Mọi người, do bởi tính tự nhiên, có một cảm nhận về
tự ngã và, với điều ấy, [họ]trải qua
những hiện tượng có thể biết được với một cảm giác khổ đau, vui sướng, hay
trung tính.
Everyone, by nature, has a feeling
of self and, with that, experiences knowable phenomena with a painful,
joyful, or neutral feeling.
Do bản chất tự nhiên, tất cả chúng ta thích an lạc
hạnh phúc và không thích bất hạnh cùng đau khổ. Cũng không cần phải chứng minh điều
này. Trên căn bản này, chúng ta có thể
nói về quyền của mọi người để có một đời sống hạnh phúc và vượt thắng khổ
đau.
By nature, we all like happiness and dislike
unhappiness and pain. There is no need to prove this either. On this basis,
we can speak of everyone’s right to have a happy life and to overcome
suffering.
Có hai đặc trưng của đau đớn và vui sướng. Một liên hệ với kinh nghiệm cảm giác thân
thể vật lý và một với thể trạng tinh thần.
Now,
there are two categories of pain and pleasure. One is linked with physical
sensory experience and one with the mental level.
Chúng ta có thể trải qua sự đớn đau thể xác, nhưng
với sự an lạc tinh thần, và tại những thời điểm khác, tình trạng thân thể là
tốt đẹp, nhưng thể trạng tinh thần của chúng ta chứa đầy lo lắng và không hài
lòng.
We can experience physical pain, but with
mental happiness, and at other times, our physical level is OK, but our
mental level is filled with worry and dissatisfaction.
Một số người với vô số căng thẳng, lo lắng, ganh
đua, ganh tị, thù hận, dính mắc – những thứ này đưa đến khổ não tinh thần.
Someone
with lots of stress, worry, competitiveness, jealousy, hate, attachment –
these bring mental unhappiness.
Nếu chúng ta lãng quên trình độ nội tại, đời sống
không thể có hạnh phúc an lạc.
If we
ignore the inner level, life may not be happy.
Trong thời xưa, người
ta dùng tín ngưỡng để mang đến hy vọng và thoãi mái khi họ đối diện với những
tình cảnh chán chường – những vấn nạn ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, tuyệt vọng.
In
ancient times, people used faith to bring hope and comfort when they faced
desperate situations – problems beyond our control, hopelessness.
Một người bạn Do Thái đặt để chúng một cách thú vị: “Cái tôi” là gì? Tôi đến từ nơi nào? Tôi sẽ đi về chốn nào? Mục tiêu của cuộc đời là gì? Đây là những câu hỏi chính. Những câu trả lời đến những điều này ở
trong hai đặc trưng: thuyết hữu thần
và thuyết vô thần.
One Jewish friend put them nicely:
What is “ I”? Where do I come from? Where will I go? What is the purpose of
life? These are the main questions. The answers to these are in two
categories: theistic and non-theistic.
Ở Ấn Độ, ba nghìn năm về trước con người đã cố gắng
để tìm một câu trả lời đến [câu hỏi] “cái tôi” là gì, ngã là gì? Theo những kinh nghiệm thông thường, thân
thể khi trẻ có một sự biểu hiện và hình dáng khác hơn khi già. Tâm thức cũng thế, trong từng giây phút là
khác biệt. Nhưng chúng ta có một cảm
giác tự nhiên của “cái tôi” – khi “tôi” trẻ, khi “tôi” già. Do thế, phải có một chủ nhân ông của thân
thể và tâm thức. Chủ nhân ông phải là
điều gì ấy độc lập và thường tại, không thay đổi, trong khi thân thể và tâm
thức đổi thay. Thế nên, ở Ấn Độ, ý tưởng
về một cái ngã, một linh hồn, một “atman” – được sinh ra [từ đấy]. Khi thân thể không còn có thể dùng được nữa,
một linh hồn vẫn duy trì ở đấy. Đấy là
câu trả lời cho [câu hỏi] “cái tôi” là gì.
In India, three thousand years ago
people tried to find an answer to what is “I,” what is the self? According to
common experience, the body when young has a different appearance and shape
than when old. The mind also, within minutes is different. But we have a
natural feeling of “I” – when “ I” was young, when “I” was old. Therefore,
there must be an owner of the body and the mind. The owner must be something
independent and permanent, unchanging, while the body and the mind changes.
So, in India, a self, a soul, an “ atman” – that idea comes. When the
body is no longer usable, a soul remains there. That is the answer of what is
“I.”
Linh hồn đến từ chốn nào? Nó có khởi đầu và kết
thúc hay không? Không có khởi đầu thì
khó chấp nhận, và vậy thì phải có một sự khởi đầu, giống như có một sự bắt đầu
của thân thể này. Và vì thế Thượng Đế
tạo nên linh hồn. Và như để có sự kết thúc, chúng ta hình thành sự hiện diện
của Thượng Đế hay cuối cùng hòa tan trong Thượng Đế. Những tôn giáo Trung Đông – buổi đầu của Do
Thái Giáo, Ki Tô Giáo, và có thể là Ai Cập – tin tưởng sự sống sau khi chết. Nhưng, đối với Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo, và
Hồi Giáo, chân lý căn bản là Thượng Đế, đấng Tạo Hóa. Đấy là nguồn cội của mọi thứ. Thượng Đế đó phải có năng lực vô giới hạn
và vô hạn chế từ ái và bi mẫn. Mỗi tôn
giáo xác nhận một lòng từ bi vô hạn, như Thánh Allah. Và Thượng Đế là vượt ngoài kinh nghiệm,
chân lý tối hậu. Đó là tôn giáo hữu thần.
Where does the soul come from?
Does it have a beginning or not? No beginning is difficult to accept, and so
there must be a beginning, like there is a beginning to this body. And so God
creates the soul. And as for the end, we come into God’s presence or
eventually we absorb into God. Middle Eastern religions – early Jewish,
Christian, and maybe Egyptian – believe in an afterlife. But, for Jewish,
Christian, and Muslim, ultimate truth is God, the Creator. That is the source
of everything. That God must have limitless power and limitless compassion
and wisdom. Every religion asserts infinite compassion, like Allah. And God
is beyond our experience, ultimate truth. That is theistic religion.
Khoảng 2600 năm trước đây, Đức Phật và khai tổ của
Kỳ Na Giáo Mahavira, xuất thế. Không
ai trong họ đề cập đến Thượng Đế, nhưng thay vì thế nhấn mạnh một cách đơn giản
đến nhân quả. Do vậy, một nhánh của Số
Luận Sư và cả Kỳ Na Giáo lẫn Phật Giáo là những tôn giáo vô thần.
Around 2600 years ago, Buddha and
the Jain founder, Mahavira, came. Neither of them mentions God, but
emphasized instead simply cause and effect. Thus, one category of Samkhya,
and both Jainism and Buddhism are non-theistic religions.
Trong những tôn giáo vô thần, Phật Giáo nói rằng mọi
thứ đến từ nguyên nhân và những điều kiện của chính nó (nhân duyên), và bởi
vì điều ấy, một trong những bản chất tự nhiên chính của nguyên nhân và hiệu
quả là đổi thay. Sự vật chẳng bao giờ
đứng yên bất động. Do vậy, vì căn bản
cho tự ngã hay “cái tôi” là thân thể và tâm thức, những điều đang thay đổi
luôn luôn một cách rõ ràng, và vì “cái tôi” dựa vào chúng, “cái tôi” phải
cùng bản chất tự nhiên [với chúng]. Nó
không thể không thay đổi và thường tại. Nếu căn bản đổi thay, điều gì được đặc trưng trên nó cũng phải thay đổi. Do vậy, không có một linh hồn thường tại,
không đổi thay – “anatma”, vô ngã. Đây
là khái niệm đặc trưng của Phật Giáo – mọi thứ phụ thuộc hổ tương và liên hệ. Vì thế, trong ba tôn giáo vô thần, mặc dù
hai tôn giáo kia chấp nhận luật nhân quả, tuy thế họ xác nhận một cái ngã thường
tại, không thay đổi.
Within non-theistic religions,
Buddhism says that everything comes from its own causes and conditions, and
because of that, one of the very natures of cause and effect is change.
Things are never standing still. Therefore, since the basis for the self or
“I” is the body and mind, which obviously are changing all the time, and
since the “I” relies on them, the “I” must be of the same nature. It can’t be
unchanging and permanent. If the basis changes, what is designated on it must
also be changing. Therefore, there is no permanent, unchanging soul – “ anatman,”
selfless. This is the unique Buddhist concept – everything is interdependent
and related. So, within the three non-theistic religions, although the other
two accept causality, nevertheless they assert a permanent, unchanging self.
Một linh mục Ki Tô Giáo hỏi tôi về tính không, trống
rỗng, và tôi đã nói với ông ta rằng điều này không tốt cho ông. Nếu tôi dạy sự tương duyên sanh khởi hoàn
toàn, điều này có thể tổn hại đến niềm tin mạnh mẽ của ông đối với Thượng Đế. Thế nên, tốt hơn cho những người như vậy là
không nghe nói về tính không hay trống rỗng.
One Christian father asked me
about emptiness, voidness, and I told him this is not good for him. If I
teach complete interdependence, this might harm his strong faith in God. So
it is better for such people not to listen to talk about voidness.
Vì đại đa số những tôn giáo quan trọng có cùng sự
thực tập giống nhau, chỉ khác về phương pháp và triết lý khác nhau, nhưng với
cùng mục tiêu, đấy là nền tảng cho sự tôn trọng lẫn nhau.
Since
all major traditions have the same practice, just different methods and
different philosophies, but with the same purpose, that is the ground for
mutual respect.
Nếu một số phương pháp nào đấy của Phật Giáo từ sự
thuyết giảng của tôi mà các bạn thấy hữu
ích, thế thì hãy sử dụng chúng. Nếu chúng không lợi lạc, thôi thì hãy từ bỏ chúng.
If some Buddhist methods come from
my lecture which you find useful, then use them. If they are not useful, then
leave them.
Để chấp nhận những tôn giáo khác là chính đáng có
thể dường như làm tổn hại tính nguyên vẹn niềm tin tôn giáo của chính mình,
vì nó đòi hỏi sự thu nạp những con đường tâm linh khác nhau nhưng hiệu quả
To accept that other religions are legitimate may
seem to compromise the integrity of one’s own faith, since it entails the
admission of different but efficacious spiritual paths.
Không có sự hiện hữu của một tinh thần chân thành đa nguyên tôn giáo, thì sẽ không
có hy vọng cho việc phát triển một sự hòa hiệp căn cứ trên sự thấu hiểu liên
tôn chân thật.
Yet without the emergence of a genuine spirit of
religious pluralism, there is no hope for the development of harmony based on
true interreligious understanding.
Về mặt lịch sử, các tôn giáo đã trãi qua một chiều
dài lâu xa, ngay cả tiến hành những cuộc chiến tranh, để mở rộng lập trường của
họ về những gì mà họ nghĩ là một phương thức đúng đắn. Ngay cả trong chính trong phe phái của họ,
các tôn giáo đã trừng trị một cách vô cảm những giọng nói không chính thống
hay dị giáo mà truyền thống xem như phá hoại tính nguyên vẹn của những chân
lý không thể xâm phạm mà niềm tin đặc trưng đại diện.
Historically, religions have gone to great
lengths, even waging wars, to impose their version of what they deem to be
the one true way. Even within their own fold, religions have harshly
penalized those heterodox or heretical voices that the tradition took as
undermining the integrity of the inviolable truths that the specific faith
represents.
Triết
lý tổng thể của hành vi truyền giáo – đấy là, sự tập trung trên việc đem đến
sự hoán đổi hành động của con người từ những tôn giáo khác nhau hay không tín
ngưỡng – được đặt nền tảng trong ý tưởng của việc mang đến “một phương pháp
chân chính” đến những ai mà đôi mắt của họ tiếp tục đóng kín. Trong một ý nghĩa, người ta có thể ngay cả
nói rằng có một động cơ vị tha bên dưới sự thúc đẩy này để thay đổi những người
thuộc tôn giáo khác thành tôn giáo của mình.
The entire ethos of missionary activity—that is,
the focus on bringing about active conversion of people from other faiths or
no faiths—is grounded in the ideal of bringing the “one true way” to those
whose eyes remain unopened. In a sense, one might even say that there is an
altruistic motive underlying this drive to convert others to one’s own faith.
Thí dụ, đối với tôi Đạo Phật là đệ nhất, nhưng điều
này không có nghĩa là Phật Giáo là tuyệt nhất cho tất cả mọi người. Chắc chắn là không. Đối với hàng triệu con người đồng loại của
tôi, những hình thức giáo lý hữu thần đại biểu cho lộ trình tuyệt hảo nhất.
For example, for me Buddhism is the best, but this
does not mean that Buddhism is the best for all. Certainly not. For millions
of my fellow human beings, theistic forms of teaching represent the best
path.
Điều
quan yếu là hành giả tôn giáo không nuôi dưỡng một sự vướng mắc vị kỷ trong
niềm tin của mình.
It is critical that the religious practitioner
harbors no egocentric attachment to his faith.
Một số người nói Thượng Đế, một số người nói không
Thượng Đế – điều ấy không quan trọng. Điều quan trọng là luật nhân quả. Điều này là giống nhau trong tất cả mọi tôn giáo – không thực hành sự
giết hại, trộm cướp, ngược đãi tình dục, dối trá. Những tôn giáo khác nhau có sử dụng những
phương pháp khác nhau, nhưng người ta có cùng mục tiêu. Hãy nhìn ở những kết quả, không phải ở những
nguyên nhân.
Some say
God, some say no God – that is not important. What is important is the law of
causality. This is the same in all religions – don’t practice killing,
stealing, sexual abuse, lying. The different religions may use different
methods, but they all have the same purpose. Look at the results, not at the
causes.
“Bạn sẽ ngạc nhiên khi một nhà lãnh đạo tinh thần, một tu sĩ
Phật giáo lại nói điều này. Dù là vậy, nhưng tôi khá hoài nghi về sức mạnh
của cầu nguyện. Bởi vì nếu những vấn đề được tạo ra bởi thượng đế thì ông ta
sẽ có thể giải quyết chúng”.
(Theo The Indian Express) http://giacngo.vn/phatgiaonuocngoai/2013/07/30/17D20B/
“Tuy nhiên, những vấn nạn trên thế giới này đã được tạo ra bởi
chúng ta. Tôi nghĩ rằng thượng đế đang thấy rõ tình hình của chúng ta mà
không giúp ích được gì. Chúng ta đã tạo ra những vấn đề này và do đó chúng ta
phải giải quyết chúng. Thông qua hành động chớ không phải qua cầu nguyện. Tôi
là một tu sĩ Phật giáo và chúng tôi tin vào cầu nguyện và thiền định. Nhưng
chúng tôi cũng tin vào nghiệp. Tất cả mọi thứ đến từ hành động chớ không phải
ước muốn hay cầu nguyện”.
(Theo The
Indian Express)
“Các nhà lãnh đạo vĩ đại như Mahatma Gandhi, Nelson Mandela và
thậm chí cả Martin Luther King đều theo đường lối bất bạo động của Ấn Độ vì
nó là sức mạnh của chân lý và là dấu hiệu của sức mạnh…Đôi khi tôi nói với
các bạn bè Ấn Độ rằng Ấn Độ đang xuất khẩu bất bạo động ra nước ngoài”.
(Theo The
Indian Express)
“Hòa bình và bất bạo động cũng cần thiết ở trong nước. Nếu bạn
muốn xuất khẩu nó, bạn nên tạo ra ở trong nước nhiều hơn. Tôi xem mình là một
sứ giả của Ấn Độ bởi vì tôi rao giảng về bất bạo động. Hòa hợp tôn giáo đã
hình thành ở Ấn Độ hàng ngàn năm trước, nhưng hôm nay chúng ta cần phải thúc
đẩy nó nhiều hơn”.
(Theo The
Indian Express)
Hòa bình nội tại liên hệ với từ bi. Tất cả những tôn giáo quan trọng có cùng
thông điệp – từ ái, bi mẫn, tha thứ. Chúng ta cần một cung cách thế tục để thúc đẩy từ bi.
Inner
peace is related with compassion. All major religions have the same message –
love, compassion, forgiveness. We need a secular way to promote compassion.
Đối với những người không tín ngưỡng – những ai
không có sự quan tâm trong một tôn giáo đặc thù hay một số thậm chí không ưa
tôn giáo – đôi khi họ cũng chẳng lưu ý đến từ bi, vì họ nghĩ rằng từ bi là một
vấn đề tôn giáo. Điều này hoàn toàn
sai lầm. Nếu bạn muốn nhìn vào tôn
giáo như điều gì tiêu cực, đấy là quyền của bạn. Nhưng không có điểm nào để có một thái độ
tiêu cực đối với từ bi.
As for nonbelievers – those who
have no particular religious interest or some who even hate religion –
sometimes they also have no interest in compassion, since they think that
compassion is a religious matter. This is fully wrong. If you want to look at
religion as something negative, that is your right. But there is no point in
having a negative attitude toward compassion.
Hạt giống đầu tiên của từ bi đến từ mẹ của tôi,
không phải từ Phật giáo. Sau khi học hỏi
Phật giáo, nó chỉ đơn thuần tăng trưởng. Nếu chúng tôi không có một bà mẹ như thế hay nếu cha mẹ tôi đã ngược
đãi tôi, thế thì hôm nay có lẽ khó khăn cho tôi thực hành từ bi.
The
first seed of my compassion came from my mother, not from Buddhism. After
studying Buddhism, it merely increased. If I didn’t have that kind of kind
mother or if my parents had abused me, then today maybe it would be difficult
for me to practice compassion.
Hạt giống của từ bi yêu thương là một nhân tố sinh
học. Chúng ta cần nó để tồn tại.
The seed of compassion is a
biological factor. We need it for survival.
Theo những nhà y khoa, họ thấy rằng càng thực tập
từ bi, càng ít căng thẳng và băn khoăn và tâm thức càng hòa bình. Chúng ta có sự tuần hoàn máu tốt hơn và nó
hạ thấp huyết áp của chúng ta. Trong
vài trường hợp, hệ thống miễn nhiễm trở nên mạnh hơn.
According
to medical scientists, they found that the more we practice compassion, the
less stress and anxiety and the more peace of mind we have. We have better
blood circulation and it lowers our blood pressure. In some cases, the immune
system gets stronger.
Từ bi và tha thứ là rất hữu ích cho sức khỏe và tuổi
thọ.
Compassion and forgiveness are
very helpful for health and long life.
Chúng ta cần thúc đẩy một cách thích đáng cho những
giá trị nhân bản, không chỉ qua tôn giáo, mà cả qua sự giáo dưỡng thế tục. Nền học vấn hiện đại không chú ý đủ đến
lòng nhiệt tình. Điều này là thiếu
sót.
We need
proper promotion of human values, not just through religion, but through
secular education. Modern education does not pay enough attention to
warm-heartedness. This is lacking.
Chúng ta cần một phương pháp thế tục để thúc đẩy đạo
đức thế gian. Thế tục không có nghĩa
là chống lại tôn giáo hay không tôn trọng
tôn giáo. Khi chúng tôi nói “thế tục”,
nó giống như trong hiến pháp Ấn Độ. Thánh Gandhi nhấn mạnh tôn giáo thế tục: Ngài cẩu nguyện khắp các tôn giáo. “Thế tục” có nghĩa là không coi trọng một
tôn giáo này trên một tôn giáo khác, mà có sự tôn trọng đến tất cả mọi tôn
giáo, bao gồm cả những người không tín ngưỡng. Thế nên, chúng ta cần những đạo đức thế tục
qua những phương pháp trần gian, trên căn bản của nền học vấn về những kinh
nghiệm thông thường và những bằng chứng khoa học.
We need a secular way to promote
secular ethics. Secular does not mean to be against religion or to have
disrespect for religion. When I say “secular,” it is like in the Indian
constitution. Gandhi emphasized secular religion: he did prayers from all
religions. “Secular” means no preference of one religion over another, but to
have respect for all religions, including for nonbelievers. Therefore, we
need secular ethics through secular ways, on the basis of education about
common experience and scientific evidence.
Qúy vị không thể mua sự bình an của tâm hồn. Không
ai bán nó, nhưng mọi người muốn sự bình an của tâm hồn. Vì thế nhiều người dùng thuốc an thần,
nhưng thuốc men thật sự cho một tâm tư
căng thẳng là từ bi yêu thương. Do thế,
những người theo chủ nghĩa duy vật chất cần từ bi yêu thương.
You can’t possibly buy peace of
mind. No one sells it, but everyone wants peace of mind. So many people take
tranquilizers, but the real medicine for a stressed mind is compassion.
Therefore, materialistic people need compassion.
Sự bình an của tâm hồn là thuốc men bậc nhất cho sức
khỏe tốt. Nó đem đến một sự cân bằng
hơn cho những yếu tố vật lý.
Peace of
mind is the best medicine for good health. It brings more balance to the
physical elements.
Nếu chúng ta thực hiện một nổ lực mạnh mẽ với từ
bi yêu thương, rồi thì khi giận dữ đến, nó chỉ hiện diện trong một giây phút
ngắn. Giống như có một hệ thống miễn
nhiễm mạnh mẽ.
If we
make a strong effort in compassion, then when anger comes, it is just for a
short while. It is like having a strong immune system.
Tất cả chúng ta cùng có khả năng giống nhau cho
tính tốt, lòng hào hiệp. Thế nên hãy
nhìn lại chính mình. Hãy thấy tất cả
những khả năng tích cực.
We all
have the same potential for goodness. So look at yourself. See all the
positive potentials.
Đời sống của chúng ta bắt đầu với từ bi. Do vậy, hạt giống của từ bi là mạnh hơn hạt
giống của giận hờn. Thế nên, hãy nhìn
chính mình một cách tích cực hơn. Điều
này sẽ mang đến một tính tình tĩnh lặng hơn. Rồi thì khi những vấn nạn xãy đến, nó sẽ dễ dàng hơn.
Our life starts with compassion.
Therefore, the seed of compassion is stronger than the seed of anger.
Therefore, look at yourself more positively. This will bring a more tranquil
mood. Then when problems come, it will be easier.
Khi chúng ta sắp đối diện với một nan đề, nếu
chúng ta phân tích và thấy một cách để tránh nó hay để vượt thắng nó, thế thì
không có gì để lo lắng. Và nếu chúng
ta không thể vượt qua nó, thì lo lắng cũng không có ích gì. Hãy chấp nhận thực tế.
When we are about to face a
problem, if we analyze and see a way to avoid it or to overcome it, there is
no need to worry. And if we can’t overcome it, then there is no help from
worrying. Accept reality.
Nếu quý vị lưu tâm đến những gì tôi nói, vậy hãy
thể nghiệm với chính mình. Nếu quý vị
không thấy gì hấp dẫn, thế thì hãy quên nó đi. Tôi sẽ rời đi ngày mai, nhưng những nan đề
của quý vị sẽ vẫn ở với quý vị.
If you
are interested in what I say, then experiment by yourself. If you have no
interest, then leave it. I leave tomorrow, but your problems will stay with
you.
Đương nhiên, mỗi tôn
giáo có một ý nghĩa riêng biệt như bộ phận cốt lõi chân giá trị của nó. Ngay cả thế, tôi tin rằng có một khả năng
chân thành cho sự thông hiểu hổ tương. Trong khi duy trì niềm tin đối với truyền thống của mỗi người, chúng
ta có thể tôn trọng, ngưỡng mộ và cảm kích những truyền thống khác.
Granted, every religion has a
sense of exclusivity as part of its core identity. Even so, I believe there
is genuine potential for mutual understanding. While preserving faith toward
one’s own tradition, one can respect, admire and appreciate other traditions.
Một người đã mở mắt
sớm sủa cho tôi là sự gặp gở với một tu sĩ dòng Luyện tâm (Trappist) Thomas
Merton ở Ấn Độ chỉ trước khi ông đã chết rất trẻ năm 1968. Merton đã nói với tôi rằng ông có thể trung
thành tuyệt đối với Ki Tô giáo, tuy thế ông đã học hỏi một cách sâu xa từ
những tôn giáo khác như Phật giáo. Điều ấy cũng giống với tôi như một người Phật tử nhiệt tình học hỏi từ
những tôn giáo vĩ đại khác của thế giới.
An early
eye-opener for me was my meeting with the Trappist monk Thomas Merton in
India shortly before his untimely death in 1968. Merton told me he could be
perfectly faithful to Christianity, yet learn in depth from other religions
like Buddhism. The same is true for me as an ardent Buddhist learning from
the world’s other great religions.
Điểm chính trong cuộc
thảo luận với Merton là trọng tâm lòng
bi mẫn như thế nào đối với cả Ki Tô giáo và Phật giáo. Khi đọc về Tân Ước, tôi thấy tôi ngưỡng mộ
những hành vi bác ái của chúa Giê-Su. Những phép lạ của ngài về bánh mì và cá, sự chửa trị của ngài và sự
giảng dạy của ngài tất cả được thúc đẩy bởi khát vọng giải thoát khổ đau.
A main point in my discussion with
Merton was how central compassion was to the message of both Christianity and
Buddhism. In my readings of the New Testament, I find myself inspired by
Jesus’ acts of compassion. His miracle of the loaves and fishes, his healing
and his teaching are all motivated by the desire to relieve suffering.
Tôi là một người với
niềm tin vững vàng trong năng lực tiếp xúc cá nhân để vượt qua những sự khác
biệt. Vì thế từ lâu tôi đã từng tổ
chức những cuộc đối thoại với những người với những quan điểm tôn giáo
khác. Sự tập trung trên lòng bi mẫn
mà Merton và tôi đã quán chiếu trong hai tôn giáo của chúng tôi gây ấn tượng
cho tôi như một dòng chảy thống nhất mạnh mẽ giữa tất cả những tôn giáo quan
trọng. Và những ngày này chúng ta cần
làm rõ những gì kết hợp chúng ta lại.
I’m a firm believer in the power
of personal contact to bridge differences, so I’ve long been drawn to
dialogues with people of other religious outlooks. The focus on compassion
that Merton and I observed in our two religions strikes me as a strong
unifying thread among all the major faiths. And these days we need to
highlight what unifies us.
Tôi nhớ một cách sâu sắc vị giáo sĩ Do Thái ở Hòa Lan, người đã
nói với tôi về sự tàn sát người Do Thái với một cảm xúc mãnh liệt đến nổi cả
hai chúng tôi đều rơi nước mắt. Và tôi
đã từng học về tại sao tập bài giảng Talmud của Do Thái
và Thánh Kinh lập lại
chủ đề về bác ái như thế nào, như trong một đoạn của Leviticus đã khuyên nhắc, “Hãy yêu mến
hàng xóm của con như chính con.”
I remember vividly the rabbi in
the Netherlands who told me about the Holocaust with such intensity that we
were both in tears. And I’ve learned how the Talmud and the Bible repeat the
theme of compassion, as in the passage in Leviticus that admonishes, “Love
your neighbor as yourself.”
Trong nhiều cuộc gặp gở của tôi với những học giả Ấn Độ giáo,
tôi cũng đã thấy trọng tâm bi mẫn vô ngã trong Ấn giáo –thí dụ như đã tuyên
bố, trong Bhagavad Gita, mà lời ca ngợi những ai “vui mừng trong lợi ích của
tất cả muôn loài.” Tôi đã rung động
bởi những cung cách mà giá trị này đã được biểu lộ trong đời sống của những
con người vĩ đại như Thánh Gandhi, hay ít được biết hơn như Baba Amte.
In my many encounters with Hindu
scholars in India, I’ve come to see the centrality of selfless compassion in
Hinduism too — as expressed, for instance, in the Bhagavad Gita, which
praises those who “delight in the welfare of all beings.” I’m moved by the
ways this value has been expressed in the life of great beings like Mahatma
Gandhi, or the lesser-known Baba Amte.
Một giáo sĩ Hồi giáo ở
Ladakh, một lần đã nói với tôi rằng một người Hồi giáo chân chính nên yêu mến
và tôn trọng tất cả những tạo vật của thánh Alla. Trong sự hiểu biết của tôi, Hồi giáo trân
trọng bi mẫn-bác ái thiêng liêng như cốt tũy nguyên lý tâm linh, phản ánh
trên ngay chính danh xưng của Thượng Đế, Đấng “Bác Ái và Nhân Từ,” mà điều ấy hầu như xuất hiện khi bắt đầu mỗi
chương của kinh Koran.
An imam in Ladakh once told me
that a true Muslim should love and respect all of Allah’s creatures. And in
my understanding, Islam enshrines compassion as a core spiritual principle,
reflected in the very name of God, the “Compassionate and Merciful,” that
appears at the beginning of virtually each chapter of the Koran.
Truy tìm nền tảng
chung trong những nền tín ngưỡng có thể giúp chúng ta vượt lên những sự chia
cách không cần thiết tại một thời điểm khi mà hành động kết hợp là thiết yếu
hơn bao giờ hết. Như một chủng loại,
chúng ta phải nắm lấy tính chất duy nhất của nhân loại, như cùng là những con
người, khi chúng ta đối diện với những vấn đề của địa cầu như những khủng
hoảng về nạn dịch bệnh, kinh tế và thảm họa sinh thái. Ở mức độ ấy, sự đáp ứng của chúng ta phải
là một hành động duy nhất.
Finding common ground among faiths
can help us bridge needless divides at a time when unified action is more
crucial than ever. As a species, we must embrace the oneness of humanity as
we face global issues like pandemics, economic crises and ecological
disaster. At that scale, our response must be as one.
Hòa hiệp trong những
tôn giáo quan trọng đã trở thành một thành tố chủ yếu của sự cùng tồn tại hòa
bình trong thế giới chúng ta. Từ nhận
thức này, sự thông hiểu hổ tương trong những truyền thống này không chỉ đơn
thuần là trách nhiệm của những người tin tưởng tôn giáo – nó quan hệ cho lợi
ích của toàn thể nhân loại.
Harmony among the major faiths has
become an essential ingredient of peaceful coexistence in our world. From
this perspective, mutual understanding among these traditions is not merely
the business of religious believers — it matters for the welfare of humanity
as a whole.
Tất cả những tôn giáo cung ứng một sự hổ trợ đến
nhân loại. Đặc biệt khi đối diện với
những tình cảnh khó khăn, tất cả tôn giáo trao cho niềm hy vọng. Do vậy, chúng ta phải tôn trọng tất cả mọi
tôn giáo.
All religions offer help to humanity.
Especially when facing difficult situations, all religions offer hope.
Therefore, we must respect all religions.
Tôi nghĩ rằng sự phát triển hòa hiệp hổ tương giữa
những tôn giáo khác nhau là rất quan trọng. Đây là một trong những chí nguyện của chúng tôi cho tới khi chết, và đấy là thúc đẩy sự hòa hiệp tôn
giáo.
I think
that the development of mutual harmony among different religions is very
important. This is one of my commitments until my death, to promote religious
harmony.
Không có lý
trí, đôi khi tín ngưỡng tồn tại đôi chút không thích đáng. Nhưng với lý trí, tín ngưỡng có thể trở
thành một bộ phận của đời sống và vô cùng thích ứng.
Without
reason, sometimes faith remains a little irrelevant. But with reason, faith
can become a part of life that is extremely relevant.
Nếu chúng ta nghĩ trong những hình thức giận dữ,
thù hận, ghen tị, ý muốn lừa dối và bắt nạt kẻ khác, thế thì nếu chúng ta có
tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo sẽ bảo vệ chúng ta chống lại những cảm xúc và
hành động tiêu cực như vậy. Khi chúng
ta nhận ra điều này, thế thì tín ngưỡng trở nên rất quan trọng trong đời sống
hằng ngày.
If we
think in terms of anger, hatred, jealousy, the wish to cheat and bully
others, then if we have faith, faith protects us against such negative
emotions and actions. When we realize this, then faith becomes very important
in daily life.
Trong truyền thống Phật Giáo, chúng ta đặt sự nhấn
mạnh một cách tương xứng trên tín ngưỡng và lý trí. Thế nên, một số sự giải thích Phật Giáo, đặc
biệt những điều căn cứ trên lý trí có thể rất hữu ích cho những hành giả của
những truyền thống khác.
In the Buddhist tradition, we
place emphasis equally on faith and reason. So, some Buddhist explanations,
particularly those based on reason, might be useful to practitioners of other
traditions.
Trong sự muôn màu muôn vẻ của những truyền thống
tôn giáo hiện hữu trong thế giới ngày nay, có hai đặc trưng: những tôn giáo hữu thần và những tôn giáo
vô thần. Phật Giáo là một tôn giáo vô
thần*. Theo những tôn giáo vô thần, điều
nhấn mạnh là trên luật nhân quả.
* Hãy nhớ là Phật Giáo nói về 6 cõi luân hồi (trời, a tu la, người, thú
vật, quỷ đói, và địa ngục) do tâm và được quyết định bởi nhân quả nghiệp báo
chứ không phải do Thượng Đế. Đức Đạt Lai Lạt Ma gọi những người
phủ nhận hoàn toàn giá trị và thế giới tâm linh là vô thần cực đoan.
In the
variety of religious traditions present in today’s world, there are two
categories: those that are theistic and those that are non-theistic*. Buddhism
is one of the non-theistic ones. According to non-theistic religions, the
emphasis is on the law of causality.
* Atheism: the
doctrine or belief that there is no God. Disbelief in the existence of a
supreme being or beings.
Có một sự giải thích rộng rãi về luật nhân quả
trong Phật Giáo, và đây là một điều gì đấy rất lợi ích để biết. Nó hữu ích trong ý nghĩa rằng nó giúp chúng
ta hiểu biết hơn về chính chúng ta và về tâm thức chúng ta.
There’s a
great deal of explanation of the law of cause and effect in Buddhism, and
this is something which is very useful to know. It is useful in that it helps
us to know more about ourselves and about our minds.
Trong truyền thống Phật Giáo, sự giải thích về tâm
thức rất chi tiết. Cũng thế, chúng ta
tìm thấy một số điều tương tự trong truyền thống cổ truyền của Ấn Độ. Do vậy hiện tại bây giờ, khoa học hiện đại
đang khảo sát sâu ngày càng sâu hơn trong lĩnh vực này.
In the
Buddhist tradition, the explanation of the mind is very detailed. Also, we
find the same in some ancient Indian traditions. Therefore now, today, modern
science is investigating deeper and deeper in this area.
Thông thường tôi phân biệt ba bộ phận của Phật
Giáo: khoa học Phật Giáo, triết học Phật
Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo.
Usually
I distinguish three parts of Buddhism: Buddhist science, Buddhist philosophy
and Buddhist religion.
Chúng ta phải biết thực tế ngày nay: đấy là yêu cầu
khoa học Phật Giáo. Rồi thì, trên căn
bản ấy, chúng ta thấy khả năng của thay đổi, của chuyển hóa. Chúng ta thấy rằng đổi thay là có thể và đấy
là triết học Phật Giáo. Khi điều ấy trở
nên rõ ràng đối với chúng ta và chúng ta đã có sự tin cậy trong tiến trình
chuyển hóa nội tại, rồi thì chúng ta có thể bắt đầu thực hành tín ngưỡng Phật
Giáo.
We have
to know today’s reality: that entails Buddhist science. Then, on that basis,
we see the possibility of change, of transformation. We see that change is
possible and that’s the Buddhist philosophy. When that becomes clear to us
and we have confidence in the process of inner transformation, then we can
start the practice of Buddhist religion.
Nếu chúng ta nhìn lại khoa học Phật Giáo, có hai
lĩnh vực mà nó đối diện: nội tại là
tâm thức, và ngoại tại với những nguyên tử, vũ trụ, và v.v… Khoa học Tây phương cống hiến nhiều trên
trình độ ngoại tại: dường như nó cực kỳ phát triển trên lĩnh vực ấy.
If we
look back at Buddhist science, there are two areas that it deals with:
internally, the mind, and externally with atoms, the universe and so on.
Western science has much to offer on the external level: it seems to be
extremely advanced in that area.
Những người Phật tử chúng tôi có thể học nhiều điều
từ Khoa học Tây phương về những hạt bụi trần, chúng hoạt động như
thế nào, về di truyền học, về vũ trụ – những điều này rất hữu ích cho chúng
tôi như những người Phật tử.
We
Buddhists can learn much from Western science about particles, how they
function, about genetics, about the universe – these are very useful for us
as Buddhists.
Tuy nhiên, một số khám phá của khoa học hiện đại
và Phật Giáo là giống nhau. Thí dụ,
ban đầu, người ta tin rằng có một loại một tính chất tự cung, độc lập nào đấy,
bên cạnh những đối tượng. Nhưng bây giờ,
theo sự khám phá của khoa vật lý học lượng
tử, chúng ta thấy rằng không có điều gì như thế. Những người Phật tử chúng tôi đã có sự
thông hiểu như thế hàng nghìn năm qua. Phật Giáo dạy rằng không có điều gì tự sinh khởi hay tự tồn tại, nhưng
đúng hơn là mọi thứ sinh khởi một cách phụ thuộc (duyên sinh).
Some findings of modern science
and Buddhism, however, are the same. For example, originally, people believed
that there was some sort of self-sufficient, independent substance on the
side of objects. But now, according to the findings of quantum physics, we
see that there is no such thing. We Buddhists have had this understanding for
thousands of years. Buddhism teaches that nothing is self-sufficiently
arising or self-sufficiently existing, but rather everything dependently
arises.
Những người Phật tử có thể học về những hiện tượng
ngoại tại từ khoa học và khoa học có thể học hỏi để ứng phó với những cảm xúc
tiêu cực và những hiện tượng nội tại từ những người Phật tử.
Buddhists
can learn about external phenomena from science and science can learn how to
deal with negative emotions and such internal phenomena from the Buddhists.
Khi chúng tôi nói với những nhà khoa học, không phải
là nói về những kiếp sống tương lai hay niết bàn. Chúng tôi không nói về những khía cạnh tôn
giáo, mà đúng hơn là chúng tôi nói về tâm thức và những cảm xúc. Đây là bởi vì chúng ta có cùng phương pháp: chúng ta khảo sát những sự kiện nhầm để tìm
ra thực tại.
When we
speak with the scientists, it’s not about future lives or nirvana. We don’t
speak about religious aspects, but rather we speak about the mind and
emotions. This is because we have the same method: we investigate things in
order to find out about reality.
Những ai trong những ngưởi Tây phương quý vị hấp dẫn
trong Phật học, điều ấy hữu ích để mang đến cho sự nghiên cứu khoa học của
chính quý vị. Vì thế, trên căn bản của
sự cung ứng cơ hội để khảo sát những giáo lý Phật Giáo với một thái độ khoa học, và dường như không có gì trở ngại
cho chúng tôi để có những buổi diễn thuyết về Phật học đến những thính chúng
không phải Phật tử. Do bởi điều ấy,
thế thì xin hãy nhìn vào những buổi nói chuyện của chúng tôi phần nào đấy gọi
là những thuyết trình chuyên môn. Ngoại
trừ một số tán tụng lúc bắt đầu, không có nghi lễ, không có khía cạnh tôn
giáo trong những bài thuyết giảng của chúng tôi. tôi đúng là thuyết giảng về đề tài khoa học Các bạn nghĩ thế nào?
Those of
you Westerners who are interested in Buddhism, it’s helpful to carry out your
own scientific research. So, on that basis of offering the opportunity to
investigate the Buddhist teachings with a scientific attitude, it seems
alright for me to give lectures on Buddhism to non-Buddhist audiences.
Because of that, then please look at my talks somewhat like academic
lectures. Except for some chanting at the start, there are no rituals, no
religious aspects in my talks. I just give scientific lectures. What do you
think?
Discussion about this post