích, nhất tâm hướng về đạo, chẳng nên lầm lạc
nữa!”
* Ông Đạt
Bổn tuân lời dạy, xuất gia, Bồ Tát dạy: “Ông tuổi già xuất gia chẳng được học
lan man nhiều sự khác, chỉ tụng kinh Di Đà, nhật khóa niệm Phật một vạn hai
ngàn câu, từ ít tăng dần lên nhiều, chơn thành thiết tha cầu sanh về Cực Lạc.
Đấy chính là cách chỉ hoàn thành được một việc, trăm sự đều ổn thỏa. Đừng bắt
chước kẻ ngu trong đời cao đàm khoát luận, bàn tánh luận tâm; thấy người niệm
Phật liền nhất loạt dè bỉu, chê bai công hạnh của người ấy chẳng bằng gã mù chữ
trong thôn ba nhà hay kẻ ăn mày niệm kinh Tam Quan nơi ngã tư đường, uổng cả
thời gian, lầm lẫn đại sự. Vì thường ngày ông ưa bàn Thiền mà chẳng thấu đạt
điểm trọng yếu, mầu nhiệm của Thiền, cũng chẳng thể tin sâu Tịnh Độ, ròng chắc
niệm Phật nên ta mới dạy như vậy”.
* Bồ Tát
lại dạy ông Vô Hủ: “Tụng mười hai quyển kinh Di Đà, niệm danh hiệu Phật một vạn
hai ngàn biến chẳng tăng, chẳng giảm, cứ hành theo đúng lời ta dạy. Nhưng khi
tụng kinh phải đều đặn, bình tịnh, đừng hoãn đãi, đừng gấp gáp, chẳng nhanh,
chẳng chậm. Niệm Phật cần phải từng tiếng ứng theo tâm, chẳng thô tháp, chẳng
lao chao, chẳng hư phù, chẳng trầm trệ mà niệm. Đến lúc hồi hướng, chẳng phải
là tụng bản văn Hồi Hướng một lượt là xong, mà phải từ trong tâm mình phát ra
lời nguyện Đại Bồ Đề chơn chánh, chí thành khẩn thiết, nguyện khắp hết thảy
chúng sanh cùng vãng sanh Cực Lạc, nhưng tâm mình chẳng chấp trước hệt như hư
không. Đấy gọi là hồi hướng.
Lại khi
tịnh tọa, nên phản quán thâm cứu: Phật chính là tâm ta, tâm này là Phật, chẳng
cần phải cầu tự bên ngoài, đúng như tâm mà trụ, không năng, không sở. Quán sát
đúng đắn, chắc chắn như thế không còn có niệm khác thì gọi là tu hành tam muội.
Cẩn thận chớ quên mình, tâm nguội lạnh như đã chết, kẻo lại lạc vào tri kiến
của ma tà ngoại đạo. Ngồi tịnh tọa một thời như vậy xong liền đứng dậy đi kinh
hành, rồi lại trì tụng. Nếu cứ gấp gấp gáp gáp làm liền một hơi, dẫu hoàn tất
khóa tụng của một ngày nhưng rốt cục thành ra tụng niệm cẩu thả, chẳng phải là
tu hành chơn chánh vậy. Đại để, người học đạo chẳng tuân lời tri thức răn dạy,
quyết sẽ nhọc nhằn nhưng vẫn vô ích, chưa được lâu đã nản. Cẩn thận, cẩn thận!
Thêm nữa,
đối với những thứ chánh báo, y báo trang nghiêm cõi Tịnh Độ được giảng trong
các kinh, ông phải giảng, tụng minh bạch. Giả sử lúc tịnh tọa hoặc kinh hành
hoặc khi lễ tụng, nếu như Tịnh Độ hiện tiền thì hiểu biết rành rẽ, chẳng bị dị
cảnh mê hoặc”
* Bồ Tát
dạy ông Trần Đại Tâm: “Đạo niệm của ông dẫu tăng, nhưng thế niệm vẫn chẳng
giảm. Phàm hết thảy tướng nhân ngã, tướng danh lợi, tướng sân hỷ v.v… trong thế
gian chẳng phải chỉ phát xuất từ nơi thân, mà nó phát xuất từ lưới trần dằng
dặc từ trước. Hễ tâm vướng vất đôi chút liền tạo thành nhân duyên chướng đạo.
Ông cần phải hiểu rõ như thế. Ông chỉ cần thân lễ A Di Đà Phật, miệng tụng A Di
Đà, tâm niệm A Di Đà, chẳng hề có chút mảy may phân biệt liền sạch làu trần
cấu, xé nát lưới trần, sanh về cõi Cực Lạc. Ông cần phải hiểu minh bạch như
thế”.
* Có kẻ
hỏi việc chung thân, Bồ Tát dạy: “Ông hỏi việc chung thân ư? Ta đây trọn chẳng
có pháp chung thân vì lúc ta học Bồ Tát đạo, trải bao kiếp tu hành chưa từng
học được việc ấy. Nhưng mà ông ngu si quá, chung thân chẳng qua là như thế đó,
hỏi người khác ích gì? Sao ông chẳng hỏi đầu bạc cả rồi, mặt nhăn nhúm rồi,
thân đã yếu rồi, vô thường rồi sẽ xảy đến, sẽ phải đến gặp mặt Diêm La đại
vương thì nên kiếm một lời nửa câu nào đối đáp để tránh khỏi bị gông cùm nghiệp
trói? Sao ông chẳng hỏi sự ấy?”
* Tăng
Pháp Duyên muốn kết định kỳ hạn lễ Di Đà Sám. Trước tiên, ông đến thỉnh ý Bồ
Tát. Ngài dạy: “Di Đà Sám là do ngài Từ Vân Sám Chủ soạn mới đây đều đủ lý nhất
tâm, sự nhất tâm, chuyên nhất vào một sự. Nếu bốn tướng (nhân tướng, chúng sanh
tướng, ngã tướng, thọ giả tướng) chẳng sanh, lặng trong như hư không thì gọi là
lý nhất tâm. Nhất tâm ấy khó đạt. Ngoài phải siêng tu tập sám pháp để trừ túc
chướng, trong phải theo đúng lý tu quán hầu đạt đến nhất tâm. Đã được nhất tâm
lo chi chẳng nhập được đạo? Trong kỳ hạn tu sám, ông chớ quản thân mình hay vì
thí chủ, cũng chẳng quản là lâu dài hay chẳng lâu dài, chỉ cốt quét sạch tập
khí, tẩy sạch thân tâm. Chẳng thành tam muội thề chẳng ngơi nghỉ mới được.
Thêm nữa,
tuy ông theo thứ lớp trong pháp sám ấy [tu tập] nhưng vẫn chưa phải là tu hành.
Nếu chơn chánh tu hành thì phải buông bỏ vạn duyên, một bát sống nhờ thập
phương, một thân nương nhờ khắp cõi đất, chơn thành thiết tha cầu thoát sanh
tử, đấy mới là cách tu hành chơn chánh. Nếu cứ khăng khăng đôi ba kỳ hạn sám
hối, xong rồi vẫn bon chen việc đời mà muốn thành Tịnh nghiệp, thoát khỏi sanh
tử thì chẳng khác nào hút gió nuốt sương lại mong no đủ. Trên đời chẳng hề có
việc ấy. Ông chớ khởi ý tưởng ngu si như thế đến nỗi đói rét mà chết”.
* Vương sư
(chỉ quân binh nhà Thanh) kéo xuống đất Tam Ngô, bọn giặc vùng Thái Hồ nổi dậy
chiếm thành rồi lại rút chạy. Lâu ngày mới yên ổn trở lại, mọi người mới dần
dần tụ tập về. Bồ Tát dạy: “Sau cơn biến loạn ngày mười ba tháng Sáu, mọi người
có sợ hãi không? Các ông nên biết: Đấy đều là do từ vô thỉ kiếp đến nay chẳng
thể tu thiện, tạo đủ ác nghiệp cho nên đời đời kiếp kiếp chẳng thoát nổi tai
họa này. Như thời Lương Vũ Đế, tám người do chiến tranh nên đều thất lạc hết.
Bây giờ lại gặp binh biến, không chỗ trốn tránh. Đủ thấy rằng chúng sanh chẳng
vượt khỏi ba cõi, đạt vô sanh thì rốt cục khó thoát nổi nhân duyên nghiệp báo
dẫu chỉ phân tấc. Các ông may còn chưa chết nhưng cũng đã mắc hiểm nạn lớn.
Nghiệp quả ba đời đáng kinh, đáng sợ. Các ông còn chưa nhất tâm tu đạo, sớm
thoát luân hồi, đời sau kiếp khác thật chưa chắc đã được vẹn tròn, biết làm thế
nào đây?”
* Bồ
Tát dạy ông Trầm Nguyên Huy: “Nói chung, người tu Tịnh Độ kỵ nhất là xen tạp.
Thế nào là xen tạp? Tức là vừa tụng kinh, vừa trì chú, vừa kết hội, lại ưa nói
đôi chút về sự khẩn yếu của Thiền, lại ưa bàn những chuyện cát hung, họa phước,
thấy thần, gặp quỉ. Đấy chính là xen tạp. Đã xen tạp thì tâm chẳng chuyên nhất.
Tâm chẳng chuyên nhất thì khó thấy Phật vãng sanh, phí uổng cả một đời. Nay ông
chớ nên làm như thế, chỉ khẩn thiết trì một câu A Di Đà Phật, cầu sanh về Cực
Lạc. Lâu ngày công hạnh thành tựu, mới là chẳng sai lầm vậy. Ta sẽ truyền cho
ông một bài kệ để tuân theo đó mà tu hành.
Một câu A Di Đà
Là tổng trì vạn pháp
Tiếng niệm ứng theo tâm
Niệm đâu tâm theo đó
Cảm ứng bất tư nghị
Ao bảy báu nở sen”.
* Bồ Tát
dạy ông Định Khải như sau: “Ông đã gặp đại nạn, may thoát khỏi được. Từ rày nên
đau đáu nghĩ đến lỗi trước, dứt tai ương về sau, không còn bộp chộp tranh hơi,
khoái ý đua tài khiến thân mang vạ. Nay ta đặt tên cho ông là Khải. Khải là gì?
Là Từ, là Nhân. Từ để lập thân, Nhân để giúp người. Công danh có được cũng
chẳng vui, có mất cũng chẳng buồn. Chỉ lo vun bồi tâm lành, kiên cố thiện hạnh
ngõ hầu đáp tạ tứ ân mà thôi”.
* Có một
lúc Bồ Tát giáng lâm pháp hội, có đến hơn ba người chưa dứt khoát tâm nghi, đều
đến thưa hỏi. Bồ Tát thương xót bọn họ: tuy đều sẵn lòng chí thành nhưng chưa
biết đường chánh tu hành, bèn ban lời dạy dỗ:
– Hội ngộ
hôm nay đáng gọi là hữu duyên. Nhưng nếu ta giảng Phật pháp cho các ông, sợ các
ông chưa quen nghe, e khó lòng tin hiểu nổi. Chi bằng ta dẫn sách Nho trong đời
để trò chuyện, họa may các ông tin được một hay hai câu. Sách Trung Dung chép:
“Hoặc vì an ổn mà làm, hoặc vì lợi mà làm, hoặc miễn cưỡng mà làm”. Xét lúc này
đây, chẳng phải vì lợi hay ổn mà làm thì ắt là miễn cưỡng mà làm; điều ấy cũng
chẳng nên! Tức là các ông sau khi gặp ta, cũng từng đã phát tâm nếu miễn cưỡng
làm lành ắt sẽ có ngày bỏ lửng, hoặc dần dần biếng nhác. Vì sao như thế? Chỉ vì
đối với một chữ ‘thiện’ xem rất lơi là, cứ nghĩ là làm lành chẳng thấy công
hiệu gì, chẳng như làm ác có công hiệu ngay.
Chẳng biết
rằng: nếu làm lành thật chẳng có công dụng gì thì sao bậc thánh hiền từ xưa đến
nay trọn chẳng làm chút điều ác nào! Còn hành thiện thì tận tâm tận lực làm cho
được trọn đủ cả mười hai phần. Lại như nếu quả thật làm ác có công hiệu thì tự
xưa đến nay, hiền nhân quân tử sao chẳng cầu nơi việc có công hiệu; ngược lại,
còn thực hiện việc không có tác dụng gì?
Vả lại,
hãy xem mấy kẻ làm ác hiện tại, tuy được sung sướng ngay trước mắt, nhưng rốt
cục mấy kẻ được hưởng kết cục tốt lành: chết an lành, danh tiếng tốt, con cháu
ngoan ngoãn suốt trong nhiều đời. Lại như mấy đứa bé mới mấy tuổi trong thế
gian, hễ thấy nói đến người lành còn biết khen ngợi, há chẳng phải là làm lành
ắt được đại lợi ư? Thấy nói đến kẻ ác, chúng cũng biết căm giận, há chẳng phải
làm ác chẳng được đại lợi ư?
Việc này
quá dễ hiểu, chẳng phải vì các ông không thông minh nên không hiểu nổi, chỉ vì
các ông chẳng thể thật tâm hướng thiện cho nên nhất thời chẳng thể quán sát tỉ
mỉ đó thôi! Bởi vậy, thường ngày hễ bỏ ra một tiền là muốn khoe ngay với người
khác hòng được một lời khen ngợi. Muốn khoe ngay với người khác là chỉ làm
thiện bề ngoài, chẳng hiểu nổi chỗ dụng tâm khẩn thiết của bậc đại thánh, đại
hiền. Chưa hiểu được ý vị đã buông tay bỏ lửng. Nếu các ông ngày nay quả thật
tấm lòng chơn chơn thật thật, hành việc chơn chơn thật thật thì chẳng được khởi
lên mảy may vọng tưởng mong mỏi trong khi làm lành, thản nhiên an vui theo mạng
trời, giữ riêng mình biết, chẳng thấy có việc chung thân để cầu, có kết cục để
hỏi, [chẳng thấy] có ngũ hành, bát tự (6) vận mạng cùng quẫn hay
thông suốt để bói toán, chẳng thấy có cát hung, được mất để đoạt lấy hay tránh
né. [Như thế] thì tự nhiên không tai họa nào chẳng tiêu, không phước nào chẳng
đến. Đạo càng ngày càng tăng, đức càng ngày càng chứa, thành thánh, thành hiền
chẳng khó gì! Đấy chính là sự thật tương lai nhất định của các ông nên ta mới
đề cập đến sự thành công ấy đó thôi. Nếu không, lúc sống thì kẻ tiểu nhân chẳng
kiêng dè, lúc chết ắt sẽ mục nát cùng cỏ cây, chẳng đáng đau đớn sao?”
Bồ Tát dạy
lời ấy xong, im lặng mà trụ. Đại chúng khi ấy vẫn nghiêm chỉnh chờ đợi, rồi lại
có người lễ bái khẩn cầu. Bồ Tát dạy: “Bọn các ông thật là ngu si quá, nghe lời
như vậy xong vẫn chẳng sanh lòng mong giữ lấy, sanh ý niệm tự xét lại mình, chỉ
mong đem những chuyện con cái, thân mình, gia đình trong lòng ra hỏi cho kỳ
được mới thôi. Khổ thay, khổ thay, nhưng Bồ Tát đại từ chẳng tận nên lại sẽ nói
đôi câu cổ ngữ để đánh tan cơn si mộng của các ông.
Một là
người học đạo hễ tình bất chánh thì tánh bị ly tán, tâm chẳng vững thì đức ắt
khuyết, thường thường dè dặt trong từng phút giây nhưng bị biến đổi trong
khoảnh khắc. Nếu như thế thì là hạng chẳng thể thành tựu được, khó lòng nhập
đạo, nào phải vì thánh nhân chẳng chịu dạy người hay thánh nhân đã chán mệt nên
mình tuyệt phận. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ.
Hoặc là
thiên hạ nào đã hết sạch bậc thông minh hướng thượng, nhưng bị lòng tự phụ vào
trình độ hiểu biết ngăn che nên chẳng thành đại khí. Một khi người ấy đã ỷ mình
là đúng thì chẳng thể để tâm rỗng rang quy hướng chánh đạo. Những người mình
giao tiếp hằng ngày nhất định toàn là hạng dung tục, tâng bốc lẫn nhau. Hễ trót
làm việc gì chẳng thể cam nhận lỗi mình nên đức nghiệp mới nguy ngập. Những
người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ.
Thế nhân
tham muốn có được, ai nấy đều ra sức cưỡng cầu, nào hay hễ đạt được một tiền
biết còn có mạng hay chăng? Cứ thấy công danh, phú quý là bảo do trí lực của
mình ắt sẽ đạt được. Nếu thế thì trời cao lồng lộng, thần minh rỡ rỡ là vô dụng
ư? Nếu như cứ cưỡng cầu mà được thì mạng số ắt cũng phải cầu được! Chẳng phải
vì các ông nhiều phen vận dụng tâm cơ gấp rút mà trời sẽ thương xót ban cho.
Nếu cứ miễn cưỡng cầu tìm thì sẽ mang nhục, chẳng vinh, bị mất mát, chẳng được
gì, sẽ vướng cái họa sát thân, nhọc công mà chẳng lợi ích cho ai cả, mắc tai
ương tổn đức, chẳng tăng thêm được phước lành. Trời chán ghét, thần minh bỏ
lơi. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy.
Ân lớn
trong trời đất không gì hơn được ân cha mẹ. Cha mẹ còn sống là vị Phật đang
sống trong nhà. Cha mẹ đã mất vẫn truy báo được. Thử nghĩ xem thân này là từ
đâu mà tới, do ai được trưởng thành? Sao chẳng phản bổn tầm nguyên, tận tâm,
tận lực kính thờ, vâng thuận. Thậm chí có kẻ kết oán với cha mẹ, chẳng đoái
hoài gì đến, chỉ chăm chút vợ con, chẳng hiếu dưỡng cha mẹ. Thậm chí, cha mẹ
mắc bịnh cũng chẳng hay, chết cũng chẳng chôn. Hoặc là nói một câu là trả miếng
một câu tựa như người dưng. Đấy đều là những hạng chẳng bằng cầm thú vậy. Than
ôi! Người chẳng bằng nổi cầm thú hay sao? Đáng sợ thay! Những người hiểu biết
trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy.
* Có kẻ
muốn được làm quan, hỏi Bồ Tát sẽ được thỏa nguyện hay chăng, Bồ Tát dạy: “Cái
việc làm quan ông đừng mong tưởng. Ông phải biết rằng: thông kinh sử là văn,
luyện thao lược là võ, sức lực hơn người là dũng, trí năng xuất chúng là tài.
Ông tự lượng xem mình có được một trong những điều ấy hay chăng? Nếu chẳng có
được một điều nào trong bốn điều trên mà muốn làm quan thì bất quá chỉ là hạng
gặp may mà thôi.
Nếu là
hạng gặp may thì ngay ý niệm ban đầu đã bất chánh. Một khi làm quan ắt sẽ cậy
oai cậy thế, chăm chăm bóc lột dân chúng để cốt ấm thân mình, quyết chẳng thể
làm điều tốt cho nước cho dân. Đến nỗi tích ác ngày càng sâu, chẳng biết cải
hối, đời sau nhất định làm thân trâu, ngựa, lạc đà, lừa có sức mạnh để báo đáp
người đã nuôi mình. Như các loài súc sanh trong trận chiến tranh vừa rồi đều là
hạng tham lộc ham công đời trước, là hạng chẳng có chút công đức gì với thiên
hạ cả.
Nhưng
lẽ báo ứng xa gần không kỳ hạn, hoặc là gặp họa ngay trong đời này, hoặc con
cháu mắc vạ. Chẳng hạn như bọn người tội phạm bị giam cầm, thân bị cắt xẻo, đâm
chém. Con cháu hư hỏng hoặc tuyệt diệt không ai nối dòng là bởi như thế đó. Lại
còn kẻ tổn hại lương dân, đoạt tài sản họ, ấy là vật bất nhân bất nghĩa. Đem
những thứ ấy cúng tế tổ tiên khiến tổ tiên càng nặng tội. Đem cúng thần minh,
thần minh thêm giận. Đem cúng chư Phật thánh hiền, Phật thánh ứa lệ. Đem kính
phụng người nhân từ có đạo đức khiến họ đâm ra thẹn hổ. Như vậy là tội ác chưa
cùng cực mà oán kết chồng thêm. Đời sau quyết định sẽ làm loài dê, heo, gà, chó
[là những loài] không có sức mạnh để báo đáp người nuôi mình và hạng người bần
cùng, hạ tiện rất khổ trong thế gian.
Hơn nữa,
hạng người nhờ may được làm quan ấy dẫu làm việc tốt lành gì cũng chẳng tránh
khỏi trong công lẫn tư, trong thiện lẫn ác. Tội phước ảnh hưởng chẳng sót tơ
tóc. Tham danh tiếng, vinh hoa hữu hạn để phải chịu ác quả bao đời. Làm quan
nhờ may mắn, tâm đắm chìm trong lợi dục. Những chuyện như vừa nói trên, thế bắt
buộc phải vậy, chẳng đáng sợ sao!”
* Ông
Vương Định Hựu cầu con, Bồ Tát dạy: “Ông từ nay đừng giết sanh mạng, đừng ăn
thứ những loài vật khác, đừng đa dục, lắm sân hận. Vì sao thế? Sát sanh tổn hại đức từ của trời đất, trái nghịch đạo trưởng dưỡng. Ăn thịt những loài
vật khác ắt tăng thêm dâm, uế, hoặc đến nỗi bị bịnh nặng. Đa dục, nhiều sân hận
tổn hại thọ mạng rất nhanh, phá vỡ sự bình hòa của nguyên khí; còn phạm vào cấm
kỵ của âm dương rất nhiều. Ông nay nên phải luôn dè dặt giữ gìn ba điều ấy,
chăm chăm phụng dưỡng mẹ già, bố thí, từ ái, giúp người nghèo, cứu người khổ,
làm đủ các việc âm đức, tích lũy chẳng bỏ phế thì trời ắt sẽ ban điều tốt đẹp
cho ông”.
* Bồ Tát
dạy ông Lục Định Tức bài kệ như sau:
Thân cận bậc lão thành
Đừng quen kẻ ác dại,
Bậc quân tử thượng đạt
Các ông nên cố gắng
Khuyên bảo mẹ tu hành
Ấy chính là đại hiếu
Phải chí thành cung kính
Tuân lời Bồ Tát dạy.
Ngài lại
dạy rằng: “Ông về nhà, đến bên mẹ thiết thiết tha tha khuyên mẹ chí tâm niệm
Phật, cầu sanh Cực Lạc. Nếu mẹ chẳng ăn chay nổi thì đừng miễn cưỡng, chỉ cốt
mẹ không sát sanh. Nếu mẹ chịu quy hướng Phật Di Đà, tự thôi ăn mặn thì đấy là
hiếu hạnh bậc nhất trong thế gian. Ông hãy gắng làm thế”.
* Lúc bấy
giờ, duyên ứng hiện của Bồ tát đã hết; vì thế, ngài triệu tập các đệ tử, người
nào cũng được Bồ Tát dặn dò.
Ngài dạy
ông Định Miễn như sau: “Ông tên là Định Miễn, nên tự hiểu danh hiệu mình: gắng
sức tu hành sẽ tự được khai ngộ Vô Thượng Bồ Đề, làm bậc thiện tri thức, nối
tiếp Phật huệ mạng. Ông đừng tự buông bỏ”.
* Ông Định
Khai hỏi về yếu chỉ Nhất Tâm Tam Quán, Bồ Tát dạy: “Điểm mầu nhiệm trong pháp
Tam Quán của tông Thiên Thai là ở viên tâm. Nếu biết được viên tâm thì thấu tột
được đạo”. Bồ Tát dạy ông Định Khai cùng Định Miễn cùng đứng, nhận lấy bài kệ:
Nhất khai thì nhị khai
Kể từ nay trở đi
Hạt giống dòng Bồ Đề
Được hai tay khéo trồng
* Ngài dạy
ông Thượng Đức:
Đầu đã hói
Nên tri túc
Nghĩ vô thường
Đoạn ái dục!
Nam mô A Di Đà
Niệm niệm luôn tiếp nối
* Bồ Tát
dạy ông Nhĩ Chi:
Siêng thì chẳng bịnh
Chẳng siêng sẽ bịnh
Chớ bảo túc nghiệp
Báo ứng rất gần!
Nhiều lần thân cận
Từ phụ Di Đà
Còn được sống lâu
Huống là hết bịnh.
* Bồ Tát
dạy ông Trần Đại Tâm:
Già chẳng dễ chịu
Chết quyết trói buộc,
Xong nợ con cái
Mới hòng sướng vui.
Cực Lạc chẳng xa
Chớ tự cách tuyệt
* Bồ Tát
dạy ông Trầm Nguyên Huy:
Thẳm sâu chẳng lộ
Mới là trì giới
Nếu lộ ra ngoài
Không lâu ắt bại
Niệm đã chẳng chơn
Chẳng được tự tại
Phước, họa, cát hung
Ông phải tự dè.
* Bồ Tát
dạy ông Đỗ Nghĩa Kiến:
Thiện chính là nghĩa
Bất thiện bất nghĩa
Nghĩa, thiện chẳng hai
Chỉ thấy cái nghĩa
Vì nghĩa mà thấy
Chẳng thấy phi nghĩa
Lúc thấy phi nghĩa
Thấy vô kiến nghĩa.
* Bồ Tát
dạy nữ đệ tử Ý An như sau: “Vì mắc bịnh mà bà chẳng niệm Phật hay sao? Ôi chao,
bịnh càng nặng càng phải siêng niệm mới tốt chứ! Nếu đến lúc bịnh nặng quá
chẳng niệm nổi thì đã lỡ làng rồi!”
* Bồ Tát
dạy ông Vô Hủ:
Báu chi miếng ngọc?
Phải tiếc tấc bóng
Chánh niệm Di Đà
Tín quang rạng rỡ
Đừng tham chuyện cũ
Mất luôn tiền đồ.
* Bồ Tát
dạy ông Thường Nhiếp:
Có miệng tựa hồ câm
Có tai làm như điếc
Chẳng lẫn lộn với đời
Mới là sùng đạo nghiệp
* Ngài dạy
ông Thường Nguyên như sau:
Hạnh chớ để biếng nhác
Biếng nhác chẳng là Tăng
Nếu ông tự phế hạnh
Thân mang nhiều hậu họa
* Bồ Tát
dạy ông Định Mậu:
Ông là đạo nhân
Phải tịnh tâm mình
Tịnh được cái tâm
Mới hơn người được!
* Bồ Tát
dạy ông Định Tùy:
Hạnh ròng chắc là quý
Nhưng vẫn là chưa hay
Nếu chỉ có như thế
Mà đã coi là đủ
Thì xuất gia ích gì?
Phải nguyện lìa si não
Nên khởi phát đạo ý
Đừng để bỏ luống uổng
* Bồ Tát
dạy ông Tra Định Hoằng:
Bồ Tát nói kệ
Về bảo mẹ ông
Lúc thường uống ăn
Chóng lo xong việc (**).
* Bồ Tát
dạy ông Trần Định Chuyên:
Mình trời cao nhất
Không đâu chẳng thấy
Ông giữ sơ tâm
Chớ để giảm ít.
* Bồ Tát dạy ông Đạt Bổn:
Đạt Bổn vô bổn
Nên dứt vạn duyên
Chỗ nào chẳng yên?
Bởi thế, gấp gấp!
Một mai xuôi tay
Trai cày, gái dệt,
Hồi tưởng sanh tiền
Ông sẽ khóc lóc.
* Bồ Tát
dạy từng người xong, lại bảo đại chúng rằng: “Từ lúc ta giáng cơ đến nay, những
lời ta nói ra đều là những điều yếu diệu để tu hành. Các ngươi phải luôn luôn
thể hội, cực lực tuân hành thì nhất định sanh về thượng phẩm. Từ nay Bồ Tát sẽ
chẳng giáng đàn nữa. Các đệ tử ai nấy phải nỗ lực, đừng để lỡ dịp này”.
Khi ấy,
các đệ tử nghe lời Bồ Tát dạy đều khóc lóc buồn tiếc, chẳng ngửa nhìn lên nổi.
Bồ Tát bảo: “Này các đệ tử! Các ông cho rằng nếu Bồ Tát chẳng giáng lâm nữa, e
rằng mình sẽ đâm ra biếng nhác, vì đó sẽ bị sai sảy. Chẳng phải vậy đâu! Vì sao
vậy? Từ rày trở đi, các ông có tinh tấn thì chỉ là chính các ông tinh tấn, bỏ
đường trần tiến vào cảnh thánh; đấy là hành vi của bậc đại trí đại hiền. Còn
nếu biếng nhác thì cũng chính là tự các ông biếng nhác, ngoảnh mặt với đại đạo,
bước vào chỗ bùn lầy; đấy là hành vi của kẻ vô tri, hạ ngu.
Này các đệ
tử! Cần phải luôn tấn tu, chớ sanh lưu luyến, vướng mắc, luôn gấp rút nỗ lực,
có chi mà buồn thương!”
Lát sau,
Bồ Tát lại dạy: “Các ông chẳng nên mong tưởng Bồ Tát sẽ giáng cơ nữa. Vì sao
vậy? Bày ra chuyện cầu cơ vốn là chỗ quỷ thần dựa dẫm, chứ chẳng phải là việc
thường ứng hóa của bậc đại Bồ Tát. Nếu các ông tuân phụng lời ta dạy chẳng sai,
đối với Bồ Tát sanh tấm lòng cung kính, sanh ý tưởng khó được gặp gỡ thì chính
là báo ân một cách lớn lao”.
Khi ấy,
các đệ tử tuy nghe pháp dụ nhưng vẫn bịn rịn chẳng nỡ chia tay. Bồ Tát lại dạy:
“Này các đệ tử! Trong túc nhân xưa kia, Bồ Tát cùng các ông có đại duyên. Từ
nay ta chẳng giáng đàn nữa, nhưng chẳng nên nghĩ là chúng ta lìa xa nhau. Nên
biết rằng Giác Minh Diệu Hạnh lúc nào cũng ở ngay trước mắt các ông. Các ông dè
dặt, chớ để một ngày nào quên mất, tự buông bỏ Giác Minh Diệu Hạnh”.
Giây sau,
Bồ Tát lại dạy: “Này các đệ tử! Pháp hội đã xong, ai nấy nên đi về đi. Bồ Tát
chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu! Chớ nên khăng khăng chấp nê là Bồ Tát nhất
định chỉ hiện diện trên một bức giấy mà thôi! Ai nấy nên niệm một câu A Di Đà
Phật, chí thành làm lễ, cúi lạy nhận lãnh, phụng hành mới là phải vậy!”. []
(Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa dịch xong ngày 13 tháng 08 năm 2002)
Lời giãi bày cuối sách Tây Phương Xác Chỉ
Tuy các bậc cổ thánh tiên hiền xa cách đời hiện tại đã lâu, nhưng đọc sách này,
thấy rõ những lời dạy trong đây quyết chẳng phải là hư ngụy vậy. Chỉ bàn về lý
thôi thì Phật pháp du nhập Trung Quốc đã một ngàn năm trăm năm. Trong khoảng
thời gian ấy, bậc hào kiệt, minh duệ hễ được một bản kinh, một bài kệ liền
quyết định tin nhập, liễu thoát sanh tử, chẳng tính nổi số lượng. Còn bọn trí
cạn vội dùng ý riêng xét đoán hàm hồ, bảo Phật giáo vốn phát xuất tự Lão Trang,
những thuyết ngụy tác của bọn họ nay thấy đầy trong các sách vở bên đạo Lão. Cứ
thử đem các kinh Viên Giác, Lăng Nghiêm mà đối chiếu với kinh Đạo giáo là thấy
ngay rành rành mức độ sâu cạn, hợp lý, vô lý khác nhau. Tư tưởng Lão Trang
chẳng bằng được nổi với tư tưởng Phật giáo, sao lại bảo là Phật giáo học theo
Lão Trang? Điều chẳng hợp lý ấy tự đã phơi bày cái sai của những hạng người tư
tâm trên!
Gần đây, chuyện xoay cơ khá thịnh hành, các bậc Thánh Hiền trong Tam Giáo
thường tùy phương cảm ứng hoằng khai giáo pháp để hóa độ người đời. Đấy chẳng
qua là chuyện bất dĩ. Đọc sách này, ta thấy được những lời dạy đây quyết chẳng
phải là ngụy tạo. Cũng chỉ là căn cứ theo lý mà phán định thôi! Tây Phương Xác
Chỉ là lời thuyết pháp của Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh từ cõi Cực Lạc. Những
điều ngài dạy là chê trách tà tu, chỉ quy Tịnh Độ, xiển dương chơn lý nhiệm mầu
Nhất Tâm, là mấu chốt u huyền để hướng thượng, là kim chỉ nam đích thực cho
việc học Phật.
Tôi đọc
đi, đọc lại, phải than thở rằng: “Hỡi ơi! Liên hoa quốc độ chẳng hề rời khỏi
ngay nơi ta hiện đương ở! A Di Đà Phật là toàn thể chúng sanh, sao chúng sanh
thường chẳng hay biết, chưa hề phát một niệm tâm hồi hướng, từ chỗ mê vào chỗ
mê, trôi lăn bao kiếp, chẳng đáng xót sao! Bồ Tát bi nguyện thâm trọng, đời
đời duyên theo chúng sanh, chẳng hề lìa bỏ, hóa hiện giáng cơ khác nào
ngài đã tự hiện thân thuyết pháp?”
Đọc cuốn
sách này thật đã tin nổi bổn tâm của chính mình. Tu hành đúng như lời dạy, tâm
tâm hồi hướng, không còn nghĩ gì khác, niệm đến cùng cực, vọng tình trống
không, đột nhiên vô trụ; tuy hiện vẫn sống trong đời ngũ trược ác thế, thân đã
nghiễm nhiên ngự trong cõi Liên Hoa. Một khi báo duyên đã hết, trong khoảng
khảy ngón tay liền vãng sanh. Nhân nào quả nấy, chẳng có trước sau. Còn ai
chẳng tin nổi tự tâm thì vì vậy sẽ chẳng tin nổi Tịnh Độ. Thậm chí có người còn
nghi ngờ sách này là ngụy tác thì tôi cũng chẳng biết làm thế nào? Sách này
được bạn tôi là ông Vương Tam Quán khắc ván in gần xong thì bị lửa cháy mất.
Các hiền hữu của chúng tôi bèn khắc lại để sách được lưu hành trong đời. Tôi kính
cẩn hiệu đính chương cú, sắp đặt thứ tự trước sau. Làm xong bèn viết lời giãi
bày như vậy.
Tháng
Tám mùa Thu năm Càn Long thứ ba mươi tám, Đông Lâm hậu học Bành Thiệu Thăng
soạn.
Phụ lục
Nhất tâm quy mạng hồi hướng văn
Nhất tâm
quy mạng đức A Di Đà Phật ở thế giới Cực Lạc, nguyện Phật dùng tịnh quang soi
chiếu con, dùng từ thệ nhiếp độ con. Con nay chánh niệm xưng danh Như Lai, hành
đạo Bồ Đề, cầu sanh Tịnh Độ. Phật xưa đã thề: “Nếu có chúng sanh muốn sanh về
cõi ta, chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm, nếu chẳng được sanh, chẳng lấy Chánh
Giác”. Do nhân duyên niệm Phật đây, con được vào trong biển đại thệ nguyện của
Như Lai, nương từ lực của Phật các tội tiêu diệt, căn lành tăng trưởng. Như lúc
lâm chung, tự biết thời khắc, thân không bịnh khổ, tâm chẳng tham luyến, ý
chẳng điên đảo như nhập Thiền Định. Phật và thánh chúng tay cầm đài vàng đến
tiếp rước con. Trong khoảng một niệm sanh về Cực Lạc. Hoa nở gặp Phật liền nghe
Phật thừa, đốn khai Phật huệ, rộng độ chúng sanh mãn nguyện Bồ Đề.
Thập phương tam thế hết thảy chư Phật, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã
Ba La Mật.
Chú Thích:
(*)
Thương hàn: Ở đây, thương hàn là bệnh do trúng hàn, trúng nhiệt chứ không phải
là chứng bịnh thương hàn (typhoid) do vi khuẩn gây ra như người Việt ta thường
gọi.
(1)
Niên hiệu Khai Nguyên thứ sáu đời vua Đường Huyền Tông chính là năm 718. Bồ Tát
đích thân chứng kiến chuyện Vi Hạnh thiền sư cầu thọ.
(2)
Quang âm: ánh sáng mặt trời, thường dịch là tấc bóng. Đây là từ ngữ chỉ thời
gian. Ở đây ý nói ông Tôn chỉ sống thêm được chừng bảy, tám năm nữa.
(3)
Vị tăng trụ lại ở đâu để tu tập trong một thời gian dài thì gọi là trụ tích.
Tích ở đây là tích trượng.
(4)
Tức là trong khoảng thời gian từ năm 874 đến 888. Đây là thời Đường mạt, các
phiên trấn nổi lên cát cứ, tranh giành quyền lực. Hoàng Sào khởi binh, thiên hạ
đại loạn. Tính từ thời gian ấy cho đến đời vua Thuận Trị nhà Thanh là tám trăm
năm.
(5)
Nhận: đơn vị đo lường, chừng bảy hay tám thước Tây.
(6)
Bát tự: là năm, tháng, ngày, giờ sanh. Do năm, tháng, ngày giờ thường được phối
hợp giữa Thiên Can (Giáp, Ất, Bính….) và Địa Chi (Tý, Sửu, Dần…) nên mỗi thứ
năm tháng, ngày, giờ đều gồm có hai chữ, ví dụ năm Đinh Dậu, ngày Kỷ Tỵ… Tàu
thường dùng bát tự để tính toán vận mạng, nhất là trong hai khoa Tử Vi và Tử
Bình.
(**)
Ý Bồ Tát dạy ông Tra Định Hoằng trong lúc ăn cơm, uống trà thường ngày trong
nhà phải gắng khuyên lơn mẹ mình mau tu tập.
Discussion about this post