
TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG
Lý Nguyên Diệu
Để tưởng niệm ngày vị pháp vong thân của
Hoà Thượng Thích Quảng Đức 48 năm đã qua.
Trong
bối cành một thế giới đang hừng hực nóng
từ lò lửa Trung Đông đến biên giới Thái-Miên, câu hỏi về sự hiệu nghiệm của
tranh đấu theo phương pháp “Bất Bạo Động” bỗng trở nên quan trọng . Từ “Vô Vi”
của Lão Tử đến “Bất Bạo Động” của Gandhi là một con đường dài dẫn chúng ta từ an
sinh cá nhân đến tranh đấu cho xã hội. Và nói theo Marx thì có xã hội là có bất
công. Nhất là khi nhìn vào cả hai xã hội Cộng sản và Tư bản ngày nay, con cháu
của Marx lại càng phải vất vả tranh đấu chống bất công trường kỳ hơn cả Mao,
thường trực hơn cả Trotsky, sáng tạo hơn cả Obama.
Từ
gốc rể, triết lý tranh đấu bất bạo động có thể coi như được gói gọn trong câu
nói nổi tiếng của Gandhi: “Phương tiện
là nhân mà mục đích là quả.” Nếu chúng ta sử dụng phương tiện vừa bạo, vừa động
thì sẽ gặt hái một kết qủa không bình, không yên. Đây chính là thuyết nhân qủa
ở một tiến trình praxis trong sáng và đơn giản nhất. Nhìn lại ba trường hợp
tranh đấu bất bạo động thành công dưới đây, hy vọng chúng ta sẽ tìm ra được
chìa khoá cho những vấn nạn quốc tế của những thập niên đầu của thế kỷ 21.
MAHATMA
(Great Soul) GANHDI (1869-1948)
Phương
pháp “Satyagraha” của Gandhi là một tổng hợp của Can đảm, Bất bạo động và Sự
thật. Phương pháp nầy đã được ông áp dụng một cách hữu hiệu để chống lại đế
quốc thực dân Anh đem lại độc lập cho Ấn Độ.
Mahatma (Tâm Hồn Cao Thượng) Gandhi sinh trưởng
trong một gia đình trung lưu. Được cha mẹ dàn xếp để lấy vợ năm 13 tuổi. Từ trẻ,
ông đã chủ trương rằng giết thú vật để làm thực phẩm và áo quần là sai lầm. Năm
18 tuổi qua Luân Đôn học Luật, sau khi ra trường, về Ấn Độ làm việc nhưng không
thành công, ông qua làm việc ở Nam Phi (lúc đó cũng là thuộc địa của thực dân
Anh). Thời gian đầu tiên, tuy là một luật sư, ông vẫn bị kỳ thị vì là người Anh
gốc Ấn. Tự đó, ông khởi đầu phong trào công nhân gốc Ấn chống kỳ thị qua tờ báo
Indian Opinion.cùng với những chiến dịch
tranh đấu bất bạo động và “dân bất tuân lện” (civil disobedience). Dù bị giam tù
nhiều lần, Gandhi cũng đạt được kết qủa là chính quyền Anh đã nhượng bộ một số
quyền lợi cho người lao động gốc Ấn ở Nam Phi.
Đệ
Nhất Thế chiến bùng nổ, ở tuổi 49, Gandhi trở về Ấn để tranh đấu cho độc lập
của quê hương thoát vòng cai trị của đế quốc Anh, một đế quốc “luôn có mặt trời
không bao giờ lặn” (the sun never sets). Trong vòng 5 năm, ông trở thành lãnh
tụ của phong trào tranh đấu toàn nước Ấn. Chính quyền thực dân đưa ra luật
Rowlatt để cấm tổ chức chống chính quyền. Ông dẫn đầu các cuộc nỗi dậy dùng
phương pháp “Satyagraha” nhưng không hoàn toàn thành công. Tuy nhiên, niềm tin
nầy vẫn càng trở nên sắt đá hơn nhờ vụ người Anh dùng bạo lực thảm sát gần 400
dân Ấn tại Amritsar năm 1919 càng làm cho chính quyền thực dân Anh thêm yếu kém và mất uy tín. Năm sau đó, ông khởi
xướng chương trình tự dệt vải với 3 mục tiêu rõ rệt: (1) Tạo dựng tinh thần tự
lập cho người dân Ấn (2) Nâng cao giá trị của lao động để người Ấn ý thức được
khái niệm tự do và (3) tẩy chay kỷ nghệ dệt vải của “mẫu quốc” Anh để chuẩn bị
cho một nền độc lập tự chủ.
Năm
1930, cũng trong tinh thần tranh đấu cho tự túc tự cường bằng phương pháp bất bạo
động, Gandhi dẫn đầu một cuộc di hành vĩ đại dài gần 400 cây số xuống biển để làm
muối chống lại đạo luật chỉ được mua muối của chính quyền thực dân. Trong suốt Đệ
Nhị Thế Chiến (1939-1945) ông liên tục hướng dẫn nhân dân Ấn biểu tình bất bạo động
cho đến năm 1947, sau tổng cọng 7 năm Gandhi vào tù ra khám, nước Anh đã phải bằng
lòng trả lại độc lập cho dân Ấn.
Chủ
trương bất bạo động mà ông cổ xúy không bắt nguồn từ niềm tin Ấn Độ giáo của
ông mà từ những suy nghiệm tự thân về bản chất con người. Ông chống lại những
tôn giáo có tổ chức (organized religion) mà một câu nói nổi tiếng của ông là “Tôi thích Chúa Kitô nhưng tôi không thích
các tín hữu Kitô giáo. Họ chẳng giống Chúa Kitô chút nào cả” (I like your Christ, I do not like your
Christians. Your Christians are so unlike your Christ – Nguồn: Wikipedia)
Theo
Gandhi, thật sự bất bạo động đòi hỏi tính can đảm. Muốn đạt được can đảm phải vượt
qua lòng sợ hãi. Và ông đã dạy dân Ấn vượt qua lòng sợ hãi bằng lòng yêu quê hương.
Khi người ta yêu quê hương thì chết cũng
không sợ. Yếu tố thứ hai trong phương pháp Satyagraha của ông là sự thật.
Loại “Sự Thật” có thể được tìm thấy bằng tính khoan dung và lòng thương tha
nhân. Để nhấn mạnh yếu tố nầy, Gandhi đã đặt tựa của Hồi ký là “My Experience
with Truth” (Kinh Qua Đời Tôi với Sự Thật”).
Sau
khi ông bị một tín đồ Ấn Độ giáo cực đoan ám sát chết, nhà bác học Albert
Einstein đã tuyên bố: “Những thế hệ tương lai khó mà tin được trái đất nầy đã
có một người như vậy hiện hữu bằng xương bằng thịt” (“Generations to come will
scarcely believe that such a one as this walked the earth in flesh and blood.”)
MARTIN
LUTHER KING JR. (1929 – 1968)
Ông
là một trong hai anh hùng của nước Mỹ mà ngày sinh nhật được chọn làm ngày quốc
lễ (người kia là George Washington). Cuộc tranh đấu cho dân quyền bất bạo động
từ 1955 đã mang lại cho ông vinh dự là người trẻ tuổi nhất được nhận giải thưởng
Nobel Hoà Bình.
Martin
Luther King Jr. (MLK) sinh trưởng trong một gia đình có 3 đời làm Mục sư phái
Tin lành Báp-tít. Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách viết từ khởi đầu của cuộc
tranh đấu năm 1958. Sau khi được thụ phong Mục sư năm 1948, ông tiếp tục học và
lấy bằng Tiến sĩ Thần học tại Đại học Boston University
năm 1955.
Năm 1955 là thời điểm xuất phát cuộc tranh đấu
của ông với mục tiêu đầu tiên là đạt được bình quyền cho người da đen tại thành
phố Montgomerry qua đạo luật kỳ thị bắt người da đen trên xe buýt phải nhường
ghế ngồi cho người da trắng. Các lãnh tụ da đen trong thành phố nầy đã mời ông
cầm đầu phong trào tranh đấu. Trong bài diễn văn nhậm chức, ông tuyên bố: “Điều tiên quyết phải xác định chúng ta là
công dân nước Mỹ. Chúng ta không kêu gọi bạo động. … Sự huy hoàng vĩ đại của
nền dân chủ Mỹ là quyền được phản đối để
được quyền.” Vũ khí của MLK trong cuộc tranh đấu nầy là kêu gọi quần chúng
tẩy chay xe búyt. Chỉ một năm sau, Tối cao Pháp viện Liên bang ra lệnh thành phố
Montgomerry phải đối xử bình quyền trong hệ thống chuyên chở công cộng. Chiến
thắng nầy đã giúp MLK đương nhiên trở thành lãnh tụ phong trào tranh đấu cho
dân quyền trong nước Mỹ.
Từ
vấn đề chuyên chở, cuộc tranh đấu lan qua bình quyền trong các lãnh vực giáo
dục, lao động, nhà ở, chính trị (quyền bầu phiếu).và kinh tế. Những lãnh vực
căn bản mà sự kỳ thị bất công trong xã hội Mỹ đã hiển hiện đến mức người da
trắng (kể cả tài tử Paul Newman, Warren Beatty) cũng xuống đường biểu tình ủng
hộ ông. Các cơ quan truyền thông đăng tải hình ảnh những người da đen biểu tình
cam chịu trước những vòi xịt nước và những con chó hung dữ đã làm quần chúng Mỹ
bắt đầu quan tâm. Cao điểm của phong trào tranh đấu là cuộc tuần hành vào mùa Hè
năm 1963 với hơn 250,000 người Mỹ đủ sắc dân biểu tình không gậy gộc, gươm dao
tại Hoa Thịnh Đốn. Vũ khí của họ chỉ là giọng ca cao vút của Joan Baez qua bài
hát nổi tiếng “We Shall Overcome” (Chúng
ta sẽ vượt qua, Một ngày nào đó chúng ta sẽ vượt qua, vì tự đáy lòng chúng ta
tin là sẽ vượt qua – Nghe như câu chú “Gate Gate ParaGate …” của Bát Nhã Tâm
Kinh vậy)
Năm
1964, Quốc hội Mỹ ban hành Sắc luật Bảo vệ Dân quyền (Cìvil Rights Act). Qua năm
sau, với hậu thuẫn của Tổng Thống Lyndon Johnson, Quốc hội Mỹ ban hành sắc luật
cho phép người da đen đi bầu (Voting Rights Act). Những thành công đó của ông cũng
chưa làm vừa lòng nhóm SNCC (Ủy ban Sinh viên Bất Bạo động) đến mức họ bắt đầu
dùng khẩu hiệu “Black Power” (“Quyền lực Người Da Đen”) và có khuynh hướng muốn
sử dụng những phương tiện bạo động làm cho MLK lo ngại cho nguyên tắc tranh đấu
theo lối Gandhi của ông. Theo ông, “phương
tiện tranh đấu cũng phải trong sáng như mục tiêu mà chúng ta ước mong”. Năm
1967, MLK tập trung tất cả ưu tiên vào mục tiêu chống nghèo đói mà ông cho là đầu
mối của tất cả thảm trạng mà người da đen ở Mỹ phải nhận chịu.
Tháng
4 năm 1968, ông đến Memphis
để ủng hộ cuộc đình công của công nhân đổ rác và bị một người tội phạm da trắng
bắn chết.
Ngày
nay, học sinh trung học Mỹ đều phải học về bài diễn văn nổi tiếng của ông đọc tại
Hoa Thịnh Đốn trong cuộc biểu tình năm 1963: “I Have A Dream” (“Tôi Mơ Một Giấc Mơ”) để nói về khát vọng tự do, bình
quyền của người dân trong một cường quốc mạnh nhất thế giới. Nhiều người đã tự hỏi
có phải bài diễn văn nầy đã biến “một giấc mơ “ thành một hiện thực của một nước
Mỹ năm 2008 với Tổng thống da đen Barrack Hussein Obama?
THÍCH
QUẢNG ĐỨC (1897 – 1963)
Trong
cuộc tranh đấu dài 6 tháng năm 1963 giữa Phật Giáo Việt Nam và chính quyền của Tổng
thống Ngô Đình Diệm, cuộc tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức (HT) được coi
như cao điểm của tinh thần vô úy, bất bạo động của đạo Phật. HT tên thật là Lâm Văn Tuất sinh tại huyện
Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Năm 7 tuổi đã vào chùa tu hành. Năm 20 tuổi, đạt phẩm
Tỳ Kheo, pháp hiệu Quảng Đức. Sau đó, HT tịnh tu ba năm trên một ngọn núi ở
Ninh Hòa gần bờ biển Đại Lảnh. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, HT đã
kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa. Năm 1943, rời Khánh Hòa vào Nam, HT hành đạo khắp Sài Gòn, 6 tỉnh Nam
kỳ. Trong ba năm ở Nam Vang, HT vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên
cứu kinh điển PàLi và Phật giáo Nam Tông. Năm 1958, trủ sở
Hội Phật học Nam Việt, mà HT là Phó Trị sự, dời về chùa Xá Lợi ở Sài Gòn.
Đầu
tháng 5 năm 1963, khi chính quyền cấm treo cờ trong ngày lễ Phật đản và thảm sát
9 người biểu tình ở Huế, hình thức tranh đấu của Phật giáo chỉ là biểu tình và
tuần hành bất bạo động. Trước phản ứng hung bạo của chính quyền qua các cuộc bắt
bớ Phật tử, phong toả chùa chiền, Phật giáo tăng mức độ chống đối lên đồng loạt
tuyệt thực của các sư và Phật tử. Nghĩa là vẫn bất bạo động. Nhưng cũng vẫn chưa
“khai thị” được chính quyền.
Cuối tháng 5/1963, HT viết thư xin tự
thiêu nhưng bị các cấp lãnh đạo Phật giáo từ chối. Đến đầu tháng 6, khi cuộc
khủng hoảng như đang đi vào bế tắc, Phật giáo nâng hình thức tranh đấu bất bạo
động ở mức cực độ: Không thiêu đốt kẻ
thù mà thiêu đốt tấm thân “ngũ uẩn giai không” của chính mình để đưa cao ngọn
đuốc soi sáng đầu óc vô minh. Trong di chúc để lại, HT có viết thẳng cho
người lãnh đạo chính quyền đang đàn áp Phật giáo, đối tượng của cuộc tự thiêu,
một cách hiền hoà, từ bi và đầy tình dân tộc:
“Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô
Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt nam . . . Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc
dân an lạc… “
Ngày
11 tháng 6 năm 1963, trong một cuộc tuần hành của 800 nhà sư Phật giáo, HT
Thích Quảng Đức đã ngồi tự thiêu trên một ngả tư lớn giữa trung tâm thủ đô Sài
Gòn trước sự chứng kiến của lực lượng Cảnh sát, Phật tử và các phóng viên ngoại
quốc. Cái chết bất chợt và bi hùng nầy đã tạo nên ba loại phản ứng:
(1)
Từ chính quyền: Thứ nhất là một câu tuyên bố để lộ bản chất độc tài, vô chính
trị của TT Diệm: “Sau lưng Phật giáo trong nước còn có Hiến pháp, nghĩa là
có tôi.” Và thứ hai là một câu của
bà Cố vấn Ngô Đình Nhu bị cả thế giới lên án: “Tôi sẽ vỗ tay khi thấy một vụ
nướng sư khác” (I would clap hands
at seeing another monk barbecue show) và nếu ai thiếu xăng dầu tôi sẽ cho. Tôi còn
thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là
phớt lờ, không cần biết tới”.
(2) Từ người dân Việt: Im lặng trước chính quyền
đang say máu. Nhưng trong lãnh vực văn
hoá có ba phản ứng bất bạo động: Thứ nhất là quyết định từ chức của một số
giáo sư Đại học (LM Cao văn Luận, giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư Vũ Văn Mẩu).
Thứ hai là nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc “tự hủy mình cũng như Hoà Thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu”. Và thứ
ba là bài thơ “Lửa Từ Bi” đầy máu lệ
của Đại thi sĩ Vũ Hoàng Chương được phát hiện sau khi chính quyền bị lật đổ với
5 câu thơ khởi đầu:
xuống. Hai vầng sáng rưng rưng, Đông Tây nhòa lệ ngọc, Chắp tay đón một mặt trời mới mọc. Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên …
(3) Từ dư luận quốc tế: Hầu như toàn thể các
cơ quan truyền thông trên thế giới đều đăng lại tấm hình tự thiêu hùng tráng và
bi thiết nầy. Ngày 14 tháng 6, nhật báo New York Times đăng trên trang nhất “Mỹ
cảnh cáo Việt-Nam về những nguyện vọng của Phật giáo: (TT) Diệm được bảo là ông
ta có thể bị khiển trách nếu không thỏa mãn được những kêu ca chính đáng về tôn
giáo.” (“U.S. Warns South Vietnam on Demands of Buddhists:
Diem is told he faces censure if he fails to satisfy religious grievances, many
of which are called just.”). Sử gia Seth Jacobs nhân xét là HT Thích
Quảng Đức “cũng đã đốt ra tro con bài Ngô Đình Diệm của Mỹ” (“reduced America’s
Diệm experiment to ashes as well”).
Về phía Công giáo, là đạo của TT Diệm, Giám mục Nguyễn văn Bình của Tổng giáo phận Sài
Gòn kêu gọi chính quyền áp dụng khoan dung tôn giáo. Và bất chấp cả lời kêu gọi
(ngày 17/8) của Giáo hoàng Paul VI từ Vatican thúc dục TT Diệm giải quyết vụ
khủng hoảng Phật giáo, đêm 20/8, như một ngọn lửa rơm bùng lên trước khi
tắt, chính quyền phát động chiến dịch “Nước
Lũ”, đem quân tấn cống các chùa Phật tại hầu hết các tỉnh trên toàn miền
Nam và bắt nhốt vô số nhà sư, Phật tử, sinh viên, học sinh.
Cuối
tháng 10, Liên Hiệp Quốc cử 1 phái đoàn đến Việt-Nam để điều tra tình trạng đàn
áp tôn giáo của chính quyền TT Ngô đình Diệm. Nhưng đã quá trễ. Đầu tháng 11 năm
1963, quân đội nghe theo tiếng gọi của toàn dân, đứng lên lật đổ chính quyền Ngô
Đình Diệm trong một cuộc đảo chánh ngắn ngủi, nhanh chóng không đến 24 giờ vì gần
như không có kháng cự.
Bốn mươi tám năm sau
hành động chống đối bất bạo động đó, tháng 9 năm 2010, một tượng đài tưởng niệm
Bồ Tát Thích Quảng Đức được khánh thành tại Sài Gòn ngay ở địa điểm mà HT đã tự
thiêu.
KẾT
LUẬN
Nhìn
lại cả ba cuộc tranh đấu, những yếu tố đáng chú ý là:
–
Mức độ bất bạo động luôn luôn được phe tranh đấu giữ ở tình trạng tối đa theo
nghĩa không có một chống đối, chạm trán nào đưa đến hậu qủa xương rơi máu chảy
cho phiá có quyền, có lực dù phía nầy đã bạo động không nương tay (ở Amritsar, ở Alabama,
ở Huế).
–
Phe cầm quyền là một chính quyền thực dân, đế quốc (cho Gandhi). một truyền
thống chính trị bị lạm dụng (cho Marin Luther King Jr.) và một chế độ đôc tài,
gia đình trị và giáo trị (cho HT Thích Quảng Đức). Đây là những quyền lực không
xuất sinh từ quần chúng, không phục vụ quần chúng và không được quần chúng ủng
hộ.
–
Kết qủa là những lực lượng chủ trương sử dụng bạo động đã phải đầu hàng, nhượng
bộ hoặc bị lật đổ trước một phương pháp tranh đấu với tinh thần Satyagraha – Can
đảm cùng cực, Bất bạo động tuyệt đối và Sự thật không thể chối cải.
Vậy
thì ta có nên hy vọng một ngày nào, sau hơn nửa thế kỷ bạo động với hàng trăm
ngàn nhân mạng tử vong, sẽ những Gandhi, những Martin Luther King, những Thích
Quảng Đức cùng chung nhau quạt tắt những lò lữa âm ỉ hay bùng cháy đang thiêu
đốt nền hòa bình mong manh trên thế giới hiện nay không ?
LÝ NGUYÊN DIỆU
Discussion about this post