CON ĐƯỜNG TU TẮT – PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
Trích trong Tây-Qui Trực-Chỉ và Lão-Nhơn Đắc-Ngộ
Phật Lịch 2531 – 1987
Soạn Giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm
Bỏ
Đường Tắt Tây Phương Chín Cõi Chúng Sanh Khó Thể Được Tròn Nên Quả Giác
Rời Cửa Mầu Tịnh Độ Mười Phương Chư Phật Không Vẹn Toàn Độ Khắp Hàng Mê
Ấn
Quang Đại Sư
Tiểu Tựa
Đức Phật Thích-Ca vì một sự đại nhân
duyên mà ra đời, tức là ngài muốn cho tất cả chúng-sinh thành Phật như ngài.
Nhưng vì căn-cơ trình-độ của chúng-sinh trong buổi đầu tiên học đạo còn non kém
nên ngài quyền-biến tạm lập ra ba thừa; Thinh-Văn, Duyên-Giác, và Bồ-Tát. Đến
lúc các vị Tỳ-kheo kham lãnh đạo vô-thượng bồ-đề, Ngài bèn gom ba thừa qui vào
Phật-thừa.
Đối với các pháp-môn tu-trì, hàng
nhị thừa phải trải qua mười kiếp A-tăng-kỳ mới thành Phật. Còn đối với
Đại-thừa, ít nhất cũng phải ba kiếp A-tăng-kỳ. Như vậy vấn đề thành Phật không
pháp môn nào tu lẹ cho bằng pháp môn niệm Phật. Người được vãng sanh không cần
phải trải qua nhiều kiếp A-tăng-kỳ. Tại sao vậy? Bởi vì chúng sanh tại nước
Cực-lạc, do nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà, ai ai cũng có sáu phép thần thông.
Chúng-sinh tại đây dùng phép thần thông đi khắp mười phương Phật để cúng dường,
nghe Pháp, thành ra người nào cũng mau thành Phật. Hơn nữa tại Tây-phương Cực-lạc
quốc, chúng-sinh không cần bận tâm đến vấn đề ăn, mặc ở. Cái gì cũng do thần
thông của Đức Phật A-Di-Đà hóa hiện. Muốn ăn cái chi, tự nhiên đồ ăn hóa hiện
ra trong chén dĩa bằng thất-bảo. Sau khi ăn, không cần dọn rửa, tự nhiên chén
dĩa biến mất.
Sở dĩ chúng sinh tại Tây phương mau
thành Phật là vì muôn sự muôn vật cần dùng không phải lo nghĩ. Tâm trí rảnh
rang, lại thêm được làm bạn với các vị Đại-Bồ-Tát để tu học, do đó mà quả Phật
chóng thành hơn các thế giới khác.
Theo các pháp môn, người tu hành
phải dứt hết phiền não, nhiễm ô, dứt hết nghiệp quả tộI chướng mới được giải
thoát, chứng quả Niết-bàn. Trái lại, pháp môn niệm Phật còn nghiệp quả mà cũng
được vãng sinh. Trong kinh Phật gọi là ỏđới nghiệp vãng sinhõ. Đới nghiệp vãng
sinh nghĩa là người tu hành còn mang nghiệp quả chưa dứt khoát trọn vẹn mà cũng
được vãng sinh. Chẳng khác nào như hòn đá tự nó lướt qua bể cả không được,
nhưng nếu có thuyền bè chở qua biển, dù bao nhiêu hòn đá cũng vượt bể khơi được
như thường.
Cái hay của pháp môn niệm Phật là
bất luận già, trẻ, bé, lớn, kẻ ngu người trí gì cũng đều tu được cả. Bởi pháp
môn niệm Phật rất dễ tu, dễ chứng, dễ thành nên mười người niệm Phật được vãng
sinh hết chín, còn các pháp môn khác mười người tu chỉ chứng được một hai người
mà thôi.
Pháp môn niệm Phật sở dĩ mệnh danh
là pháp môn tu tắt vì pháp môn này mau thành công hơn các pháp môn khác. Đời
mạt pháp nếu chúng ta không tu theo pháp môn niệm Phật thì không có pháp môn
nào tu cho kịp hội Long Hoa. Vậy chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không mau mau
tu theo pháp môn niệm Phật. Nếu bỏ lỡ dịp này, sợ e thân này sau khi tan rã,
chừng đó có muốn tu hành cũng không còn kịp để mà tu. Sách Phật có nói rằng:
nhơn thân nan đắc, nghĩa là thân này khó được, đã được thân này mà không lo
liệu tu hành cho sớm, có phải là uổng một kiếp sanh ra làm người chăng?
Nguyên Nhân Nào
Phật Giảng Pháp Môn Niệm Phật
Trong kinh Đại Bổn Di Đà có nói :
Một ngày kia, nơi pháp tọa, dung nhan của Đức Thế Tôn hiên ra nhan sắc một cách
phi thường. A-Nan là thị giả của Phật thấy vậy mới thưa rằng:
Bạch Đức Thế Tôn: Đệ tử đã từng theo
hầu Phật lâu năm, đệ tử chưa lần nào thấy dung nhan của Đức Thế Tôn khác lạ như
ngày hôm nay. Chẳng biết nguyên nhân nào sắc mặt của Đức Thế Tôn hiện ra như
vậy, xin Đức Thế Tôn vì chúng đệ tử mà khai thị để hiểu rõ lý do.
Này A-Nan! Hay thay, quí hóa thay
lời hỏi của ngươi. Dù cho có người nào đó đem hết năng lực ra cúng dường tất cả
các bậc Thinh-Văn, Duyên-Giác trong một cõi thiên hạ và bố thí cho hết thảy cõi
Trời, cõi người cùng các loài bò, bay, máy, cựa, trải đến kiếp nọ sang kiếp
kia, cũng không thể nào bì kịp cái công đức cái câu hỏi của ngươi xấp đến trăm
ngàn vạn ức phần. Bởi vì do câu hỏi của ngươi, tất cả chư Thiên và vua chúa
trong nhân gian cho đến những loài bò, bay, máy, cựa cũng nhờ câu hỏi của ngươi
mà được độ cho thoát vòng luân hồi sanh tử khổ ải.
Này A-Nan! Ta có một pháp môn tu
tắt, khó mà nói ra quá, bởi vì pháp môn này đòi hỏi người nghe phải có đức tin
một cách quả quyết mới có thể tu trì được. Trái lại, nếu thiếu đức tin, long
còn do dự thì khó mà thành công đối với pháp môn này.
Trên đây là lý do khởi nguyên Đức
Thế Tôn giảng nói pháp môn niệm Phật. Thực vậy, dù là pháp môn nào đi nữa cũng
phải đòi hỏi hành giả phải có đức tin thật kiên cố mới mong thành công được.
Theo lời Đức Thế Tôn nói với A-Nan, thì pháp môn này có thể độ được loài côn
trùng nữa nhưng vì chúng ta là thai phàm mắt thịt, không thấy được loài côn
trùng được độ bằng cách nào. Riêng đối với loài chim, loài sấu, ai có xem sự
tích vãng sanh đều thấy rõ. Loài sấu khi tu hành, chúng không còn lội đi chỗ
này chỗ nọ để săn thịt mà sống, chúng nó trầm sâu dưới đáy sông, nhiều khi chỗ
đó thành cồn thành bãi mà chúng vẫn kiên trì nằm mãi một chỗ. Còn như loài chim
nhờ chủ nhà dạy cho niệm Phật, chúng nhái theo, đến khi chết chủ đem chôn, một
ít lâu chỗ chôn xác chim mọc lên một đóa hoa sen. Chủ nhà thấy vậy đào lên thấy
hoa sen từ trong mỏ con chim mọc ra. Chủ nhà biết rằng con chim đã được vãng
sanh tịnh độ. Hoa sen là tượng trưng cho pháp môn niệm Phật, người vãng sanh
được hóa thân trong liên hoa, vì vậy Tịnh độ tông cũng gọi là Liên tông. Hoa
sen là biểu hiện của pháp môn niệm Phật vì đó mà chủ nhà quyết đoán rằng: Con
chim của ông ta nuôi, được vãng sanh tịnh độ.õõ
Nhiều sự tích vãng sanh rất ly kỳ, xin
xem phía sau sẽ thấy. Nhứt là các sự tích vãng sanh, trong đó có kể sự tích đời
nay để làm bằng cớ, chẳng phải hoàn toàn kể chuyện đời xưa, nên không có gì mà
khó tin.
Sự Tích Đức Phật A-Di-Đà
Kinh Đại Bổn Di-Đà nói: Không biết
bao nhiêu kiếp trước, có ông Phật ban sơ ra đời là Thế Tự Tại Vương Phật đi dạy
độ người hướng Tây nhằm nước Đại Quốc, ông vua Đại Quốc cũng đến nghe giảng,
tỉnh ngộ mộ đạo. Vua giao ngôi cho đông cung cai trị, theo thầy tu hành. Thầy
đặt pháp danh là Pháp Tạng. Khi ấy ông Pháp Tạng bạch với thầy mình nguyện bốn
mươi tám điều độ tận chúng sanh mà đền ơn thầy. Ngài tu hành tấn tới thành bậc
Bồ Tát. Trong thời kỳ tu luyện ngài làm phước, thông hiểu nghe thấy biết hết
việc thế gian. Ngài nhập vô thai theo các loài người, loài vật độ chúng nó tu
luyện cho thành mà rước hồn về Tây phương cho trọn lời thề nguyện cao cả.
Tuy đã thành Phật mà vẫn giữ hạnh Bồ
Tát, chẳng hưởng thanh nhàn, không nài cực khổ. Trải qua mười triệu kiếp, nhập
thai độ đủ các loài người và vật các nước khác, đem hồn về Tây phương nhập vô
bông sen (liên hoa hóa thân như Na Tra) chúng sanh tại nước Cực lạc không đầu
thai nữa và cũng không chết mà cấp dưỡng vì biến hóa y phục phẩm thực mà bảo
dưỡng làm âm nhạc nghe cho vui. Hóa cung đền, đồ cần dùng thượng hang cho người
ở nước mình vừa ý, vui lòng mà tu luyện cho lên chức Phật. Phụ nữ tu hành cũng
cho liên hoa hóa thân trai. Từ đấy đặt tên là nước Cực-lạc nghĩa là rất vui.
Sau rước nhiều hồn người và vật tu thành đem về Cực lạc mà nuôi nên xưng một
hiệu nữa là nước An-dưỡng (nghĩa là nuôi cho an lòng). Đủ lời nguyện-y bốn mươi
tám điều, ngài mới chịu thành Phật ở cõi Cực lạc, cứ lo tiếp dẫn chúng sanh
niệm danh hiệu mà theo phép, thời lâm chung đi tiếp dẫn về Cực lạc cho liên hoa
hóa thân nuôi dạy tu luyện tham thiền cho thành Phật. Vì cớ rước hồn người tu,
nên ngài xưng Tiếp Dẫn Đạo Sư.
Tại sao ngài xưng hiệu A-Di-Đà? Kinh
Đại Bổn và Tiểu Bổn giải: bởi hào quang Phật chiếu khắp mười phương, sống lâu
không biết ngần nào, người trong nước cũng vậy và phước đức lớn nên xưng hiệu
A-Di-Đà. “A” là sống lâu. “Di” là sáng lòa. “Đà” là phước đức. Ngụ ý là Phật
bất tử, hào quang sáng lòa, phước đức đứng trên bực.
Thế Giới Cực Lạc
Kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn Di Đà nói:
Đức Phật Thích Ca nói với ông Xá Lợi Phất rằng: Từ đây đi qua phương Tây cách
mười muôn ức cõi Phật, có nước Cực lạc, Đức Phật nước ấy hiệu là A-Di-Đà đương
giảng dạy cho chư Bồ Tát, Duyên Giác và Thinh Văn tu theo tịnh độ.
Tại nước Cực lạc, những nhà cửa đều
dùng bảy món báu làm ra, tốt hơn chỗ ở của Thiên Đế cõi trời gấp trăm lần. Dân
nơi đây muốn một món chi thì có món ấy hiện tới. Suốt ngày nghe âm nhạc vang
rền khắp đó đây. Duy khác một điều, ai gắng công tu nhiều thì được lâu đài cao
lớn, ai tu ít thì nhà cửa không được cao lớn nhưng không thiếu tiện nghi.
Khắp nơi nơi có ao suối và có một
hai món báu nơi ấy. Vàng thì nhiều như cát, còn bạc thì ở dưới đáy nước lấp
lánh trông rất đẹp. Ao thủy tinh thì quanh ao là cát báu, dưới đáy ao có lưu ly
phản chiếu. Nước trong ao thì quí báu vô cùng; uống vào được hưởng tám điều quí
(bát công đức) 1.- Trong sạch. 2.- Mát. 3.- Ngon ngọt. 4.- Thơm nhẹ. 5.- Thông
trơn cổ. 6.- Khỏe. 7.- Hết khát khỏi đói. 8.- Giúp cho lục căn được thanh
khiết. Nước này tánh chất cao quí chẳng khác chi nước Cam lộ vậy.
Lại có hàng trăm thứ kỳ hoa dị thảo,
mỗi nhành có muôn ngàn hoa lá đủ sắc thắm tươi xen nhau trổ tỏa mùi hương thơm
làm cho lòng người lâng lâng khỏe khoắn.
Đường đi dựa mé sông, hồ ao đều có
cây Chiên đàn thơm ngát. Bông và trái kiết tường thơm ngào ngạt. Trong hồ ao có
bông sen năm sắc khoe màu. Lại có cây có bảy thứ báu, mỗi cây đều có một hay
hai món báu. Cây nào toàn một món báu thời rễ gốc, nhành lá, bông và trái đều
một màu. Cây nào hai món báu hiệp lại thì có hai sắc bông trái. Những cây ấy
mọc ngay hàng và giao cành cùng nhau, bông trái cùng đối diện nhau. Khắp cùng
cả nước đều một cảnh ấy xem đẹp vô ngần.
Dưới đất nơi nào cũng có vàng, ngày
đêm giờ nào cũng có bông Thiên mạn, bông Đà la rơi xuống như mưa, mùi thơm
không thể tả mỗi lần mưa hoa, ngập đầy cả mặt đất, chân đi êm như nệm gấm. Tuần
tự trước sau hoa ấy héo dần rồi biến mất, mặt đất trở lại sạch sẽ. Ngày đêm có
sáu lần cảnh tượng ấy. Người trong nước sáng ra lượm hai thứ bông đó (Thiên mạn
và Đà la) đem cho dân nghèo đói ở các nước khác ăn thay cơm vì mùi thơm ngon và
có hiệu lực làm cho hết đói. Sau khi đi thí hoa rồi, về nước Cực lạc độ cơm giờ
ngọ.
Tới giờ ăn cơm ai cũng dùng chén bát
thường bằng đồ thất bảo. Muốn ăn món chi đều hiện đủ cả. Sau khi dùng xong chén
bát tự nhiên biến mất khỏi rửa. Tới bữa khác muốn dùng món chi cũng có y như
hôm trước.
Cảnh sắc của nước Cực lạc thực là
thoát tục. Nơi đây mỗi khi có gió thì bảy vòng cây rào ngoài (cây báu lưới báu)
đều khua nhau nghe như muôn ngàn tiếng nhạc hòa lẫn rất êm tai. Vì thế mà khởi
sanh tánh thiện thường vui hay nghĩ đến niệm Phật, ham nghe pháp.
Ở Cực lạc có riêng ao báu lớn để
tắm. Ai xuống tắm muốn nước sâu, cạn, nóng, lạnh độ nào tùy theo ý muốn. Tắm
xong trên mình tỏa ra hương thơm, nghe tiếng nhạc trỗi du dương, xem hoa khoe
màu trước gió. Nếu ai không muốn nghe, tiếng nhạc tự nhiên không vào tai.
Tóm lại, ai muốn điều gì cũng được
toại nguyện cả.
Nước Cực lạc có nhiều thứ chim sắc
khác nhau; Hạc trắng, chim công, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng, Tăng già, Cọng mang.
Bảy thứ ấy thứ ấy nhiều vô kể. Ngày đêm kêu hót tiếng giống như ngâm kệ, giảng
kinh. Tiếng thanh lảnh lót, ai nghe cũng nhớ mà niệm Phật. Các chim ấy do Phật
A Di Đà dùng thần thông hóa hiện để nhắc nhở người nước ấy tinh tấn, phát tâm
tu niệm chớ không phải là chim thật.
Trong nước mọi người đều hiền lành.
Sống đời đời, kiếp kiếp ở xa bao nhiêu cũng thấy, nói chuyện đều nghe. Mỗi
người đều không đau ốm bệnh hoạn. Có sắc diện xinh đẹp, không xấu như hồi còn
xác phàm. Người thì khỏe mạnh thông thái, cả nước không ai ngu dốt. Trong lòng
thường tưởng việc đạo đức, nói ra những điều chánh lý nên dễ yêu thương nhau,
không ai ganh ghét, đều biết tiền căn muôn kiếp, lại biết việc quá khứ, hiện
tại và vị lai ở thế gian. Trong lòng người nào tính chuyện chi ta đều biết
trước. lại biết kẻ bị đọa chừng nào đầu thai làm người. Người chừng nào đắc quả
vị Phật. Sở dĩ biết trước được như vậy là vì người nước Cực lạc đều có lục
thông
Niệm Di Đà Không Xao Lãng,
Chắc Chắn Được Vãng Sanh
Kinh Tiểu Bổn có nói: ỏõ Nếu có trai
lành gái tín nào nghe danh hiệu Đức Phật A Di Đà tin tưởng mà niệm danh hiệu
Ngài từ một nhẫn đến bảy ngày đêm, lòng không xao lãng (tức là không lo tính
việc khác) thì Đức Phật A Di Đà sẽ hiển ứng chứng minh. Lúc lâm chung vẫn niệm
danh hiệu ngài không mê muội, chắc chắn Phật cùng Thánh chúng đến tiếp độ về
Cực lạc chẳng sai (về nước ấy được liên hoa hóa thân không còn sanh tử nữa).
Chúng tôi xin dẫn chứng câu chuyện
sau đây: Chàng Oánh-Khoa, một người chỉ biết đến rượu thịt, không kể đến đạo
đức, Phật pháp là gì. Vậy mà sau khi xem truyện vãng sanh chỉ có một lần liền
ngộ, bỏ cả rượu thịt, phát tâm niệm Phật. Chàng niệm rất chí thành. Vỏn vẹn
được bảy ngày đêm, tự nhiên thấy Phật hiện ra trước mặt nói rằng: Ngươi còn
sống mười năm nữa phải tinh cần niệm Phật, ta sẽ đến tiếp độ ngươi. Nghe xong
chàng nói: Cõi ta bà là cõi ác trược, dễ mất chánh niệm, con xin nguyện sớm
sanh tịnh độ giúp việc Thánh chúng. Phật bảo: Ngươi chí thành, ba ngày nữa ta
sẽ đến độ ngươi. Quả thật ba ngày sau chàng được vãng sanh.
Đức Thế Tôn Dặn Dò Các Môn Đồ Sau Cùng
Kinh Tiểu Bổn Di Đà nói: Đức Phật
Thích Ca nói với ông Xá Lợi Phất rằng: Nếu có ai đã phát nguyện rồi, hoặc mới
phát nguyện ngày nay, hay sẽ lập nguyện (tu Tịnh độ), khi lâm chung đều được
vãng sanh Cực lạc. Nếu có ai tu hành tấn tới, về Cực lạc sẽ thành ba phẩm Phật
nhỏ: Tôn chứng, Thinh văn và Thượng thiện Nhơn. Này Xá Lợi Phất! Các ngươi hãy
tin lời ta mà tu Tịnh độ rất dễ thành Phật. Các chư Phật khác cũng đều nói như
ta vậy. Người tu tịnh độ, bất cứ tại gia hay xuất gia gì cũng đều được về nước
Cực lạc cả.
Người ở trong cõi trần như bị vây
trong thành, mau kiếm ngõ ra mới thoát khỏi, hầu về tới quê nhà. Người tu theo
Tịnh độ cũng vậy, cầu cho được giải thoát khỏi bể khổ luân hồi.
Chính vì lòng từ bi thương xót chúng
sanh nên Phật mới chỉ dạy pháp tu Tịnh độ là con đường tắt duy nhứt mau đến chỗ
giải thoát, ngỏ hầu tiến đến quả vị Phật.
Sơ Lược Các Sự Tích Vãng Sanh
Từ xưa tới nay, muôn ngàn người ăn ở
hiền lành, phần đông trước khi chết đều bị mê muội, không ai biết trước ngày
giờ chết để tắm gội sạch sẽ, tỉnh táo niệm Phật hoặc biết có mùi thơm hay nghe
tiếng nhạc trên không. Duy chỉ có những người tu Tịnh độ khi mãn phần có những
điều dị thường như trên thì biết chắc hồn về Cực lạc.
Nay tôi xin kể lại sơ lược một vài
sự tích vãng sanh xưa và nay tại nước Tàu và Việt Nam ta để quí vị Đạo Tâm rộng
đường suy xét hầu tu theo Tịnh độ. Chẳng những người tu có kết quả mà loài thú
biết niệm Phật cũng đặng vãng sanh nữa.
1.- Đời Đường bên Tàu, Cư sĩ Minh
Chiêm tuổi già mới tu Tịnh độ. Ông rất tinh tấn ngày đêm niệm Phật chẳng dứt.
Có kẻ nói: Ông tu muộn quá e không kịp vãng sanh. Ông Minh Chiêm nói: Niệm Phật
từ một tới mười câu còn thấy Di Đà, ta lo chi không đặng vãng sanh. Sau vì bị
bệnh nên ông vào chùa Hưng Thiên, lúc quá Ngọ, ông ngồi chắp tay xây mặt qua
hướng Tây mà niệm Phật. Giây lâu ông nói rằng: Phật với Quan Âm, Thế Chí đều
đến rước ta. Nói xong bái rồi hết thở.
2.- Đời Tống, ba cha con của Ngụy
thế Tử với một quận chúa đều tu theo Tịnh độ, trừ ra phu nhân là ăn mặn. Sau
quận chúa chết yểu: sau khi liệm xong, quàn lại bảy ngày bổng nghe tiếng la từ
trong quan tài “Ngộp lắm” nội nhà mừng quá cạy nắp quan tài ra, cùng lúc ấy
tiếng nhạc trên không trung trổi lên. Quận chúa bước ra thưa với mẹ rằng: Thưa
mẹ, nước Cực lạc rất vui, trong ao Thất Bửu có nhiều bông sen búp lớn gần bằng
bánh xe, ngoài cánh sen, cái thì nêu tên cha, hai bông nọ còn có tên hai anh
nữa, con kiếm cùng không có tên mẹ nên con xin phép Đức Phật Di Đà về đây báo
tin và khuyên mẹ mau tu Tịnh độ thì sẽ có một bông sen mọc ra dành cho mẹ cũng
như của cha, của hai anh và của con vậy. Phật sẽ đem tòa sen ấy rước mẹ về cho
Liên hoa hóa thân, ở cung đền rất cao. Muốn mặc y phục gì thời có hiện tới.
Muốn ăn vật chi đều có món đó, đựng trong bát thất bảo hiện tới trước mặt, dùng
xong bát biến mất khỏi rửa. muốn nghe nhạc chi thì nhạc ấy vào tai, bằng không
muốn nghe thì nhạc liền dứt. Mỗi người đều có hào quang, muốn dùng một hương
nào có mùi hương nấy. Được dạo xem trăm thứ hoa thơm. Muốn ăn trái cây chi liền
hiện tới khỏi hái, Ngự tửu. Phong cảnh xinh đẹp hơn thế gian trăm bề. Vả lại
không có Nhật Nguyệt Tinh Tú, chỉ có hào quang sáng hơn ban ngày thập bội. Có
bảy thứ chim tốt lạ; có năm sắc lông, tiếng kêu êm ái như tiếng kệ kinh. Lại
mát mẻ như mùa xuân, không có mùa nực và mùa lạnh. Học đặng Lục thông, thành
bậc La Hán, đi dạo trên khắp thế gian.
Tòa sen bay lẹ như nháy mắt nên con
đi về đây mau tợ khảy móng tay đã tới. Việc ở Cực lạc khoái lạc mười phần kể
sao cho xiết. Xin mẹ ráng tu, sau lâm chung Phật rước về đó mà thấy đủ điều.
Con không dám trễ phép, cúi xin bái tạ cha mẹ con lên tòa sen về nước Cực lạc.
Quận chúa tạ xong rồi bước vô quan tài mà nhắm mắt. Mùi sen thơm ngát, hào
quang chiếu sáng xẹt về hướng Tây, tiếng nhạc trên không cũng trỗi lần về hướng
ấy.
Từ đấy phu nhân mới tinh tấn trường
chay, tu theo Tịnh độ niệm Phật hơn chồng con. Sau mỗi người lâm chung đều biết
ngày giờ trước. Đến ngày Liễu đạo, phu nhân ngồi day mặt về hướng Tây, niệm
Phật chưa đủ mười câu đã nghe tiếng nhạc trên không, thấy Phật rước mình đông
lắm. liền khi ấy, bà xuất hồn về cùng chư Phật. Bốn người lâm chung như vậy
thiệt cả nhà có phước, sống hưởng lộc, thác được vãng sanh.
3.- Đời Tống, Dương Kiệt ở Châu Vô
Vi, xưng hiệu Vô Vi Tử, thi đỗ sớm làm quan. Đi điểm tội nhân ở tỉnh Chiết
Giang, vì mộ đạo Phật nên học kỹ phép tham thiền, xem kinh nhiều lắm. Ông nói
với bạn rằng: ỏõChúng sanh nhiều người tối dạ, tham thiền không đúng uổng công.
Trừ ra tu Tịnh độ dễ hiểu, dễ tu. Dầu bao nhiêu kẻ dốt, tu cũng được vãng
sanh.õõ Người có viết Thiên Thai Thập Nghị Luận và Tịnh Độ Quyết Nghi Tập;
giảng rõ phép tu tịnh độ. Tuổi già, ông vẽ tượng Di Đà cao 16 thước mộc thờ
lạy. Đến lâm chung, Phật định ngày rước hồn, ngài ngồi mà viên tịch.
4.- Đời Tùy, có ông Tống Mãn ở Phủ
Thường Châu, niệm Phật một câu; để một hạt đău đen vô hộc. Lâu năm lường được
cỡ 15 giạ. Khai Hoàng niên hiệu thứ tám, tháng chín đãi trai tăng, các sãi ăn
rồi ngồi niệm Phật đến hết thở. Người ta thấy trên trời sa xuống mùi hương thơm
một cách lạ lùng. Có tiếng nhạc trời trên không lần qua hướng Tây hồi lâu mới
dứt.
5.- Đời Đường, có ông Trịnh mục
Khanh, và cả nhà đều niệm Phật. Niên hiệu Khai ngươn, ông bị bệnh nặng, có
người khuyên trở đũa (ăn mặn), ông không chịu. Tay bưng lư hương niệm Phật cầu
vãng sanh Tịnh độ. Xảy ngửi mùi thấy hương thơm nức. Người ông liền xuất hồn.
Cậu là Tô Đỉnh, làm chức thượng thư, chiêm bao thấy ông ngồi trên bông sen lớn.
6.- Đời Minh Liên, Hoa thái Công là
người nước Việt, thiệt thà ngày đêm niệm Phật chẳng ngớt. Đến lúc mãn phần liệm
vô quan tài chưa kịp đem chôn, bổng nhiên một cánh bông sen mọc trên quan tài,
xóm giềng khen ngợi, mới tin ông không biết chữ mà tu tịnh độ cũng được vãng
sanh.
7.- Ông Trịnh Sanh là bà con bên vợ
của ông Châu an Sĩ (Tác giả quyển Tây Qui Trực Chỉ), tuổi nhỏ học hay, thói
quen hay kiêu ngạo, không tin Phật cho lắm. Ngày kia có bệnh, thấy quỉ đến, cao
lớn dị thường, xưng là oan cừu đời trước. Trịnh Sanh sợ điếng mới niệm Phật hẳn
hòi, cầu vãng sanh cực lạc. Hễ niệm Phật thường thì thôi, nếu hở ra thấy quỉ
nên Trịnh Sanh ráng niệm tới mòn hơi. Người nhà thấy không biết cái gì mà mờ mờ
như mây khói bay lần qua hướng Tây. Tuy không thấy điềm biết trước và không có
mùi hương cùng Thiên nhạc, song cứ lý chắc đặng vãng sanh bởi vì ông ít khi niệm
Phật nên không đặng linh hiển đó thôi.
8.- Tô kỳ Sơn tự Khởi Phụng, ở Côn
Sơn, tuổi thơ quyết chí tham thiền, tìm nhiều thầy thông thái, nên nghe rành
Tịnh độ không dám sát sanh. Tuổi già tu tịnh độ theo bốn thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu
tụng nhựt khóa không lơi. Mùa đông trời lạnh ôm mền mà ngồi.
Khương Hy năm Kỷ Mão, ngày 26 tháng
11 giờ Ngọ, ông nói vớI cháu tên Điện Phương rằng: Ông tu Tịnh độ đã thành
công, Phật mach bảo giờ vãng sanh đã ba bữa trước, ông không muốn khoe cho
chúng biết đêm nay tới giờ Tý ông sẽ được vãng sanh. Lúc canh hai ông mặc áo
dài ngồi trước bàn hương án bảo người nhà niệm Phật tiếp với mình, qua canh ba
tiếng ông niệm Phật nhỏ dần cho tới hết thở.
9.- Ngô kính Sơn ở cùng xóm với Tô
kỳ Sơn. Tuổi ông đã bảy mươi nhưng ông lại muốn học thêm phép tham thiền. Tô
Điện Phương nói với ông: Tuổi ông đã già rồi ông nên tu tịnh độ cho mau mà chắc
vãng sanh hơn tham thiền. Ông vâng lời niệm Phật ngày đêm chẳng dứt. Thời gian
chưa đầy một năm, bà con ông Ngô kính Sơn đến nói với ông Tô điện Phương hay
rằng: Hồi sớm mai này Ngô kính Sơn thấy ông hộ pháp hiện hình, tiếp dẫn vãng
sanh nên dặn tôi coi chừng ông tắt hơi rồi thì qua cho ông hay mà tạ ơn khi
trước đã khuyên ông tu tịnh độ. Dặn rồi ông ngồi day mặt qua hướng Tây niệm
Phật đến hết thở.
10.- Đời Đường, thầy Duy Ngạn tu
Tịnh độ rất siêng năng. Thấy Quan Âm, Thế Chí hiện trên không thầy mừng muốn
họa chân dung hai vị Bồ Tát, liền khi ấy hai vị hiện đến xin vẽ rồi biến mất.
Thầy Duy Ngạn nói với các đệ tử
rằng: Ta bữa nay được vãng sanh, đứa nào muốn theo ta cho có bạn? Có một trò
nhỏ xin theo, thầy bảo về cho cha mẹ hay, nếu bằng lòng thì lạy tạ rồi đi cho
mau. Cha mẹ đồng tử tưởng nó nói chơi nên cười mà bảo rằng: Tự ý con theo thầy
về Tây phương đặng thì cha mẹ cầu lắm. Đồng tử tắm gội thay áo lại ngồi gần
thầy niệm Phật mới có mười câu rồi hết thở, chết ngồi. Cha mẹ sững sờ hết nói
chi được. Thầy Duy Ngạn cũng lấy làm lạ, đặt bài kệ khen đồng tử rồi ngồi tịch
theo.
11.- Họ Ngô ở tỉnh Chiết Giang, ông
cha đều là tú tài dưới triều Thanh, Thuận Trị năm đầu. Binh tới vây thành, cha
mẹ ông bà đều chạy trốn hết. Ông họ Ngô ấy bị bắt sống dâng cho Trương tướng
quân thâu làm lính hầu mới mười ba tuổi. Nghĩ rằng mình con nhà học trò, nay
làm hèn hạ cũng tội báo tiền căn. Ông liền giác ngộ xin vào chùa lạy Phật ăn
chay trường. Mỗi đêm ông tụng một cuốn kinh Kim Cang và niệm Phật. đến năm 16
tuổi, Trương tướng quân đem bạc phát lương cho lính, họ Ngô nhín tiền lương của
mình mà thỉnh tượng Đức Phật Di Đà rồi mua đèn hương về cúng lạy niệm Phật và
tụng kinh Di Đà. đến năm Đinh Dậu ngày 22 tháng 10, họ Ngô bẩm với Trương tướng
quân rằng: Tôi muốn về Tây phươngõõ. Tướng quân mắng rằng nói láo. Bữa sau họ
Ngô đến dinh quan đề đốc xin nghỉ phép, Đề đốc giận giao cho tướng quân đánh đòn
15 roi mà ông không hề than; lại từ giã các quan đinh rằng: ỏõMùng 1 tháng 11
tôi sẽ về Tây phương.õõ Đến ngày ấy ông tắm gội sạch sẽ, lúc canh năm mặc đồ
xong thắp hương đèn lạy Phật rồi tạ Trương tướng quân trong thuyền đặng về theo
Phật. Trương tướng quân tức giận sai lính đi tới chỗ chất củi làm giàn thiêu.
Họ Ngô lạy hướng Tây ba lạy rồi lên ngồi trên đống chà bổi niệm Phật rồi ngâm
một bài kệ, liền hả miệng ra phun lửa thiêu mình. Quân lính báo tin, quan tướng
các dinh đều tựu lại đưa. Trương tướng quân kính phục, từ đấy nội nhà ăn chay,
tu Tịnh độ theo cách họ Ngô giảng khi trước.
12.- Ông Thẩm thừa Tiên ở Côn Sơn,
tại chợ Tuyên Hóa làm nghề thợ mộc. trên bảy mươi tuổi ăn trường chay niệm Phật
tu tịnh độ. Tuy tay không hở đục và rìu búa mà niệm Phật chẳng ngừng. Đến năm
Khương Hy thứ mười, tháng ba ông biết ngày Phật rước. Trước ba bữa giã từ bà
con bạn hữu và nói ngày giờ mình vãng sanh. Từ giã rồi sao không thấy rước khác
nữa. Ông nói với con dâu rằng: ỏõMai là rằm cha sẽ vãng sanh Tây phươngõõ. Rạng
ngày gội tắm thay áo, ngồi xây mặt về hướng Tây, trước mặt để ghế thắp hương
rồi niệm Phật. Ban đầu niệm lớn, dần dần nhỏ đến khi mòn hơi.
13.- Đời Đường, vợ của ông Ôn tịnh
Văn ở Tinh Châu, bệnh nằm liệt giường đã lâu. Chồng khuyên niệm Phật, vợ vâng
lời nằm niệm cả năm. Ngày kia chiêm bao tỉnh giấc thưa với chồng rằng: ỏõ thiếp
thấy Phật mach bảo tháng sau sẽ vãng sanhõõ, và dặn cha mẹ chồng ráng niệm Phật
sau chắc vãng sanh như mình. Tới kỳ ngồi dậy niệm Phật bỏ xác.
14.- Đời Tống có Cung Thị ở huyện
Tiền Đường, ngày đêm niệm Phật tụng kinh Di Đà. Sau có bịnh rước thầy giảng
kinh. Giảng chưa rồi, bà ngồi chắp tay hết thở. Có người thiếp già cũng niệm
Phật không ngớt. Đêm nọ Cung Thị về báo mộng, mach bảo rằng: ỏõ Ta đã về Tây
phương Cực lạc, bảy ngày nữa người cũng vãng sanhõõ. Đến ngày ấy, bà thiếp đang
mạnh mà chết ngồi.
15.- Đời Tống, có bà Trương thị Nữ ở
quận Phần Dương, bệnh đui cặp mắt. gặp người ta khuyên niệm Phật bà liền nghe
theo. Ba năm sau mắt bà sáng lại như cũ. Sau thấy Phật và Bồ Tát đem phướng và
Bảo Cái đến rước, liền ngồi mà mãn phần.
16.- Trào Thanh có bà Hạo Thi ở
huyện Ty Lăng, là vợ của ông Phan hướng Cao, cũng là cư sĩ. Vợ chồng đồng tu
Tịnh độ, tụng kinh Kim Cang. Hôm mai tụng nhật khóa niệm Phật y phép.. .Khương
Hy năm Canh Thân tháng 7 có bệnh, biết trước ngày 27 giờ Ngọ tạ thế. Bà nói
trước cho con cháu hay. Đến kỳ, con đến mời các đạo hữu đến niệm Phật tiếp và
ngồi niệm Phật đến mãn phần.
Những Kẻ Dữ Cũng Được Vãng Sanh
17.- Đời Đường, Trương thiện Hòa làm
hang bò, trâu. Lúc lâm chung thấy trâu bò đến cả bầy nói tiếng người đòi thường
mạng. Ông sợ hối vợ rước sãi đến tụng kinh sám hối. Sãi nói: Kinh Thập Lục Quán
có nói: Lâm chung thấy quỷ dữ, nếu lòng thành niệm Phật cũng đặng vãng sanh.
Trương thiện Hòa nói: Ma quỉ tới nhiều lắm, đợi lấy lư hương chắc không kịp.
Tay mặt cầm đèn, tay trái thắp hương, xây mặt về hướng Tây rồi niệm Phật, chưa
đủ mười câu vùng nói lớn: Phật đến rước ta rồi, nói rồi ông tắt thở chết ngồi.
18.- Đời Đường, Trương chung Quỳ hay
làm thịt gà và bán. Ngày kia bịnh nặng thấy người mặc áo đỏ lùa bầy gà đến mổ
thịt và mổ cặp mắt ông chảy máu, mang bịnh rên la. Người nhà liền rước sãi đến
tụng kinh Di Đà, sãi bảo y niệm Phật mãi. Tới chừng nghe mùi thơm một cách lạ,
Trương chung Quỳ hết la nhức và chết một cách êm nhẹ.
Chung Quỳ và Thiện Hòa đang bị oan
hồn theo đòi nợ, nhờ chí thành niệm Phật, Đức A Di Đà cảm động cho các oan hồn
trâu bò kia đầu thai hưởng phước, chúng nó mới buông tha. Xem hai sự tích này,
các ông già bà cả có lỡ sát sanh trâu bò gà vịt rồi thì đừng lo sợ tu không
kịp. Quý vị còn trẻ sợ không tin. Nhớ tin theo phương pháp đây thì tu chắc chắn
có quả vị. Hai người làm hàng thuở nay không biết sợ tội chút nào, đến lâm
chung thấy oan hồn địa ngục trước mắt kinh hãi. May có phước gặp sãi giải rành
niệm Phật trối chết. Giây phút địa ngục hóa ra bông sen. Bởi Đức Phật Di Đà có
nguyện: Ai lâm chung, niệm Phật mười câu ngài sẽ rước về Tây phươngõõ. Huống
chi quí vị gặp kinh này hãy mau ăn năn, lập nguyện, tụng niệm nhiều ngày, lo
chi Phật không rước.
29.- Sãi Huýnh Kha đã xuất gia mà
còn ăn mặn, nhậu rượu. sau khi ăn năn nghĩ rằng mình đã làm sãi mà như vậy, lúc
lâm chung đọa địa ngục làm sao. Ông liền cậy các sãi đem chuyện vãng sanh đọc
cho mà nghe. Ông ngồi xây mặt về hướng Tây nghe đọc hết các sự tích rồi đứng
dậy lạy một lạy và niệm Phật. Khi đọc hết, Huýnh Kha liền niệm Phật suốt ba
ngày đêm, bỏ cơm, ngủ gục chiêm bao thấy Phật bảo rằng: ỏõSố ngươi còn sống
mười năm nữa phải ráng mà tuõõ. Vía ông lạy Phật bạch rằng: Cõi thế gian độc ác
con tu sao nổi mười năm, xin Phật rước con về Cực lạc rồi tu và hầu hạ các Bồ
Tát. Phật nói: Ngươi tình nguyện như vậy, thời niệm Phật ba ngày nữa ta sẽ qua
rước hồn. Huýnh Kha nhịn ăn luôn, niệm Phật cho đủ ba ngày đêm và cậy các sãi
tụng kinh Di Đà đưa mình. Một lát nói lớn rằng: Phật với các Bồ Tát đã đến rước
ta. Nói rồi quỳ lạy xong xây mặt về hướng Tây niệm Phật mà chết.
20.- Đời Tống, có Trọng Minh ở huyện
Sơn Âm chùa Báo Ân, không giữ ngũ giới, lúc bịnh nói với bạn tu là Đạo Ninh
rằng: ỏõ Nay ta loạn tâm, thuốc chi trị được? Đạo Ninh nói: Cứ niệm Phật mãi.
Trọng Minh y lời niệm Phật ròng bảy ngày hơi đã đuối quá, Đạo Ninh bảo hãy
tưởng tượng Đức Phật Di Đà trong tâm. Trọng Minh y lời tưởng tượng mãi thấy hai
vị Bồ Tát và Phật Di Đà rồi nhắm mắt mà chết ngồi.
Người dữ cầu vãng sanh niệm Phật
phải bằng trăm phần người hiền. Nếu lo ra xao lãng, tưởng việc khác, Phật không
rước ắt sa địa ngục. Xin quý vị Hòa thượng, Yết ma, Giáo thọ, Thủ tọa và bổn
đạo, ráng trường chay niệm Phật, tinh tấn tụng kinh Di Đà ít năm hoặc ít tháng
cho tới lâm chung, lo chi Đức Phật A Di Đà không rước về Tây phương, ngồi chín
phẩm sen vàng. (Niệm 30 vạn biến vãng sanh, chắc chắn thấy Phật).
Nhứt là những vị trường chay, những
vị tu lâu năm thường niệm Phật tụng kinh nhựt khóa thì công quả càng lớn lo chi
không được về Cực lạc, liên hoa hóa thân, ngồi trên chín phẩm tòa sen.
Sự Tích Vãng Sanh Ở Nước Việt Nam
21.- Ông Trần Phong Sắc tại chợ Vũng
Gù (bây giờ gọi là Long An). Ông trường chay lúc 10 tuổi và thờ Tam giáo, Nho,
Thích, Đạo. Vào khoảng năm 1920, ông làm giáo học dạy chữ Nho tại trường tỉnh
Long An. Ông xem kinh Đại tạng gần 30 năm mới gặp pháp môn Tịnh độ. Lúc đó ông
trên 50 tuổi và bắt đầu tu theo pháp môn này. Ông có viết quyển Lão Nhơn Đắc Độ
và dịch quyển Tây Quy Trực Chỉ của ông Châu an Sỹ. Cơn lâm chung, ông biết
trước ngày về Tây phương, do đó ông có làm bài kệ khuyên người tu Tịnh độ (xem
Tây Quy Trực Chỉ).
22.- Vào khoảng năm 1958, một cô
giáo ở chợ Lớn 19 tuổi, quy y với vị Hòa Thượng Thích Khánh Anh (về sau Hòa
thượng được làm pháp chủ hội Phật Giáo Tăng Già Nam Việt). Cô giáo được đặt
pháp danh là Diệu Tâm, cô ăn chay trường, nuôi mẹ góa, sớm chiều công phu niệm
Phật. Ngày 14 và 30 cô thường đến chùa lạy sám hối. Đến năm 21 tuổi bị bệnh cô
nhờ rước thầy của cô đến tụng niệm. Đến giờ lâm chung, cô bảo đỡ ngồi dậy vì
Quan Âm Bồ Tát đến rước. Lúc ấy hào quang sáng rực trên nóc nhà. Lối xóm tưởng
nhà cô giáo cháy, chạy tới chữa lửa.
23.- Ông chủ Thìn làm nghề trồng rẫy
ở An Hội quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Năm 1927 ông bắt đầu tu theo pháp môn Tịnh
độ. Đến năm 1930, ông biết trước ngày giờ quy Tây nên làm saün một cái bia ghi
ngày tháng như vầy: ỏõNgày 14 rạng mặt rằm tháng 2 năm 1930. Đồng thời ông ra
nghĩa địa chôn sẵn một cái lu, đến ngày lâm chung, ông tụng kinh niệm Phật
trước bàn Phật rồi đến nghĩa địa xuống lu ngồi niệm Phật lớn vài tiếng rồi tắt
thở.
24.- Năm 1890, có một ông thầy thuốc
ở tỉnh Gia Định. Ông thường hay làm phước, nhứt là thí thuốc. đi đâu ông cũng
mang một cái túi dùng để lượm miểng chai, và một cái chày để đóng những cây lồi
lên mặt đất làm cản trở lối đi. Năm sau cùng, ông tu theo pháp môn Tịnh độ. Ông
biết ngày giờ chết trước ba tháng. Ba ngày trước khi chết, ông ngồi xếp bằng và
niệm Phật trước bàn Phật. Mỗi ngày chỉ ăn vài chén cháo trắng. Đến 12 giờ ngày
cuối cùng, ông tắt thở.
Loài Vật Biết Nói Tiếng Người Đặng Vãng Sanh
25.- Đời Đường niên hiệu Trinh
Ngươn, tại quận Hà Đông có nàng Bùi Thị nuôi một con két lớn ( Tàu kêu Anh Võ).
Bởi biết nói tiếng như sao sáo, bắt chước niệm Phật. Thường quá giờ Ngọ thời
chẳng ăn. Rốt lại niệm Phật mười hơi mới chết. Chủ đốt thử coi, được mười mấy
hột Xá Lợi sáng ngời như hột châu chói mắt. Sãi Huệ Quang thấy vậy xây tháp
nhỏ, đựng những hột Xá Lợi vào hộp nhỏ để trong tháp gọi là tháp Anh Võ. Có
dựng bia khắc chữ thuật sự tích nó.
26.- Đời Đường, núi Huỳnh Nham, chùa
Chánh Đẳng, ông họ Quan có nuôi một con sao sáo, niệm Phật không ngừng. Ngày
kia con sáo chết đứng trong lồng. Chủ đào lổ chôn nó. Không bao lâu mọc lên một
nhánh bông sen đỏ sậm. Moi thử coi, gốc nhánh sen trong miệng nó (chắc là cái
lưỡi hóa sen).
27.- Huyện Đàm Châu, có người nuôi
một con cưỡng, nó thường niệm Phật. Khi nó chết, chủ lấy một hộp mỏng đựng mà
chôn. Sau cũng mọc lên một nhánh bông sen hường. Moi thử gốc sen, chính cái
lưỡi nó (thiệt thổ liên hoa).
Liên Trì đại sư nói: Người ta bây
giờ hay dạy con keo (Anh ca) với sáo niệm Phật chơi. Nó cũng niệm ít tiếng như
nhái chớ không niệm thường nên chẳng thấy con nào vãng sanh nữa! Ôi! Ví như
người tin mà niệm hết lòng, còn kẻ niệm cầm chừng lấy có nên cũng thời niệm
Phật có người chẳng đặng vãng sanh so với keo, sáo, cưỡng kia cũng thế.
TÍN-NGUYỆN-HẠNH
Pháp môn Tịnh độ lấy Tín, Nguyện,
Hạnh làm tông như cái đảnh có ba chân, thiếu một tất không đứng vững.
- TÍN là căn bản của người tu. Nếu còn
nghi thì hoa không nở.
Thứ nhứt: Phải tin chắc chắn rằng,
vì lòng từ bi, Đức Phât Thích Ca dạy cho chúng ta những lời trong kinh đều chân
thật. Lo cho mình không tu niệm, lo chi Phật Di Đà, Thích Ca nói gạt. Rất đỗi
phàm tục những người ngay thẳng còn không nói dối đặt chuyện gạt ai, huống chi
luật Phật cấm vọng ngữ, lẽ nào ngài gạt đời làm chi.
Thứ hai: Phải tin chắn chắn rằng:
Ngoài thế giới chúng ta vẫn sống đây, chắc chắn có thế giới Cực lạc, có nhiều
điều vui do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ.
Thứ ba: Phải tin chắc chắn rằng; ta
là phàm phu nhiều nghiệp chướng, không thể chỉ nương cậy vào sức mình để thoát
sanh tử ngay trong một kiếp này, phải nhờ Phật giúp.
Thứ tư: phải tin chắc chắn rằng: Đức
Phật A Di Đà có lời thệ nguyện rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu
Ngài, cầu nguyện về nước Ngài, khi chết chắc chắn sẽ được Ngài tiếp dẫn vãng
sanh Cực lạc.
b) NGUYỆN nghĩa là thệ nguyện. Tu tịnh
độ mà không dám nhứt tâm thệ nguyện cầu vãng sanh Tây phương Cực lạc thì khó mà
thành công. Nếu thệ nguyện một lòng một dạ không dời đổi chí nguyện vãng sanh
của mình mới bền vững.
Lòng thệ nguyện phải cho bền chặt.
Dù ai nói pháp nào hay, dù ai nói sẽ cho mình thành đạo tại thế, hoặc chứng
Niết Bàn hiện tiền, mình cũng không tin, không bỏ chí nguyện vãng sanh của
mình. Người có thệ nguyện là người có lập trường vững chắc, là người kiên tâm
Bồ Đề, là người dám thệ rằng dù nghèo giàu sang hèn, bệnh hoạn, tật nguyền chi
chi cũng không thay đổi chí hướng theo Phật Di Đà về nước Cực lạc.
Sức thệ nguyện càng lớn càng thâm
thì đạo tâm mới kiên cố.
Nguyện lìa cõi trần này sanh về Cực
lạc như tù nhân mong ra khỏi ngục, như người đi xa nhớ quê hương. Nếu chưa được
vãng sanh Tịnh độ, dù cho kiếp sau làm vua ở cõi trời cũng không thích vì còn
phải luân hồi, chỉ muốn lâm chung được Phật rước về Tây Phương mà thôi. được
như thế thì nguyện của ta mới cảm đến Phật và thệ nguyện của Phật mới có thể
nhiếp thọ ta. Đức A Di Đà tuy thệ nguyện độ sanh nhưng nếu chúng sanh không cần
ngài tiếp dẫn, ngài cũng không biết làm sao. Muốn sanh Tây phương phải tin sâu,
nguyện thiết. Thiếu hai điều này, dù có niệm Phật đến đâu cũng không thể cảm
ứng với Phật; chỉ được phước báu ở cõi người hoặc cõi người và gieo nhân giải
thoát về sau mà thôi. Nếu tín nguyện đãy đủ thì muôn người vãng sanh không sót
một. Ngài Vĩnh Minh bảo: Muôn tu muôn người về, là chỉ cho ai có tín nguyện đầy
đủ. Ngài Ngẫu Ích Đại Sư nói: Được sanh cùng chăng toàn do tín nguyện có hay không,
phẩm sen cao thấp đều bởi do trì danh sâu hay cạn. Đây là một luận án sắt dù
ngàn Phật ra đời cũng không thay đổi.
Bình sanh không tín nguyện, lúc lâm
chung khó được nhờ sức Phật tiếp dẫn. Cổ Đức bảo: ỏõTâm nghiệp rất nhiều, ngả
về một mối nặng như người mắc nợ, chủ nợ mạnh kéo điõõ. Lúc lâm chung nghiệp
lành dữ đều hiện, nếu không tín nguyện, nghiệp lực lôi cuốn mất sự tự chủ. Nếu
chỉ nương cậy sức mình, dù nghiệp còn mảy tơ cũng không thoát khỏi sanh tử.
niệm Phật đến nhứt tâm mà không tín nguyện, trong vô số người may mới có một
vài người được vãng sanh. Dùng lòng tín nguyện chơn thiết thì không luận nghiệp
nặng hay nhẹ, đều được nhờ từ lực vãng sanh. Ví dụ một hột cát nhỏ để vào nước
liền chìm, trái lại tảng đá dù nặng ngàn cân được chở trên thuyền to cũng có
thể đem đi nơi khác. Kinh Hoa Nghiêm nói: ỏõNgười ấy khi gần lâm chung, trong
sát na tối hậu, tất cả các căn đều bại hoại, tất cả các thân thuộc đều xa vời,
tất cả các uy thế đều tan rã, chỉ còn nguyện nương là hằng còn theo dõi hướng
dẫn trước mắt, trong một khoảnh khắc liền được vãng sanh thế giới Cực lạc.
Sự tích sau đây cho ta thấy tầm quan
trọng của sự phát nguyện. Bà Thái Sương vợ một Hoa Kiều ở Qui Nhơn, tu tịnh độ
và phát nguyện rằng: ỏõNguyện vãng sanh Cực lạc nhằm ngày vía Đức Phật A Di Đà
(tức là 17 tháng 11 Âm lịch). Bà mất năm 80 tuổi. đầu tháng11, bà nhờ thầy Bạch
Sa tụng một bộ kinh Thủy Sám và một bộ kinh Pháp Hoa để kịp đến ngày 17 bà về
chầu Phật. Đến ngày 17 bà con và đạo hữu hay tin ấy đến nhà bà để thỏa mãn tánh
hiếu kỳ. Buổi sáng hôm ấy bà vẫn mạnh khỏe như thường. Đúng 10 giờ, bà bảo
người nhà đem cơm lên cúng Phật rồi ăn. Ăn xong bà súc miệng rửa mặt và thay
quần áo. Đúng 12 giờ trưa bà chào tất cả mọi người rồi ngồi xếp bằng, hai tay
chắp trước ngực mà hóa một cách vui vẻ trước sự kinh ngạc của mọi người. Năm ấy
ở Quy Nhơn, thiên hạ bàn tán xôn xao về cái chết của bà.
Xem đó đủ biết sự phát nguyện vãng
sanh Cực lạc là một điều tối cần thiết cho người tu pháp môn Tịnh độ. Người tu
phép này, hàng ngày hôm sớm phát nguyện vãng sanh về Cực lạc, không quên mỗi
tháng có một giờ trong một ngày, đọc bài phát nguyện trước đây lạy đúng hướng
có Phật Di Đà cùng chư Phật mườI phương chứng minh.
c)
HẠNH là ta phải chí thành khẩn thiết
niệm câu NAM MÔ A DI ĐA PHẬT mỗi thời khắc đừng để tạm quên. Ngoài thời khóa
tụng, bất cứ lúc nào đi đứng nằm ngồi đều niệm thầm, nhất là nằm chưa ngủ, niệm
thầm hoài cho tới ngủ quên. Thức giấc cũng niệm chuyền như vậy, lâu ngày thời
thấy sự linh nghiệm của Phật Di Đà. Bất cần ngày chay hay ngày mặn, ở trần, nằm
nghiêng, nên niệm thầm, tiêu rồi bước ra cũng niệm luôn.
Muốn sắm chuỗi lần cũng tốt, niệm
không cũng tốt. Bậc hạ phải có chuỗi lần mà buộc lòng, lâu ngày quen niệm tự
nhiên như kinh không chữ, miệng niệm tai ghi nhớ rõ ràng lần lần vọng niệm tiêu
dứt. Nếu làn sóng vọng tưởng nổi trào quá mạnh, nên dùng phép thập niệm ký số
như sau: Niệm Phật phải ghi nhớ rõ ràng từ một đến mười câu không dư không
thiếu, rồi trở lại một, cứ thế mãi trong vòng mười câu thôi không được hai chục
hoặc hơn. Cách này không nên dùng chuỗi, dùng tâm ghi nhớ. Nếu niệm một hơi từ
một đến mười thấy khó thì phân làm hai (từ 1 đến 5 rồi từ 6 đến 10) hoặc làm ba
( từ một đến ba, từ bốn đến sáu rồi từ bảy đến mười). Lựa cách nào hợp với
mình, không nên thay đổi. (Phép này của ông Ấn Quang Pháp Sư dạy, và áp dụng có
kết quả.)
Niệm Phật quí tại tâm, nhưng cũng
không nên bỏ sự đọc tụng ra tiếng và lạy trước bàn Phật vì thân, miệng, ý giúp
đỡ lẫn nhau. Dù tâm có ghi nhớ, song nếu thân không lễ kính, miệng chẳng trì
tụng thì cũng khó được lợi ích. Người đời khi khiêng đồ vật nặng còn phải nhờ
tiếng giúp sức. Với hạng phàm phu, tâm hay bị xao lãng, nếu không nhờ sức thân
lễ, miệng tụng, khó được nhứt tâm. Kinh Đại Tập nói: Niệm lớn thấy Phật lớn,
niệm nhỏ thấy Phật nhỏ.
Phật Di Đà dạy niệm cho khỏi vọng ra
ý ác, tu luyện tâm thanh tịnh, lâu ngày phát ra ý thiện, theo công quá cách
thời công hạnh mới nhiều. Chớ lầm Phật Di Đà cần cầu mị mà buộc tôn sùng Ngài
đâu. Phật rước những người không tà niệm ý ác mà thôi.
Thờ tượng Phật Di Đà trong lòng tin
tưởng như thật chơn dung đó, đừng tưởng hình giả, tuy hình vẽ mà lòng mình
tưởng như có ngài hiện xuống nhập vô đó, thời thiên nhãn Ngài chiếu xuống cũng
thấy. Như thiệt lòng thành và cung kính thời cảm động (như động mối dây thép
này, thời đầu kia động) vì tâm mình thường niệm đã hiệp với tâm Phật rồi. Nếu
thuộc chú vãng sanh, gặp ai sát sanh, thời niệm Di Đà mười câu với mười câu dài
(NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC.. .PHẬT) rồi niệm ba biến vãng sanh mà cứu độ nó.
Gặp con chi mới chết, đương chết cũng niệm vậy. Nói chi tới lúc đưa đạo hữu lâm
chung, thời niệm hoài cho đến chung cuộc.
Trong khi niệm Phật, bất cứ làm công
đức gì nhỏ hay lớn, như bố thí một đồng hay cứu mạng một con kiến, hoặc xỏ dùm
một lổ kim. Sau khi làm xong, tưởng tượng Phật Di Đà trước mặt đọc thầm
“Tôi làm công đức này nguyện sanh về thế giới Cực lạc của ngài”.
Tại Sao Tu Theo Tịnh Độ Gọi Là Tu Tắt
Đức Phật Thích Ca đặt ra 84.000 pháp
môn tu mà độ chúng sanh tùy theo căn cơ. Nếu chỉ do sức mình tu hành không nhờ
nguyện lực của Phật như những người tham thiền hay luyện đơn hoặc tụng kinh
niệm Phật mà không cầu vãng sanh về Cực lạc, chỉ mong đàn áp vọng tưởng quí vị
khởi sự tu ít nhứt vài kiếp mới đắc được quả Tu Đà Hoàn. Ủắc được quả này cũng còn
phải luân hồi, nhưng có thể thôi chớ không chắc nhớ lại kiếp tu trước của mình.
Tiếp tục tu nữa, ít nhứt vài kiếp mới đắc quả A La Hán mới hoàn toàn giải thoát
khỏi phải luân hồi rơi vào cuộc đời sanh, lão, bệnh, tử này. Nếu muốn luân hồi
độ chúng sanh, thì tùy ý mình. đức Phật Thích Ca khi xuống thế quên kiếp trước
mình còn phải có người nhắc.
Nếu do tự lực (chỉ do sức mình) kiếp
này tu, kiếp sau có chắc mình nhớ lại để mà tu nữa hay bị say đắm cảnh trần
này: tửu sắc, tài khí bủa giăng mà quên rồi bị đọa khó được thân người. được
làm người, ai nói pháp cho nghe, có nghe cũng khó tin.
Sự tích sau đây chứng minh: Hoàng Đế
Khương Hy bên Tàu, sanh ra có mười chữ nơi vai ỏõ Việt Nam Quang Minh Tự, Sa
Môn Tỳ Kheo Tăngõõ. Đến khi có một vị lễ bộ thượng thơ người Việt Nam là Nguyễn
Cương đi sứ hai lần sang Tàu, vua hỏi ra mới biết rằng có một vị Tỳ Kheo là
Nguyễn Hoàng trụ trì tại chùa Quang Minh, ở tại làng Hậu Bổn huyện Gia Lộc tỉnh
Hải Dương nước Việt Nam. Trước khi chết bảo đệ tử ghi mười chữ son trên vai rồi
làm lễ trà tỳ. Vị Hoàng Đế này có tiếp tục tu nữa không?
Nếu tu tịnh độ nhờ sức nguyện Phật
Di Đà giúp, mình mới bắt đầu tu chỉ trong ít tháng, nhiều năm càng tốt. Lâm
chung Phật rước về Tây phương làm dân Phật tu thêm nữa. biết mình không chết
nữa tu lần lên cho có quả vị gọi là ngôi bất thối. Không sớm thì muộn cũng đến
quả Phật. Nhờ hoàn cảnh mình làm bạn với người lành, khỏi lo ăn lo mặc. Chim
rừng thuyết pháp nên dễ tu tiến. Nếu tự lực có khi hằng trăm kiếp chưa giải
thoát nổi. Ngài Ấn Quang Pháp Sư nói: Hai đời không bị đọa rất hiếm có. Nếu bị
đọa không biết chừng nào thoát khỏi nẻo luân hồi.
Phép Tu Tịnh Độ
Sớm mai hoặc đầu hôm mỗi ngày, thắp
đèn hương trên bàn Phật, rót 5 chén nước lạnh tụng trước bàn Phật nhựt khóa sau
đây, đứng ngồi quì tùy theo mình mạnh yếu, gấp thời bái xá. Còn như đi lỡ đường
hoặc ở nhà không thờ Phật Di Đà, day mặt về hướng Tây niệm thầm mà xá cũng
đặng. Lòng thành dù không phải ngày chay cũng lạy tụng.
NHỰT KHÓA
Đệ tử (thiện nam, tín nữ) Họ tên
Pháp danh (không có thì thôi) tu tịnh độ cầu vãng sanh Cực lạc (xá cặm hương
bái)
Nam Mô Ta Bà Thế Giới Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (đọc 3 lần 3 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Chư Phật (1 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Tôn Pháp (1 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới
Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn, Cửu Thiên Ngũ Bá, Đồng Danh Đồng Hiệu,
Đại Từ Đại Bi, Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (lạy 10 lạy, gấp niệm 3 lần 3 lạy)
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần 3
lạy)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần 3 lạy)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần 3 lạy)
Chúng Sanh Vô Biên Thệ Nguyện Độ (Xá nguyện độ hết chúng sanh)
Phiền Não Vô Tận Thệ Nguyện Đoạn (Xá nguyện trừ hết phiền não)
Pháp Môn Vô Lượng Thệ Nguyện Học (Xá nguyện học vô lượng pháp môn)
Phật Đạo Vô Lượng Thệ Nguyện Thành (Xá thề nguyện tu tới thành Phật)
Nam Mô A Di Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa
Dạ, Đa Điệt Dạ Tha, A Di Rị Đô Bà Tì, A Di Rị Đa, Tất Đam Bà Tì, A Di Rị Đa, Tì
Ca Lan Đế, A Di Rị Đa Tì Ca Lan Đa, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ, Ta Bà Ha.
(Tối niệm 108 lần càng quí, niệm nội
59 chữ vãng sanh từ Nam Mô A Di Đà..tới Ta Bà Ha). Thần chú vãng sanh, hưỡn
niệm nhiều, gấp niệm ít, để tối niệm nhiều mà đếm.
NHỰT KHÓA THẬP NIỆM
(Ai gấp việc ban mai niệm bấy nhiêu đây)
Đệ tử (thiện-nam, tín-nữ) họ tên
pháp danh tu Tịnh-Độ thập-niệm pháp môn cầu vãng-sanh Cực-lạc.
Nam mô Ta bà Thế Giới Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới, Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập Nhứt Vạn Cửu
Thiên Ngũ Bá Đồng Danh Đồng Hiệu, Đại-Từ Đại-Bi Tiếp Dẫn Dạo-Sư A Di-Đà Phật (1
lần 1 lạy, 10
lần 10 lạy)
Nam Mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ-Tát (1 lạy)
Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” 10 hơi, mỗi hơi đặng mấy câu cũng được. Có thuộc
lòng 16 câu hồi hướng càng tốt.
Kẻ gấp việc hay kẻ dốt dùng phép
Thập niệm nầy; hoặc mỗi sớm mai, thắp hương niệm 5 hiệu Phật mà lạy; rồi niệm
mười hơi Di-Đà, lạy rồi ra cũng đủ. Tối nên lạy vậy. Ráng học vãng-sanh niệm đủ
30 vạn biến thời có Di-Đà ứng điềm bảo-hộ.
Phật muốn độ tận chúng sanh nên dạy
tu Tịnh độ dễ quá. Tuổi còn nhỏ hoặc kẻ ăn chay trường chưa nổi thời ăn hai
ngày, lần sáu đến mười ngày, trong một tháng mà tập lần lên trường trai. Ngày
nào ăn chay niệm Phật hoặc niệm vãng sanh được đếm. Ngày ăn mặn cũng niệm mà
xả. Tuy ngày ăn mặn nhưng ăn tam tịnh nhục: khô mắm thịt chợ. Dầu tôm cá sống
cũng không cho sát sanh trong nhà. Gà vịt cũng vậy, vật chi khỏi giết trong nhà
thời khỏi sát sanh. Còn thịt chó, trâu hay bò cày cũng phải cữ tuyệt vì hai thú
đó có công lớn với đời. Nếu ăn, Phật không rước. Nếu mua đồ chợ làm saün mắc hơn,
vì ham rẻ mà chịu tội thời coi tiền bạc trọng hơn phần hồn, lâm chung Phật
không rước, uổng công tu. Dù của nhiều thác khó đem theo. Luật cữ sát sanh
nghiêm cấm như vậy, vì loài tứ sanh và con chi biết bò, bay, máy, cựa cũng có
chủng tử Phật. Phật cũng độ lên tu cho thành Phật, không cho giết nó, ăn nó mà
bổ mình; mạnh hiếp kẻ yếu. Vì lòng từ bi thương xót như vậy nên Ngài buộc
trường trai.
Nếu biết thấu hai chữ tánh mạng,
thời trường trai dễ như chơi. Chỉ đẹp miệng xác phàm vài năm, lúc lâm chung
Phật không rước uổng biết dường nào.
Ở thành thị dễ cữ sát sanh. Muốn ăn
thịt cá ra chợ mua khỏi phải giết con chi trong nhà. Trái lại ở thôn quê khó cữ
sát sanh vì phần đông nuôi gà vịt hay bắt cá tôm tép cho đỡ tốn tiền nhưng dễ
phóng sanh (bằng cách lấy đất sét bao trứng cá đừng cho dính múi, bỏ xuống ao
hồ; hay cứu kiến khi nạn lụt ngập). Nếu sát sanh, những oan hồn tụ tập trong
nhà chờ báo oán.
Nhứt là cơn có bịnh phải ăn chay
trường. Nếu ăn chay không nổi nên nhịn đói chớ đừng ăn mặn. Cần niệm Di Đà cho
lắm. Nếu số phần tới, thời lúc ngặt mình đừng nhớ việc chi hết; bảo người nhà
đỡ ngồi dậy, day mặt về phía mặt trời lặn, niệm vài chục câu Nam Mô A Di Đà
Phậtõ cho lớn rồi niệm thầm. Nếu tới số thấy Phật Di Đà qua rước chẳng sai. Nếu
chưa tới số, thiệt mạnh chắc chắn, ăn trường trai không đặng, cứ trở lại lục
hoặc thập trai như xưa. Tới bệnh lại cũng ăn trường như vậy. Nội nhà lập nguyện
giữ phép mà tu. Nếu ai có bịnh, cũng biết dự phòng ăn trường cho đến mãn phần,
thời Di Đà rước hẳn.
Nhứt là dặn người nhà, lúc ngặt
mình, người bịnh niệm Phật, nội nhà niệm tiếp, cấm khộng cho kêu khóc. Nếu kêu
khóc, thời Phật Di Đà trở về không rước, rất uổng công tu. Có việc chi cần thì
trối trước, đừng để lúc đó làm rộn cho người bịnh, loạn tâm xao lãng sự niệm
Phật, khó vãng sanh. Cách này là độ tận chúng sanh, không bỏ sót ai hết. Tu
Tịnh độ như vậy, muôn người lâm chung vãng sanh đủ muôn người, không phải khó
như tham thiền hay luyện đơn (tu tiên).
Chớ người tu tịnh độ trường trai 24
tháng, niệm Di Đà đủ 30 vạn câu, người giỏi nữa niệm thêm 30 biến vãng sanh,
thời có Phật ở trên đầu phò hộ. Quả vị cao, tòa sen lớn, giữ theo công-quá-cách
chừa dữ làm lành. Mỗi tháng nhớ ngày giờ sám hối cầu nguyện. Mỗi ban mai tụng
nhựt khóa hoặc thập niệm lúc không rảnh. Thời lâm chung biết ngày giờ Phật sẽ
rước mình. Nếu ai làm phước bố thí nhiều, thời không bịnh hoạn, ngồi chắp tay
day mặt về hướng Tây mà xuất hồn. Ai có công khuyên độ nhiều người về Cực lạc
trước, khi Phật rước hồn, nghe tiếng nhạc hoặc có mùi thơm lạ. Nếu phước lớn, thấy
hào quang chiếu sáng. Như vậy làm cho đời thấy nhãn tiền tin chắc tu theo.
Chừng vãng sanh về Tây phương, học
đủ lục thông (6 phép thần thông) làm Phật La Hán, xin phép Phật đi độ ông bà và
cha mẹ về Cực lạc để báo ân như Phật La Hán Mục Kiền Liên đi cứu bà mẹ là Thanh
Đề vậy.
Nếu ai may còn ông bà cha mẹ, thời
lạy mà giảng tu tịnh độ. Mình ráng nuôi cơm chay cho cha mẹ tu thành trước quí
hơn. Mình nguyện niệm phụ, tu phụ cho chắc thành. Nếu ông bà cha mẹ yếu sức vì
già cả, đến lâm chung Phật rước ông bà cha mẹ nhãn tiền có điềm linh hiển. ông
bà cha mẹ ngồi tòa sen trước mà đợi mình, thời khỏi lo tuần tự tụng kinh siêu
độ mà tốn nhiều tiền. Nên để số tiền ấy ấn tống kinh hay bố thí cho kẻ nghèo và
hồi hướng công đức ấy vãng sanh Cực lạc.
Nếu rủi cha mẹ đã mãn phần trước,
mình muốn báo hiếu cho mau thời chọn ngày sám hối lập nguyện niệm Phật thế cho
cha 30 vạn câu, cho mẹ 30 vạn câu và nguyện phóng sanh bao nhiêu mạng, thí kinh
bao nhiêu, bố thí mấy chục đồng, phải làm tất số mà cầu vong hồn cha mẹ tên họ
chi, siêu thăng về Cực lạc. Niệm đến khi nào Phật ứng mộng mới thôi. Nếu giàu
có muốn tụng kinh niệm Phật cầu cho cha mẹ mình cũng phải niệm thế, ít nhiều
mới cảm động; chớ ỷ có tiền mướn tụng niệm thôi thì vong hồn chỉ đầu thai hưởng
phước chớ không siêu thăng đặng. Còn sự nguyện thí kinh, phóng sanh, bố thí tùy
theo giàu nghèo mà nguyện. Trong kinh Hồi dương lời vua Nhứt Điện Tần Quảng
Vương phán rằng: ỏNhà nghèo bố thí một đồng sánh bằng nhà giàu bố thí ngàn
đồng. Tùy theo sức mà làm, đừng sợ bố thí ít không siêu, phải vay cho mắc nợ
tới chết trả không nổi phạm khoảng du đạo Phật không rước. Nếu có nhiều tiền
nên bố thí nhiều.
Nếu ông bà cha mẹ tuổi đã quá cao
hay bệnh già quá yếu, năng lực của thân và tâm đều kém yếu, mình lạy mà giảng
tu tịnh độ và dung phương pháp trợ lực sau đây:
Tất cả con cháu trong nhà nhất là
chính mình nên thay phiên nhau ở bên ông bà cao tiếng niệm Phật, mỗi phiên độ
nửa giờ. Mỗi ngày cứ luân phiên nhau như thế, đừng để cho tiếng niệm hở dứt.
Ông hay bà có thể niệm theo càng tốt, bằng không chỉ khuyên người nhiếp tâm
nghe kỹ, cũng như niệm thì cũng được thường không rời Phật. Những người trợ
niệm chẳng mấy gì phí sức mà lại gieo được nhân lành giải thoát về sau. Nếu có
tiền, mua một máy ghi âm thu bài giảng về thế giới Cực lạc trước đây, 48 điều
nguyện của Phật Di Đà hoặc bài giảng nghĩa kinh Di Đà trong cuốn Lão Nhơn Đắc
Độ và tiếng niệm Phật cho rõ ràng để phát hằng ngày liên tục cho ông bà nghe
thì cũng có thể vãng sanh về Cực lạc. Nên nhớ lúc ông hay bà ngặt, mình cứ niệm
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT mà thôi. Phương pháp trên đây cũng có thể áp dụng cho người
bệnh yếu gần chết.
NÊN NIỆM THÁNH HIỆU QUÁN THẾ ÂM BỔ TÁT
Bồ Tát Quán Thế Âm có nhân duyên rất
lớn với chúng sanh cõi Ta Bà này. Tuy thường hầu cận Đức Phật A Di Đà nhưng vì
thệ nguyện rộng sâu và lòng từ bi, Ngài hiện thân khắp nơi tìm tiếng cứu khổ.
Chúng sanh nào gặp những tai nạn lâm nguy như: đao binh, nước lửa, đói kém, cào
cào, ôn dịch, khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú giữ rắn độc, ác quỉ, yêu mị, kẻ
tiểu nhơn ám hại, bệnh khổ, v.v…nếu chí thành khẩn thiết niệm danh hiệu ngài
thì nhứt định sẽ được sức từ bi ủng hộ của Ngài tránh tai qua nạn khỏi.
Trong Phẩm Phổ Môn nói: Chúng sanh
nào nhiều dâm dục, giận hờn, ngu si, nếu thường niệm cung kính Ngài sẽ được xa
lìa các nghiệp ấy. Phải dùng hết tâm lực đừng nghi ngờ thì cầu việc gì cũng
được.
Người tu tịnh độ ngoài việc hôm sớm
lễ Phật A Di Đà nên niệm thêm Bạch Y Thần Chú và lễ niệm Đại Sĩ sẽ được gia bị
trong âm thầm, có thể đổi họa làm phước, gặp rủi ro hóa may mà chính mình không
biết.
Người đàn bà khi sắp sanh thường bị
đau khổ, có khi vài ngày sanh không được hoặc chết vì sản nạn. Có người tuy
sanh được nhưng lại bị huyết băng và nhiều bịnh nguy hiểm, đứa con sinh ra thì
bị các chứng kinh phong v.v.. cho nên người đàn bà lúc sanh nên chí thành khẩn
niệm “NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỔ TÁT”. Khi niệm cần phải to tiếng, không nên niệm
thầm vì niệm thầm do tâm lực kém nên sức cảm ứng cũng kém. Đang dùng sức sanh
đứa bé ra, nếu niệm thầm thì nín ép hơi phải mang bịnh. Nếu chí thành khẩn
thiết mà niệm quyết không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ khỏi
bị kinh phong hoặc bị các chứng bịnh nguy hiểm khác. Dù gặp trường hợp khó sanh
có nguy hiểm đến tánh mạng, sản phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to
tiếng niệm Quán Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải vì sản phụ niệm
giúp. Như thế trong giây phút sản phụ liền được yên ổn mà sanh. Có nhiều bà lão
niệm Phật, xem sanh sản là việc đáng sợ, cho đến dâu con mình sanh không dám
qua săn sóc huống chi là bảo niệm Quán Âm; Bồ Tát không sự khổ nào chẳng cứu
vớt, không tai nạn nào chẳng giúp đỡ xót thương, đâu có lý đối với hạng sản phụ
mà bỏ sót. Lúc sanh sản tuy lõa lồ không sạch nhưng đó là việc dĩ nhiên. Trong
cảnh ngộ không thể tỏ bày sự cung kính, chỉ chí thành nơi tâm. Nếu ở trường hợp
làm được mà không làm thì thật là có tội. Lúc sanh sản khó, nên niệm Ngài,
chẳng những không tội lỗi mà khiến cho mẹ con sản phụ gieo trồng căn lành.
Người đàn bà khó sanh, khi có thai nên chí thành niệm danh hiệu ngài, cầu nguyện
hằng ngày cũng được như ý muốn.
Vào khoảng năm 1929, có một viên
trung úy hải quân ngườI Pháp tên Robert Taie. Ông này có vợ người Việt Nam. Một
hôm ông đi tàu biển gặp một trận bão tố không hy vọng thoát chết, ông sực nhớ
lại bà mẹ vợ và vợ ông đạo Phật thường khuyên ông niệm danh hiệu Đức Quán Thế
Âm lúc nguy biến. Trong lúc thập tử nhứt sanh, ông ngồi xếp bằng nhắm mắt lại,
niệm danh hiệu ngài. Sau đó nửa giờ, ông mở mắt ra, thấy chiếc tàu trôi giạt,
khuất sau một hòn đảo nhỏ. Thuyền trưởng và mọi người trên tàu hết sức vui
mừng, cho là phép mầu nhiệm và thấy cử chỉ ông trung úy lấy làm ngạc nhiên. Ông
bèn thuật lại cho mọi người nghe và đề nghị với viên thuyền trưởng lập một chùa
để nhớ ơn Ngài cứu độ. Chùa này dựng trước thành Ô Ma pháo thủ gọi là chùa Quán
Thế Âm hiện nay vẫn còn.
Bài Vấn Đáp Cho Khỏi Nghi
Hỏi: Có kẻ tu lâu, gần lâm chung ngã
mặn thôi tu, kế chết Phật rước chăng?
Đáp: Kẻ ấy như người đến bến đò, chờ
lâu ngã lòng đi chơi, đò qua sông không hay, làm sao Phật rước đặng? Nhưng vị
này lúc bịnh ráng nguyện lại, trường trai theo phép, niệm Phật gia bội ít ngày
Phật rước mau lắm. cũng như người đến bến đò đã lâu, bỏ đi chơi nay kịp chuyến
đò. Quí vị ngã mặn đã lâu, vì nghi ngại tu không kịp để thác như để hụt đò.
Uổng quá! Tiếc thay!
Hỏi: những vị nào hồi tâm muộn quá,
đôi ngày kế thác có đặng vãng sanh không?
Đáp: Quí vị lúc gần lâm chung, có
thiện căn mới được. Song phải phát nguyện, xuất của bố thí tức thời, hoặc dặn
con bố thí thế cho mình. Nghèo thời dặn con trường trai trong ba năm tang. Niệm
Phật tụng kinh Di Đà cho mình. Đại nguyện như vậy, lòng phải chí thành niệm
Phật nửa ngày hoặc ít giờ, Phật cũng rước về làm dân tu thêm cho khỏi phải luân
hồi.
Hỏi: Ai ăn người nấy no, con tu thế
cho cha mẹ đặng sao?
Đáp: Sao không, vì máu thịt cha mẹ
chia ra tuy thác như sống, trối tu như vậy thời thành, song e con cháu không
chịu tu thời vong hồn tu thêm tại Tây phương, lâu ngày cũng có quả vị. Quí vị
lúc lâm chung có Phật rước thời đặng thành.
Hỏi: Người phàm nhiều kiếp đến nay,
làm tội dữ vô số, gần chết niệm Phật mười câu sao mà đặng vãng sanh dễ như vậy?
Đáp: Người ấy đời nay không tu sớm
mà kiếp trước có công tu nhơn tích đức mộ đạo Phật, nay lỡ mê trần nên không
tỉnh ngộ. Nếu kiếp trước không tu thời nay chết như thế thường, đâu có may gặp
người biết phép Tịnh độ chỉ điểm lúc lâm chung, niệm Phật hết lòng cho Phật
rước. Người không có thiện căn dầu hết lòng chỉ điểm cũng không tin mà niệm
Phật có đâu ăn năn đắc ngộ mà sám hối tội lỗi xưa, bỏ hết các việc vọng tưởng, quyết
một đường qua Cực lạc, không mơ ngõ khácõ lòng chí thiết không xao lãng như
vậy, niệm Phật một câu bằng ngàn câu: mười câu bằng muôn câu, lẽ nào Đức Phật
Di Đà không cảm động qua rước. Kinh Thập Lục Quán nói: Lòng thanh tịnh chí
quyết, niệm 10 hơi cũng đủ tiêu tội 80 ức dư kiếp trước. Nếu quả lòng thành như
vậy, nhờ có công tu kiếp trước, Đức Phật Di Đà qua rước chẳng sai.
Hỏi: Nếu còn tội mà ăn năn tu niệm
chí thành, cũng đặng vãng sanh về Tây Phương tu thêm mới thành Phật. Vậy thời
vội tu sớm làm chi, để hưởng mùi đời cho phỉ tình, đợi gần chết ăn không đặng
sẽ trường trai, tu niệm Tịnh độ ít ngày mà theo Phật như mấy người ác vãng sanh
đó, tội gì mà tu sớm thiệt thòi lắm.
Đáp: Phật quí tại tâm, những ác nhơn
vãng sanh là thuở nay không biết phép Tịnh độ mà tu, nay gần lâm chung có người
chỉ điểm nên hồi tâm niệm Phật, ấy là làm ác bấy lâu mà vô tâm, nay sám hối hồi
tâm Phật mới rước, chớ tiềm tâm làm ác, tính điếm đàng xảo quyệt, Trời Phật
thua trí người sao? Trời Phật chuộng những người chân thật. Kẻ dữ được vãng
sanh vì có căn tu kiếp trước nên Phật thương tình mà xui người chỉ điểm lúc lâm
chung. Muôn người mới có một. Có mười hạng người khi lâm chung niệm Phật không
đủ mười câu; Một là lúc lâm chung không gặp người biết tu tịnh độ mà chỉ điểm.
Hai là oan báo theo mình cản trở không cho niệm Phật. Ba là bịnh á khẩu hoặc
tắt tiếng. Bốn là mê sảng không biết gì. Năm là bị chết chìm chết thiêu. Sáu là
bị hùm tha sấu bắt, rắn cắn trào đờm. Tám là trúng thực nhiễm gió bất tỉnh nhơn
sự. Chín là tử trận. Mười là té cây đụng xe gẫy chân. Mười sự chết đó dễ gì
tỉnh táo mà niệm mười câu cho minh bạch lòng không loạn tâm, hoặc niệmPhật mà
còn tưởng vợ chồng con cái, nhớ của chôn lo trối trăn hậu sự dễ bị xao lãng, có
đâu lòng biết ăn năn giữ thanh tịnh niệm cho đủ số. Hoặc lòng còn nuối kẻ nọ,
trông có thuật hoàn sanh, chồng khóc vợ kể, con cháu theo kêu cho rầy tai, loạn
tâm lãng trí, trong lòng bối rối như tơ, khó sửa lòng thanh tịnh mà niệm đủ 10
câu cho Phật rước. Chớ đợi đến già mới niệm Phật
Thiếu chi mồ trẻ đã qua đời
Khuyên niệm Phật than mình chưa rảnh
Đợi bắt hồn rắp việc cũng theo!
Nhứt là thờI buổi giặc giã chiến
tranh, người ta bị bom đạn chết một cách bất ngờ. Đâu có ai chắc mình sống đến
ngày mai. Ai biết trước số mấy mươi mà thác, đừng tin thầy coi số coi tướng nói
bốc bướng mà lầm. Thừa lúc chưa già chưa bịnh, chọn ngày sám hối lập nguyện tu
lần cho có căn. Bác thợ rèn vừa đập sắt vừa niệm Phật. Vừa làm công việc hàng
ngày để nuôi vợ con vừa tu, hoàn cảnh nào cũng tu được cả. Chớ bảo có thời giờ
mới tu được, hay là còn trẻ, dại gì tu để hưởng mùi đời cho phỉ tình rồi sẽ
hay. Tử thần đến, công việc gì gấp cũng phải buông, trẻ cũng không tha.
Nếu xảo quyệt tính cho lắm, e bị sự
rủi, đầu thai kiếp khác không chắc làm người hay mang lông đội sừng. Dẫu may
làm người, e không ai nói pháp cho mà nghe, không dễ gì gặp người khuyên tu
tịnh độ theo con đường tắt; Dẫu có người khuyên chưa chắc tin. Mất thân người
muôn kiếp khó tu mới là khổ. Cũng bởi tính già hóa non.
Hỏi: Người phàm dễ bị bó buộc phạm
nhiều tội lỗi, các điều phiền não chưa dứt, một mảy phước đức chưa tu. Còn như
Tây Phương Cực Lạc trên ba cõi thiên tiên quí hơn cõi thiển đường bực Thiên Đế
bá hội. Lẽ nào mới niệm Phật mà đặng về Cực Lạc?
Đáp: nhờ Phật Di Đà rước, không phải
nhờ sức mình tham thiền mà qua nổi Cực Lạc ở luôn. Thí dụ: Con kiến lẩn thẩn cả
đời đi không bao xa, còn sợ bị cóc liếm giữa đường, nếu đeo vào áo một người đi
du lịch bằng máy bay, trong vài giờ đến xứ khác như không. Còn tu Tịnh Độ, Phật
Di Đà tiếp dẫn cũng như vậy. Nếu người tu hành cứ ỷ tham thiền hay luyện đơn,
tại cõi trần thời đầu thai hoài tu không biết mấy kiếp mà cũng không giải thoát
khỏi sanh lão bịnh tử có đâu thành Phật. Kiếp này tu kiếp sau chắc gì mình tu
nữa không, hay hưởng phước giàu sang phú quí quên tu. Về Cực Lạc khỏi phải luân
hồi, lo gì không thành Phật La Hán. Như con mọt trong cây gần gốc, nếu bò lên
đục từ mắt đục lần cho tới ngọn thời lâu biết chừng nào. Ấy là thí dụ cách tham
thiền hay luyện đơn khổ mà lâu vô cùng, e không thành nữa. Như con mọt chưa ra
khỏi ngọn tre mà chết. Còn tu tịnh độ thiệt tắt dễ nên ví như con mọt ấy, đục
dựa ống tre không bao lâu đã ra khỏi. Nên tu tịnh độ gọi là hoành xuất tam
giới, đi ngay rất mau, lo chi phàm tục không đặng vãng sanh Cực Lạc.
Hỏi: Trong chín phẩm tòa sen, bực
thấp từ thứ bảy cho đến thứ chín, để dành cho kẻ mới tu ít phước. Nhứt là tòa
sen thứ chín, nhiều kẻ ác mới tu, may phước đặng vãng sanh như tích Trương
Thiện Hòa, sãi Huýnh Kha, tôi e kẻ ấy về đó còn thói tà dữ, chi cho khỏi con
sâu làm rầu nồi canh chăng?
Đáp: Lo không đặng vãng sanh, lo chi
về đó mà còn làm dữ là vì có năm cớ: một là có Phật gìn giữ, hai là muốn chi có
nấy không lòng tham, ba là chim linh giảng kinh trên cây báu cũng đủ hồi tâm ăn
năn mà sửa lòng, bốn là ở gần Bồ Tát, bạn lành không ai rầy rà gây oán thù, năm
là sống hoài tu mãi trở nên lòng Phật; gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, xung
quanh mọi người tu thời mình cũng tu theo. Nên về Cực Lạc kiếp này cũng đặng
thành Phật không thối chí nữa.
Hỏi: Kinh nói tại thế gian, có kẻ
lòng thành phát nguyện tịnh độ, thời trong ao thất bửu cõi Cực Lạc có mọc một
cây sen trổ ra một bông. Lúc lâm chung, Phật rước hồn người tu ngồi bay về Cực
Lạc cho Liên Hoa hóa thân ngồi tòa sen ấy. Nếu lúc sống tu tấn tới, bụi sen mau
ra bông, búp sen mau lớn bằng bánh xe, có nêu tên họ người tu bên ngoài. Tới số
Phật Di Đà ứng điềm, định ngày tiếp dẫn. Còn ai thối chí ngã lòng, bê trễ việc
tu thời sen ấy héo dần. Tới thôi tu thời sen ấy rụng. Sau tu lại, sen này chồi
lên bông khác, nếu bỏ đạo đến chết thời bụi sen cũng chết khô. Chẳng hay lời ấy
có đáng tin chăng?
Đáp: Việc ấy dễ hiểu. như cái kiếng
lớn, vật nào chiếu vào thời cũng thấy bóng y như vậy. Cõi Cực Lạc của Phật Di
Đà rất linh, thế gian có người tu tịnh độ, cõi Tịnh độ mọc sen thêm; sen ấy tùy
theo người tu siêng năng hay bê trễ mà tươi héo gọIi là giống sen Bồ Đề, mà
cũng có Đức Phật Di Đà chủ trương trong đó, là lý chắc tự nhiên, lẽ nào Đức
Phật Thích Ca đặt chuyện huyễn hoặc mà nghi ngại? Người tu sen Phật lên, người
thành sen Phật trổ, ấy là nhơn quả tự nhiên.
Hỏi: Tại sao niệm Phật Di Đà cầu
vãng sanh về nước Cực Lạc. Thiếu chi các vị Phật khác mà buộc niệm Di Đà mãi?
Đáp: Một là bao nhiêu công đức của
Chư Phật mười phương, Đức Phật A Di Đà đều có đủ, nên niệm Phật A Di Đà cũng
như niệm đủ các vị Phật mười phương. Hơn nữa mỗi tháng Phật Di Đà hội chư Phật
tại hướng nào mình có lạy sám hối phát nguyện, chư Phật mười Phương chứng minh
đâu có thiếu sót vị nào đâu.
Hai là không cầu quyết một chỗ, khó
nhứt tâm dễ bị xao lãng.
Ba là các cõi Phật khác không như
cõi Cực Lạc, dẫu vị đó thành Phật thời hưởng tiêu diêu một nơi, chứ chư dân
trong nước đều khổ não.
Bốn là Phật A Di Đà Phát 48 nguyện,
quyết tiếp dẫn chúng sanh niệm Ngài, dầu phạm tội ngũ nghịch biết ăn năn hối
cải ngài cũng độ hết. Nên ai ở cõi này, có niệm Phật thời phần đông niệm Di Đà
nhiều hơn.
Đức Phật Thích Ca dạy nhiều phép tu
luyện rất khó, trừ phép tịnh độ rất dễ vì biết trước đời sau chúng sanh phước
mỏng, nghiệp chướng nặng nề, đạo Phật đã mỏn, các kinh lạc hết mà Kinh Di Đà
còn soi dấu cả trăm năm. Bởi dễ nên ít ai tin nên mỗi lần Ngài giảng kinh Di
Đà, Ngài có mời chư Phật Như Lai mười Phương đến chứng minh cho đủ tin chắc.
Hỏi: Nước Cực Lạc cách xa cõi trần
mười muôn ức thế giới xa xôi dường ấy lẽ nào người phàm đi tới?
Đáp: Xác phàm đi xa như vậy không
đặng, chớ phần hồn có khó gì! Vì lòng thành niệm Phật, Phật rước hồn đi không
phải xác. Thí dụ: chiêm bao đi tới nước khác ngàn muôn dặm, nghe ai kêu thời
tỉnh thức dậy liền. Có phải chiêm bao thấy đi gần thời tỉnh mau, đi xa thời
tỉnh chậm sao?
Hỏi: Kinh nói ỏ ai ăn chay niệm đủ
30 vạn biến vãng sanh, thời Phật Di Đà hằng chiếu giám trên đầu, bảo hộ tai qua
nạn khỏi, để làm ăn mà tu, đợi lâm chung cho biết ngày rước hồn về Cực Lạc.
Người tu Tịnh Độ ai thấy khoảng đó mà không ham vì niệm thêm 30 vạn có khó chi.
Di Đà có một ông chiếu giám sao cho xiết, hơn nữa cả mười phương thế giới có
biết bao nhiêu người vãng sanh cùng một lúc làm sao rước cho kịp?
Đáp: Rất đỗi mặt trời mặt trăng là
nhỏ còn chiếu khắp trên đầu thiên hạ, huống chi là hào quang Phật. Còn thần
thông Đức Phật A Di Đà ba mươi sáu triệu một trăm mười chín ngàn năm trăm ông
(36.119.500). hơn nữa Phật còn biết bao nhiêu đệ tử thành Phật đều đắc lục thông.
Lo mình không tu, lo chi Phật rước không kịp.
Hỏi: Nay muốn vãng sanh Cực Lạc Tây
Phương phải làm công hạnh chi? Phát tâm làm sao? Vả lại kẻ ở thế có vợ chồng
con cái, chưa dứt đường dâm dục, kế lâm chung niệm Phật, Phật có rước không?
Đáp: Phật cũng rước hết. Muốn vãng
sanh cứ niệm Di Đà. Cư sĩ ở nhà có vợ chồng sanh đẻ không có tội chi miễn giữ
giới kỳ cho nghiêm thời khỏi tội. Nếu khuyên vợ chồng con cháu tu theo sau cũng
vãng sanh về Cực Lạc sum họp một nhà. Mình còn khuyên người khác tu lẽ nào để con
cháu luân hồi đọa lạc sao. Lòng phát tâm có ba cách: một là nhàm cõi trần, hai
là mộ Cực Lạc, ba là phát tâm Bồ Đề.
Cõi trần như chông gai, vì sự ăn mặc
mà cực khổ cả đời. Vì chữ danh lợi mà bôn chôn mạt kiếp. Có người khổ nhiều có
người khổ ít. Nghèo thời lo ăn lo mặc. Giàu thời lo giữ của giữ tiền sợ ăn
cướp, song ai ai cũng không khỏi bốn điều là sanh, lão, bệnh, tử.
- Sanh Khổ: Còn trong bụng mẹ không
đặng thong thả, ở nơi không sạch, ăn
uống huyết nhơ. Chịu gần ba trăm
ngày, gần bằng 20 năm khổ não. Đến lúc sanh ra ép gần móp mình, nhứt sanh nhứt
tử giếtmẹ trong một khắc. Sanh rồi bị huyết dơ tống theo, lại tiểu tiện dầm dề
không biết hổ thẹn. Dầu sang giàu thánh hiền cũng vậy. Lớn lên muốn không đặng
cũng khổ, ly biệt cũng khổ, oán thù giận cũng khổ. Hưởng sự vui sướng có một,
bị việc tru phiền hơn tám chín. Làm quan ngay thẳng gặp đứa gian cũng oán ghét.
Ít có ngày nào vui trọn. Gặp sự bất bình trái ý luôn luôn. Nằm đêm xét kỹ lại,
nhờ có thê thiếp con cái làm cho khuây khỏa vài mươi năm rồi cũng già.
2. Lão Khổ: Cảnh già khổ lắm. Chân
mỏi gối chùn, mắt mờ tai điếc, răng rụng nhai đau,tinh thần hao tổn, ăn không
ngon, ngủ không được, bịnh hoạn luôn. Trở trời trong mình đã đau nhức khó chịu.
Giàu có khó mua được sức khỏe như lúc còn xuân, ngày tháng thấm thoát như cá
cạn nước lần lần.
- Bịnh Khổ: Ai cũng trải qua thời kỳ
bệnh hoạn thời biết bịnh như thế nào. Nằm nhà thương hay vào thăm ai nằm nhà
thương thời thấy rõ khỏi nhắc lại. - Chết Khổ: TớI lúc chết, giựt mình,
mắt trợn tròng, tay chân co quắp dễ sợ. không biết chết rồi đi về đâu. Trừ ra
ngườI tu Tịnh độ mừng mình được bỏ xác phàm hôi thúi này.
-Mộ Cực Lạc như vầy: Cực Lạc hơn
Thiên Đàng thập bội khỏi luân hồi. Lòng ao ước trông mãn phần về Cực Lạc thảnh
thơi.
-Phát tâm Bồ Đề: Bồ Đề tâm là lòng làm
lợi ích cho người. Khi phát tâm này như đồ máy được gắn điện có năng lực mạnh
mẽ. Những công đức bình thường không thể sánh kịp. Nhứt là long từ bi thương
xót chúng sanh luân hồi khổ sở, hết lòng nguyện độ và khuyên mọi người tu như
mình.
Có người hỏi thiên như lão nhơn
ỏVĩnh Minh Thọ Thiện Sư là thầy đứng đầu Trung Quốc, ai cũng nhường là bậc thầy
về việc tham thiền mà sao còn tu Tịnh Độ, thường hay đọc bài kệ giảng dạy đệ tử
và bổn đạo như sau:
Bài Kệ Nôm
Tham thiền
không Tịnh Độ, một chục chín người khổ
Tịnh Độ chẳng tham thiền, tu muôn thành đủ số.
Cứ theo bài kệ chẳng là chê ép phép
tu tham thiền mà bào chuốt tôn trọng, khen ngợi cách tu Tịnh Độ thái quá chăng?
Lão Nhơn đáp: Không phải Vĩnh Minh
Đại Sư khen phép tu Tịnh Độ thái quá. Thiệt phép Tịnh Độ rất rộng lớn, cách tu
rất tiện dễ, sao gọi là phép rộng lớn? Bởi hết thảy phép tu đều rút tóm rút vào
đủ, trừ bực thượng là Phật, bậc trung là Bồ Tát, bậc hạ là Thinh Văn, Duyên
Giác, bậc dưới chót là kẻ dốt hoặc phạm tội ngũ nghịch, thập ác, nếu chịu ăn
năn chừa dữ tu theo Tịnh Độ, không cần lâu mau, không đợi trường trai 24 tháng,
cơn lâm chung niệm Phật không xao lãng; Phật cũng rước về Cực Lạc. Còn tiện dễ
là: không có học chi khó, làm chi mệt, kẻ sáng dạ niệm thêm 30 vạn biến vãng
sanh, kẻ tối dạ không thuộc vãng sanh cứ niệm ỏNam Mô A Di Đà Phậtõ cho đủ 30
vạn câu thì đủ. Sau dư tu thêm lâm chung niệm Phật 10 câu, Phật Di Đà cũng
rước. Về Cực Lạc lien hoa hóa thân, tu thêm cho tớI thành Phật. Hỏi thử có phép
tu nào dễ mà mau thành Phật như vậy chăng? Nếu ai không trí huệ như Vĩnh Minh
Thiền Sư thời cũng không lo tu thêm Tịnh Độ và khuyên người tu Tịnh Độ như
mình.
Hỏi: Hòa thượng Đại đức đã thông
hiểu tham thiền kiến tánh thành Phật cũng đủ, phải tu thêm Tịnh Độ làm chi?
Đáp: Quí vị thông thái muốn tu thêm
Tịnh Độ như Vĩnh Minh Thiền Sư thời nôn và nóng theo Tịnh Độ, sức muôn con trâu
kéo cũng không thèm trở lại hốt vàng rồi sẽ tu thêm Tịnh Độ. Nếu thông phép
tham thiền mà chắc sẽ thành Phật, thời các vị Đại Bồ Tát trước khi tham thiền
đã sáu bực nhiều kiếp mà chưa thành còn phải tu thêm Tịnh Độ mới thành Bồ Tát.
Kinh Tam Muội nói ỏVăn Thù Bồ Tát
thuật chuyện cũ của mình; gọi mình nhờ niệm Phật mới thành chánh quả. Phật Thế
Tôn làm dấu trên đầu nói rằng : Ngươi nhờ niệm Phật mà đặng vãng sanh Cực Lạc,
chớ có nói tham thiền giỏi đâu. ỏKinh Hoa Nghiêm nói: Phổ Hiền Bồ Tát lấy mười
điều nguyện lớn mà dạy Thiện Tài Đồng Tử cũng tu Tịnh Độ, cho Phật rước vãng
sanh là quí hơn hết. Kinh Lăng Già nói ỏPhật Thế Tôn thọ ký cho Long Thọ Bồ Tát
mới vãng sanh Cực Lạc. Ngũ Thông Bồ Tát người nước Thiên Trúc tu luyện tham
thiền, xuất hồn qua Cực Lạc ra mắt Phật Di Đà bạch rằng: Tôi là chúng sinh cõi
Ta bà nguyện vãng sanh Tịnh Độ, nay xin Phật hiện hình rước có nghi tiếtõ. Ấy
cũng phải tu thêm Tịnh Độ mà Phật rước nào chỉ lấy sức tham thiền đặng lên cảnh
Phật mà ở luôn sao? Thử hỏi được bao nhiêu vị tham thiền xuất hồn đến cảnh giới
Cực Lạc?
Phật Độ Những Người Có Căn Duyên
Giả tỉ như mình bị bịnh tả mấy ngày
rồi, vợ rước một ông thầy quen ở gần đến coi mạch doán rằng: bịnh bị tiện bế,
bón đã vài ngày không đi đại, phải xổ cho mau kẻo chết. Mình lấy làm lạ bảo vợ
rước một ông thầy quen khác chẩn mach cũng nói như vậy. Lần lần rước tới 5 thầy
đều đoán quyết bịnh bón phải xổ mới sống. Mình khai thiệt: tả hết ruột; mấy
thầy thuốc cãi rằng: không phải tả, mạch bón rõ ràng. Vợ dốt nói mình đau nói
mê, sao bằng 5 thầy coi mach nói hiệp nhau là chắc. Lật đật đem tiền đi lấy
thuốc xổ. Ở nhà thời may có lương y lạ du phương ghé xin nước. Mình hỏi ra mới
biết thầy thuốc, cậy chẩn mach thử. Lương y coi mach nói: bịnh kiết tả cả ngày
rồi, tì vị liệt gần ngay ruột, phải uống thuốc chỉ tả mà cầm cho mau kẻo khốn,
liền biên toa cho mình rồi kiếu đi. Thế khi cũng chẳng tin toa ấy nên không
uống. Vì ông thầy lạ mới đến nói một cách khác hơn mấy ông thầy mình tin cậy
lâu nay đã khắng vào tim rồi, đợi vợ đem thuốc xổ về sắc mà uống đó chăng?
Vô duyên như vậy Phật độ cũng không
đặng. Phật độ những người có duyên có phước biết nghe mà tỉnh hồi mới đắc ngộ
tu mau thành Phật. Kinh Phật dạy tới 84.000 cách tu khác nhau mà rút một phép
tu Tịnh Độ là tu tắt. Dễ mà mau thành, quí báu như mình rồng có một hột châu,
non con có ngọc thượng hạng, như thái tử quí hơn quần thần. Vì dạy nhiều nên
kinh chất cả đống như núi; ai vô duyên xấu phước thời khiến làm biếng mà không
xem; kẻ ít phước không duyên phần xem cả trăm cuốn thấy dạy tham thiền khó lắm,
tụng niệm nhiều quá cũng đã thèm, nhắm mắt không tu nổi, có ráng xem trọn bộ
cho thất công mấy chục năm cũng vô ích. Vì vậy mà bỏ qua, coi chưa gặp cuốn
Tịnh Độ mà học rủi biết chừng nào? Còn kẻ thiện căn có phước duyên phần, mới
xem một hai cuốn may gặp Tịnh Độ pháp môn tin và mừng, vì tu dễ mà mau thành
Phật rõ ràng, thiệt là tu tắt không tới hai năm mà đặng ngồi tòa sen thành
Phật. Dầu trăm sợi dây cột kéo lại bảo hốt mấy muôn cân vàng mà cất rồi tu Tịnh
Độ cũng không thèm. Vì tu tại gia làm cư sĩ dễ lắm. Ai có duyên phần thiện căn
phước đức không tu kẻo trễ ngày giờ uổng lắm, vì tử thần đến, làm việc gì cũng
phải ngưng, trẻ cũng không tha.
Con Tằm Ở Ồ Kén
Con tằm kéo tơ làm kén, vấn tả vấn
hữu, bao dưới bao trên, kéo hết tơ chỉ trong ruột ra, quyết làm nên ổ mà ở
trong cho an phận; nào hay kéo hết ruột cực hết sức lộn ra nhộng, trói mình cho
chặt đặng chúng ươm trong nước sôi mà lấy tơ. Ý nó tưởng ráng sức giữ mình, nào
hay người ta vì sự ráng sức của nó mà hại nó. Mấy muôn muôn triệu triệu tằm khờ
lộn nhộng, con nào mà khỏi trụng nước sôi, làm cho người đặng lấy tơ và ăn gỏi
nhộng thảm biết chừng nào. Vậy mà con cháu nối dòng cũng noi theo nghề đó, buộc
mình cho lợi chúng mới là thảm thay!
Người ráng lo cho nên sự nghiệp của
tiền có khác chi đâu. Rang hết sức bình sanh quyết để sự nghiệp cho vợ con giữ
đời nên mới gây oán thù nhiều chỗ. Gầy vừa xong cơ nghiệp thời đà lộn nhộng bỏ
mình rồi. Coi lại muôn muôn ngàn ngàn người có ai khỏi trả nợ đời, khỏi bị báo
oán mà con cháu cũng noi theo kiểu ấy luôn luôn, thiệt cũng lạ lắm! Trong Kinh
Tứ Thập Nhị Chương nói: người vì vợ chồng con cái buộc trói quá hơn xiềng tỏa
trong đề lao, nhưng mà tội tù cầm cọng còn ân xá, vợ chồng con cái trói buộc
chẳng buông tha.
Cái Đăng Có Đặt Lờ
Người bắt cá ví đăng (nò) ngoài vàm
rạch khôngcho cá nhảy ra. Trong lại thả cỏ rong rêu nổi đầy như cặm chà, cho cá
ngỡ có chỗ núp. Ngoài miệng đăng lại đặt cái lờ dưới nước. Trong miệng lờ có
cái hom; chun vô thời ra xuôi ngược không đặng mắc kẹt. Bầy cá đua nhau chun vô
lờ tưởng là chỗ kín đáo như ở hang, giống tôm vô cái rộng.
Sông Mê cũng có nò đặt lờ như vậy. Lúc
lành mạnh vô sự thời ở yên, vợ hiền con thảo cũng như lúc chưa chun vô cái lờ.
Mảng vui này không lo tu Tịnh Độ, càng ngày chun vô riết lờ Ái Hà. Nhằm lúc vua
Minh Vương đương giở lờ lên, dù vợ thương con mến cũng không biết làm sao mà
kéo ra cho đặng; Chẳng bao lâu vợ con cũng chun vô cái lờ Minh Vương nữa. Muốn
cho khỏi vô lờ Minh Vương thời lôi lên cho khỏi Ái Hà là Sông Mê, mau mau niệm
Di Đà tu theo phép Tịnh Độ thời sau đặng vãng sanh Cực Lạc cả nhà.
Bốn Hạng Ngựa
Ngựa có bốn hạng; hạng thứ nhứt thấy
bóng roi thì chạy không đợi đánh vô mình. Hạng nhì đánh một roi thời chạy luôn
luôn không đợi đánh nữa. Hạng ba đánh ít không chạy, đánh nhiều mới chịu chạy.
Hạng chót đánh bao nhiêu cũng không chịu chạy, đợi dùi đâm vô thịt chảy máu mới
chịu chạy.
Con người cũng có nhiều hạng: Trí
tuệ hạng nhứt mau tỉnh ngộ. Nghe có người ở xa trăm dặm mãn phần thời giựt mình
lo rằng ỏngười ở xa trăm dặm thác rồi mình cũng loài người sao cho khỏi thác.
Mau tu Tịnh Độ cho kịp 24 tháng mới chắc vãng sanh ngồi liên đài. Cũng như ngựa
ký thấy bóng roi thời chạy trước. thứ nhì nghe bà con thác thời giựt mình lo
tu. Thứ ba thấy người trong xóm thác thời giựt mình đắc ngộ. Hạng chót đợi
người trong nhà thác hoặc mình già bịnh mới giựt mình tỉnh ngộ mà tu Tịnh Độ
ngày đêm. Cũng như ngựa bị dùi đâm thấy máu mới chạy. Nếu già bịnh còn chưa
tỉnh ngộ mà tu thời hết bực rồi; khác nào con ngựa bị dùi đâm mấy vết máu chảy
dầm dề cũng không chịu chạy; chủ phải làm hàng mà bán như heo lấy tiền mua con
ngựa khác mà dùng. Con người tới già bịnh mà chưa bươn bả tu Tịnh Độ hết lòng
cho Phật rước thời còn đợi cho cặp quỉ vô thường tiếp dẫn.
Chồn Cáo Ăn Vụng
Chồn cáo cộc tối lén vô bếp ăn vụng
no quá ngủ mê. Rạng đông chủ tớ xuống nhà bếp. Chồn tỉnh giấc mở mắt thấy đông
người sợ ví bắt nên không dám chạy, giả chết đợi chúng xách mà ném sẽ dông êm.
Đứa đầy tớ nói chồn ăn vụng phát ách mà chết để tôi xách bỏ đi kẻo thúi. Thằng
con lớn chủ nhà nói để tôi chặt đuôi phơi làm chổi rồi chú sẽ xách đi. Nói rồi
lấy mác chặt đuôi, chồn cắn răng không dám động đậy. Thằng em nó nói chú khoan
xách đợi tôi cắt hai cái tai nó để chơi; chồn nằm nghĩ thầm rằng ỏráng ráng
chịu đau cho thằng yêu nhỏ cắt hai tai không tới nổi chếtõ. Thằng nhỏ lấy dao
lại cắt hai tai rồi bà chủ nhà nghe rõ bước xuống cản rằng khoan xách đã, bởi
cái áo da dê của ông rách khó kiếm da mà vá, may lắm mới gặp da chồn cáo cộc
lớn thiệt quí, để lột da phơi mướn thuộc mà vá áo dương cầu. Chồn nghe hoảng hồn
nghĩ rằng: nếu lột da thời trước phải chặt đầu cứa cổ chết đi còn gì, thà vùng
chạy cầu may, chẳng hơn giả chết nằm lì cho chúng giết. Nghĩ vậy vùng dậy nhảy
nai chạy đại mà khỏi, vì ai cũng không ngờ nó giả chết mà đề phòng, ơ hờ nó
chạy khan nhảy đi, theo rượt bắt không kịp. May thay cho chồn cáo cộc.
Con người ở cõi thế gian như chồn vô
nhà bếp. Ai cho khỏi thác một lần. Trừ ra tu Tịnh Độ mới đặng vãng sanh cũng
như giựt mình chạy liều mạng mà thoát khỏi. Hết lúc xuân xanh mạnh khỏe ví như
chồn bị chặt đuôi, mới già như chồn bị cắt thêm tai. Già quá bịnh nặng như chồn
bị hăm lột da mà chưa chịu nhảy nai cho khỏi chết như người già bịnh mà chưa
chịu phát nguyện tu Tịnh Độ mau mau; ngày đêm tụng niệm cho kịp lâm chung mà
vãng sanh mới khỏi quỉ vô thường tiếp dẫn. Cứ lôi thôi đợi chết sẽ ra mắt Minh
Vương mà thử kinh nói địa ngục thiệt có hay không cho biết; kẻo vội tin tu theo
Tịnh Độ mà uổng công. Thời khác nào chồn nằm lì, coi thiệt quả lột da vá áo hay
là nói nộ; như vậy cũng đáng khen hồ ly đa nghi quá quắt, can đảm lạ thường.
Đổ Thừa Tại Lỗi Vua U Minh
Lão kia mãn số hồn xuống âm ty, Minh
Vương xử án định tội. Hồn lão tâu rằng: Phải hay sớm thiệt có địa ngục chắc
chắn như vầy, thời tôi đã tin kinh Phật, tu Tịnh Độ vãng sanh, khỏi nhọc công
đại vương xử đoán. Phải chi đại vương mở lòng quảng đại nhắn tin cho tôi biết
trước mà tôi không lo sớm đến nay hành tội mới ưng. Té ra chẳng dạy mà giết, ức
biết ngần nào. Xin châm chế tội lỗi lần thứ nhứt. Minh Vương phán rằng: trẫm
thông tin nhiều lần lắm; tóc ngươi muốn trổ hoa râm là tin thứ nhất. Răng ngươi
lung lay là tin thứ nhì. Sức ngươi suy yếu là tin thứ ba. Mắt ngươi lờ quá là
tin thứ tư. Lỗ tai ngươi muốn điếc là tin thứ năm. Bịnh nhiều là tin thứ sáu.
Sao trách trẫm chưa cho biết trước? Có hồn đứa trai nghe rồi quì lạy khóc mà
tâu rằng ỏông già ấy đặng tin sáu lần mà không lo trước đã ưng. Còn tôi chưa
đặng tin nào xin đại vương xét mà thứ tội. Minh Vương phán rằng: tên nọ một
tuổi với ngươi bị thời khí mà chết ấy là một tin. Tên trẻ kia một cỡ với ngươi
năm nọ bị thắt họng là hai tin. Tên trẻ khác bị chết trôi là ba tin. Tên trẻ ở
gần bị rắn cắn chết là bốn tin. Bạn hữu ngươi chết yểu là năm tin. Thấy một cỡ
với ngươi chết yểu giựt mình mà lo tu đều là hay tin trước, đợi trẫm kêu tên mà
nói với ngươi sao? Dầu ngươi sức mạnh vỡ núi trùm đời, tài cao nâng trời vạch
đất, cũng không khỏi ra mắt trẫm sau lúc lâm chung tắt hơi. Trừ ra tu Tịnh Độ
có Đức Phật Di Đà rước hồn mới khỏi quyền trẫm xử. Sau thành Phật dạo đến đây,
trẫm phải cung kính tiếp nghinh theo lễ khách.
Bươm Bướm Ngã Vô Đèn
Bươm bướm nhào vô đèn mà chết không
phải vì đèn mà chết, chết tại chỗ thấy của nó; gọi là sáng trưng vui vẻ. Nó
thấy chắc rõ ràng không lầm, người tu thương mà đuổi đi vì biết chỗ thấy của nó
còn sái; song nó chẳng biết ơn lại còn giận rằng: Tức vì thấy chỗ sáng muốn đáp
vô mà chơi cho vui, bị họ cà nanh ngăn trở. Nên rình hở mà nhào vô cho đặng.
Bởi chắc ý chỗ thấy của nó là phải không lầm nên hăm hở đua nhau vô chết cả lũ.
Người vì tiếng dâm sắc đẹp, rượu
ngọt khói thơm, sự lợi bài bạc mau làm giàu, cậy mình học giỏi, chỗ thấy không
lầm, hưởng khoái lạc một đời cho chí tử thì hết chuyện. Không tin còn hồn ma,
sợ luân hồi quả báo. Dầu ai giảng chánh lý thế nào cũng chê mãi không tin. Đều
tại chỗ thấy trước của mình là chắc ý hơn hết nên sấn tới cho đến chết mới
thôi; gọi là hưởng phong lưu một đời đã thích chí. Con người ăn học còn thế
này, trách chi bươm bướm đáp đèn là vật mọn. nếu thấy gương ấy biết ăn năn đắc
ngộ mới mau thành.
Ruồi Bay Vào Cửa Song
Có loài ruồi kia khờ quá, sẵn trớn
bay lọt vô cửa song. Cứ ngó tới bay riết vào vách tường, tìm lỗ mà ra không
đặng. Ráng sức bay qua tả, bay lại hữu cả ngày mệt quá mà không đường ra. Tức
mình kêu la lào xào cả lũ. Tại ngó tới không chịu ngó lui, coi trước mặt còn
rộng chắc chỗ thấy nó không lầm, ráng sức mà bay hoài phải ra khỏi vì ỷ tài ỷ
tận, tấn tới không chịu thối lui mới gọi là ruồi khờ. Chớ chi biết nhắm trước
xem sau, biết mình thấy lầm mà bay vào nhầm chỗ hẹp hòi tù túng. Nay ăn năn ngó
lại, quay lùi ra khỏi chỗ lầm trước, thời trời cao đất rộng mênh mông. Cõi trần
như nhà vách kín bịt bung, đóng kín cửa mở song cho sang, dễ gạt bầy ruồi lằn
khờ ngỡ rộng mà bay vào tù túng biết bao nhiêu. Nếu chui ra bay về hướng Tây,
thiệt là mau mà rộng thinh, khoái lạc hết tù túng nữa.
Bốn Phép Trị Ngựa
Trong lúc Phật Thích Ca đang thuyết
pháp gặp người Mã Sư tập ngựa rất thiện nghệ. Phật hỏi: ngươi dùng mấy phép mà
tập ngựa đặng hay nên danh như vậy. Mã Sư đáp rằng: có bốn phép: thứ nhứt ơn,
thứ nhì oai, thứ ba trước oai sau ơn, thứ tư trước ơn sau oai. Phật hỏi: Nếu
dùng bốn phép ấy mà tập con ngựa nào không đặng thời phải làm sao? Mã sư nói: Không
đặng thời làm hàng bán thịt lấy tiền mua con khác, vì để cũng vô dụng. Còn Phật
dạy chúng sanh mấy phép? Phật nói: cũng dùng bốn phép như ngươi: thứ nhứt ân là
giảng dạy tu hành, về cõi Cực Lạc. Thứ nhì oai, nói người làm dữ sẽ sa tam đồ;
nước lửa, gươm, đao và bị luân hồi lục đạo. Thứ ba ân trước oai sau; giảng việc
tu Tịnh Độ vãng sanh Cực Lạc, rồi giảng lành dữ độ luân hồi khổ sở. Thứ tư
trước oai sau ân; trước giảng sự làm dữ bị hành tội cho mà nghe, sau giảng phép
tu Tịnh Độ để vãng sanh Cực Lạc cho mà độ. Mã sư nói: Bạch Phật nếu bốn phép ấy
chúng sanh nghe mà không chịu tu, Đức Phật mới độ cách nào? Phật nói: Ta cũng
giết đi! Mã sư thất sắc hỏi rằng: Như Lai hiền lành thương mọi chúng sanh, sao
lại giết người? Phật Thích Ca nói: Dạy đủ bốn phép mà không nghe là người không
duyên phần, có giảng hoài độ cũng không nổi, nói dai vô ích nên không nói nữa.
Không nói nữa thời để cho quỉ vô thường bắt hồn hành tội, thời cũng như giết.
Thánh Phàm Hai Thể Khác Nhau
Phật Tiên Thần Thánh đều có ăn, song
ăn thời biết mùi ngon ngọt thơm tho, ăn rồi đồ quí tiêu hóa ra hơi thơm tan
hết, không tiêu tiểu nhơ uế như cõi phàm. Giáp cữ mới ăn nữa, như các vị ở cõi
thiên đường ăn nhiều món ngon như Thiên tu đà.
Ba cõi trên thế gian chia ra như sau
đây: Một là dục giới thiên, hai là sắc giới thiên, ba là vô sắc giới thiên.
Dục Giới Thiên: tại đây chúng sanh
hữu tình, còn dâm dục. Cõi này có cả thảy sáu cảnh giới gọi là Lục Dục Thiên.
Sắc Giới Thiên: không còn dâm dục,
ăn uống. Song còn màu sắc, thân hình nên gọi là sắc giới. Tại cõi này có hai
mươi từng. Từ Phạm thiên đến Đại Tự thiên.
Vô Sắc Giới Thiên: tại cõi này chư
Thiên không có thân thể và hình sắc nên gọi là vô sắc. chỉ còn cái tâm thức ở
trong thiền định mà thôi.
Về hạng thần (A Tu La Đao) có hai
hạng. Hạng ác thần hưởng huyết nhục, hạng kiết thần hưởng chay lạt.
Nhưng dù hạng nào đi nữa, hưởng hết
phước đức thì phải luân hồi. (Như ông cả Trước ở Trảng Bàng Tây Ninh lúc còn
linh hiển, bắt bối vác lái chèo đứng hoài nơi cửa miếu chờ chủ lấy lại mới đi
đặng. Vùng đó thấy linh hiển nên cữ tên kêu bằng đi ỏtrácõ. Sau hưởng mấy chục
năm; mãn phước đã luân hồi nên hết linh nữa). A Tu La ác đạo là ăn mặn nhờ ngay
thẳng mà thành hung thần hưởng huyết thực, mau luân hồi. Nếu ăn chay thành kiết
thần gọi A Tu La thiên đạo thời lâu đọa làm thần ít trăm năm, không tu thêm về
Cực Lạc cũng phải bị luân hồi xuống thế mà hưởng giàu sang. Trừ ra thiên đạo
tiên chậm luân hồi hơn, hưởng phước mấy ngàn năm. Nếu tu theo Phật về Tây
Phương thời khỏi luân hồi. Dù giàu sang cho mấy cũng phải luân hồi mang xác
phàm. Muốn đặng liên hoa hóa thân mà sống đời thời phải tu theo phép Tịnh Độ.
Chín Hạng Đều Đặng Vãng Sanh Cực Lạc
Chín loại chúng sinh là: 1. Thai
sanh (sanh bằng thai nghén), 2. Noãn sanh (do sanh trong trứng), 3. Thấp sanh
(do sự ẩm ướt sanh ra), 4. Hóa sanh (do loài này hóa ra loài kia như sâu hóa
bướm), 5. Loại hữu sắc (loại có màu sắc như trời sắc giới), 6. Loại vô sắc
(loại không có màu sắc như trời vô sắc giới), 7. Loại hữu tưởng (như cõi trời
vô sắc, tuy không có thân hình mà có tư tưởng), 8. Loại vô tưởng (như cõi trời
Tịnh Phạn vì mãi ở trong cảnh giới thiền định nên không có tư tưởng), 9. Loại
phi hữu tưởng (như cõi thứ tư trong vô sắc giới thiên, chẳng phải có tư tưởng,
chẳng phải không tư tưởng). Tất cả chín loại chúng sanh trên đây, ai niệm Phật
cũng được vãng sanh cả.
Tầm thường là loài người (nhơn đạo)
có vui cũng có khổ. Khổ hơn hết là ngạ quỉ (ma đói) súc sanh, địa ngục. Trên loài
người các cõi trời là vui hơn hết. Song thiên thần dù hưởng thọ đến đâu hết
phước rồi cũng sa lần cho tới luân hồi. Sao bằng Cực Lạc khỏi phải luân hồi nên
ông Châu Sĩ An (tác giả Tây Qui Trực Chỉ) thường dưng hương Miếu Văn Xương Đế
Quân với Đông Nhạc Đại Đế lạy vái rằng: Xin Đế quân qui y theo Phật mà về làm
Bồ Tát cõi Tây Phương. Có khi dưng hương chùa Ngọc Hoàng lạy rồi cũng vái như
vậy.
Chúng ta may gặp cửa Tịnh Độ mà
không bước vào cho đặng vãng sanh Cực Lạc thiệt uổng và rủi vô cùng. Vì tu Tịnh
Độ không khó chi, ai làm cũng đặng, vừa làm vừa tu không bỏ công ăn việc làm
hàng ngày, nhọc công hai năm thời đủ. Còn sống tu thêm cho quả vị lớn, tới lâm
chung Phật cho biết ngày vãng sanh. Nếu không kịp hai năm, Phật cũng rước về
Tây Phương làm dân tu thêm cho có quả vị. Khó nhọc là tham thiền luyện đơn hết
hơi mà không thoát khỏi nẻo luân hồi. Nhiều vị thức trọn gần hai năm không ngủ
để tham thiền, kết quả chẳng đi đến đâu. Nếu quí vị ấy tu Tịnh Độ ít nhứt tòa
sen bực trung. Nhiều vị trường trai đã saün tu thêm Tịnh Độ rất lẹ thập bội.
Trong ít tháng cũng đủ, sao không chịu tu thêm cho đủ Tam giáo, chắc đặng vãng
sanh, bỏ trống liên đài, uổng quá, tiếc thay!
Niệm Phật Không Uổng Công
Việc chi ở đời làm không kết quả thờ
uổng công chớ tu Tịnh Độ dù sai chạy cũng không mất công chút nào. Xưa có lão
tiều gặp cọp sợ quá leo lên cây niệm Phật mà khỏi chết. Sau chết đầu thai kiếp
khác tỉnh ngộ đi tu mà thành. Niệm Phật một hồi còn đặng thiện căn như vậy
huống chi tu Tịnh Độ mãn đời. Dầu kiếp này mới tu không mấy ngày còn làm nhiều
tộ lỗi, trong lòng xao lãng không đặng vãng sanh, kiếp sau có lúc tỉnh ngộ tu
cũng thành có uổng công đâu. Chẳng phải như ở đời đi buôn không lời lại lỗ vốn,
làm ruộng mất mùa mang nghèo, học không đậu uổng công.
Lý
Nhân Quả Thông Cả Ba Đời.
Gặp Việc Buồn Cũng Ráng Niệm.
Tâm Mình Có Thể Cải Tạo Hoàn Cảnh.
Nhiều người mới làm lành chút ít,
tụng kinh niệm Phật đã mong được hưởng phước lớn. khi gặp cảnh khổ; bịnh hoạn,
nghèo nàn, tai nạn v.v.. liền cho rằng làm lành mắc họa rồi từ đó ngã lòng chê
bai Phật pháp. Những kẻ ấy không hiểu ỏlý nhân quả thông cả ba đờiõ và tâm mình
có thể cải tạo hoàn cảnh. Xưa nay ai đạo đức hơn Đức Khổng Tử mà còn phải bị
vây nơi đất Khuông; ngài tuyệt lương nhịn đói bảy ngày mà vẫn đờn ca như
thường. Kế đó vua Sở đem binh giải vây mới khỏi. Còn vua Văn Vương bị vua Trụ
cầm ngục thành Dũ Lý bảy năm mới tha. Sau con Võ Vương đặng làm thiên tử. Huống
chi người thường sao khỏi thời vận. Xem tích ông Khương Tử Nha thời đủ hiểu. Cứ
làm lành tu niệm mãi, tự nhiên tai qua nạn khỏi, dữ hóa lành.
Nhân quả thông cả ba đời là thế nào?
Như đời này làm lành hoặc dữ, đời này hưởng phước hay mang họa đó là hiện báo.
Đời này làm lành hoặc dữ, đời sau hưởng phước hay mang họa là sanh báo. Đời này
làm lành hoặc dữ, đời thứ ba, thứ tư, thứ mười, trăm ngàn muôn đời sau mới
hưởng phước hay mắc họa gọi là hậu báo. Hậu báo thì sớm muộn không định, đã gây
nhân tất có quả đó là lẽ tự nhiên.
Tâm mình có thể cải tạo hoàn cảnh là
thế nào? Ví như mình có người kiếp trước gây nghiệp ác nặng, kiếp này chịu
nhiều điều khổ dữ, ngườI ấy biết tội lỗi do kiếp trước làm, ăn năn sám hối, đổi
dữ làm lành, tụng kinh niệm Phật tự tu và khuyên người tu cầu sanh về Cực Lạc.
Do sự hối cải ấy, nghiệp trước kia liền tiêu bớt, đổi thành quả khổ nhẹ trong
đời này như: bị khinh rẻ, hoặc đau bịnh, nghèo nàn cùng gặp những điều không
vừa ý. Chịu đựng những khinh báo như thế xong người ấy có thể thoát đường sanh
tử. Kinh Kim Cang có nói: Nếu có người thọ trì kinh này mà bị kẻ khác khinh
chê, người đó đời trước gây tội, nghiệp đáng đọa vào ác đạo. Do đời này bị sự
khinh chê nên tội trước liền được tiêu diệt, sẽ chứng quả vô thượng bồ đề.
Người đời khi gặp tai nạn, nếu không
oán trời tất cũng trách người, ít ai nghĩ đến sự trả nghiệp mà sanh lòng ăn năn
chừa cải. Phải biết trồng cây dưa được dưa, trồng đậu được đậu là lẽ tự nhiên.
Làm dữ mà vẫn hưởng phước là đời trước vun bồi cội phước đã dày, nếu không làm
dữ thời phước còn lớn hơn. Làm lành mà hay bị tai nạn là đời trước trồng gốc
tội đã sâu. Nếu không làm lành tụng kinh niệm Phật, họa càng lớn hơn nữa. Ví
như người phạm tội nặng chưa kịp hành hình lại lập được công nhỏ, vì chưa có
thể hoàn toàn ân xá nặng thành nhẹ. Nếu lập công mãi đến khi công to không
những trừ hết tội trước lại được giải thoát nữa.
Lập Cách Độ Tận Chúng Sanh
Cách này trừ ra người không tin,
không tu theo Tịnh Độ thời thôi, nếu tin mà tu, bất cần gái trai già trẻ biết
niệm Phật Di Đà, câm thời niệm thầm, dầu tu mấy triệu, chết cũng đặng vãng sanh
Cực Lạc, không sót một người nào luân hồi đọa lạc.
Nhà nào có duyên phần, có phước,
miễn một người đọc đặng cuốn kinh này, giảng cho cả nhà nghe chung chắc ai cũng
muốn khi chết Phật Di Đà rước hồn về Tây Phương liên hoa hóa thân cho hết khổ.
Ráng ăn trường trai, nếu không nổi tập lần lục trai, thập trai. Tệ quá thì ăn
chay ngày mồng một và ngày rằm. Tuy không cấm việc vợ chồng cưới gả, song phải
giữ giới kỳ cho nghiêm. Rảnh noi theo luật công quá cách làm lành sửa mình, làm
đặng chút nào đỡ chút nấy. Nhứt là nội nhà tuy còn ăn mặn, mà cữ tà dâm sát
sanh cho nghiêm. Không nên uống rượu loạn tánh. Dùng khô mắm, thịt chợ, cá tôm
chết saün, không giết con chi tại nhà bếp mình. Cữ huyết thịt trâu bò cày và
thịt chó. Không cần đến chùa hay tìm thầy. Hãy coi ngày giờ chư Phật hội tại
hướng nào, thời đặt bàn hương án nội nhà lập nguyện. Nhớ mỗi tháng y như vậy.
Thỉnh tượng Di Đà thờ, mỗi ngày tụng nhật khóa, dốt niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà
Phậtõ cũng đủ.
Ngày sám hối đặt bàn hương án nội
nhà lập nguyện:
Tôi. . . họ. . tên. . ở làng. .
.hạt. . phát tâm nguyện kể từ ngày nay, cải ác tùng thiện, ăn năn chừa lỗi. Giữ
theo qui luật công quá cách, đặng bao nhiêu hay bấy nhiêu, nhứt là cữ sát sanh,
uống rượu, tà dâm, gian giảo, nói dối và nguyện ăn chay (trường) (thập) (lục)
(sóc vọng). Mà mỗi ngày niệm Di Đà tới đủ 30 muôn câu, đặng nhờ ơn Phật chứng
minh ứng mộng, đem họ tên vào liên hoa. Sau lâm chung Phật cho biết ngày rước
hồn về Cực Lạc, hóa thân theo Phật cho khỏi luân hồi lục đạo. Lạy bốn lạy, niệm
Phật đếm đủ 108 câu, gọi một trăm. Đem tượng Phật thờ tại bàn nào thọ trì tự ý.
Từ ấy sắp sau, đi đứng nằm ngồi đều niệm thầm. Ngày đêm đếm cộng đủ 30 muôn, sẽ
thấy điềm Di Đà cho biết. (Trừ ra nằm hoặc ở trần thì niệm thầm mà xả không
được ghi số). Đến cơn bịnh đừng sợ tốn, sắm đồ chay cho người bịnh ăn trường,
niệm Phật ngày đêm cho tới lâm chung thời thấy Phật rước. Mấy ngày cũng đủ,
nhiều tháng quí hơn. Hai năm thời thấy điềm cho biết trước ngày Phật rước hồn,
có tòa sen.
Nếu chưa tới phần, mạnh lại như xưa,
giữ trường chay không nổi ăn lại theo lệ cũ cũng không tội gì, đừng nghe họ hăm
mà sợ sái, khi khác đau cũng vậy. Đừng ơ hờ, lơ lỏng uổng công. Nhớ đến cơn
ngặt mình (gần tắt hơi) niệm ra tiếng mười câu, Di Đà hiện xuống rước liền.
Người nhà nên niệm Phật giúp hoặc niệm vãng sanh, đừng nên khóc cho người bịnh
động lòng, loạn tâm xao lãng sự tưởng niệm Di Đà. Không phải kêu khóc mà khỏi
chết trong lúc mãn phần số.
Cách này độ vớt hết, từ con nít biết
nói, biết niệm sắp lên, nó chưa biết nguyện, cơn lập nguyện để sau rốt. Người
lớn bảo nó nói theo. Còn ai biết chữ thời đọc bài lập nguyện trước đây.
Tôi cứ theo phép Tịnh Độ trong kinh
Đại Tạng lập ra mà độ giúp với Phật độ tận chúng sanh. Nếu bày huyễn hoặc, gạt
đời cho mất công vô ích, tôi thề bị hủy hết công tôi trường chay 46 năm, thác
bị cầm hồn tại địa ngục, 30 muôn năm mới được đầu thai làm ong kiến. Tôi ước
nhiều vị khuyên độ tận tâm như tôi.
Tận Tâm Cư Sĩ Trần Phong Sắc thệ
cáo.
(bài này trích trong Lão Nhơn Đắc Ngộ)
Discussion about this post