cùng TĂNG TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO VỊ PHÁP VONG THÂN
Nhà báo Vũ Ánh
(Nhân Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Bồ Tát Thích Quảng Đức Tự Thiêu
23/6/2013 tại Santa Ana, Orange County, California)
Kính
thưa Hòa Thượng Đại Diện các Chư tôn Giáo Phẩm,
Kính
thưa các Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni
Kính
thưa quí quan khách và các đạo hữu,
Trước
hết tôi xin cám ơn Tiến sĩ Huỳnh Tấn Lê và Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam
tại Hoa Kỳ đã cho tôi một cơ hội thuận tiện để có đôi lời trình bày trước một
cử tọa gồm những nhân sĩ trí thức Phật giáo đã từng có một quá khứ tu tập,
nghiên cứu, đã từng có những nỗ lực phổ biến Phật học, đã từng trình bày những
luận cứ uyên bác trong những tác phẩm, những bài lai cảo viết về Phật giáo cũng
như về một biến chuyển cách đây nửa thế kỷ: ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức
dùng ngọn lửa của trái tim mình, biến thân xác Ngài thành một ngọn đuốc để xua
hết những bóng tối của cường quyền đang trùm phủ lên Phật giáo Việt Nam mùa
Pháp nạn 1963.
Thưa
quí vị, thưa các Đạo Hữu,
Trước
khi đến diễn đàn này, tôi nhận được khá nhiều cú điện thoại và e-mail phần lớn
của những người bạn hay những người quen biết tôi, trong đó họ đưa ra thắc mắc:
“Này ông, tôi thấy cái đám đó có vài thằng Việt cộng đã từng tẩm xăng để thiêu
sống ông Thích Quảng Đức, sao ông còn ngồi chung với họ”. Tôi mạn phép quí vị
trích dẫn nguyên văn một trong những câu hỏi của họ. Tôi không giận, không tức
tối không phải chỉ vì họ là bạn hay quen tôi mà vì dư luận này tôi nghe thấy từ
Mùa Pháp Nạn 1963 lúc tôi đang còn là một sinh viên. Tôi chỉ nói với những
người bạn này: “Tôi hiểu tại sao ông nói như thế, nhưng điều đáng làm nhất là
ông cung cấp ngay cho tôi những bằng chứng ai là Việt cộng tẩm xăng đốt vị tu
sĩ này. Tôi sẽ có mặt ở buổi tưởng niệm để chỉ đích danh những tên Việt cộng đó
ngay trong hội trường. Ông bảo họ gởi ngay cho tôi, còn kịp mà”.
Nhưng
cho tới lúc tôi đang thưa chuyện với quí vị đây thì lời nhục mạ của 50 năm
trước vẫn còn tồn tại là những lời nhục mạ không có bất cứ một căn cứ nào cả.
Họ mang theo những lời nhục mạ một cao tăng Phật giáo đã lấy thân xác mình làm
ngọn đuốc soi đường cho một khối thiểu số người u mê, cực đoan, sống bám vào
chủ nghĩa phân biệt tôn giáo vượt cả đại dương trong hoàn cảnh nước mất nhà tan
để rồi tiếp tục nuôi dưỡng nó trong cộng đồng tị nạn đang cần có sự đoàn kết về
mọi mặt để đòi hỏi nhân quyền cho người Việt Nam ở cố quốc, trong đó có quyền
tự do tín ngưỡng. Đứng ở đây, trên diễn
đàn này trong không khí thiêng liêng của ngày chúng ta, những người con Phật tổ
chức Tưởng Niệm 50 Năm Trái Tim Bồ Tát Thích Quảng Đức và Tăng Tín đồ Phật giáo
Vị Pháp Vong Thân, nhưng tôi không thưa chuyện cùng quí vị với tư cách của
người Phật tử mà với tư cách của một nhà báo sau một thời gian dài lục lọi tìm
kiếm các dữ kiện được xác nhận trong đống trên 4,000 trang tài liệu được Ngũ
Giác Đài giải mật và những tài liệu rải rác khác trong các tác phẩm lịch sử
chiến tranh Việt Nam của các sử gia Mỹ mà tôi may mắn mua được trong các tiệm
sách cũ ở Hoa Kỳ.
Phật
tử chúng ta gọi những biến động mang tính chất lịch sử của Phật giáo vào năm
1963 là mùa Pháp Nạn trong đó có thời điểm diễn ra cuộc tự thiêu của Hòa Thượng
Thích Quảng Đức ở ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt ngày 11-6 cách
đây đúng nửa thế kỷ. Dân chúng Việt Nam và người Phật tử nhìn biến cố này như
một điểm mốc quan trọng làm rung rinh chế độ như thế nào thì đã có nhiều tác
giả phân tích rất chi tiết, tôi xin không đề cập tới. Nhưng người Mỹ, gồm cả
chính phủ lẫn dân chúng Hoa Kỳ, các viên chức Hoa Kỳ có trách nhiệm tại Việt
Nam và Washington nhìn cuộc tự thiêu này như thế nào? Tôi nghĩ đó là một điều
mới và tôi cần phải trình bày. Nhưng vì thời lượng giới hạn của bài thuyết
trình, tôi chỉ xin trích một đoạn ngắn trong hàng chục đoạn văn nằm trong các
phản phúc trình và lời khuyến cáo của ông Truehart, Đại Lý Đại sứ Mỹ tại Saigon
gởi cho Washington ngay sau khi nội vụ xảy ra, xin trích:
“Vào buổi trưa ngày này, tại một ngã tư (Phan
Đình Phùng-Lê Văn Duyệt), một tu sĩ Phật giáo là Hòa Thượng Thích Quảng Đức tẩm
xăng và nổi lửa tự thiêu. Ngọn lửa bừng cháy và đã được một phóng viên ngoại
quốc chụp hình và xuất hiện trên trang nhất của báo chí trên thế giới (Phóng
viên chụp bức hình này là Malcom Browne của hãng thông tấn AP, ông cũng vừa qua
đời cách đây một tuần, 2013-TG). Rúng động và căm phẫn khắp nơi trên trái đất, nhưng bà Ngô Đình Nhu
vẫn thách thức bằng cách gọi đây là một vụ nướng thịt”.
Vẫn
theo các tài liệu được giải mật của Ngũ Giác Đài thì ngay ngày 12-6, Đại lý đại
sứ Mỹ Truehart, người tạm thay thế Đại sứ Frederic Nolting mãn nhiệm trở về Hoa
Kỳ trong khi chờ đợi bổ nhiệm Đại sứ Cabot Lodge, đã gặp Tổng Thống Diệm một
lần nữa để phản đối ông ta đã không hành động để giải quyết cuộc khủng hoảng
với Phật giáo và nói vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã gây sốc cho
toàn thế giới. Nếu ông Diệm không hành động thì bắt buộc chính phủ Mỹ phải cắt
đứt liên lạc với ông ta. Dựa trên các bản phúc trình của những viên chức trong
phái bộ Phái Bộ Ngoại Giao và Cơ quan MACV tại Saigon, các phân tích viên của
chính phủ Hoa Kỳ cho rằng đây là một giọt nước đã làm tràn ly nước đã quá đầy.
Ngôn
ngữ về đấu tranh bất bạo động cũng là thứ ngôn ngữ “tĩnh” phù hợp với giáo lý
Phật giáo, nhưng đồng thời trong cái tĩnh ấy chứa đựng những cơn bão có sức tàn
phá những bức tường bưng bít, che đậy và coi thường sự phẫn nộ của dân chúng
của những nhà độc tài. Người Mỹ đã có những sai lầm khi dồn sự ủng hộ và hậu
thuẫn của họ vào một ông quan muốn giữ thể diện cũng như dùng mọi cách không
chính đáng chỉ để bảo vệ gia đình mình, đẩy quyền lợi quốc gia xuống hàng thứ
yếu. Con bài chính trong sách lược “tiền đồn của thế giới tự do”, dưới con mắt
của chính quyền Eisenhower và chính quyền Kennedy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm
được Hoa Kỳ coi là một người duy nhất có khả năng ngăn được Cộng sản. Nhưng
thực tế con bài ấy đã phản lại những suy nghĩ của những chiến lược Hoa Kỳ trong
một tổ chức liên bộ ngoại giao và quốc phòng đặc trách vấn đề Việt Nam với danh
xưng Lực Lượng Đặc Nhiệm.
Lần
mò vào trong nội dung của khoảng từ 200 đến 300 trang trong số 4,000 trang tài
liệu được giải mật liên quan trực tiếp đến cuộc khủng hoảng Phật giáo, tôi đã
có thể tìm được quan điểm của chính phủ Mỹ vào thời gian đó được tóm tắt bằng
những dòng chữ như thế này, xin trích:
“Biến cố tại thành phố Huế vào ngày 8 tháng 5
năm 1963 đã là chất kết tủa tạo ra điều mà chúng ta (tức là Mỹ) gọi là cuộc
“Khủng hoảng Phật Giáo” và khởi đầu cho một chuỗi những biến cố tối thượng dẫn
đến những nỗ lực lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và cái chết của ba anh em Ngô Đình
Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn. Vào thời điểm đó, không một người nào nhìn
thấy trước được biến có vừa kể lại có thể tạo ra một phong trào chống đối trên
toàn quốc có khả năng tập họp tất cả lực lượng đối kháng không-Cộng sản tại
Miền Nam Việt Nam.
“Quan trọng hơn nữa,
vào lúc đó không ai có thể đánh giá đúng mức sự khinh ghét của quần chúng ở
Miền Nam Việt nam đối với chính quyền hoặc tình hình suy sụp về chính trị lan
rộng trong chế độ, một chế độ không còn khả năng đối phó với những bất mãn của
quần chúng. Nguồn gốc tôn giáo của những biến cố trong giai đoạn này có thể
nhận ra được qua khối người Công giáo di cư từ Miền Bắc Việt Nam sau khi người
Pháp bị đánh bại năm 1954.
“Ước lượng có khoảng
độ 1 triệu người rời bỏ quê hương Miền Bắc của họ để tái định cư ở Miền Nam,
ông Ngô Đình Diệm rõ ràng để được ủng hộ bởi tôn giáo cũng như sự đồng cảm mang
tính nhân đạo và để tạo được sự hậu thuẫn chính trị qua những đồng đạo, ông
cung cấp cho những người tị nạn Công giáo những đối xử đầy ưu quyền về tái phân
phối đất đai, cứu trợ và giúp đỡ, cấp giấy phép thương mại, xuất nhập
cảng, cung cấp công việc trong chính quyền và những trợ giúp hào phóng
khác. Do ông Diệm cần phải dựa vào sự trung thành của họ nên ông ta đã đưa
những người Công giáo vào nắm giữ hết các vị trí then chốt trong chính quyền
của ông, cả trong lãnh vực dân sự lẫn quân sự. Giống như một định chế, nhà thờ
Công giáo đã được hưởng một qui chế pháp lý đặc biệt.
“Tổng Giám Mục giáo
hội Công giáo Ngô Đình Thục, người anh lớn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trở
thành cố vấn của tổng thống. Nhưng từ lúc ông Diệm về nước cho tới năm 1962,
chính quyền Diệm chưa có sự phân biệt đối xử gay gắt nào đối với Phật giáo. Tuy
nhiên, trong số khoảng từ 3 đến 4 triệu tín đồ Phật giáo đang hành đạo và 80%
dân số Miền Nam Việt Nam mang danh nghĩa là những người theo Phật giáo, những
ưu đãi, sự độc đoán và phân biệt đã tạo nên một sự căm ghét âm ỉ trong khối
quần chúng”. (hết trích)
Và đây là lăng kính mà các viên chức Hoa Kỳ có
trọng trách thì hành chính sách của Hoa Kỳ đối với VNCH dùng để soi rọi vào cái
ngòi nổ dẫn đến cuộc tranh đấu chống phân biệt đối xử với Phật giá, xin trích:
“Vào Tháng 4 năm 1963 chính quyền của Tổng
Thống Diệm ra lệnh cho các viên chức thành phố phải cưỡng chế một lệnh cấm đã
có từ lâu nhưng mọi người đã tảng lờ, đó là lệnh cấm treo cờ tôn giáo tại nơi
công cộng. Lệnh này được ban ra chỉ một ngày sau khi chính quyền chính thức
khuyến khích dân chúng ăn mừng lần thứ 25 ngày Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục
thuộc địa phận Huế được thụ phong và trong lễ mừng, cờ của Tòa Thánh Vatican
được treo khắp nơi. Lệnh này cũng được đưa ra chỉ một ngày trước Lễ Phật Đản
vào ngày 8 tháng 5, một lễ quan trọng của Phật giáo. Huế, cố đô của Việt Nam
vốn là một trung tâm hoằng pháp và tu tập quan trọng của Phật giáo Việt Nam,
trong khi các trường đại học ở Huế từ lâu đã trở thành nơi tập trung những sinh
viên bất đồng chính kiến. Cho nên, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những tín đồ
Phật giáo vẫn cứ treo cờ tôn giáo của họ bất chấp lệnh cấm và khi chính quyền
địa phương xuất hiện để hạ cờ Phật giáo theo lệnh cấm thì hành động này đã trở
thành một hành động khuyến khích các tín đồ Phật giáo ở Huế và vùng phụ cận tập
trung rất đông vào ngày 8 tháng 5 để tham dự ngày Khánh Đản. Coi cuộc biểu tình
như một thách thức đối với uy tín của gia đình ông Ngô Đình Diệm và chính
quyền. Huế cũng còn được coi là một thái ấp chính trị của một người em khác của
ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn, nên các viên chức địa phương phải cố gắng giải
tán đám đông.
“Tuy nhiên, khi
những cố gắng nói trên không mang lại kết quả, viên Phó Tỉnh Trưởng người Công
giáo đã ra lệnh cho lính của ông nổ súng. Trong cảnh hỗn loạn xảy ra sau đó, 9
người đã bị giết, trong số này có cả trẻ em và 14 người khác bị thương. Những
xe bọc thép được nói là đã cán lên người các nạn nhân. Chính quyền của Tổng
Thống Diệm đã mau chóng đưa ra một câu chuyện hoàn toàn khác nói rằng Việt Cộng
đã ném một trái lựu đạn vào đám đông và
rằng các nạn nhân đã bị dẫm lên người trong cơn hỗn loạn (chứ không phải xe bọc
thép cán). Chính quyền của Tổng Thống Diệm vẫn cứng rắn không nhận trách nhiệm
ngay cả khi những quan sát viên trung lập cung cấp những đoạn phim cho thấy
quân đội của chính phủ bắn vào đám đông.
“Bản chất quan lại
của ông Diệm không cho phép ông ta giải quyết vụ khủng hoảng này với thái độ
mềm dẻo, phù hợp với hoàn cảnh. Ông không thể công khai thừa nhận trách nhiệm
của một nguyên thủ trước một thảm kịch để tìm cách hòa giải với những tín đồ Phật
giáo. Tổng Thống Diệm cũng từng được thuyết phục rằng một sự mất mặt trước công
chúng như thế có thể phá hỏng sự cầm quyền của ông ta và rằng ông đã quên hẳn
một thực tế là không một người cầm quyền
nào có thể phớt lờ lâu dài sự bất mãn của khối quần chúng lớn lao, bất kể đạo
đức của ông như thế nào. Nhưng chính phủ vẫn bám vào những những sự việc như đã
xảy ra (có nghĩa là cứ đổ cho Việt Cộng mà không cần điều tra gì nữa cả).
Những ngày tiếp theo
đó tại thành phố Huế hơn 10,000 người đã biểu tình phản đối vụ giết người này.
Đây là một trong nhiều hoạt động biểu tình mà Phật giáo dùng để tạo áp lực với
chính quyền của Tổng Thống Diệm trong 4 tháng kế tiếp. Những Phật tử mau chóng
tự tổ chức và ngày 10 tháng 5, một bản tuyên bố của các tu sĩ Phật giáo được
chuyển đến chính quyền đòi tự do treo cờ Phật giáo và công bằng pháp lý như các
nhà thờ Công giáo, chấm dứt việc bắt bớ và tự do hành đạo, bồi thường cho những
nạn nhân vụ nổ súng ngày 8 tháng 5 và trừng phạt những người đã gây ra vụ này.
Tất cả 5 đòi hỏi này được chính thức đưa
cho Tổng Thống Diệm và ngày 15 tháng 5 và Phật giáo tổ chức cuộc họp báo đầu
tiên sau một cuộc họp nội bộ. Những cuộc tuyệt thực trước nơi công cộng và các
cuộc biểu tình tiếp tục suốt tháng 5 năm 1963, nhưng Tổng Thống Diệm vẫn chậm
chạp trong việc xoa dịu những người bất mãn và giải quyết vấn đề.
“Vào ngày 30 tháng
5, khoảng 350 nhà sư Phật giáo biểu tình trước trụ sở Hạ Nghị Viện ở Saigon và
tuyên bố tuyệt thực trong 48 giờ đồng hồ. Vào ngày 3 tháng 6, một cuộc biểu
tình ở Huế đã bị đàn áp với hơi cay và một vài người bị phỏng khiến cho Phật
giáo mau chóng đưa ra những lời cáo buộc quân đội chính phủ đã sử dụng hơi cay để đàn áp biểu tình. Ngày 4 tháng
6, chính phủ loan báo thành lập một ủy ban liên bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn
Ngọc Thơ cầm đầu để giải quyết cuộc khủng hoảng tôn giáo, nhưng hành động này
của chính phủ có thể đã quá muộn. Một khối lớn thị dân đã đứng sau lưng Phật
giáo và bắt đầu chống lại Tổng Thống Diệm. Vào ngày 8 tháng 6, bà Ngô Đình Nhu
làm nghiêm trọng thêm tình hình vốn đã hết sức nghiêm trọng bằng một lời tuyên
bố những phần tử Cộng sản đã thẩm nhập vào hàng ngũ Phật giáo…”.(Hết trích)
Tuy
thế, qua sự trung gian và áp lực của Hoa Kỳ, ủy ban tranh đấu Phật giáo và
chính quyền đã ký kết được một bản thông cáo chung để giải quyết toàn bộ vấn
đề, nhưng hiệu quả của nó chẳng đi đến đâu. Vào đêm 21-8-1963, chỉ mấy ngày sau
khi chính quyền của Tổng Thống Diệm hứa với Đại sứ Frederic Nolting đi nghỉ
phép ở Hawaii rằng họ sẽ giải quyết toàn bộ cuộc khủng hoảng Phật giáo để tìm
lại sự ủng hộ của dân chúng, Cố vấn Ngô Đình Nhu đã ra lệnh cho lực lượng Cảnh
Sát Quốc Gia và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Lê Quang Tung do Mỹ huấn luyện và
tài trợ để thực hiện cuộc chiến bí mật vào cuộc tấn công các chùa Phật Giáo bắt
giữ hàng ngàn tăng tín đồ Phật giáo. Và đây là hành động lộng quyền cuối cùng
của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu làm tai tiếng toàn thể quân đội VNCH và hành
động cuối cùng này cũng đã dẫn đến một cuộc đảo chánh vào ngày 1-11-1963 kết
thúc chế độ Ngô Đình Diệm. Trong những bản phúc trình trực tiếp với Tổng Thống
Kennedy khi trở về Hoa Kỳ, Đại sứ Cabot Lodge đã mô tả “Mỹ muốn cứu vãn chế độ
cho tới giờ phút chót, nhưng lỗi lầm của một người thay vai trò Tổng Tư Lệnh
của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu đã khiến cho tình thế tuyệt vọng không còn
cứu vãn nổi nữa…”.
Tôi
không đi sâu vào chi tiết của cuộc tranh đấu của Phật giáo chống sự kỳ thị tôn
giáo của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm dẫn đến cuộc đảo chánh lật đổ ông
vào ngày 1-11-1963 vì tôi biết rằng thời giờ rất eo hẹp. Nhưng tôi muốn nhấn
mạnh ở đây rằng, những tài liệu này được giải mật sau 30 năm nằm im trong văn
khố quốc gia Hoa Kỳ tự chúng không bao giờ có tác dụng gây chia rẽ giữa Phật
giáo và Công giáo mà ngược lại chỉ có tác dụng đánh tan những ngộ nhận do một
thiểu số những người trung thành với chế độ Ngô Đình Diệm loan truyền với ác ý,
nào là hàng ngũ Phật giáo bị Cộng sản xâm nhập giựt giây, nào là người Mỹ làm
lơ cho những tướng lãnh lật đổ và giết hai anh em ông Diệm Nhu chỉ vì ông Diệm
không cho Mỹ đổ bộ binh vào Miền Nam Việt Nam, nào là Hòa Thượng Thích Quảng
Đức bị Việt cộng tẩm xăng và đốt, nào nếu Tổng Thống Ngô Đình Diệm không bị
giết thì Miền Nam Việt Nam không mất trong ngày 30-4-1975. Tôi lại nhắc lại một
lần nữa, những người nào còn bày tỏ lòng trung thành với Tổng Thống Ngô Đình
Diệm bằng cách sửa chữa lịch sử nếu có cơ hội đọc tài liệu “The Pentagon
Papers” và những tài liệu khác đầy ắp trong các thư viện Hoa Kỳ thì sẽ thấy
rằng những thông tin kiểu “nghe nói, người ta đồn” hay kiểu thông tin “trộn hư
cấu với dữ kiện được xác nhận” chắc chắn sẽ bị phản bội.
Ở
đất nước tự do này, người ta có quyền bày tỏ lòng trung thành, vinh danh, dựng
tượng bất cứ nhân vật nào mà họ coi là lịch sử, không ai cấm cản, nhưng đừng có dùng những lời lẽ khiếm nhã
để lăng nhục một tôn giáo hay tạo những ngộ nhận để vu cáo trong dư luận nhằm
đánh bóng một một nhân vật mà thực tế đằng sau lớp sơn giả tạo không có một
điều nào có thể hậu thuẫn việc làm của những nhân vật ấy.
Trong
những năm tháng cuối của cuộc đời mình, khi gánh nặng áo cơm đã nhẹ, tôi đã
dành nhiều thời giờ để truy cứu, tìm hiểu vào những tài liệu mà một số người
vẫn còn tơ tưởng đến thời được chế độ sủng ái cách đây nửa thế kỷ sợ hãi, không
dám mạnh dạn phủi lớp bụi thời gian đi để nhìn vào hay tìm sự thật. Họ quên mất
một điều là chửi rủa, bịa chuyện, phê phán không có chứng cớ hậu thuẫn, vu cáo
cho người ta là Cộng sản, là tay sai, là bị Cộng sản lợi dụng không thể át đi
được tiếng nói vô địch của những dữ kiện lịch sử, những biến cố chính trị, quân
sự hay kinh tế.
Tôi
tin rằng chúng ta, tất cả quí vị đến dự Lễ Tưởng Niệm 50 Năm ngày Bồ Tát Quảng
Đức và Tăng tín đồ Phật Giáo Vị Pháp Vong Thân đều là những người đã từng phải
trải qua những thử thách đến từ Mùa Pháp Nạn 1963. Và với lòng rộng mở theo
tinh thần hỷ xả của nhà Phật, chúng ta không bao giờ coi những “nạn” trong Mùa
Phật Đản 50 năm trước đây là cái cớ để nuôi thù oán, nhưng chúng ta cương quyết
không để cho bất cứ một người nào sửa chữa lịch sử một cách vu vơ. Tôi quan
niệm đó là phương thức tốt nhất để hiển dương sự thật và góp phần bảo vệ Đạo
pháp. Cuối cùng, tôi hy vọng được học hỏi thêm từ những nhân sĩ, trí thức Phật
giáo và các Đạo Hữu cũng như sẽ cố gắng đóng góp cùng quí vị những gì mà tôi
hiểu và biết về Mùa Pháp Nạn cách đây 50 năm. Hy vọng ánh hào quang của Phật
giáo nói chung và Trái Tim Thích Quảng Đức sẽ hướng dẫn chúng ta.
Xin
cám ơn tất cả quí vị đã kiên nhẫn lắng nghe lời trình bày của tôi./.
Vũ
Ánh (nhà báo)
MỤC LỤC
Đại Lễ Tưởng Niệm 50 Năm
Bồ Tát Thích Quảng Đức Tự Thiêu
Discussion about this post