Tịnh Độ Quyết Nghi Luận
Ấn Quang Đại Sư
Như Hòa Dịch
Thuốc không quý – tiện, thuốc trị lành
bịnh là thuốc hay. Pháp không hơn – kém, pháp khế hợp căn cơ là pháp diệu. Thuở
xưa, căn tánh con người thù thắng, tri thức như rừng, tùy ý tu một pháp đều có
thể chứng đạo. Người đời nay, căn tánh kém cỏi, tri thức hiếm hoi, nếu bỏ Tịnh
Độ thì chẳng nhờ vào đâu để được giải thoát. Tôi tự thẹn nhiều đời, nhiều kiếp,
ít gieo căn lành, phước mỏng, huệ cạn, chướng nặng, nghiệp sâu; lúc đang cầu
học hỏi lại chẳng gặp thiện hữu, chưa được nghe đạo truyền tân[1] của thánh hiền, lậm cái độc của Hàn, Âu[2] phế Phật. Học vấn chưa thành, nghiệp lực đã hiện ra
trước. Từ đấy, bệnh nặng cả mấy năm, chẳng làm gì được. Nghĩ kỹ thiên địa quỷ
thần chiếu soi như thế, cổ kim thánh hiền đông nhiều đến thế, huống chi Phật
vốn chẳng có quyền lực để ép người thuận theo; ắt phải nhờ vào vua thánh, tôi
hiền hộ trì thì đạo Phật mới có thể lưu truyền khắp thiên hạ vậy. Nếu pháp ấy
quả thật đúng như lời họ Hàn, họ Âu: “Phật pháp trái nghịch thánh đạo, gây hại
cho Trung Quốc” thì chẳng những riêng vua thánh, tôi hiền xưa nay chẳng dung
thứ cho Phật pháp tồn tại nơi đời, mà thiên, địa, quỷ thần cũng tru diệt chẳng
còn sót từ lâu rồi; nào phải đợi đến họ Âu, họ Hàn dùng lời hư vọng để bác bỏ
nữa!
Sách Trung Dung nói: “Đạo quân tử thì
kẻ ngu phu, ngu phụ còn có thể biết được, hành được”; còn như cái đạo đạt
đến mức cùng cực thì ngay cả thánh nhân cũng có chỗ chẳng hay biết, chẳng thể
thực hiện được nổi. Ông Âu, ông Hàn tuy hiền, nhưng còn kém xa thánh nhân rất
nhiều! Huống gì có những điều thánh nhân còn chẳng biết chẳng hay! Phật pháp
nào có phải là pháp mà phàm tình, trí thế gian có thể suy lường được nổi. Tôi
bèn nhanh chóng sửa đổi tâm trước, xuất gia làm Tăng, tự lượng sức mình: Nếu
chẳng nương vào sức thệ nguyện rộng lớn của đức Như Lai thì quyết khó có thể
ngay trong đời này thoát khỏi sanh tử. Từ ấy, chỉ niệm Phật, chỉ cầu Tịnh Độ.
Từ nhiều năm qua, tôi đã lạm dự vào chốn giảng pháp, nhiều phen tham vấn các
bậc Thiền Đức[3], chẳng qua là muốn làm sáng tỏ Đệ Nhất Nghĩa Đế Tịnh Độ
để làm tư lương[4] thượng phẩm vãng sanh mà thôi. Hận rằng sức lực yếu ớt
nên hạnh khó dũng mãnh; nhưng tôi tín nguyện kiên cố, không những các sư giảng
Thiền trong thế gian không thể lay chuyển tôi chút nào, dẫu cho chư Phật hiện
thân dạy tu pháp khác, tôi cũng chẳng chịu bỏ pháp này nhận lấy pháp khác, trái
nghịch cái tâm ban đầu. Hiềm rằng túc nghiệp gây chướng ngại nên rốt cuộc tôi
chưa đạt được nhất tâm bất loạn để đích thân chứng được Niệm Phật Tam Muội,
thẹn thùng vô kể.
Một ngày nọ có một Thượng Tọa, tham học
Thiền tông đã lâu, kiêm thông giáo lý, mắt xem bốn biển rỗng không, thề chứng
Nhất Thừa, noi gương Thiện Tài tham học khắp các tri thức, đến Loa Sơn gõ cửa
thất tôi. Khi ấy, tôi vừa xem tập Di Đà Yếu Giải thấy văn sâu lý thẳm, chẳng
tiện cho kẻ sơ cơ, mông muội, nên muốn thâu thập những giáo lý của tông Thiên
Thai để viết lời giải thích, ngõ hầu giúp bậc sơ học dễ bề tiến bộ, chứ chẳng
dám bắt chước cổ đức hoằng xiển đạo mầu, chỉ toan tạo nhân duyên thâm nhập chỗ
thù thắng cho hậu học. Mừng có vị Thượng Tọa ấy đến, nên tôi liền tặng ông ta
một cuốn Yếu Giải, rồi tỏ ý muốn viết lời giải thích. Nhân đấy, Thượng Tọa bảo
tôi:
– Một cuốn Yếu Giải trước kia tôi đã
từng xem, thấy trong ấy viết rằng: “Tạng sâu thẳm của Hoa Nghiêm, cốt tủy bí
nhiệm của Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật, kim chỉ nam cho vạn
hạnh của Bồ Tát đều chẳng ra khỏi kinh này”. Những câu như vậy chẳng thể kể
hết, thật đúng chèn ép Tông (Thiền), Giáo (các tông phái khác như Hoa Nghiêm,
Thiên Thai…), quá khen Tịnh Độ, báng chánh pháp luân, khiến chúng sanh nghi
lầm! Chẳng hiểu đại sư Ngẫu Ích đã có học thức thiên cổ hy hữu sao lại không
trực chỉ nhân tâm, hoằng dương Chỉ Quán. Trái lại, Ngài chấp vào thứ kiến giải
ấy khiến kẻ ngu phu, ngu phụ dùng đó như bùa hộ thân, chỉ mong hàng Tăng, tục
trong đời giữ một pháp buông bỏ vạn hạnh; lấy vũng nước nơi dấu chân, bỏ cả
biển rộng, cùng bước vào nẻo mê, vĩnh viễn quay lưng với đường chánh, đoạn diệt
giống Phật, tội ngập cả trời. Muốn báo ân Phật thì trước hết nên hủy diệt sạch
sách này, sao thầy còn tính viết lời giải thích để giúp cho sách ấy được lưu
thông vậy? Tâm giận ngùn ngụt, như đối diện cừu thù.
Tôi đợi cho ông ta bình tĩnh lại, thong
thả bảo rằng:
– Ông coi lời giải thích này của ngài
Ngẫu Ích là tội lỗi quá nặng; ấy là chỉ biết ngọn, nhánh, chứ chẳng biết đến
cội, nguồn, như con chó khờ chạy theo hòn đất, như con ngỗng chúa chẳng chọn
sữa[5]. Phải biết cái lỗi ấy chẳng do cuốn Yếu Giải này của
ngài Ngẫu Ích mà thật sự là do Phật Thích Ca, Phật Di Đà, mười phương chư Phật
và ba kinh Tịnh Độ, kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, các kinh Đại Thừa và các vị đại
Bồ Tát, tổ sư: Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Thiện Đạo, Thanh
Lương, Vĩnh Minh v.v… Nếu ông có thể làm đại pháp vương trừng trị tội ấy thì
lời ông sẽ được cả thế gian phụng hành; bằng không thì kẻ dân ngu nơi rừng núi
xưng bừa là hoàng đế, tự chế pháp luật, bội phản luật vua, chẳng mấy chốc sẽ bị
diệt môn tru tộc vậy. Ông nói như thế là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, ngay
đời này sẽ hãm vào A Tỳ địa ngục thọ khổ bao kiếp, trọn không có lúc thoát ra.
Cậy chút phước trong quá khứ, tạo khổ báo bao kiếp. Hạng người được tam thế chư
Phật gọi là “đáng thương xót” chính là ông vậy.
Ông ta giật mình, nói:
– Thầy bảo tội nơi đức Thích Ca, Di Đà
v.v… Sao mà lại trái nghịch lý thường đến như thế? Xin thầy giải thích cặn kẽ
nguyên do. Nếu lý ấy thật sự thù thắng, tôi đâu dám chẳng tuân theo!
Tôi bảo:
– Như Lai vì một đại sự nhân duyên nên
xuất hiện trong đời. Đại sự nhân duyên vừa nói đó chính là muốn cho chúng sanh
khai, thị, ngộ, nhập[6] tri kiến của Phật, thẳng cho đến khi thành Phật mà thôi;
há còn có gì khác nữa đâu!
Khốn nỗi chúng sanh căn tánh có lớn –
nhỏ, mê có cạn – sâu, chẳng thể tỏ thấu trực tiếp bản hoài của Phật. Do đó, đức
Phật mới thuận theo căn cơ đặt bày giáo pháp, đối bệnh phát thuốc, vì lẽ thật
mà bày ra phương tiện quyền biến, khai Quyền hiển Thật[7]; [chỉ một pháp] Nhất Thừa mà bèn nói ra các thuyết. Nếu
có kẻ thiện căn thành thục thì sẽ làm cho họ sanh lên được bờ kia; còn đối với
kẻ ác nghiệp sâu dày, sẽ khiến họ dần dần thoát khỏi trần lao, rủ lòng tiếp
dẫn; khéo khuyến dụ dần dần. Dẫu có dùng các ví dụ như trời, đất, mẹ cha… cũng
chẳng diễn tả nổi chút phần [từ ân của Phật]. Hơn nữa, do hết thảy pháp môn đều
nhờ vào tự lực. Dẫu là kẻ túc căn thâm hậu triệt ngộ tự tâm, nhưng nếu hai thứ
Kiến Hoặc, Tư Hoặc vẫn còn sót chút ít chưa hết thì vẫn sanh tử trong luân hồi
y như cũ không thoát được! Huống hồ là kẻ đã thọ thai ấm, đối cảnh liền sanh
chấp trước, từ giác đến giác thì ít, nhưng từ mê vào mê lại nhiều. Bậc thượng
căn còn như vậy, đối với kẻ trung căn, hạ căn còn biết nói sao nữa! Đoạn Kiến
Hoặc giống như cắt dứt dòng sông rộng bốn mươi dặm, huống hồ là Tư Hoặc! Liễu
sanh thoát tử há có dễ đâu!
Do vậy, [các pháp môn khác] chẳng thể
độ trọn ba căn, thỏa trọn bản hoài của Phật; chỉ có một pháp Niệm Phật Cầu Sanh
Tịnh Độ, chuyên cậy vào hoằng thệ nguyện lực của Phật Di Đà, chẳng cần biết đến
thiện căn thành thục hay chẳng thành thục, ác nghiệp nặng hay nhẹ; cứ hễ chịu
sanh lòng tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật thì lúc lâm chung sẽ quyết định
được Phật Di Đà rủ lòng từ tiếp dẫn, vãng sanh Tịnh Độ. Người thiện căn thuần
thục sẽ nhanh chóng viên thành Phật quả; dẫu là kẻ ác nghiệp nặng nề cũng được
dự vào dòng thánh. Đấy chính là đạo cốt yếu để độ sanh của tam thế chư Phật, là
pháp mầu nhiệm để thượng thánh lẫn hạ phàm cùng tu. Do vậy, các kinh Đại Thừa
đều tuyên bày pháp trọng yếu này; lịch đại tổ sư không vị nào chẳng tuân hành.
Ông tự phụ Thiền – Giáo, bảo xằng rằng hoằng dương Tịnh Độ là báng chánh pháp
luân, là đoạn diệt hạt giống Phật, đủ chứng tỏ ông đã bị ma dựa vào thân, mất
trí điên rồ, nhận mê là giác, chỉ chánh bảo tà, là chủng tử địa ngục vậy!
Trong kiếp xưa, đức Thích Ca, đức Di Đà từng phát đại thệ nguyện độ thoát chúng
sanh. Một vị thị hiện sanh nơi uế độ, dùng cái uế, dùng điều khổ để chiết phục,
đưa đi; một vị an cư Tịnh Độ, lấy tịnh, lấy lạc để nhiếp thọ hòng nhào luyện
chúng sanh. Ông chỉ biết ngu phu, ngu phụ vẫn có thể niệm Phật nên đến nỗi miệt
thị Tịnh Độ, sao chẳng xét suy: Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm,
sau khi ngài Thiện Tài đã chứng ngộ gần bằng chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát bèn dạy
dùng mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới,
ngõ hầu viên mãn Phật quả. Lại còn khuyên dạy khắp Hoa Tạng hải chúng[8] đó ư? Trong toàn thể Hoa Tạng hải chúng, chẳng có một ai
là phàm phu, Nhị Thừa, mà đều là bậc Pháp Thân Đại Sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị
cùng phá vô minh, cùng chứng pháp tánh, đều có thể nương vào bổn nguyện luân
hiện thân làm Phật trong thế giới không có Phật.
Hơn nữa, trong biển Hoa Tạng có vô
lượng Tịnh Độ, nhưng các ngài đều hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế
giới thì đủ biết: Vãng Sanh Cực Lạc chính là huyền môn để thoát khổ, là đường
tắt để thành Phật. Vì vậy, tự cổ chí kim, trong tất cả tùng lâm dù Thiền hay
Giáo, hay Luật, không nơi nào chẳng sớm tối trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây
phương. Ông đã tham bái khắp các tùng lâm, ắt hẳn hằng ngày cũng tu tập, cớ sao
lại sanh hủy báng đến thế! Sách Nho có nói: “Tu tập mà chẳng xem xét, dùng
hằng ngày mà không biết”, há không phải là nói đến hạng người như ông hay
sao? Hoa Nghiêm là vua của các kinh, vua trong Tam Tạng; chẳng tin Hoa Nghiêm
thì là nhất-xiển-đề[9]. Dẫu cho chẳng đọa vào A Tỳ ngay khi còn sống thì khi
báo hết sẽ quyết định rớt vào Vô Gián. Tôi muốn thoát khổ nên cầu sanh Tịnh Độ,
ông muốn được khổ nên hủy báng Hoa Nghiêm. Ông cứ giữ cái chí của ông, tôi hành
cái đạo của tôi. Tướng quân chẳng xuống ngựa, ai nấy tự ruổi theo đường mình.
Đạo đã khác thì chẳng thể cùng bàn luận được! Ông đi đi, tôi chẳng muốn trò
chuyện với ông nữa!
Ông ta đáp:
– Đạo quý ở chỗ hoằng thông, hễ nghi
thì cần phải đoạn nghi, sao thầy lại cự tuyệt đến thế? Tôi thường nghe “Tỳ
Lô Giá Na Như Lai ở khắp hết thảy chỗ, nơi đức Phật ở gọi là Thường Tịch
Quang”; chỉ cần chứng được Pháp Thân thì đương xứ (ngay nơi người ấy đang
ở) chính là Tịch Quang Tịnh Độ. Sao lại phải dùng cái tâm sanh diệt “bỏ Đông
lấy Tây” mới coi là được vậy?
Tôi đáp:
– Ông nói sao dễ dàng quá! Tuy đương xứ
chính là Tịch Quang Tịnh Độ, nhưng nếu chẳng phải là Trí Đoạn[10] đã đạt đến rốt ráo, đã viên chứng pháp thân Tỳ Lô thì
chẳng thể đích thân thọ dụng triệt để được nổi! Các địa vị như: Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Đẳng Giác, cả bốn mươi mốt địa vị trong Viên Giáo vẫn là
Phần Chứng! Nếu ông đã chứng được trọn vẹn Tỳ Lô Pháp Thân thì nói “đương xứ
chính là Tịch Quang” cũng chẳng hại gì; còn nếu chưa được như thế thì dẫu
có nói đến thức ăn và tính đếm của cải vẫn chẳng thể khỏi bị chết vì đói lạnh
được!
Ông ta hỏi:
– “Duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”
là điều trong Tông môn thường nói chẳng lẽ là sai lầm hay sao?
Tôi nói:
– Thuyết đó của nhà Thiền chuyên chỉ về
lý tánh, chứ chẳng bàn đến sự tu. Vì sao vậy? Nhà Thiền muốn cho người ta trước
hết biết đến cái lý “chẳng dính mắc nhân quả, phàm – thánh, chúng sanh và
Phật tu chứng”. Sau đấy, mới y theo lý đó mà phát khởi tu nhân hòng chứng
quả, siêu phàm nhập thánh. Đấy chính là mặt Sự: Chúng sanh chứng thành Phật
đạo. Sao ông lẫn lộn Sự và Lý, tri kiến điên đảo đến thế? Ông lại bảo bỏ Đông
lấy Tây là sanh diệt, nhưng chẳng biết chấp Đông phế Tây lại là đoạn diệt. Hễ
còn chưa chứng Diệu Giác thì có ai thoát khỏi lấy – bỏ? Ba A Tăng Kỳ kiếp luyện
hạnh, trăm kiếp tu nhân, thượng cầu, hạ hóa, đoạn Hoặc chứng Chân, có việc gì chẳng
phải là chuyện lấy – bỏ đâu? Phải biết: Đức Như Lai muốn cho hết thảy chúng
sanh mau chứng Pháp Thân và Tịch Quang, nên Phật mới đặc biệt khuyên trì danh
hiệu Phật, cầu sanh Tây phương vậy!
Hỏi:
– Sách Hoa Nghiêm Hợp Luận[11] của Táo Bá Lý Trưởng Giả[12] nhận định Tây phương Tịnh Độ chỉ [dành cho] hàng phàm
phu còn có một phần chấp tướng, chưa tin nổi thật lý Pháp Không. Nếu chuyên ức
niệm thì tâm sẽ được tịnh một phần, sẽ được sanh Tịnh Độ. Pháp đó là Quyền pháp
chứ chẳng phải Thật pháp; cớ sao Hoa Tạng hải chúng lại cùng nguyện vãng sanh?
Ngài Táo Bá chứng thánh quả ngay trong hiện đời, thần thông trí huệ chẳng thể
nghĩ bàn; nhất quyết Ngài phải là Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm thị hiện nên lời
Ngài nói nhất định chẳng sai lầm!
Đáp:
– Tuy ngài Táo Bá là Bồ Tát thị hiện,
nhưng khi ấy kinh Hoa Nghiêm chưa được truyền đến [Trung Hoa] trọn vẹn, Ngài
chẳng dự đoán được nên mới lập thuyết như vậy. Xét ra, ngài Táo Bá tạo luận vào
niên hiệu Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông. Sau khi viết xong luận, Ngài
liền nhập diệt; phải hơn năm mươi năm sau, mãi đến năm Trinh Nguyên thứ mười
một (795) đời vua Đức Tông, vua nước Ô Trà[13] ở Nam Thiên
Trúc mới dâng bộ Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi cuốn bằng
Phạn văn. Đến năm Trinh Nguyên thứ mười bốn (798), kinh mới dịch xong để lưu
thông. Ba mươi chín quyển trước tương ứng với phẩm Nhập Pháp Giới [của bản] Hoa
Nghiêm tám mươi cuốn, nhưng văn nghĩa [trong bản Hoa Nghiêm bốn mươi quyển] có
phần tường tận hơn. Trong cuốn thứ tám mươi, ngài Thiện Tài nương vào sức oai
thần lực của ngài Phổ Hiền, sở chứng đã ngang với ngài Phổ Hiền, ngang bằng chư
Phật, nên ngài Phổ Hiền bèn đọc cho nghe bài kệ khen ngợi công đức thắng diệu
của Như Lai. Do kinh văn đến đây chưa hết nên [pháp hội] chưa kết thúc mà kinh
[Bát Thập Hoa Nghiêm] đã hết. Kịp đến khi phẩm Hạnh Nguyện truyền đến, trong
cuốn thứ bốn mươi, ngài Phổ Hiền dùng mười đại nguyện vương để khuyến tấn Thiện
Tài và Hoa Tạng hải chúng khiến cho họ hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc
thế giới; nói xong, Như Lai khen ngợi, đại chúng phụng hành. [Đến đây], kinh
văn mới hoàn bị. Vì lẽ đó, cổ đức mới đem quyển này đặt nối theo sau tám mươi
quyển kia để lưu thông, muốn cho kẻ hậu học đều được thọ trì toàn bộ bản kinh
vậy. Cổ đức nói: “Một pháp Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Độ chỉ Phật với Phật mới
biết trọn vẹn, bậc Đăng Địa Bồ Tát[14] còn chẳng biết nổi ít phần”, chính là ý này. Pháp Tịnh Độ tóm trọn
hết thảy bậc thượng căn lợi khí chẳng còn sót vậy.
Kinh Đại Tập dạy: ‘Đời mạt pháp ức
ức kẻ tu hành, hiếm một ai đắc đạo. Chỉ nương theo pháp Niệm Phật thì mới thoát
khỏi sanh tử’; như vậy, pháp Tịnh Độ cũng thâu nhiếp hết thảy thiên nhân,
lục đạo cụ phược phàm phu[15] chẳng còn sót gì! Ông tin ngài Táo Bá mà chẳng tin phẩm
Hạnh Nguyện và kinh Đại Tập, tức là tuân theo cáo thị quyền nghi một thuở của
quan huyện, trái nghịch sắc chỉ của hoàng đế muôn đời chẳng đổi. Sao mà chẳng
biết tôn, ty, khinh, trọng đến như thế ấy!
Hỏi:
– Nếu đã là hải chúng thị hiện, sao lại
phải đợi có kinh truyền đến mới biết?
Đáp:
– Hoằng dương Phật pháp quả thật chẳng
phải là việc dễ! Cần phải có chứng cứ thì mới gây được lòng tin. Một bộ kinh
Hoa Nghiêm siêu việt các kinh, chẳng thể không có dẫn chứng mà tự lập thuyết
được!
Hỏi:
– Lúc kinh Niết Bàn chưa truyền đến
Trung Hoa, sao ngài Đạo Sanh[16] đã đề xướng trước là Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh. Há
có nên bảo là ngài Táo Bá chẳng bằng ngài Đạo Sanh ư?
Đáp:
– Xiển Đề nguyên là chúng sanh mà hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh thì sao riêng Xiển Đề lại chẳng có? Bậc có trí
thức đều có thể dự đoán được điều này; còn chuyện vãng sanh sẽ viên mãn Phật
quả thì các kinh tuyệt chưa tuyên nói, ai dám tự ý suy đoán dựng lên giáo nghĩa
lạ lùng đó? Điều thứ hai là Sự và Lý tuyệt đối chẳng ngang bằng như nhau nên
chẳng thể dẫn trường hợp này làm chứng. Còn về sở chứng của hai vị thì chẳng
phải điều bọn phàm phu thấp sát đất ta có thể biết được nổi, nào dám hý luận!
Phải biết: Bồ Tát hoằng pháp hoặc thuận hoặc nghịch, dùng các thứ phương tiện
chẳng thể nghĩ bàn. Biết đâu ngài Táo Bá thị hiện không biết cốt là để đôn đốc
sự tin tưởng nơi người đời sau!
Hỏi:
– Các sư Thiền tông đa số chê bỏ Tịnh
Độ, đó là vì lẽ gì?
Đáp:
– Các sư Thiền tông chỉ truyền Phật tâm
nên tất cả ngôn thuyết đều quy về hướng thượng. Ông đã tham Thiền nhiều năm mà
còn chẳng biết lẽ này thì sự hiểu biết của ông đều là ác tri kiến phá hoại
Thiền tông vậy.
Hỏi:
– Tôi còn đang là phàm phu sát đất, dám
đâu lung lăng! Đấy thật là lời lẽ của chư Tổ, quyết có thể lấy làm bằng chứng.
Lục Tổ nói: “Người Đông phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây phương. Người
Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào?” Ngài Triệu Châu[17] nói: “Một chữ Phật tôi chẳng thích nghe”. Lại
nói: “Lão tăng niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày”. Phần nhiều các
sư Thiền tông có những câu nói như thế ấy thì thầy lại nói như thế nào đây?
Đáp:
– Lục Tổ trực chỉ hướng thượng để cho
người ta biết giữ lấy tự tâm, còn ông lại chẻ văn giải nghĩa, biện luận pháp
môn tu trì; đấy là như câu nói “tưởng miếng xương lừa có hình yên ngựa là
cái cằm của cha”[18], lầm lẫn quá thể! Ông phải biết là người ở Tây phương đã
hết sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc, tiến lên phá được Trần Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc.
Họ chỉ có tấn tu, tuyệt đối chẳng có chuyện tạo tội. Tổ nói “kẻ ấy cầu sanh
cõi nào?” là nếu trong lúc ấy mà chưa đoạn được Kiến Hoặc, Tư Hoặc thì
nương nhờ Phật từ lực, kẻ đới nghiệp vãng sanh sẽ được sanh vào cõi Phàm Thánh
Đồng Cư Tịnh Độ. Một phen đã sanh trong cõi kia rồi thì hai hoặc Kiến và Tư sẽ
triệt để tiêu diệt, giống như quăng miếng tuyết vào lò lửa lớn, tuyết chưa rơi
đến nơi đã biến mất. Thân cận người đức hạnh thì ý niệm hèn tệ sẽ tiêu hết. Nếu
như Kiến Hoặc, Tư Hoặc đã hết sạch thì sẽ sanh vào Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ;
phá được một phần vô minh thì sanh vào Thật Báo Vô Chướng Ngại Tịnh Độ. Vô minh
hết sạch, phước huệ viên mãn thì sẽ sanh vào Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Tại cõi
này hiện chứng như thế thì tại cõi kia tấn tu cũng sẽ như thế.
Sao ông quá lo họ không có chốn để sanh
về để rồi tự chướng mình, chướng người, chẳng chịu cầu sanh? Nghe nói [người
khác] ăn bị mắc nghẹn bèn bỏ cả ăn đến nỗi chết mất thì đúng là kẻ si trong
thiên hạ không ai bằng ông! Ông chỉ biết một câu của ngài Triệu Châu: “Một
chữ Phật, ta chẳng thích nghe” sao chẳng lấy luôn câu kế tiếp. Ông Tăng
hỏi: “Hòa thượng có vì người hay không?” Triệu Châu nói: “Phật,
Phật!” Ông chỉ muốn căn cứ vào câu ‘Niệm Phật một tiếng, súc miệng ba
ngày’ mà chẳng dựa theo câu: “Hòa thượng được đại vương cúng dường như
thế, sẽ dùng gì để báo đáp?” Triệu Châu nói: “Niệm Phật”. Sao lại
chẳng y theo câu: “Tăng hỏi: ‘Mười phương chư Phật còn có thầy hay chăng?’
Triệu Châu nói: ‘Có’. Hỏi: ‘Thầy của chư Phật là gì?’ Triệu Châu đáp:
‘A Di Đà Phật, A Di Đà Phật’. Ông bảo phần nhiều các sư Thiền tông nói như thế, nhưng
chẳng biết lời đáp tương ứng căn cơ của nhà Thiền được gọi là “cơ phong”, gọi
là “chuyển ngữ”. Hỏi ở nơi đáp, đáp ở nơi hỏi. Ông chẳng biết phản chiếu hồi
quang, tham cứu nơi chính mình, chỉ một bề nhai bã hèm, chạy theo hòn đất, bao
giờ mới liễu thoát được! Tôi xuất gia hơn ba mươi năm, luôn nghe chư Tăng cùng
nhắc những câu “Niệm Phật súc miệng ba ngày, Phật hiệu chẳng thích nghe”,
còn câu “lấy Phật, Phật để độ người”, “dùng niệm Phật báo ân”, “A Di Đà Phật
là thầy mười phương chư Phật” tuyệt chưa từng nghe có ai nhắc đến một lần.
Ôi! Những câu trên đều cùng từ một
miệng thốt ra, nếu đã cho những câu trước là thật và đáng tin thì những câu sau
cũng phải là thật và đáng tin, cớ sao chỉ chấp nhận lời tổn, còn lời ích lại
chống báng! Một thuận, một chống, tự mâu thuẫn nhau. Phàm lời nói của ngài
Triệu Châu đều quy về bổn phận; những câu “Phật chẳng thích nghe” và “Niệm
Phật báo ân” đều là chuyển ngữ. Nếu có thể ngay từ những câu đó biết được
tự tâm thì mới biết đạo của ngài Triệu Châu vượt khỏi thường tình, ý nghĩa vượt
ngoài ngôn ngữ, ắt sẽ cắm cúi niệm Phật suốt cả ngày mà vẫn còn thấy là chưa đủ
vậy! Nếu như đã không được đích thân gặp ngài Triệu Châu, sao chẳng lấy việc
Niệm Phật để tu trì, há có nên chấp lấy câu bác Phật làm căn cứ! Hễ niệm Phật thì
ngay trong đời này sẽ thoát khỏi luân hồi, trong tương lai quyết định thành
Phật đạo. Còn nếu nương theo lời bác Phật thì là báng Phật, báng Pháp, báng
Tăng; hiện đời tội nghiệp chất như núi, phước huệ băng tiêu, khi mạng chung
vĩnh viễn đọa trong A Tỳ chịu khổ nhiều kiếp. Lẽ lợi – hại, được – mất thật là
một trời, một vực!
Nói chung, người đời nay toàn là hạng
phước mỏng, huệ cạn, nghiệp nặng, chướng sâu; đối với điều được lợi ích thì
khủng khỉnh nghe; đối với điều khiến mình bị tổn hại lại toàn thân rạp lạy
(“được lợi ích, bị tổn hại” là đối với những kẻ chưa ngộ, hiểu lầm mà nói, chứ
không phải pháp của cổ đức nói có tổn hay ích). Lời chư sư đáp theo căn cơ thảy
đều như thế, chẳng phiền phải giải thích cặn kẽ. Ông bảo lời chân thành của Tổ
quyết có thể dùng làm bằng chứng thì sao chẳng tuân theo lời ngài Bách Trượng[19]: “Tu hành thì niệm Phật là ổn đáng!” Sao ông cũng
lại chẳng tuân những quy củ ngài Bách Trượng đã lập: cầu đảo cho vị Tăng mắc
bệnh, tống táng, thiêu hóa vị Tăng đã mất, [những quy củ ấy] chẳng phải đều là
hồi hướng vãng sanh Tịnh Độ đó ư? Có nên bảo là: Ngài Bách Trượng chỉ muốn cho
kẻ chết được vãng sanh, chứ chẳng muốn kẻ sống cầu sanh hay sao! Sao ông lại
chẳng thuận theo tổ thứ mười bốn ở trời Tây là ngài Long Thọ Bồ Tát: Như Lai
huyền ký Bồ Tát sẽ vãng sanh, khôi phục kinh Hoa Nghiêm từ long cung. Ngài tạo
nhiều bộ luận để riêng khen ngợi Tây phương như luận Tỳ Bà Sa[20] khen ngợi Tịnh Độ là đạo “dễ tu chóng đạt” đó ư! Sao ông
lại chẳng tuân theo tổ thứ mười hai là Mã Minh Bồ Tát: Trong phần cuối của luận
Khởi Tín, Ngài có dạy phương tiện tối thắng khiến người niệm Phật cầu sanh Tây
phương thường hầu Di Đà, trọn chẳng thoái chuyển? Sao ông lại chẳng làm theo
Nhị Tổ A Nan, Sơ Tổ Ca Diếp kết tập Tam Tạng và các kinh Tịnh Độ? Nếu Tịnh Độ
chẳng đáng là pháp, có hại cho đời thì các Ngài há chẳng phân biệt tốt – xấu
vẫn giữ lại tạo thành nguồn tội cho hậu thế hay sao? Thêm nữa, các kinh Đại
Thừa đều khen ngợi Tịnh Độ, chỉ có kinh Tiểu Thừa là không có lấy một chữ nhắc
đến. Há nên bảo các kinh Đại Thừa chẳng đáng là pháp sao?
Hơn nữa, lúc đức Phật nói kinh Di Đà,
sáu phương hằng hà sa số chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài khuyên tin kinh
này; có nên nói là sáu phương chư Phật cũng khiến cho người ta mắc tội hay sao?
Nếu như ông bảo chẳng thể không tin các vị Lục Tổ, Triệu Châu… thì các ngài
Long Thọ, Mã Minh, A Nan, Ca Diếp, Thích Ca, Di Đà, sáu phương chư Phật, các
kinh Đại Thừa lại càng chẳng thể không tin! Nếu bảo chư Phật, chư Tổ, các kinh
đều chẳng đáng tin thì sao lại tin lời Lục Tổ, Triệu Châu…? Thấy gần mà chẳng
thấy xa, biết nhỏ chẳng biết lớn, giống như kẻ nhà quê chỉ nể thế lực ông
huyện, chẳng biết oai đức của hoàng đế; trẻ nhỏ thấy tiền đồng bèn chộp lấy,
gặp ma-ni bảo châu chẳng đoái hoài. Ông có biết bài Tứ Liệu Giản của ngài Vĩnh
Minh chỉ bày lẽ có – không, lợi – hại, được – mất của Thiền và Tịnh hay chăng?
Ngài Vĩnh Minh là hóa thân của Phật Di Đà, há lẽ nào Ngài đành để người khác
mắc tội báng chánh pháp luân, khiến cho chúng sanh nghi lầm, đoạn diệt Phật
chủng hay sao?
Ông ta đáp:
– Bài Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh quá
chi ly, chẳng đáng để làm khuôn phép, vì sao vậy? Ông ấy nói: “Có Thiền, có
Tịnh Độ, ví như cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người, đời sau làm Phật, Tổ”.
Nếu đúng như lời ông ta nói thì phần đông các Thiền giả hiện tại đều khán câu “Người
Niệm Phật Là Ai?” Lại có vị trụ trong Niệm Phật Đường niệm Phật bao năm, họ
có đều hiện đời là thầy của người ta, kiếp sau liền thành Phật, Tổ hay chăng?
Lại nói: “Không Thiền có Tịnh Độ, muôn người tu muôn người đỗ, nếu gặp Phật
Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ?” Nay kẻ ngu phu, ngu phụ chuyên niệm danh hiệu
Phật đâu đâu cũng có; chưa thấy mấy kẻ khi lâm chung hiện các tướng lành, được
Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Bởi vậy, tôi biết Liệu Giản của ngài Vĩnh
Minh chẳng đáng coi là khuôn phép!
Tôi nói:
– Sao ông hấp tấp nuốt trộng quả táo,
chẳng nếm mùi vị của nó như thế. Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh chính là cương tông
của Đại Tạng, là khuôn phép tu trì. Trước hết phải nhận thức đích xác thế nào
là Thiền, thế nào là Tịnh? Thế nào là Hữu, thế nào là Vô? Rồi mới phân tích
theo lời văn thì sẽ biết mỗi một chữ đều như trời tạo, đất dựng, không chữ nào
chẳng xác đáng, không chữ nào có thể thay đổi được! Trong vòng mấy mươi năm lại
đây, tôi thấy lời lẽ các sư giảng Thiền đều giống hệt lời của ông, chẳng khác
chút nào! Kiến thức như thế thì đúng là Thiền cùng Tịnh Độ mỗi ngày một suy
tàn.
Hỏi:
– Sao gọi là Thiền, Tịnh cùng với Hữu,
Vô, cúi xin dạy rõ cho!
Đáp:
– Thiền chính là Chân Như Phật tánh vốn
sẵn có của chúng ta. Trong nhà Thiền gọi đó là“bản lai diện mục trước lúc
cha mẹ chưa sanh ra”; nhưng nhà Thiền chẳng nói toạc ra, chính là để người
khác tham cứu tự chứng ngộ nên mới nói như vậy. Đó chính là tâm thể thuần chân,
không Năng, không Sở, vừa tịch, vừa chiếu, linh tri ly niệm vậy (Linh tri ly
niệm nghĩa là trọn chẳng có ý niệm nhưng luôn nhận thức rõ ràng cảnh vật hiện
tiền).
Tịnh Độ là tín
nguyện, trì danh, cầu sanh Tây phương, chứ chẳng phải chỉ nói đến “Duy Tâm Tịnh
Độ, Tự Tánh Di Đà”.
“Có Thiền” là tận sức tham cứu đến cùng cực, niệm
tịch, tình vong, thấy thấu suốt cái bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra,
minh tâm kiến tánh.
“Có Tịnh Độ” là chân thật phát Bồ Đề tâm, sanh tín,
phát nguyện, trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương. Thiền và Tịnh Độ chỉ là
ước theo giáo, ước theo lý. “Có Thiền” và “có Tịnh Độ” là ước theo căn cơ, ước
về tu. Về giáo lý thời hằng nhiên như thế; Phật chẳng thể tăng, phàm chẳng thể
giảm. Xét về căn cơ, tu hành thì phải nương vào giáo để khởi hạnh; hành cho đến
khi chứng ngộ tột cùng lý, sao cho thật có mới thôi! Điều thứ hai là xét về văn
từ tuy tương tự nhưng thật ra rất khác nhau, phải suy xét kỹ càng, chớ có lẫn
lộn! Nếu như tham Thiền nhưng chưa ngộ hoặc ngộ chưa triệt để thì đều chẳng
được gọi là Có Thiền. Nếu như niệm Phật nhưng thiên chấp duy tâm, không có tín,
nguyện; hoặc có tín nguyện nhưng chẳng chân thành, thiết tha, lơ là, hờ hững,
làm cho lấy có; hoặc hành tuy tinh tấn nhưng tâm mến luyến trần cảnh, hoặc cầu
đời sau sanh trong nhà phú quý để hưởng vui ngũ dục, hoặc cầu sanh lên trời để
hưởng phước lạc cõi trời, hoặc cầu đời sau xuất gia làm Tăng, nghe một ngộ cả
ngàn, đắc Đại Tổng Trì, hoằng dương pháp đạo, phổ lợi chúng sanh thì đều chẳng
được gọi là Có Tịnh Độ.
Hỏi:
– Xuất gia làm Tăng hoằng pháp lợi sanh
lại có lỗi chi mà cũng bị loại trừ?
Đáp:
– Nếu đã đoạn Kiến Tư Hoặc, đã liễu
sanh tử, nương theo đại nguyện luân, thị hiện sanh trong đời trược, thượng
hoằng hạ hóa, độ thoát chúng sanh thì được. Nếu như tuy có trí nguyện nhưng
chưa đoạn được Kiến, Tư Hoặc, dẫu cho lúc ban đầu thọ sanh chẳng mê, cũng khó
giữ [không mê] trọn đời, nhiều đời. Tuy có thể hoằng pháp nhưng chưa chứng Vô
Sanh, tình chủng vẫn còn nên khi gặp cảnh đối duyên khó tránh khỏi bị mê hoặc.
Nếu đã mê theo cảnh mà còn có thể mau giác ngộ thì trong cả vạn người chẳng có
được một, hai; từ mê vào mê, chẳng thể tự dứt, bao kiếp trầm luân, thật là vô
số! Vì nghĩa ấy, đức Như Lai mới dạy người vãng sanh Tịnh Độ, gặp Phật, nghe
pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn. Sau đó, nương theo Phật từ lực và tâm nguyện của
chính mình, trở vào Sa Bà độ thoát chúng sanh thì chỉ có tiến chẳng thoái, có
được không mất vậy. Chưa đoạn Kiến Tư Hoặc mà trụ trong cõi này hoằng pháp thì
các tông khác không tông nào chẳng như vậy, chứ Tịnh Tông dứt khoát chẳng chấp
thuận. Đời lắm kẻ cho rằng “tham Thiền là Có Thiền, niệm Phật là có Tịnh Độ”;
như vậy thì chẳng những đã không hiểu Thiền, Tịnh, lại còn chẳng hiểu văn
nghĩa, cô phụ tấm lòng đại từ bi của ngài Vĩnh Minh Cổ Phật, cắt đứt con đường
tắt thoát khổ cho hành nhân đời sau. Tự mình lầm, làm người lầm, gây hại nào có
cùng cực? Đấy chính là nhận lầm vạch khắc ở đòn cân, sai suyển hào ly, xa cách
như trời với đất!
Ông ta nói:
– Tôi đã tạm hiểu ý nghĩa của Thiền,
Tịnh và có – không; xin thầy giảng giải rành mạch lời văn sâu nhiệm của cả bốn
bài kệ cho!
Tôi nói:
– Có Thiền, có Tịnh Độ.
Như cọp mọc thêm sừng.
Hiện tại làm thầy người,
Đời sau làm Phật, Tổ
Nghĩa là: Người ấy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, lại còn thâm nhập
Kinh tạng, hiểu trọn vẹn các pháp môn Quyền, Thật của đức Như Lai; nhưng trong
các pháp lại chỉ chọn lấy một pháp Tín Nguyện Niệm Phật để làm chánh hạnh chung
nhằm tự lợi, lợi người. Bậc thượng phẩm thượng sanh đọc tụng Đại Thừa, hiểu Đệ
Nhất Nghĩa như đã nói trong Quán Kinh chính là hạng người này vậy. Người ấy có
đại trí huệ, có đại biện tài; tà ma, ngoại đạo nghe tên vỡ mật. Người ấy như
cọp đeo thêm sừng oai mãnh không chi sánh bằng. Đối với kẻ đến học sẽ thuyết
pháp tùy theo căn cơ: Thấy nên dùng Thiền Tịnh Song Tu để tiếp dẫn thì sẽ dùng
Thiền Tịnh Song Tu tiếp độ; chỉ nên dùng chuyên tu Tịnh Độ để tiếp dẫn thì sẽ
dùng chuyên tu Tịnh Độ tiếp độ. Bất luận thượng, trung, hạ căn, không ai là
chẳng được đội ơn, há chẳng phải là bậc đạo sư của trời, người hay sao? Đến lúc
lâm chung, người ấy được Phật tiếp dẫn vãng sanh thượng phẩm; trong khoảng khảy
ngón tay hoa nở gặp Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn; thấp nhất thì cũng chứng bậc Sơ
Trụ trong Viên giáo; cũng có người đốn siêu các địa vị, đạt đến bậc Đẳng Giác.
Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo đã có thể hiện thân làm Phật trong trăm cõi, huống hồ
là các địa vị kế tiếp đó lại càng lần lượt thù thắng hơn; nhất là địa vị Đẳng
Giác thứ bốn mươi mốt! Vì vậy Tổ mới nói: “Đời sau làm Phật Tổ”.
Không Thiền, có
Tịnh Độ.
Vạn người tu, vạn đỗ.
Nếu gặp Phật Di Đà,
Lo gì chẳng khai ngộ
Nghĩa là: Hành nhân
tuy chưa minh tâm, kiến tánh, nhưng đã quyết chí cầu sanh Tây phương. Do vì
trong kiếp xưa, đức Phật đã phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh như mẹ nhớ
con; nếu chúng sanh thật sự có thể [nhớ Phật] như con nhớ mẹ, chí thành niệm
Phật thì sẽ cảm ứng đạo giao, liền được đức Phật nhiếp thọ. Vì ra sức tu Định,
Huệ nên được vãng sanh. Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung bị các sự khổ bức
bách bèn sanh lòng hổ thẹn lớn lao, xưng niệm danh hiệu Phật đến mười tiếng
hoặc chỉ một tiếng rồi mất ngay trong lúc đó, họ đều được Phật hóa thân tiếp
dẫn vãng sanh. Đấy há chẳng phải là “vạn người tu, vạn đỗ” hay sao?
Những kẻ đó tuy niệm Phật chẳng lâu nhưng do niệm Phật cực kỳ mãnh liệt nên có
thể đạt được lợi ích lớn lao ấy, chẳng nên so với kẻ tu hành lơ là hờ hững mà
bàn luận niệm nhiều hay ít. Đã sanh về Tây phương thì tuy gặp Phật, nghe pháp
có nhanh – chậm chẳng đồng, nhưng đều đã cao dự dòng thánh, trọn chẳng thoái
chuyển. Tùy theo căn tánh sâu, cạn, hoặc tiệm hay đốn mà chứng các quả vị. Đã
được chứng quả thì cần gì bàn đến khai ngộ nữa. Ấy chính là: “Nếu gặp Phật
Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ” vậy.
Có Thiền không Tịnh Độ,
Mười tu, chín lần chần,
Ấm cảnh nếu hiện tiền,
Chớp mắt đi theo nó.
Nghĩa là: Hành nhân tuy triệt ngộ Thiền
tông, minh tâm kiến tánh, nhưng Kiến Tư phiền não chẳng dễ đoạn trừ, phải trải
qua nhiều duyên trui luyện để trừ sạch hết chẳng sót, mới có thể xuất ly phần
đoạn sanh tử[21]. Người chưa đoạn một mảy nào thì chẳng cần bàn đến! Dẫu
chỉ còn một mảy chưa đoạn sạch hết thì lục đạo luân hồi vẫn y như cũ khó thoát.
Biển sanh tử sâu thẳm, đường Bồ Đề xa vời vợi; còn chưa về được đến nhà thì đã
mạng chung! Người đại ngộ mười người hết chín đều như vậy. Cho nên mới nói: “Mười
người, chín lần chần”. Lần chần (ta đà) người đời thường nói là “chần chờ”.
“Ấm cảnh” là cảnh của Trung Ấm thân; tức là những cảnh được hiển
hiện trong khi lâm chung bởi nghiệp lực thiện – ác trong đời này và bao kiếp.
Một khi những cảnh ấy hiện ra, trong chớp mắt sẽ liền theo nghiệp lực thiện –
ác nào mạnh mẽ nhất để đi thọ sanh trong đường thiện hay ác; chẳng thể làm chủ
tình thế một mảy may nào! Giống như người mắc nợ, chủ nào mạnh sẽ kéo đi trước.
Tâm tình lắm mối đa đoan, coi trọng chỗ nào sẽ rớt vào đấy. Ngũ Tổ Giới lại
sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh lại sanh làm Lỗ Công, đều là do lẽ trên
vậy! Bởi thế mới nói: “Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”. Chữ
Ấm: âm và nghĩa đồng với chữ Âm, nghĩa là che đậy; tức là: do nghiệp lực này
che lấp nên chân tánh chẳng thể hiển hiện. Miết (瞥), âm giống chữ
Phiết (撇), nghĩa là nháy mắt, chớp mắt. Có người hiểu chữ Ta (蹉) nghĩa là “lầm lẫn”, Ấm Cảnh là Ngũ Ấm Ma Cảnh, chung quy vì chẳng hiểu
chữ Thiền và chữ Có nên mới nói hồ đồ như vậy. Lẽ nào những bậc đại triệt đại
ngộ mười người tu chín người lạc đường đi theo Ngũ Ấm Ma nên bị ma dựa phát
cuồng? Phàm những kẻ bị ma dựa phát cuồng đều là kẻ chẳng biết giáo lý, chẳng
minh tự tâm, là giống tăng thượng mạn, tu mù luyện đui mà thôi. Sao chẳng biết
hay – dở, lại đem gán cho bực đại triệt đại ngộ! Điều này quan hệ rất lớn,
chẳng thể không biện luận rõ!
Không Thiền không Tịnh Độ.
Giường sắt và cột đồng.
Vạn kiếp cùng ngàn đời.
Không một ai nương dựa.
Có
kẻ bảo “không Thiền, không Tịnh” tức là vùi đầu tạo nghiệp ác, chẳng tu
pháp lành. Lầm to, lầm to! Dù pháp môn vô lượng nhưng chỉ có Thiền và Tịnh là
thích hợp cho các căn cơ hơn hết. Hành nhân chưa được triệt ngộ, lại chẳng cầu
sanh, lơ là, hời hợt tu các pháp môn khác, Định – Huệ đã chẳng thể quân bình để
đoạn Hoặc chứng Chân, lại chẳng nương vào Phật từ lực để đới nghiệp vãng sanh;
đem công đức trọn đời tu trì để cảm lấy phước báo đời sau sanh trong trời,
người. Đời này đã không chánh trí thì đời sau ắt bị phước chuyển mê đắm trong
ngũ dục, tạo đủ các ác nghiệp. Đã tạo ác nghiệp sẽ khó thoát ác báo. Khi một
hơi thở chẳng hít vào được nữa thì liền đọa địa ngục, rành rành sẽ ở trong bao
kiếp dài lâu nằm lăn nơi giường sắt, ôm ấp cột đồng để đền trả lòng tham thanh
sắc, giết hại sanh mạng v.v… các thứ ác nghiệp. Tuy chư Phật, Bồ Tát rủ lòng
xót thương, nhưng do ác nghiệp ngăn chướng, người ấy vẫn chẳng thể được hưởng
lợi ích. Người xưa nói: “Người tu hành nếu chẳng chánh tín, cầu sanh Tây
phương, tu hành đủ các việc thiện khác thì gọi là kẻ oán đời thứ ba”, chính
là nói đến ý này. Ấy là vì đời nay tu hành, đời sau hưởng phước; vì ỷ phước làm
ác nên liền bị đọa lạc. Đạt được cái vui giả tạm trong đời kế mà muôn kiếp phải
vĩnh viễn chịu khổ. Ví dù nghiệp địa ngục tiêu thì lại chuyển sanh làm ngạ quỷ,
súc sanh; muốn lại được thân người thì thật là điều khó nhất trong những điều
khó. Vì vậy, Phật lấy tay bốc đất rồi hỏi A Nan rằng: “Đất trong tay ta là
nhiều, hay đất trong đại địa là nhiều?” A Nan bạch Phật: “Đất trong đại địa
nhiều”. Phật nói: “Được thân người như đất trong tay, mất thân người như đất
trong đại địa”. [Xét theo lời Phật] thì “muôn kiếp, ngàn đời, không một
người nương dựa” vẫn là lời luận rất nông cạn vì câu ấy còn hạn cuộc vào âm
vận của bài kệ.
Ôi! Hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự
lực; pháp môn Tịnh Độ chuyên nhờ Phật lực. Trong hết thảy pháp môn, phải trừ
sạch Hoặc nghiệp mới liễu sanh tử; còn trong pháp môn Tịnh Độ: do đới nghiệp
vãng sanh liền dự dòng thánh. Đại sư Vĩnh Minh sợ đời chẳng hiểu biết nên mới
đặc biệt phân định để chỉ bày cho tương lai. Liệu Giản đáng gọi là chiếc bè báu
nơi bến mê, là đạo sư (người dẫn đường) nơi đường hiểm. Đáng tiếc người trong
cõi đời hờ hững đọc lướt qua, chẳng chịu nghiên cứu kỹ. Có phải là do chúng
sanh ác nghiệp đồng phận nên xui khiến thế chăng?
Ông ấy nói:
– Tôi xưa tội gì mà sớm mê mất chân
thuyên[22], xưa có phước gì nay được nghe lời xuất yếu? Xin được
ghé dự vào hàng đồ chúng, cầm nắm bình, khăn.
Tôi bảo:
– Tôi nào có đức gì mà dám nhận lời ấy.
Những lời tôi nói đều là tuân theo ý chư Phật, chư Tổ. Nếu ông có thể ngưỡng
tín Phật, Tổ, hoằng dương Tịnh Độ thì không đức gì chẳng báo được, không tội gì
chẳng diệt được. Xưa ngài Thiên Thân Bồ Tát lúc ban đầu báng Đại Thừa, sau
hoằng dương Đại Thừa để chuộc lỗi. Nếu ông có thể noi theo dấu chân thơm của
Ngài thì tôi nguyện xả thân cúng dường.
Thượng tọa bèn lễ Phật, phát nguyện
rằng:
– Con tên là…
từ nay trở đi chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cầu khi lâm chung vãng sanh thượng
phẩm, gặp Phật, nghe pháp, đốn chứng Vô Sanh. Sau đấy, chẳng rời An Dưỡng, vào
khắp mười phương, dùng các thứ phương tiện: nghịch, thuận, ẩn, hiển để hoằng
thông pháp này, độ thoát chúng sanh đến tột cùng vị lai chẳng hề gián đoạn. Hư
không có tận, nguyện của con vô cùng. Nguyện Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Thường
Trụ Tam Bảo thương xót tấm lòng ngu thành của con, cùng rủ lòng nhiếp thọ.
Tôi bảo:
– Về Sự, Tịnh Độ là đại nhân duyên; về
Lý, Tịnh Độ là bí mật tạng. Ông có thể tin nhận phụng hành được thì chính là
lấy sự trang nghiêm của chư Phật để tự trang nghiêm.
Thượng Tọa vâng dạ lui ra. Nhân đấy
chép lại cuộc vấn đáp này để khuyên bảo người chưa biết đến pháp này.
[1] Truyền tân: nói gọn của thành ngữ “tân tận hỏa
truyền” (củi hết lửa còn) ý nói đạo truyền thừa giữa thầy và trò.
[2] Âu Dương Tu và Hàn Dũ: Hai nhà Nho bài xích Phật giáo
mạnh mẽ nhất vào thời Đường – Tống
[3] Nguyên văn là Thiền tượng: Tượng là thợ giỏi, thợ khéo,
thường được chỉ những bậc thông đạt pháp môn. Ở đây tạm dịch là Thiền Đức.
[4] Tư lương (sambhāra): Hiểu theo nghĩa hẹp là những thứ
cần dùng, cần chuẩn bị. Tư là giúp đỡ, lương là lương thực. Như người đi xa ắt
phải nhờ vào lương thực để duy trì cái thân. Cũng vậy, người muốn chứng quả
trong tam thừa phải nhờ công đức thiện căn làm lương thực nuôi dưỡng cái thân
huệ mạng. Do vậy, Tư Lương hiểu theo nghĩa rộng là hết thảy các thứ góp phần
thành tựu đạo Bồ Đề.
[5] Theo Tổ Đình Sự Uyển, quyển 5, nếu bỏ sữa và nước cùng
trong một đồ đựng, ngỗng chúa chỉ uống sữa bỏ lại nước. Nước tượng trưng cho
chúng sanh, sữa tượng trưng cho Phật. Dùng điển tích “ngỗng chúa chọn sữa” để
tỷ dụ bậc giác ngộ sống trong thế gian chẳng bị nhiễm ô. Điển tích này còn dùng
để chỉ khả năng phân biệt chân – ngụy, thiện – ác.
[6] Đây là luận điểm chủ yếu của kinh Pháp Hoa: Khai là phá
trừ vô minh của chúng sanh, mở toang Như Lai Tạng, thấy được lý Thật Tướng. Thị
nghĩa là hiển thị, Hoặc chướng đã trừ thì tri kiến bộc lộ bản thể, pháp giới
vạn đức hiển thị phân minh. Ngộ là chứng ngộ, sau khi chướng trừ, bản thể hiện
thì sự (hiện tượng), lý (bản thể) dung thông nên có sở ngộ. Nhập nghĩa là chứng
nhập, tức là sự lý đã dung thông nên tự tại vô ngại, chứng nhập biển trí huệ.
Sách Pháp Hoa Văn Cú quyển 4 còn mở rộng hơn, phối hợp bốn mươi địa vị Pháp
Thân đại sĩ như sau:
1. Khai tương ứng địa vị Thập Trụ.
2. Thị tương ứng địa vị Thập Hạnh.
3. Ngộ tương ứng địa vị Thập Hồi Hướng.
4. Nhập tương ứng địa vị Thập Địa.
Nếu phối hợp với Tứ Trí thì Khai là Đạo Huệ, Thị là Đạo
Huệ Chủng, Ngộ là Nhất Thiết Trí, Nhập là Nhất Thiết Chủng Trí…
[7] Khai Quyền hiển Thật: Khai trừ những chấp trước của
Quyền Giáo, hiển thị nghĩa chân thật. Nói cách khác, khai trừ, gạt bỏ những
chấp trước vào những phương tiện quyền biến để hiển thị nghĩa Nhất Thừa chân
thật.
[8] Biển Hoa Tạng tức Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải
(Kusuma-tala Garbha Vyūhā Kāra Lokadhātu Samudra), dịch đủ nghĩa là Liên Hoa
Xuất Sanh Thế Giới, hoặc Diệu Hoa Bố Địa Thai Tạng Trang Nghiêm Thế Giới, Liên
Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải, Thập Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới
Hải, hoặc chỉ gọi gọn là Hoa Tạng Giới hoặc Thập Hoa Tạng. Đây là thế giới
thanh tịnh trang nghiêm do đức Tỳ Lô Giá Na Phật khi tu nhân phát nguyện cảm
thành. Thế giới này do Tu-di sơn vi trần số phong luân nâng giữ. Trên tầng
phong luân cao nhất có một biển nước thơm. Trong ấy có một hoa sen lớn, tên là
Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng. Hoa Tạng Thế Giới nằm chính giữa hoa
sen ấy, vây quanh bằng Kim Cang Luân Vi Sơn. Đất trong đó do Kim Cang tạo
thành, kiên cố không hư hoại, thanh tịnh bằng phẳng, có thế giới hải vi trần số
sự trang nghiêm. Trong ấy lại có vi trần số biển nước thơm, mỗi biển rộng bằng
bốn thiên hạ và có vi trần số con sông nước thơm. Đất hai bờ sông ấy đều bằng
diệu bảo trang nghiêm, xếp đặt khéo léo như lưới Thiên Đế. Trong mỗi một biển
nước thơm lại có bất khả thuyết vi trần số thế giới chủng, mỗi một thế giới
chủng lại gồm bất khả thuyết vi trần số thế giới. Biển nước thơm chính giữa Hoa
Tạng thế giới, có tên là Vô Biên Diệu Hoa Quang. Giữa biển ấy mọc lên một hoa
sen, thế giới chủng trong hoa sen ấy tên là Phổ Chiếu Thập Phương. Trong đó có
hai mươi thứ bất khả thuyết vi trần số thế giới xếp vòng quanh. Đức Phật xuất
hiện trong thế giới này. Sách Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương giảng thêm: Cứ mười
cảnh giới Phật gọi chung là một quốc độ hải hay thế giới hải. Thế giới hải
chính là các thế giới thuộc phạm vi nhiếp hóa của mười đức Phật v.v… Nói chung,
cảnh giới Hoa Nghiêm Thế Giới Hải rất phức tạp, rộng lớn, hầu như không thể
hình dung được nổi! Cảnh giới đã rộng lớn như thế thì dĩ nhiên thánh chúng trong
ấy vô lượng vô biên không thể tính đếm được, cho nên dùng chữ “hải chúng”
(chúng nhiều như biển) để tạm hình dung.
[9] Nhất xiển đề: Nhất-xiển-đề (Icchantika hoặc Ecchantika):
được dịch nghĩa là đoạn thiện căn, lòng tin không đầy đủ, lòng ham muốn cùng
cực, tham lam to lớn, hoặc Vô Chủng Tánh, Thiêu Chủng (hạt giống cháy), tức là
hạng người không có lòng tin, đoạn sạch thiện căn. Kinh Lăng Già chia Nhất Xiển
Đề thành hai loại:
1. Đoạn Thiện Xiển Đề, tức kẻ vốn thiếu nhân giải thoát
(đoạn thiện căn).
2. Đại Bi Xiển Đề: Hoặc Bồ Tát Xiển Đề, tức bậc Bồ Tát
thị hiện, cố ý không nhập Niết Bàn do bi nguyện.
Đa phần các kinh luận nói Nhất Xiển Đề không thể thành
Phật, riêng Đại Bát Niết Bàn kinh khẳng định Nhất Xiển Đề vẫn có khả năng thành
Phật.
[10] Có hai cách hiểu chữ “Trí Đoạn”:
1. Dùng trí Bát Nhã đoạn trừ phiền não.
2. Trí Đoạn là Trí Đức và Đoạn Đức. Soi thấu tỏ chân lý
thì gọi là Trí Đức, đây chính là Bồ Đề. Đoạn sạch phiền não thì gọi là Đoạn
Đức, tức là Niết Bàn.
[11] Gọi đủ là Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận, gồm 120 quyển của cư
sĩ Lý Thông Huyền soạn vào đời Đường, tác phẩm này được xếp vào Tục Tạng Kinh
quyển 5. Đây là tác phẩm chú giải bản dịch kinh Hoa Nghiêm 80 cuốn (Bát Thập Hoa
Nghiêm). Nội dung cuốn luận này chia kinh Hoa Nghiêm làm mười môn để nêu tỏ
những ý nghĩa trọng yếu: Y giáo tông phần, y tông giáo biệt, giáo nghĩa sai
biệt, thành Phật đồng biệt, thuyết giáo thời phần, Tịnh Độ quyền thật, nhiếp
hóa cảnh giới, nhân quả diên súc (nhân quả kéo dài hay rút ngắn), hội giáo thỉ
chung. Tác giả Lý Thông Huyền đặc biệt sùng mộ giáo thuyết Thập Huyền Lục Tướng
của tông Pháp Tướng nên đã vận dụng những khái niệm này vào trong cách giải
thích kinh điển. Tác phẩm Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận này đã ảnh hưởng sâu đậm đến
ngài Thanh Lương Trừng Quán, ta có thể thấy rõ điều này qua tác phẩm Hoa Nghiêm
Đại Sớ Sao.
[12] Tức Lý Thông Huyền (635-730) là học giả Hoa Nghiêm thời
Đường, xuất thân từ hoàng tộc, quê ở Thương Châu (nay thuộc Thương Huyện, tỉnh
Hà Bắc), thông minh dĩnh ngộ, tinh thông sách Nho lẫn kinh Phật. Năm Khai
Nguyên thứ 7 (719), ông ẩn cư ở Phương Sơn, Thọ Dương, phủ Thái Nguyên để
nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm bản tân dịch (tức Bát Thập Hoa Nghiêm), chỉ ăn táo,
lá tùng bách để sống suốt mấy năm trong núi. Vì vậy, thế gian gọi là Táo Bách
(Bá) tiên sinh. Tháng Ba, năm Khai Nguyên thứ 18 (730), ông tọa hóa trong thất,
hưởng thọ 96 tuổi. Tống Huy Tông ban hiệu là Hiển Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả.
Do vậy, người ta thường gọi ông là Lý Trưởng Giả. Ông lưu lại những tác phẩm
như Hoa Nghiêm Kinh Hội Thích Luận 14 quyển, Tân Hoa Nghiêm Kinh Luận 40 quyển,
Lược Thích Tân Hoa Nghiêm Kinh Tu Hành Thứ Đệ Quyết Nghi Luận 4 quyển, Thích
Giải Mê Hiển Trí Thành Bi Thập Minh Luận 1 quyển, Thập Huyền Lục Tướng, Bách
Môn Nghĩa Hải, Phổ Hiền Hạnh Môn, Hoa Nghiêm Quán… Lý Thông Huyền được coi là
một nhân vật tiên phong trong trào lưu nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm bản tân dịch.
[13] Ô Trà (Odra), nước cổ ở Đông Ấn Độ, nay là Orissa,
thường bị người Hán phiên sai thành Ô Trành. Theo Đại Đường Tây Vực Ký, người
dân xứ này khôi ngô, hiếu học, tín phụng Phật pháp, Tăng chúng đông đến hơn vạn
người, đều học giáo pháp Đại Thừa.
[14] Đăng Địa Bồ Tát: tức Địa Thượng Bồ Tát, hay nói cách khác,
những vị đã chứng từ Sơ Địa cho đến Thập Địa.
[15] Lục đạo cụ phược phàm phu: Phàm phu trong sáu nẻo có đầy
đủ các món phiền não, chưa đoạn được một món nào.
[16] Tức ngài Trúc Đạo Sanh (355-434), nhà học giả Niết Bàn
thời Đông Tấn. Ngài là người Cự Lộc (nay thuộc Bình Hương, Hà Bắc), họ Ngụy. Sư
nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, xuất gia với ngài Trúc Pháp Thải. Năm 15
tuổi đã lên tòa giảng, bậc túc học danh sĩ cũng không biện luận thắng Sư được.
Khi ngài Tăng Già Đề Bà dừng gót tại Lô Sơn, dịch A Tỳ Đàm Tâm Luận, Sư bèn
theo học giáo nghĩa Nhất Thiết Hữu Bộ với ngài. Khi ngài Cưu Ma La Thập vào
Trung Nguyên, Sư lại quảy tráp theo học. Sư cùng với các vị Đạo Dung, Tăng Duệ,
Tăng Triệu trở thành những học trò kiệt xuất của ngài La Thập, được đời gọi bằng
mỹ hiệu “Quan Nội Tứ Thánh”. Sư từng thỉnh ngài Phật Đà Thập dịch bộ Ngũ Phần
Luật. Sư tinh thông học thuyết của các ngài Long Thọ, Đề Bà v.v… Chính Sư đề
xướng thuyết “đốn ngộ thành Phật” và soạn các bộ luận Nhị Đế Luận, Phật Tánh
Đương Hữu Luận, Pháp Thân Vô Sắc Luận, Phật Vô Tịnh Độ Luận. Nhân đọc bộ Nê
Hoàn Kinh sáu quyển do ngài Pháp Hiển dịch, Sư bèn đề ra thuyết Nhất Xiển Đề
vẫn có khả năng thành Phật. Lúc ấy, kinh Đại Bát Niết Bàn chưa truyền đến Trung
Hoa, nên thuyết này của Sư bị công kích kịch liệt. Sư bị đại chúng tẫn xuất,
phải ẩn cư tại Lô Sơn. Về sau, bản Đại Bát Niết Bàn Kinh của ngài Đàm Vô Sấm
truyền đến phương Nam, nội dung hoàn toàn tương đồng với thuyết của ngài Đạo
Sanh, đại chúng hết sức khâm phục. Theo truyền thuyết, Sư từng gom đá ở núi Hổ
Khâu, tỉnh Giang Tô làm pháp chúng để giảng kinh. Do vậy mới có câu “Sanh
công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu” (ngài Đạo Sanh giảng kinh, đá cũng
gật đầu). Ngài mất trong khi đang giảng pháp trên tòa sư tử, thọ tám mươi tuổi.
[17] Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897) là Thiền tăng đời Đường,
người Tào Châu, Hác Hương (có thuyết nói là Thanh Châu, Lâm Truy), họ Hác, pháp
hiệu Tùng Thẩm. Xuất gia từ nhỏ tại Hỗ Thông Viện, Tào Châu. Trước khi thọ Cụ
Túc Giới đã từng tham yết ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Sau khi thọ giới tại Lưu
Ly Đàn ở Tung Sơn, quay lại y chỉ với ngài Nam Tuyền hai mươi năm. Sau đó tham
học khắp với các đại đức Bảo Thọ, Diêm Quan, Giáp Sơn, Ngũ Đài v.v… Năm Sư tám
mươi tuổi, đại chúng thỉnh trụ tích tại Quán Âm Viện thuộc Đông Thành, Triệu
Châu. Sư tận lực chấn hưng Nam Tông Thiền suốt bốn mươi năm, thọ 120 tuổi, được
vua ban thụy hiệu là Chân Tế Đại Sư.
[18] Đây là một điển tích xuất phát từ sách Ngũ Đăng Hội
Nguyên, quyển 11. Nguyên văn: “Nhận lư yên kiều tác a da hạ hàm”. “Yên
kiều” tức là cái yên ngựa, do hình trạng của nó giống như cái cầu nên gọi như
thế. “Lư yên kiều” có nghĩa là cái xương lừa có hình dạng giống như cái yên
ngựa, chứ không phải thật sự là yên ngựa. Trong truyện cổ dân gian Trung Quốc
có chuyện đứa trẻ ngu si tưởng lầm cái xương lừa hình yên ngựa là xương hàm của
cha. Thiền lâm hay dùng hình ảnh này để ví cho kẻ ngu muội, chẳng phân biệt
được thật – giả.
[19] Bách Trượng Hoài Hải (720-814): Cao tăng đời Đường, từ
nhỏ đã thích đi thăm chùa viện. Năm 20 tuổi, xuất gia với ngài Huệ Chiếu ở Tây
Sơn, sau thọ Cụ Túc Giới với ngài Pháp Triều luật sư. Khi gặp Mã Tổ Đạo Nhất
hoằng pháp tại Nam Khang bèn hết sức ngưỡng mộ, y chỉ theo, được ngài Mã Tổ ấn
khả. Sư cùng với Tây Đường Trí Tạng, và Nam Tuyền Phổ Nguyện được xưng tụng là
“tam đại sĩ”. Về sau, Sư lập thiền viện ở núi Bách Trượng tỉnh Giang Tây, chế
định Thanh Quy, hướng dẫn đại chúng tu trì. Thanh Quy tức là quy định sinh hoạt
của Tăng đoàn theo chế độ nông thiền. Sư thường nói: “Một ngày không làm là
một ngày không ăn”. Sư nhập diệt năm Nguyên Hòa thứ chín, thọ 95 tuổi, được
vua ban thụy hiệu là Đại Trí Thiền Sư. Các đệ tử nổi tiếng của Sư là Hoàng Bá
Hy Vận, Quy Sơn Linh Hựu v.v… Thanh Quy do Sư lập ra được gọi là Bách Trượng
Thanh Quy, được khắp các tùng lâm trong thiên hạ tuân phụng.
[20] Luận Tỳ Bà Sa nói ở đây là bộ Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận do
ngài Long Thọ Bồ Tát soạn. Trong quyển năm của luận này, có câu: “Phật pháp
có vô lượng môn, như đường đi trên thế gian có khó, có dễ. Đi theo đường bộ thì
khó nhọc, đi đường thủy ngồi thuyền thì sung sướng. Bồ Tát đạo cũng giống như
thế, có đạo thì khó hành tinh tấn, có đạo chỉ dùng lòng tin làm phương tiện, dễ
đi, mau đạt đến địa vị Bất Thoái”. Tỳ Bà Sa (Vibhasa) có nghĩa là Quảng
Giải (giảng giải rộng lớn), Quảng Thuyết (nói rộng), Thắng Thuyết, Chủng Chủng
Thuyết, tức là những trước tác nhằm chú giải luật hay luận. Ngoài ra, còn một
thể loại nhằm giải thích chi tiết kinh luận được gọi Tỳ Bà Sa Luận
(Vibhasa-sastra). Hiện trong Đại Tạng có bốn bộ Tỳ Bà Sa Luận: A Tỳ Đạt Ma Đại
Tỳ Bà Sa Luận, Tỳ Bà Sa Luận, Ngũ Sự Tỳ Bà Sa Luận và Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận
(Dasabhumika-vibhasa-sastra). Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận gồm 17 quyển, do ngài Cưu
Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, thường gọi tắt là Thập Trụ Luận. Bộ luận này
nhằm giải thích phẩm Thập Địa của kinh Hoa Nghiêm (tức biệt bản của kinh Hoa
Nghiêm với danh xưng Thập Địa Kinh). Ngài La Thập dịch chữ Thập Địa thành Thập
Trụ nên luận này có tên như vậy. Thiên thứ 9 trong phẩm thứ 35 của luận này
chính là Dị Hành Phẩm, là một điển tịch trọng yếu của Tịnh Tông.
[21] Phần đoạn sanh tử là sự sanh tử của chúng sanh trong tam
giới. Do quả báo sai khác nên có hình mạo, thọ lượng sai khác. Vì vậy gọi là
phần đoạn (đoạn diệt theo phần hạn). Theo Duy Thức Học, phần đoạn sanh tử lấy
nghiệp thiện ác làm thân nhân (cái nhân gần), lấy phiền não chướng làm trợ
duyên để cảm quả trong tam giới. Do tuổi thọ có dài ngắn khác nhau, do sức nhân
duyên nên có hạn định khác biệt; do vậy gọi là Phần Đoạn. Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương lại chia phần đoạn sanh tử thành ác đạo phần đoạn (quả báo trong tam đồ)
và thiện đạo phần đoạn (quả báo trong đường trời người).
[22] Chân thuyên: lời giảng về lẽ thật, về chân lý.
Discussion about this post