TÌM HIỂU VỀ KHÁI NIỆM CÔNG BÌNH
CỦA AMARTYA SEN QUA TÁC PHẨM THE IDEA OF JUSTICE
Đỗ Kim Thêm
1. Đại
ý
Công bình một đề tài tranh cải quen thuộc trong đời sống gia đình hằng ngày, thí dụ như chuyện ba đứa trẻ, Anne, Bob và Clara, cùng đòi làm chủ một cây sáo. Anne nhất quyết dành cây sáo cho riêng mình với lý do khá thuyết phục vì là
người duy nhất trong gia đình biết chơi sáo, Bob lại dành phần là vì mình không
có trò chơi nào và Clara phản đối vì là ngưòi đã bỏ công làm ra cây sáo mà lại
không có quyền hưởng. Bố mẹ phải giài quyết làm sao đem laị công bình cho cả ba?
Nhưng sâu xa hơn, công bình là một luận đề triết học xa xưa, mà nhận xét chua
chát của Thomas Hobbes trong tác phẩm Levithian từ năm 1651đến nay vẩn còn giá
trị: „Đời người là sống khốn khổ như thú vật và ngắn ngủi“, thì còn tìm đâu ra công
bình cho kiếp người?
Với hai khởi điểm
này Sen đã đưa người đọc đi vào thế giới suy tưởng của ông về công bình, một
công trình tổng hợp nhiều luận thuyết của Thomas Hobbes, John Lockes, Immanuel Kant,
Adam Smith, Condorcet, Mary Wollstone, Karl Marx, Stuart Mill, đặc biệt nhất là
phê bình thuyết công bình của John Rawls. Vì là ngưòi gốc Ân Độ, ông cũng không
quên đem giáo lý của Phật giáo và Ấn Độ giáo để giới thiệu và so chiếu. Mục đích
của ông không xây dựng một học thuyết mới về công bình mà đưa ra một phương
cách hành động thực tiển làm cho thế giới bớt bất công hơn. Theo ông, lập luận
và phản biện công khai trong một môi trường xã hội dân chủ là một điều kiện
tiên quyết để đạt được công bình. Đó là nội dung chủ yếu của Sen trong tác phẩm
mới nhất The Idea of Justice và sẽ
được giới thiệu trong bài viết này.
Sen hiện là giáo
sư đại học Harvard và đã đoạt giài Nobel về Kinh tế năm 1998. Một tác phẩm nổi
tiếng của ông trước đây là Development as
Freedom, nhằm đề cao vai trò kinh tế thị trường trong công cuộc phát triển tại
các nước chậm tiến.
Sách được chia
làm bốn phần và có 18 chương. Phần một đưa ra những đòi
hỏi về công bình, phần hai giới thiệu những hình thức biện luận, phần ba đề cập
đến những khà năng thực hiện và phần cuối cùng phân tích mối quan hệ giửa những
biện luận công khai và phát triển dân chủ
2. Định nghiã công bình trong môt
hoàn cảnh cụ thể
Phần
một gồm có sáu chương đề cập những vấn
đề mối quan hệ giửa tri thức và tính khách quan, phê bình lý thuyết công bình của Rawls, vai
trò của định chế đối với con người, sự phản kháng trong xã hội và tính trung dung trong các phương cách lập luận.Trong phần này ông đưa ra định nghiã về công bình trong một hoàn cành cụ thể để tìm hiểu vấn đề.
Trước
tiên, ông dựa trên một định nghiã công bình theo quan điểm luật Ấn Độ thời
xưa để thảo luận.Công bình gồm có hai
khiá cạnh chủ yếu cần phân biệt là niti
và natya. Niti xét đoán về vai trò của các định chế và các thái dộ đúng đắn chung, trong khi natya là một khái niệm bao quát hơn để đánh giá về sự thực hiện công bình trong thực tế. Ân Độ
đã biết tôn trọng natya hơn niti, và thuật ngử matsyanyaya là một lối diễn đạt bất công do cá lớn nuốt cá bé đã có
đã có từ thời kỳ này.
Để thí dụ, Sen nêu lên
trưòng hợp Kautilya là quân
sư của Chandragrupta, vị vua đầu tiên của Ấn Độ, cũng là nội tổ của vua Ashoka.
Kautilya luôn đề cao vai trò định chế và những cấm đoán nghiêm minh để đạt đến
công bình xã hội.Trong khi vua Ashoka của Ân Độ lại cho rằng giáo dục mới cải
thiện thái độ của con ngưòi, và quan trọng hơn là nghiêm cấm qua định chế và luật
lệ. Thấm nhuần lời Phật dạy về lòng khoan dung, vua Ashoka đề cao sự công bình giửa các tôn giáo. Ông cho rằng người nào chỉ biết tôn
trọng tôn giáo mình mà bất kính tôn giáo khác thì thái độ này là bất kính với tôn
giáo mình. Cả hai khuynh hướng này bổ
sung cho nhau trong hoàn cảnh của Ấn Độ lúc bấy giờ.
Để
tránh chủ quan, cục bộ và địa phương khi nhận chân giá trị công bình, Sen đề nghị nên sử dụng khái niệm
„nhà quan sát độc lập“ của Adam Smith. Adam Smith cho rằng phải lấy quan điểm của đa số làm chuẩn
và dựa trên các sự dị biệt về kinh nghiệm để
phán đoán. Sự khác biệt giữa Ralws và Sen là Ralws theo quan
niệm về định chế (trancendental
institutionalism), trong khi Sen thiên về thực tế và theo khảo hướng đối chiếu (realization-focused
comparison). Trong khi Rawls đề xuất về
công bình bằng cách suy diễn dựa trên một định chế độc nhất và khô cứng, thì Sen
cho rằng con ngưòi dầu có những vị thế
khác nhau vẫn có thể theo đuổi mục tiêu riêng, nên không thể đưa tất cả vấn đề
vào những khuôn mẩu đã định hình trước để
trước để suy luận.Theo Rawls, công bình là khởi điểm để thiết lập định chế cho
xã hội, nhưng Rawls đã đơn giản hoá tối đa một vấn đề cực kỳ phức tạp nhằm đem
lại sự hài hoà của công bình và thái độ của con người.Theo Sen, điểm yếu của Ralws là
giải thích vấn đề một chiều vì định chế chỉ là một phần của vấn đề và cũng
không đưa ra một phương thức kiểm chứng nào cho thấy thuyết công bình này sẽ
đưa tới kết quả tốt hơn. Sen cho rằng phải kiểm nghiệm lâu dài những tình trạng
xã hội phát sinh trong thực tế để có thể so sánh những gì đã xảy ra rồi tìm những tiêu chuẩn công bình, thay vì đề ra một lý thuyết chung. Ông thí dụ nếu đưa ba tình trạng
X, Y và Z để xét về công bình, khi xác
định đưọc X là tốt nhất thì không nên tiếp tục so sánh giửa Y và Z.
Thật ra, bất mãn trước một bất công hay cần xác định một cứu cánh cho
công bình là đề tài đã được Jean-Charles de Borda và Condorcet, hai nhà toán
học người Pháp, nghiên cứu từ thế kỷ XVIII. Họ dùng phương thức toán học để tìm
ra cách tính gộp lại các ưu tiên cá nhân, dựa vào cách so sánh do các cá nhân
đưa ra, tìm ra các kết quả đối nghịch, rồi từ đó có thể tìm ra những kết quả chấp
nhận đưọc gọi là những ưu tiên của đa số. Nghịch thuyết của Condorcet đã được
nhà kinh tế học Kenneth Arrow triển khai thành định lý về sự bất khả. Đề nghị
này có những khuyết điểm vì theo kiểu định
mẩu cũng không hề quan tâm đến những nhu
cầu thực tế của từng nhóm khác biệt nhau trong xã hội. Nạn đói nghèo,
thất học, bệnh tật, kỳ thị, quyền của nử giới đòi hỏi cần phải có những tiêu chuẩn về công bình khác nhau. Arrow thú nhận ngoài những thảo
luận lý thuyết, thực tế cho thấy chưa
có một mô hình chọn lưạ về công bình nào có thể thoả mãn cho đa
số và đựơc coi là thuần lý và dân chủ. Condorcet
cũng đã thấy điểm khó khăn chủ
yếu khi xét đoán công bình là thiếu thông tin. Ông nhấn mạnh vai trò giáo dục
nử giới và những cuộc thảo luận công khai.
Đồng quan điểm với Condorcet,
Sen cho rằng hiện nay các triết thuyết về công bình chỉ dựa
trên sư phân loại trong một hệ thống nào đó rồi so sánh nên bất bình xảy ra là
chuyện đương nhiên. Quan điểm bất toàn và cục bộ cố hữu này chính là khởi điểm để
Sen tìm ra một giải pháp toàn bộ cho vấn đề công bình, mà theo Sen, thông tin
và thảo luận công khai là phương tiện để giải quyết. Nhưng lập luận như thế nào
đó là chủ đề mà ông đề cập trong phần hai.
3. Những hình thức lập luận
Phần hai gồm có bốn chuơng nhằm giới thiệu những
hình thức lập luận cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể để đạt đươc công bình. Thực
ra, ông đã dùng giáo lý vị tha và tương thuộc của Phật giáo để phê bình các
thuyết duy lý và duy lợi của phương Tây.
Theo ông, trong thời đại toàn cầu hoá thì quan
điểm về một nhà quan sát độc lập của Adam Smith càng cần hơn bao giờ hết, vì nó
giúp ta tránh được tinh thần cục bộ, địa phương, chạy theo tư lợi mà quên mình đang
sống trong một thế giới đại đồng. Sen cho rằng thuyết duy lý và duy lợi đã đưa
con ngưòi đến những thái độ cực đoan trong lúc chọn lưạ: người tiêu thụ chì muốn
mua hàng tốt nhất mà giá lại rẻ nhất, nhà sản xuất muốn tạo ra sản phẩm ít vốn
nhất mà bán lời nhiều nhất và doanh nghiệp tìm cách tăng thu doanh lợi bằng cách
bớt đi phức lợi của công nhân. Thái độ duy lợi tối đa phản ảnh một sự giới hạn của
lý trí trong lập luận, vì không chú ý tới những lập luận khác cũng như những lối
chọn lựa khác có thể hợp lý hay công bình hơn mà thiện cảm và vị tha là điều kiện
thiết yếu để ta quan tâm đến tha nhân và đóng góp hữu ích cho xã hội.
Ông phân biệt có hai mối quan hệ: trong mối
quan hệ tương thuộc cá nhân thì vấn đề đối xử sao cho công bình tưong đối dể giải
quyết, nhưng khi đặt vấn đề này trong tinh thần trách nhiệm thì chuyện bất công
có thể xảy ra, nhất là khi trách nhiệm đi kèm với quyền lực. Vấn đề càng rỏ nét
hơn khi đặt mối quan hệ bất cân xứng giửa con ngưòi với thú vật, vì chúng ta luôn
tự hào thông minh và trách nhiệm nhiều hơn so với thú vật, từ đó mà chúng ta có
lý do để đối xử bất công không những đối
với thú vật mà còn với đồng chủng yếu kém hơn. Trong mối quan hệ xã hội hiện
nay có quá nhiều bất công, mà chủ yếu bắt nguồn từ việc lạm quyền. Ông dùng lời
Phật dạy trong kinh Sutta Nipata và các tác giả phương Tây để soi sáng vấn đề nhân
quyền. Ông nhấn mạnh đến bổn phận của cá nhân trong việc để giảm bớt bất công,
nhưng xác định khả năng để hành động đó là chủ
đề mà ông thảo luận trong phần ba.
4.
Lượng giá khà năng hành động
Phần ba có bốn chương đào sâu các vấn đề tự
do, hạnh phúc, công bình và đánh giá khả năng để thực thi công bình.
Ông phê bình các lý thuyết về phát triển kinh
tế trước đây khi quá đề cao vai trò các chỉ số về gia tăng tổng sản lượng quốc
dân và lợi tức tính theo đầu ngưòi, cách này không những không diễn đạt được thực
trạng xã hội mà còn lầm lẩn giữa mục tiêu và phương tiện. Theo ông, đã đến lúc chúng
ta phải thay đổi khái niệm phúc lợi xã hội mà các chỉ số khác quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng hơn là phẩm chất cuộc sống,
phúc lợi chung và tự do cá nhân. Tuy nhiên, ông cảnh báo không nên quá nghiêng về
thuyết duy lợi cá nhân của Jeremy Bentham, vì chỉ lấy mức hưởng thụ tối đa của
cá nhân làm thước đo hạnh phúc chung xã hội, trong khi đó khà năng chuyên môn,
mức thu nhập lợi tức, nhất là sự may mắn của từng cá nhân vẫn còn quá dị biệt
nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Theo Sen, điều quan trọng trong việc đạt đến công
bình làm thế nào để xoá bỏ mọi chướng ngại
cho cá nhân trong việc thực hiện tự do để mưu cầu hạnh phúc. Lượng giá khả năng
không chỉ là mơ mộng và chờ đợi mà tìm những tiêu chuẩn hành động cụ thể trong
môi trường riêng biệt, nhất là dám chọn những lối sống khác biệt, để từ đó tìm
may mắn của đời mình, có thể là công danh, tiền tài hay địa vị xã hôi. Dĩ nhiên,
nổ lực tối đa của cá nhân trong thể hiện tự do là điều chủ yếu, nhưng môi trường
xã hội phù hợp cũng góp phần cho sự thành đạt. Khi phân tích khả năng của từng
cá nhân, ông so sánh đến những vấn đề nổi bật trong một vài nhóm ngưòi bị phân
biệt đối xử, thí dụ như người khuyết tật hay phụ nử tại các xã hội còn theo chế
độ phụ quyền.
Ộng sử dụng khái niệm agency để diễn đạt khà năng và tư cách hành động để chuyển hoá tự
do của từng cá nhân, khái niệm này không thể dịch chính xác trong tiếng Việt mà
phải hiểu trong ngữ cảnh mà Sen lập luận. Thực ra, ông phê bình các lý thuyết về
kinh tế phúc lợi trước đây đã không quan tâm đến khả năng hành động và những nổ
lực nhằm thoát ra những nghịch cảnh, thí dụ như công nhân bị bóc lộc trong xã hội
tư bản, nông dân trong xã hội nông nghiệp và gia nhân trong xã hội phong kiến.
Vấn đề là làm sao để họ hưởng công bình hơn và có một đời sống đáng sống hơn, nhưng
khi họ an tâm chiụ đựng và cố thích nghi với nghịch cảnh thì bất công sẽ kéo dài.
Ông dùng agency
để phân tích hai mối quan hệ. Một là mối quan hệ giữa khà năng hành động của
từng cá nhân và phúc lợi chung, hai là mối quan hệ giữa tự do và kết quả thực
hiện. Về mối quan hệ đầu tiên, ông cho rằng cần tìm hiểu mục tiêu cá nhân theo đuổi,
dĩ nhiên mục tiêu này nhằm phản ảnh ước muốn cá nhân, có gắn liền với phúc lợi
chung hay không. Về mối quan hệ giửa tự do hành động và kết quả đạt được đem so
chiếu với phúc lợi chung và khà năng đạt đưọc mục tiêu riêng. Tổng hợp hai lối
suy luận này chúng ta sẽ có bốn khái niệm khác biệt để có thể đánh giá đưọc toàn
bộ vấn đề công bình 1) phúc lợi chung thu hoạch được, 2) phúc lợi riêng cho cá
nhận qua hành động của riêng mình, 3) tự do qua phúc lợi và 4) mức độ tự do
trong hành động.
Phân tích của ông đưa đến những suy luận mới hơn
và có lẽ quan trọng nhất là đề cao tự do cá nhân trong hành động. Đây là điểm mà
các nhà hoạch định chính sách phải ưu tiên chú ý, vì cá nhân không chỉ là người
nhận phúc lợi xã hội, mà nên xem họ là một con người có ý thức trách nhiệm hành
sử trong tự do và sẽ mang đến phúc lợi chung. Hơn thế nửa, hành động này còn góp
phần việc mở rộng dân chủ. Đó là đề taì mà ông dẩn chứng ở phần bốn.
5. Biện
luận công khai là thực thi dân chủ
Phần bốn gồm có bốn chương bàn về các vấn đề
thực thi dân chủ, nhân quyền và công bình
trên toàn thế giới. Ông cho rằng lập luận công khai sẽ là điều kiện thực hiện công
bình và dân chủ.
Sen định nghiã rất đơn giản về dân chủ. Dân chủ,
theo ông, không gì khác hơn là thực tập việc lâp luận và phản biện công khai
trong mọi sinh hoạt xã hội. Chính những cuộc thảo luận các vấn đề chung một cách
công khai thì các tiếng nói, dù cô thế hay dị biệt, đều được quan tâm và phân tích,
có như thế thì xã hội sẽ dễ đạt đến công bình hơn. Nhưng thực thi các quyền dân
sự và chính trị của ngưòi dân rất cần đến báo chí. Chính một nền báo chí độc lập
và tự do sẽ hổ trợ thiết thực cho việc thực thi dân chủ, vì báo chí không những
đóng góp thuần túy trong vai trò thông tin mà còn là phương tiện tranh đấu cho ngưòi
cô thế và hướng dẫn dư luận. Ông dẫn chứng nạn đói không hề xảy ra trong một nước
dân chủ nào trên thế giới, mà chỉ có ở các nưóc bị ngoại thuộc, mà nạn đói Bangal,
Ấn Độ năm 1943 là một thí dụ điển hình, nguyên nhân là báo chí Anh và Ấn độ đều
im tiếng. Nhiều nạn đói khác tại như Liên Xô, Trung Quốc, Cambodia, Ethopia, Somalia
và Bắc Hàn, mà bưng bít thông tin là lý do giải thích.
Sen cho rằng chính thảo luận công khai các dị
biệt giúp chúng ta tìm hiểu và thông cảm nhau nhiều hơn trước những vấn đề phức
tạp như tôn giáo, chủng tộc hay bản sắc. Đây là một điều kiện giúp chúng ta có cơ
hội đạt được đồng thuận, khoan dung, nhân ái, và nhất là giảm đi mọi đạo đức giả
mang danh tôn giáo, mà Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm này. Những cuộc thảo luận của
dân chúng tại thành Athens Hy Lạp thời xưa về các vấn đề công cộng là một thí dụ
lý tưởng. Theo Sen, từ xa xưa thảo luận công khai là một đặc điểm tại các nưóc Á
Đông. Truyền thống tốt đẹp trong các cuộc hội luận của Phật giáo ngay sau khi Đức Phật nhập niết bàn là
những bài học về dân chủ. Trong ba cuộc họp tại Rajagriha, Vaisali và Patna để
thảo luận về việc kết tập kinh điển, Phật giáo đã chứng tỏ tinh thần thảo luận công
khai, khoan dung và tôn trọng dị biệt giửa các tăng đoàn, đây là một điểm son
trong quá khứ. Một thí dụ khác của Nhật Bản cũng chứng minh tương tự. Năm 604
sau Công nguyên, Thái tử Shotoku, một Phật tử thuần thành, khi nhiếp chính đã
soạn thảo hiến pháp với 17 điều khoản, cũng đề cao tinh thần thảo luận. Ông viết
trong điều 7 của hiến pháp là „Mọi quyết định quan trọng không được phép do một
người tạo ra, mà cần có sự thảo luận của nhiều người. Đừng bất bình khi người
khác bất đồng quan điểm với mình. Mổi người đều có một tấm lòng, mà mổi tấm lòng
đều có những lý lẻ riêng. Nếu cái đúng dành cho họ thì cái sai là của chúng ta,
và cái đúng dành cho ta thì cái sai là của họ“. Các nhà luật học cho rằng hiến
pháp của Nhật nhờ thấm nhuần giáo lý Phật giáo là bước đầu tiên để phát triển dân
chủ.
6. Nhận xét
Tác phẩm của Sen là một công trình không những
có giá trị về mặt tư tưởng mà còn là một phương châm hành động và đem lại nhiều
thú vị cho nhiều giới khác nhau.
Đối với độc giả chưa đọc Sen bao giờ thì đây là
một cơ hội hiểu rỏ tư tưởng cơ bản của Sen đã trình bày trước đây, thí dụ như nạn
đói tại các quốc gia không có tự do, phê bình các lý thuyết cổ điển về phát triển
kinh tế và đề cao vai trò của thị trưòng và báo chí cho các nước chậm tiến. Đối
với người đã đọc Sen rồi, thì đây là một công trình bổ sung, nhất là ông đi sâu
vào việc phê bình thuyết công bình của Ralws.
Đối với đọc giả phương Tây đang được sống
trong môi trường tự do, quen thuộc với tinh thần duy lý và văn hóa tranh luận thì
điều mới lạ mà Sen mang lại là giáo lý Phật giáo và triết học Ấn Độ. Khi hiểu được
tinh thần vị tha trong một thế giới tương thuộc, nhất là các mối quan hệ đến thú
vật, tha nhân và môi trưòng sống, họ có cơ hội để xét lại về khái niệm công bình
và cảm thấy trách nhiệm hơn là tiếp tục theo đuổi duy lý và duy lợi.
Nhưng quan trọng và đặc sắc nhất của Sen là đưa
ra một chương trình hành động cho người đọc đang sống trong các chế độ độc tài.
Những luận điểm chính của Sen là:
– kinh tế thi trường
là phương cách tốt nhất để phát triển kinh tế
– tự do báo chí là
nền tảng để thực thi dân chủ
– chấp nhận tranh
luận công khai các dị biệt để thuyết phục và đồng thuận là phương tiện để đạt
được công bình xã hội.
Sen thú nhận đây là
một tham vọng khó thực hiện trên toàn thế giới. Người Việt có thể thất vọng vì Sen
không đề cập đến tinh thần dân chủ của hội nghị Diên Hồng và nạn đói năm Ất Dậu
trong lịch sử Việt Nam cũng như tình trạng báo chí và nhân quyền ở Việt Nam
hiện tại, nhưng hy vọng phương cách của Sen là nguồn cảm hứng bố ích và trở thành
một thông điệp thời đại giúp cho những người đang tha thiết muốn đóng góp cho
Việt Nam hôm nay và mai sau được công bình và dân chủ hơn.
The Idea of Justice, Amartya Sen, ISBN: 978-0-141-03785-1,
Penguin Books, 2010.
Discussion about this post