DO BAN BIÊN TẬP THƯ VIỆN HOA SEN PHỤ TRÁCH
NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 11
TÌM MINH SƯ HỌC ĐẠO
(Nghe
audio bấm vào hàng chữ này)
Thưa quý thính giả
Trên
con đường tu học của người theo đạo Phật, chúng ta có
nên tìm cầu vị minh sư hay không?
Ngày
xưa muốn học đạo phải lặn lội đi tìm thầy, vì thầy
là người không những có đức hạnh mà còn có đầy đủ
kinh nghiệm tu trì và có khả năng truyền dạy lại cho người
sau. Thời ấy muốn học đạo phải đến chùa vì chỉ
nơi đây mới có đầy đủ kinh sách. Ngày nay, việc tìm
kinh sách không khó, ngoài chùa ra, còn có trong các thư viện
trường đại học, các nhà sách lớn và ở trên Internet, ai
cũng có thể tìm đọc và tự nghiên cứu học hỏi. Do
đó có người nói việc tìm thầy học đạo thời nay không
cần thiết lắm. Tuy nhiên, quý bạn cần lưu ý,
ngay chuyện học ngoài đời, chúng ta vẫn phải có thầy dạy. Việc nghiên cứu trong sách vở là điều cần thiết nhưng
vẫn cần phải có thầy hướng dẫn. Đó chỉ là học
về kiến thức mà còn cần đến thầy dạy, huống chi cầu
học đạo giác ngộ giải thoát?
Trong
đạo Phật không phải chỉ học giáo lý suông mà còn phải
tu trì nữa. Một vị thầy dạy chúng ta giáo lý không những
qua việc thuyết giáo mà còn dạy chúng ta về giới đức qua
hành động và cử chỉ hàng ngày của ông thầy mà thuật
ngữ nhà Phật gọi là thân giáo. Chính thân giáo, tức hành
động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy
mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Một trăm lần
nghe không bằng một lần thấy. Một trăm lần tụng đọc
về kinh Từ Bi không bằng một lần thấy hành động từ bi
nơi vị thầy của mình.
Hiện
nay có một số người tự xưng mình là Minh Sư, Đạo Sư,
Vô Thượng Sư, Đại Sư, Thiền Sư, vân vân… thường dùng
một số giáo lý Phật giáo, lợi dụng uy tín của đức Phật
để thuyết giảng hầu lôi cuốn quần chúng, nhưng thực chất
bên trong những điều giảng đó lại chứa đựng những tư
tưởng đối nghịch với tư tưởng nhà Phật. Cho nên,
nếu chúng ta là những Phật tử quyết tâm tu hành theo giáo
lý giải thoát, mà không hiểu rõ giáo lý căn bản của nhà
Phật thì rất dễ bị đi lạc đường
Trong
chương trình phát thanh hôm nay chúng tôi muốn trình bày với
quý thính giả về việc lựa chọn minh sư như thế nào.
Trước
hết chúng ta nên lưu ý đặc biệt đối với những vị Thầy
hay bất cứ một ai khi đến khuyên bảo chúng ta tu mà luôn
luôn khoe khoang pháp môn của mình là hay nhất và ra sức chê
bai hay chỉ trích pháp tu khác là sai đường, cho là không đúng,
thì chúng ta phải xem xét lại những lời nói và hành động
của họ, tức là tìm hiểu về thân giáo, tức hành
động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị ấy và
động
lực nào thúc đẩy ông ấy giảng dạy.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã dạy rằng: “Động
lực giảng dạy của một vị Thầy phải trong sạch – không
bao giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất…
Trong
thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính thì
chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng vậy,
trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc dù đức
tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học vị thầy
có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt theo một
đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi thực sự
coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét họ…”
Nếu
như vị đạo sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo
đức hay nếu giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp
thì hành xữ như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp: “Bạn nên trung thành với điều
đạo đức và xa rời những gì không phù hợp với Pháp…”
Ở
Ấn Độ, một lần kia, một vị thầy có nhiều đệ tử yêu
cầu họ đi ra ngoài ăn trộm. Vị thầy thuộc đẳng
cấp Bà La Môn và rất nghèo. Ông dạy rằng khi những
người Bà la Môn trở nên nghèo khó thì có quyền được ăn
cắp. Ông nói, “là những người được Trời Brahma
tức đấng sáng tạo của thế giới, đối với một người
Bà la môn, việc ăn cắp không xấu xa”. Trong số những
đệ tử sắp đi ăn cắp thì vị thầy người Bà la môn nhận
thấy một đệ tử đứng im lặng cúi đầu xuống. Ông
hỏi anh tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều
thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy
con không nghĩ rằng con có thể làm được điều đó. “ Lời nói này làm vui lòng vị thầy người Bà la môn, ông nói:
“Ta đã trắc nghiệm các con. Mặc dù các con đều là
đệ tử của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác biệt
giữa các con là sự phán đoán. Ta là thầy của các con,
nhưng các con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất kỳ
lúc nào lời chỉ dạy chống trái với Pháp thì các con chớ
nên theo.” …”
Đó
là lời giảng dạy của Ngài Đạt Lai Lạt Ma về việc chọn
Thầy. Với Hoà Thượng Thích Thánh Nghiêm, trong bài giảng Lựa chọn minh sư như thế nào ?
Hoà
thượng nói:
“Nghề
học phải chuyên nhất.” Do đó học tập pháp môn nào đều
phải lựa chọn các bậc minh sư có chuyên môn giỏi, độc
đáo, tinh thông về các mặt học vấn nghệ thuật và giáo
lý Phật học. Mặc dù minh sư không nhất thiết phải từ
cửa minh sư mà trưởng thành ra, trong số đệ tử của minh
sư không nhất thiết xuất hiện những đệ tử xuất chúng.
Nhưng khi đi tìm minh sư thì tối thiểu họ cũng không được
nhầm phương hướng, dạy sai yếu lĩnh, phải đảm bảo an
toàn, chắc chắn chứ không thể như “người mù chỉ lối
cho người mù”.
Vậy
ai là minh sư ? Thường thường thì không có cách nào mà biết
được điều đó. Đặc biệt là theo kinh nghiệm của tôn
giáo và khi khổ công tu thiền, khi bản thân chưa nhập môn
thì không có cách nào phán đoán được ai là minh sư và ai
không phải là minh sư. Thế nhưng minh sư không nhất thiết
phải nổi tiếng, nhưng người minh sư được quần chúng công
nhận thì đáng tin cậy hơn so với người tự xưng là minh
sư mà chưa được đông đảo quần chúng công nhận. Hoặc
các bậc thầy tuy chưa nổi tiếng nhưng được các bậc thầy
đã nổi tiếng giới thiệu là minh sư cho mình thì đó là
điều đáng tin cậy.
Như
kinh “Hoa Nghiêm” có nói : “Phương thức thiện tài đồng tử
tham gia về việc chất vấn 53 vị thiện tri thức thông qua
một vị giới thiệu một vị đã hình thành mối quan hệ
liên tục đối với 53 vị sư. Vì vậy, các thiện tài đồng
tử tuyệt nhiên không phải công nhận các bậc thầy một
cách mù quáng”.
Bất
kỳ thời đại nào trên thế gian này đều có những nhân
vật tự xưng là tôn sư của thời đại. Họ dùng những lời
yêu quái để mê hoặc quần chúng, lẫn lộn trắng đen, nghe
thấy lung tung, thu nạp đông đảo các đệ tử phô trương
thanh thế. Nếu không phân biệt rõ thì rất có khả năng lấy
tà sư khét tiếng làm minh sư. Vì vậy, Mạnh Tử cũng nói:
Tai họa lớn nhất của con người là “thích làm thầy người
ta”.
Bởi
vì những tà sư này có tác hại hướng dẫn lệch lạc lương
tâm xã hội, khiến cho con người nẩy sinh nhiều sự quấy
nhiễu không bình thường, nghi hoặc bất an. Do vậy, mà theo
họ, học tập những tà pháp, tà thuyết và tà thuật thì
chẳng những không mở mang được cảnh giới nhân sinh mà
ngược lại còn mang tác hại cho thân tâm mình, gia đình mình
bất hòa. Chỉ đáng tiếc là những người bình thường rất
khó mà phân biệt được cái thật, cái giả, cái tà, cái
chính của những người này.
Xét
theo lập trường của Phật Pháp thì tiêu chuẩn về cái tà,
cái chính, cái tối, cái sáng đều phải được khảo sát,
thí nghiệm ở trung tâm cái tôi của mình. Nếu con người
còn mang nặng tham, sân, si thì nhất định không phải là minh
sư. Lại có người tuy bề ngoài thì biểu hiện nhân từ,
vẻ mặt phúc hậu, tươi tắn, đạo mạo trịnh trọng nhưng
lại là kiêu căng, ngạo mạn thì cũng nhất định không phải
là minh sư. Về việc tìm minh sư, “Đại trí độ luận” cuốn
4 đã nêu lên 4 điều trọng yếu gọi là tứ y pháp “4 chỗ
nương tựa”.
1)
Dựa
vào pháp không dựa vào người :
Minh
sư không tự cho mình là trung tâm, cũng không lấy cá nhân
nào đặc biệt làm quyền lực mà lấy nguyên tắc, quy luật
chung là tiêu chuẩn Pháp của Phật giáo là pháp nhân duyên,
pháp nhân quả. Nếu đạo lý và những điều khêu gợi của
vị thầy nào trái ngược với phép tắc nhân quả và nhân
duyên thì không phải là minhh sư. Bởi vì, nhân quả đòi hỏi
chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nhân
duyên là dạy chúng ta không được khởi tâm chấp trước
tham, sân. Không thì tuy được đông đảo mọi người tôn
là Thánh cũng không khác gì tà sư.
2)
Dựa
vào nghĩa không dựa vào lời :
Phàm
là phép tắc chân chính thì nhất định tung ra bốn biển đều
đúng, từ xưa tới nay đều giống như nhau, không phải vì
bối cảnh dân tộc, khu vực, văn hóa khác nhau mà sai biệt
khác nhau. Nếu cho rằng do sự cấm kỵ về tôn giáo hoặc
có sự bí mật trên ngôn ngữ mà không phải chính pháp là
không đúng. Chính pháp nên chú trọng đến sự cảm thông
về nghĩa lý chứ không được câu nệ trên sự dị biệt
trên ngôn ngữ. Tỉ dụ, nếu nói người theo đạo Hồi chú
trọng đến chữ Ả rập, người Do Thái chú trọng đến chữ
Hêbơrơ thì xét về chuẩn tắc là khác nhau. Người theo đạo
Phật chú trọng đến chữ Phạn, Pàli là để nghiên cứu
những kinh điển nguyên thủy, để truy tìm nguyên nghĩa chứ
không phải nói chữ Phạn và chữ Pàli có thần lực và thần
thánh gì đặc biệt. Tất nhiên Ấn Độ giáo chú trọng đến
tiếng Phạn, âm Phạn khác với Phật giáo.
3)
Dựa
vào trí, không dựa vào thức:
Trí
là trí tuệ của thánh nhân, là sản sinh ra đại trí của
vô ngã, từ đại bi đến đồng thể. Do đó, hể có tự ngã
làm trung tâm, dù là vì mình, vì người, thậm chí vì tất
cả chúng sinh hoặc vì cầu cho Phật Đạo vô thượng, dù
là đại ngã, phạm ngã và thần ngã, cái ngã cá biệt và
cái ngã toàn thể đều không thể sản sinh ra trí tuệ chân
chính được. Vì vậy, điều đó vẫn thuộc vào phạm vi trí
thức và trí tuệ. Trí thức là từ trong kinh nghiệm học tập
của bản thân mình mà sản sinh ra tác dụng phân biệt, ghi
nhớ và suy lý. Còn trí tuệ chỉ có hiện tượng của khách
quan không có trung tâm chủ quan. Chỉ có công năng chuyển vận,
không có trung tâm chủ thế, nếu trái ngược như thế thì
không phải minh sư.
4)
Dựa
vào ý nghĩa rốt ráo, không dựa vào ý nghĩa không rốt ráo:
Nghĩa
rốt ráo là không nói ra được, không có pháp nào có thể
chấp, không có pháp nào có thể tu, cũng không có pháp nào
có thể chứng được. Đúng như vô niệm vô tướng, vô trụ,
mà “Đàn kinh” nói : “Không vì cái gì, cũng không có cái gì,
chỉ việc ăn cơm, mặc quần áo, sinh sống, lợi mình, lợi
người, tinh tiến không ngừng”.
Căn
cứ vào 4 điều chuẩn trên, chúng ta có thể phân biệt dễ
dàng ai là minh sư, ai không phải là minh sư, rồi dựa vào
4 tiêu chuẩn đó mà quan sát thẩm tra minh sư mà mình mong gần
gũi thì nói chung không thể có sự nhầm lẫn, rồi ngày qua
tháng lại dù không gặp được minh sư thì bản thân anh cũng
trở thành minh sư…”
Thưa
quý thính giả,
Đức
Đạt Lai Lạt Ma và Hoà Thượng Thích Thánh Nghiêm đã chỉ
cho chúng ta một số nguyên tắc trong đó có bốn tiêu chuẩn
để chọn minh sư. Y pháp bất y nhân là một trong
bốn tiêu chuẩn hướng dẫn chúng ta trên đường đi tìm thầy
tìm học đạo. Câu này có nghĩa là nương theo giáo pháp
chứ không nương vào thầy. Lẽ dĩ nhiên, y pháp
bất y nhân không có nghĩa là được pháp rồi thì không cần
biết gì đến thầy. Học đạo không giống như học các ngành
học ở ngoài thế gian, học đạo phải có lòng tri ân tôn
kính thầy nhưng không bám víu và thần tượng hóa thầy.
Ngày
nay một số trong chúng ta theo thầy không phải vì thực sự
cầu pháp gỉai thoát mà vì tình cảm hay biên kiến, hay vì
thầy là người nổi tiếng trên thế giới, đông đệ tử
xuất gia lẫn tại gia có học vị cử nhân, thạc sĩ, tiến
sĩ, có chùa to đất rộng, vân vân…đáng tiếc thay cho đạo
giác ngộ giải thoát, đạo phá trừ chấp ngã, phá trừ tham
sân si.
Có
nhiều Phật tử đặt câu hỏi: Sau khi quy y và tu học theo
thầy một thời gian dài, cảm thấy không tiến bộ, tham sân
si vẫn như cũ, chấp ngã gia tăng nhiều hơn, muốn đi chùa
khác tìm thầy khác nhưng làm như thế có phải là phản thầy
không. Chúng tôi xin thưa ngay là không có mang tội phản
thầy. Khi làm lễ qui y là chúng ta quy y với ba ngôi
Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, chứ không phải quy y với thầy.
Thầy chỉ là vị đại diện làm lễ quy y cho chúng
ta quay về nương tựa với Tam Bảo. Trong buổi lễ chưa
bao giờ chúng ta nói: Con xin quy y với thầy Thích Tâm A hay
thầy Thích Tâm B. Hơn nữa, ở ngoài đời, học xong bậc
tiểu học, chúng ta phải lên trung học rồi lên đại học
chứ đâu có thể học mãi một lớp hay một trường được.
Xưa
kia lúc còn tìm đạo, thái tử Tât Đạt Đa đến học với
đạo sĩ Alara Kalama, sau khi chứng được thiền “Vô sở hữu
xứ” và không học được gì thêm nữa thì ngài từ giã thầy.
Kế tiếp ngài đến học đạo với Uddaka Ramaputta, sau khi chứng
được thiền “Phi tưởng phi phi tưởng xứ” và không học
được gì hơn thì ngài cũng kiếu từ ra đi. Nếu thái tử
trung thành ở lại với đạo sĩ Kalama hay đạo sĩ Ramaputta
thì chắc ngày nay chúng ta không có Đức Phật và Phật Pháp.
Là
Phật tử, muốn có được đời sống an lạc, hạnh phúc,
tiến bộ, chóng thành đạo quả giác ngộ thì phải hết sức
cẩn trọng trong việc chọn thầy, chọn bạn, chọn pháp môn
tu, chớ để tánh hiếu kỳ dẫn dắt, thì mới khỏi oan uổng
công phu tu tập suốt cả một đời.
Ban
Biên Tập
Discussion about this post