MIẾN ĐIỆN VÀ PHẬT GIÁO
Thích Như Điển
Miền
Bắc giáp Bangladesh, Ấn Độ, Trung Hoa. Miền đông giáp Lào,
Thái Lan. Miền Nam giáp Mã Lai Á và miền Tây giáp với biển
Ấn Độ. Một dãi giang sơn trãi dài qua các đồng bằng, núi
non và biển cả. Miến Điện có lịch sử hơn 3000 năm tồn
tại và phát triển. Ngày xưa Miến Điện được gọi là Bumua
và ngày nay là Myanmar.
Đến
thế kỷ thứ 12 Phật Giáo đã trở thành quốc giáo cho đến
thế kỷ thứ 19. Từ khi Phật Giáo được du nhập vào cho
đến nay đã gần 2,500 năm lịch sử và chùa chiền, tháp thờ
xá lợi, tu viện v.v… đã có đến 13,000 ngôi. Đến năm 1287
khi Mông Cổ xâm chiếm nước này, những ngôi chùa nổi tiếng
đã bị đập phá và hiện nay chỉ còn độ 2,000 ngôi chùa
danh tiếng và dĩ nhiên những chùa viện khác còn tồn tại
cũng không phải là ít.
Kinh
đô của Miến Điện là Yangoon hay Rangon. Tiếng Hoa gọi là
Ngưỡng Quang. Đây là cách đọc và dịch theo âm của người
Hoa. Ví dụ như Bangkok viết là Vọng Các. Vientane viết là
Vạn Tượng. Thật sự ra cách phiên âm như thế cốt cho dễ
đọc, chứ không có một ý nghĩa gì cả. Nếu có, chẳng qua
là sự trùng hợp mà thôi. Cũng như người Lào tin rằng chữ
Vientane dịch ra Vạn Tượng là đúng. Vì đây ám chỉ cho một
xứ sở có đến hơn 10,000 con voi.
Đã
từ lâu, tôi có ý muốn đi viếng thăm xứ Miến Điện một
chuyến. Vì khi đến đảnh lễ Kim Cương tòa nơi đức Phật
Thích Ca thành đạo có nhiều sự kiện làm cho tâm tôi tự
dưng se lại; trong đó có liên hệ với Miến Điện và Trung
Hoa.
Khi
khách hành hương rời khỏi gốc cây Bồ đề nơi Bồ Đề
Đạo Tràng đi về hướng đông cách đó không xa, sẽ gặp
một trụ đá lớn, trên đó có khắc những giòng chữ bằng
tiếng Sanskrit và tiếng Anh như sau “sau tuần lễ thiền định
thứ ba, sau khi đức Phật thành đạo, Ngài đã gặp 2 người
thương nhân Miến Điện đến đây cúng dường bánh làm bằng
gạo và mật ong. Tiếp đến họ xin quy y Phật và quy y Pháp
(vì lúc đó Tăng già chưa thành lập)”.
Đã
bao lần tôi đến chốn này và mơ ước được sang xứ Miến
Điện để đảnh lễ mười sợi tóc mà Ngài đã tặng cho
2 người thương nhân này và kể từ đó, sau khi về lại nước,
họ dâng lên vua chúa đương thời và được thờ tự rất
trang nghiêm tại 2 chùa ở Miến Điện. 8 sợi tóc của đức
Phật được thờ tại chùa Vàng Schwedagon gần Rangoon và 2
sợi tóc khác thờ tại một hòn đá thiêng ở Kyaitiyo, cách
Rangon chừng 200 cây số về hướng nam.
Phái
đoàn của Thượng Tọa Tiến sĩ Seelawansa gồm các vị học
giả, bộ trưởng giáo dục Phật Giáo tại Tích Lan hướng
dẫn và chúng tôi tháp tùng cùng phái đoàn này đi từ Bangkok
đến Yangoon bằng Bangkok Airways. Có ai đó đến xứ Thái Lan,
Tích Lan, Lào và Miến Điện rồi, mới thấy Phật Giáo tại
các xứ này là quốc giáo. Vì lẽ trên từ vua quan, dưới
cho đến thứ dân ai ai cũng tôn sùng đạo Phật. Ngày nay tại
phi trường mới của Thái Lan những hình ảnh hội họa của
Phật Giáo được trưng bày nhan nhãn đó đây. Ví dụ như
những bức họa danh tiếng khi Thái Tử Tất Đạt Đa xuất
gia có Tứ Thiên Vương nâng tay đỡ bốn chân của ngựa Kiền
Trắc, hình hoa sen, tượng Hộ Pháp, các chùa tháp v.v… một
phi trường mới hiện đại nhất Á Châu ở đầu thế kỷ
thứ 21 này mà Phật Giáo vẫn được vinh danh như thế. Quả
là một dân tộc rất hài hòa theo tinh thần Từ bi và Trí
tuệ của đạo Phật.
Khi
chư Tăng đến phi trường, dẫu cho đó là Nam tông hay Bắc
tông (nếu mặc hậu vàng), sẽ có những nhân viên làm việc
tại đó đến đón, quí Thầy đến cổng diplomatic dành riêng
cho những nhân viên ngoại giao, gần như quốc khách để được
đóng dấu nhập nội Thái Lan và khi đi ra khỏi Thái Lan cũng
như thế.
Hôm
đó là ngày 13 tháng 11 năm 2006, chuyến bay Bangkok Airways đã
để cho hành khách Âu Mỹ đi một chiếc xe bus lớn ra máy
bay. Còn chúng tôi được đưa ra sân bay bằng một chiếc xe
du lịch khác để lên máy bay trước. Những tiếp viên du lịch
rất lịch sự, nhã nhặn và cung kính chào bằng đóa sen búp,
tặng cho người đối diện. sau khi an vị chỗ ngồi, nữ tiếp
viên đến cung kính hỏi thăm và dâng nước uống qua trung
gian là cái khay, chứ không trực tiếp đưa từ tay này qua
tay khác đến chư Tăng. Đây là lối tiếp cận theo giới luật
mà chư Tăng các xứ Nam Tông bao đời đã gìn giữ. Thật quý
hóa và đáng trân trọng biết là bao.
Khi
đến phi trường Rangoon chúng tôi được bà tham vụ Đại
Sứ của Tích Lan ra lo Visa và đi vào hướng của những nhân
viên ngoại giao đoàn để nhận hành lý. Lúc ấy Đại Diện
bên Bộ Giáo Dục của Miến Điện cũng đã đến chào phái
đoàn. Sau khi ra khỏi quan thuế, chúng tôi gặp Thầy Hạnh
Bảo đã có mặt sẵn tại đó và đoàn chia ra làm 3 nhóm nhỏ.
Một nhóm đi về khách sạn, nhóm khác đi về Sứ Quán Tích
Lan và nhóm kia đi về Bộ Giáo Dục.
Ngày
hôm sau (14.11.2006) chúng tôi được đi xem ngôi chùa lịch sử
Schwedagon ở thủ đô Yangoon. Ngôi chùa này đang thờ 8 sợi
tóc của đức Phật và đây cũng có thể gọi là một kỳ
quan của thế giới và của Phật Giáo cũng không hổ thẹn
chút nào. Có 4 lối đi vào chùa và mỗi lối đi đều được
che chắn bởi những mái chùa. Đồng thời những trụ cột
cũng được chạm trổ rất tinh vi. Càng đi càng tiến lên
cao và ở một độ cao trung bình thì đã thấy được chân
của tháp. Tháp chính cao 58 mét và đường kính chừng 300 mét.
Toàn thân tháp đều lợp ngói vàng. Nghĩa là những tấm vàng
lá được thay thế ngói để lợp lên mái tháp để chống
chọi với gió sương hơn 2000 năm lịch sử như vậy. Chùa
này chính thức được sửa lại vào năm 1755 và đến năm
1823 mới hoàn thành. Hiện nay trên tháp có trang trí 5,400 viên
kim cương loại 76 carat và 2,300 viên cẩm thạch qúy, cùng với
pha lê, bảo châu hợp thành, gần giống trong kinh A Di Đà diễn
tả về thế giới Cực Lạc như vậy. Ai đến đây cũng với
tâm thành kính, nên những thùng tiền cúng dường để đầy
khắp các chùa mà vẫn không bị mất cắp. Mặc dầu dân của
họ rất nghèo, nhiều người tự nghĩ: tại sao chùa vàng có
chạm ngọc, kim cương như thế mà không bị mất cắp? Dĩ
nhiền ở đâu lại chẳng có người tham lam và ích kỷ. Tuy
nhiên không phải họ sợ luật pháp, mà họ sợ nhân quả;
nên họ đã không giở ngói chùa. Nếu ở một nước kém đạo
đức và lòng tin Phật không cao, thì chắc chắn những mái
ngói bằng vàng ấy và những viên kim cương kia chưa chắc
còn tồn tại mãi cho đến ngày nay. Người ta có lẽ tin rằng,
luật pháp của thế gian họ có thể qua mặt được, nhưng
nhân quả theo đạo Phật thì không bỏ sót một ai và vì họ
hiểu rõ nhân quả nên họ đã chế ngự lòng tham. Đó là
một kết quả tốt của một đất nước theo Phật giáo và
họ đã ứng dụng đời sống tâm linh của Phật giáo trong
cuộc sống hằng ngày như vậy.
Đến
mỗi nơi Thầy trò chúng tôi đều đảnh lễ và cúng dường
như bao nhiêu người Miến khác. Họ thấy chúng tôi lạ và
có hỏi đến từ đâu. Tôi trả lời rằng, chúng tôi là người
Việt Nam, nhưng đang sinh sống tại Âu Châu. Những cái nhoẻn
miệng cười là những cái đáp lễ của người đối diện.
Có một nơi thờ Phật như bao nhiêu điện Phật khác; nhưng
lại có rất nhiều người đang đứng sắp hàng quạt Phật
để tạo ra công đức. Tôi không biết tích này từ đâu ra
nhưng đại khái như thế này. Mỗi người khi vào đây lễ
Phật xong, họ cầm sợi dây kéo dài từ trên trần xuống
đất và trên trần nhà ấy chính là trên đầu của đức
Phật có làm một tấm chắn bằng vải chiều ngang độ 5 tấc
và chiều dài độ 3 thước. Ở hai đầu họ cột hai sợi
dây buông dài xuống đất và cứ như thế mỗi lần 2 người
kéo dây thì bên trên tấm trướng ấy sẽ quạt cho Phật.
Việc này không biết ai nghĩ ra, nhưng đây cũng là một hình
ảnh đẹp khi Phật tử đến cầu nguyện ở chùa này.
Sau
đó chúng tôi vào viện bảo tàng của chùa, nơi đây tập
trung rất nhiều đồ cổ từ nhiều đời và đặc biệt đã
biết rõ được cách lợp ngói vàng lên tháp như thế nào;
những ai đã cúng và những gì đã được lưu trữ cả mấy
ngàn năm nay. Tự dưng tôi dừng lại trước một khung cửa
kiếng trong ấy có để 3 tấm sơn mài Việt Nam. Một tấm
với kích thước nhỏ có hình chùa một cột. Một tấm khác
phong cảnh vịnh Hạ Long và một đĩa sơn mài khác để trên
giá. Dẫu sao cũng có được một chút an ủi như là “tha
hương ngộ cố tri” vậy.
Bước
ra khỏi viện bảo tàng chúng tôi gặp dân chúng đang lễ bái
và ném tiền vào tượng Phật bằng ngọc thạch xanh rất nổi
tiếng. Tượng cao cở đầu người thường và rất linh thiêng.
Nơi đây được rào cản nghiêm ngặt để phòng ngừa những
kẻ tiểu tâm. Khi đoàn đến một nơi khác lễ bái được
người hướng dẫn kể rằng: “Dầu Thầy đứng ở bất
cứ nơi nào và hướng nào, tượng Phật ấy vẫn dõi mắt
theo Ngài đấy. Đó là do lời cầu nguyện của Ngài được
tương ứng. Nếu không, tượng ấy sẽ không nhìn Ngài. Đây
có thể là một lối giải thích chung chung, có tính cách đại
chúng, chứ không phải nơi giáo lý của Phật đà. Đã là
Phật và Bồ Tát thì làm sao có thể phân biệt chúng sanh như
thế được. Khi chúng sanh khổ đau mới đến trước chân
Phật để nguyện cầu. Trong khi đó Phật lánh mặt làm ngơ
thì làm sao thể hiện hết lòng từ bi lân mẫn để cứu độ
chúng sanh khi còn ở trong cõi đời ngũ trược ác thế này
nữa…
Lý
do thứ hai mà cá nhân chúng tôi muốn đến viếng thăm xứ
Miến Điện này. Vì lẽ khi dịch Đại Đường Tây Vức Ký
được chính Ngài Huyền Trang biên khảo vào năm Trinh Quán
thứ 19 và năm Ngài 51 tuổi, tức nhằm năm 646 tại Ngọc Hoa
cung và may mắn cách đây 3 năm tôi đã chuyển dịch tác phẩm
này từ tiếng Hán sang tiếng Việt có những đoạn viết cũng
như mô tả rất rõ ràng về đoạn của 2 người thương nhân
Miến Điện này. Ngài Huyền Trang thuật lại như sau:
“Có
2 người thương nhân Miến Điện bị đắm thuyền ở phía
Nam Ấn Độ và họ đã cầu cứu với những đấng thiêng
liêng. Sau đó họ thấy một vùng ánh sáng chói lòa ở cách
xa họ và thế là họ nương theo ánh sáng ấy để đi tìm.
Khi đến họ gặp đấng Điều Ngự và sau khi cúng dường
bánh làm bằng gạo cũng như mật ong, họ đã xin quy y với
Ngài và sau khi quy y họ xin Ngài có vật gì kỷ niệm cho họ
để họ mang về quê hương của họ. Đức Phật đã đưa
tay lên đầu và vuốt xuống một nắm tóc trao cho 2 thương
nhân người Miến và họ đã đem về quê hương họ để tôn
thờ…
Đại
để nội dung của chương nói về xứ Ma Kiệt Đà có dẫn
dụ như vậy. Khi Ngài Huyền Trang đến đây thì Ngài đã cảm
động rơi nước mắt và thán lên rằng:
“Phật
tại thế thời ngã trầm luân
Kim
đắc nhân thân Phật diệt độ
Áo
não tự thân đa nghiệp chướng
Bất
kiến Như Lai kim sắc thân”
Dịch
“Lúc
Phật ở đời con trầm luân
Nay
được thân người, Phật diệt độ
Đau
xót thân mình nhiều nghiệp chướng
Chẳng
thấy thân vàng của Như Lai”
Ở
đây chúng ta có thể hiểu được tâm trạng của Ngài, của
2 người thương nhân Miến Điện và ngay cả của chính mình
nữa. Nơi đây được gọi là Thánh địa (holy place) hay động
tâm. Tâm của chúng ta xúc động, khi chúng ta đến trước
kim cương tòa và đúng là chúng ta là những người có phước
báu lắm mới có được những phước duyên như vậy. Ngoài
ra ánh hào quang của Đức Phật thưở ấy phải nói là sáng
chói lắm. Vì từ bờ biển phía Nam xứ Ấn Độ, hướng đến
Bồ Đề Đạo Tràng ước chừng hơn 500km, mà 2 người thương
nhân Ấn Độ còn trông thấy và cảm nhận được từ lực
của Phật mà đến để xin quy y thì quả rằng cái trí tuệ
siêu việt, cái hào quang sáng chói ấy đã soi khắp thế gian
cho tới hang cùng ngõ hẻm và các cõi khổ đau khác trong chốn
đọa đày này.
Trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn tập một, đức Phật có huyền ký
rằng: “Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có kẻ thiện nam, người
thiện nữ nào đi đến được bốn nơi mà Như Lai đã thị
hiện Đản sanh, Thành đạo, thuyết pháp lần đầu tiên và
nơi ta nhập Đại Bát Niết Bàn thì cũng giống như là gặp
Như Lai khi còn tại thế…”
Rõ
ràng là báo thân Phật ngày nay không còn nữa, nhưng pháp thân
và hóa thân của Phật thì vô khứ vô lai, không còn không
mất và bất cứ nơi đâu chư Phật và chư Bồ tát cũng có
thể thị hiện cả để cứu độ quần sanh. Thật là bất
khả tư nghì và bất khả thuyết.
Trong
kinh Đại Bát Niết Bàn tập hai Phật khẳng định rằng những
kẻ nhứt xiển đề và những kẻ phạm tội ngũ nghịch cũng
có khả năng thành Phật mà điều này trong kinh A Di Đà, hay
lời nguyện thứ 18 của đức Phật A Di Đà cũng như trong
kinh Báo Ân Phụ Mẫu chưa chuyên chở được nội dung cao cả
như thế. Vì sao vậy? Vì đức Phật lập luận rằng: Tất
cả các pháp đều bất định, cho nên Nhứt xiển đề và
những người phạm tội ngũ nghịch cũng có tính không nhứt
định. Nhứt xiển đề cũng có khả năng thành Phật. Vì nhứt
xiển đề nếu có lòng tin Tam Bảo và chơn như Phật tánh
ấy sẽ hiện về và sẽ trở thành Phật. Vì cái đúng của
ngày hôm qua cũng có thể là cái sai của ngày hôm nay và cái
sai của ngày nay cũng có thể là cái đúng của ngày mai. Đó
là lối định nghĩa về các pháp bất định trong kinh Đại
Bát Niết Bàn tập hai.
Khi
đọc, tụng và hành trì mỗi chữ mỗi lạy trong Kinh Đại
Bát Niết Bàn tâm tôi đã xúc động, toát mồ hôi. Vì lẽ
tâm Đại Từ Bi của chư Phật rộng rãi quá mà tâm niệm
của chúng sanh thì hẹp hòi quá, cứ khư khư cố chấp cho
mình là phải, kẻ khác là trái và nhất là không tin kính
Tam Bảo cho nên mới bị lưu xuất vào chốn Tam đồ. Do sự
ngưỡng mộ này mà tôi đã tìm đến các xứ có thờ xá lợi
của Phật để đãnh lễ. Đây cũng là lý do của chuyến đi
này.
Nếu
ai đó có đọc quyển “giữa chốn cung vàng” thì đã rõ
về Xá lợi răng của đức Phật đang thờ tại Kandy Tích
Lan và ai đó đã đọc “Lòng Từ Đức Phật” thì đã rõ
về Tứ Động Tâm nơi đức Phật đã trãi qua 80 năm lịch
sử của đời Ngài. Ngoài ra chúng tôi cũng đã đi hành hương
về Trung Quốc nơi các bậc Tổ sư thị hiện qua các cuốn:
“Theo dấu chân xưa” và “Vọng cố nhân lầu” mà chúng
tôi đã sưu tập biên khảo lại, nhằm giới thiệu cho các
Phật tử khắp năm châu, trong cũng như ngoài nước, chia sẻ
với chúng tôi về những thể nghiệm của bản thân sau khi
đi chiêm bái những thánh tích ấy về.
Ngày
15 tháng 11 năm 2006, phái đoàn chúng tôi đã rời Miến Điện
về lại Thái Lan và đổi máy bay để tiếp tục cuộc hành
trình sang xứ Úc. Đến chùa Pháp Bảo vào rạng sáng ngày
16 tháng 11. Ngồi nơi thư phòng này tôi ghi vội lại những
ý tưởng nơi đây sau khi đi thăm Miến Điện về để đăng
trên đặc san Pháp Bảo số Xuân Đinh Hợi 2007 như là một
sự tạ ơn Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và chư Tăng Ni chúng
của chùa Pháp Bảo đã cưu mang Thầy trò chúng tôi trong 3
mùa nhập thất vừa qua, đã dịch và viết được một số
tác phẩm để lại cho đời. Năm nay tôi ở lại Úc hơn 2
tháng rưỡi để hoàn thành tác phẩm thứ 48 với tựa đề
là: Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Đây là một dịch phẩm khó và tôi sẽ cố gắng hoàn thành
việc dịch thuật cũng như chuyển ngữ từ tiếng Nhật sang
tiếng Việt để độc giả khắp nơi có những tư liệu tham
cứu và tu học.
Ơn
nghĩa thì nghìn trùng mà khả năng lại giới hạn, nên tôi
mong rằng quí vị đọc văn tôi, hãy nhớ ý quên lời và xin
cảm thông cho những sự vụng về của tôi khi muốn diễn
tả một ý gì mà không rõ ràng, khiến cho quí vị nheo mày
thì lỗi ấy do tôi vậy.
Xin
chắp cánh cùng bay về một phương trời đã định sẵn. Nơi
ấy đang có những thiện hữu tri thức, chư vị Bồ Tát và
chư Phật đang chờ đợi chúng ta từ bao nhiêu kiếp rồi.
Hãy nhanh chân lên, đừng chậm trể nữa, hỡi những hành
giả đang phát nguyện tu tập.
Viết
xong vào chiều ngày 17 tháng 11 năm 2006 tại thư phòng chùa
Pháp Bảo
vào
một ngày đầu hạ của xứ Nam Bán cầu.
Thích
Như Điển
(Người
gửi bài: Tâm Minh)
Discussion about this post