HÀNH
HƯƠNG: ĐẠI BÁT NIẾT BÀN
Thích
Nguyên Hiệp
Hành
hương về những địa danh đặc biệt nào đó để tỏ lòng
kính ngưỡng và mong nhận được ân phúc là điểm chung của
nhiều tôn giáo. Trong Phật giáo, hành hương giữ một vai trò
khá quan trọng trong đời sống tâm linh của người Phật tử,
và có thể nó được thực hành từ sau khi Đức Phật diệt
độ.
Vấn
đề hành hương trong đạo Phật, có thể nhiều người đã
biết, được đề cập đến trong kinh Đại Bát Niết Bàn,
bản kinh ghi lại những lời giáo huấn sau cùng của Đức
Phật, “Này Ananda, đó là bốn thánh tích, người thiện
tín cư sĩ cần chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện
tín Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với
niềm suy tư: Đây là nơi Như Lai đản sanh; đây là nơi Như
Lai chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng chánh giác; đây là
nơi Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng; và đây là nơi Như
Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn”.
Vì
sao người Phật tử cần quay về chiêm ngưỡng và đảnh lễ
những thánh tích này? Điều này đã được Đức Phật nêu
ra, “Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những thánh
tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị
ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào cõi thiện,
cảnh giới chư thiên”.
Tín
(saddhà/úraddhà) là một trong những yếu tố quan trọng, được
nhắc đến trong kinh điển như là điều kiện cần thiết
giúp người Phật tử nhập vào thánh đạo. Người Phật tử
với chánh kiến, sau khi tư duy, sẽ đặt tín tâm của mình
vào Đức Phật và giáo pháp của Ngài, thực hành với nhiệt
tâm không nghi ngại. Tín trong Phật giáo được đặt cơ sở
trên Chánh kiến và Chánh tư duy, nhưng Tín cũng là nền tảng
để người Phật tử thực hành Chánh kiến và Chánh tư duy.
Bởi vậy Tín là yếu tố thiết yếu cho việc xây dựng nên
đời sống tôn giáo, cũng là yếu tố duy trì đời sống tôn
giáo.
Trong
một bối cảnh có nhiều giáo phái và triết thuyết cùng hành
hoạt, việc vắng bóng bậc Đạo sư dễ khiến người đệ
tử thối thất niềm tin, điều có thể đưa họ quay sang quy
ngưỡng những giáo phái khác. Quay về bốn thánh tích là quay
về với Đức Phật qua sự biểu trưng của những nơi chốn
liên quan, từ đó duy trì sự “thâm tín” và phát triển
đời sống tâm linh.
Nỗi
lo lắng về việc vắng mặt của bậc Đạo sư sẽ đưa đến
sự mất định hướng trong giới đệ tử đã được thể
hiện qua việc “tựa cửa khóc than” của Tôn giả A Nan.
Và Đức Phật đã dạy rằng, sau khi Ngài diệt độ, chính
Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) là Đạo sư của các Phật tử.
Nhưng Pháp và Luật sẽ được tiếp cận dễ dàng hơn đối
với những người có sự thâm tín vào bậc đã thuyết giảng
những điều đó. Chiêm bái thánh tích sẽ giúp người đệ
tử giữ vững niềm tin khi họ tận mắt chững kiến những
nơi chốn liên quan đến bậc Đạo sư lịch sử của họ (điều
rất cần thiết vào thời điểm sau khi Đức Phật vừa diệt
độ).
Ý
nghĩa này sẽ phần nào rõ ràng hơn nếu chúng ta đề cập
đến việc thờ phụng xá lợi (sarìra) ở đây; bởi vì hành
hương trong Phật giáo luôn gắn liền với tín ngưỡng phụng
thờ tháp (thùpa/stùpa) và xá lợi, điều cũng được đề
cập đến trong kinh Đại Bát Niết Bàn, “Này Ananda, vì
lý do gì, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri xứng đáng xây
tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến:
‘Đây là tháp của Thế Tôn, Ứng cúng, Chánh biến tri’.
Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, họ sẽ
sanh lên thiện giới, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý
do này, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri xứng đáng xây tháp”.
Tháp
trong thời kỳ đầu được xây dựng nhằm để tôn trí xá
lợi của Đức Phật và những vật dụng mà Ngài đã dùng
khi còn tại thế; và sau đó tháp được xây dựng tại những
nơi gắn liền với những sự kiện quan trọng trong cuộc đời
của Ngài, để đánh dấu địa danh và tưởng niệm (điều
được thực hiện rất quy mô dưới triều đại vua Ashoka).
Nhưng trong tất cả các tháp, tháp thờ xá lợi Đức Phật
được xem là quan trọng và thiêng liêng hơn cả. Nhưng tại
sao tháp thờ xá lợi được xem là quan trọng và thiêng liêng?
Theo
truyền thống tôn giáo Bà la môn, xác thân của một người
được cho là mang nhiều tội lỗi và bất tịnh. Nên đối
với một xác chết trước khi hỏa thiêu, người ta sẽ có
những phương thức thanh tẩy, hoặc bằng trì tụng kinh chú,
hoặc bằng vứt bỏ tro cốt đó xuống những con sông thiêng.
Phật
giáo xem thân thể là bất tịnh, nhưng không xem một xác chết
có thể trở nên trong sạch nhờ vào những phép thuật hay
nước của một dòng sông nào đó. Thân xác sau khi hủy hoại
sẽ được trả về lại với tứ đại đất nước gió lửa.
Và như vậy thân xác đó, trong bất cứ hình thức nào, không
đáng để chấp thủ. Nhưng nếu vậy thì việc phụng thờ
xá lợi và trở về chiêm bái những tháp thờ Xá lợi có
đi ngược lại nguyên tắc này không?
Đức
Phật và giáo pháp của Ngài về cơ bản là đi ngược lại
truyền thống tôn giáo Bà la môn. Đức Phật và những người
xuất gia theo Ngài được xem là chọn con đường đi ngược
với lề thói chung của cuộc đời, và điều này thường
được nhắc đến như một sự “lội ngược dòng”, mà
thuật ngữ Phật học gọi là “nghịch lưu”. Nhưng nghịch
lưu không chỉ là từ bỏ những “tài, sắc, danh, thực, thuỳ”
thường tình mà thế gian tìm cách theo đuổi và coi như lẽ
sống, đi ngược dòng luân hồi sanh tử, mà còn là sự đảo
nghịch những quan niệm và tập tục của xã hội thời bấy
giờ mà tất cả bị chi phối sâu sắc bởi tôn giáo truyền
thống Bà la môn. Điều này cũng thể hiện ngay trong bài kinh
Đại Bát Niết Bàn và có liên quan đến việc phụng thờ
xá lợi.
Theo
quan niệm của xã hội thời bấy giờ, hướng Nam là hướng
của thần chết, và xác chết của bất cứ ai, luôn được
hỏa thiêu ở đó. Nhưng đối với Đức Phật, bậc đã chọn
con đường “nghịch lưu”, nên việc hỏa thiêu nhục thân
của Ngài đã không theo quy ước này. Khi Đức Phật nhập
diệt, dân chúng thuộc bộ tộc Malla đã khiêng thân xá lợi
của Ngài đi về hướng Bắc, sau đó đi vào trung tâm thành
phố rồi đưa sang hướng Đông và hỏa thiêu. Hướng Đông
được xem là hướng cát tường, điều được xem là thích
hợp với thân xá lợi của Bậc giác ngộ.
TT.
Thích Thiện Bảo và chư tăng ni đang kinh hành trên đất Phật
Như
đã nói, nhục thân của bất cứ ai, trong quan niệm của đạo
Phật, cũng chỉ là sự kết hợp của đất nước gió lửa.
Tuy nhiên nhục thân của Đức Phật, trong ý nghĩa “bình bát
trôi ngược”, được xem là vượt qua khỏi những giới hạn
thông thường; và xá lợi của Ngài còn lại sau khi hỏa thiêu
là biểu trưng cho sự đạt ngộ và hương thơm phạm hạnh
còn lưu lại ở cõi đời. Phụng thờ và chiêm bái xá lợi
do vậy là kính ngưỡng đạo đức và trí tuệ của một Bậc
giác ngộ.
Nhưng
ý nghĩa quan trọng hơn cả của việc phụng thờ và chiêm
bái xá lợi chính là thể hiện lòng kính ngưỡng, sự thấu
hiểu về Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Trong nhiều bản
kinh, Đức Phật dạy rằng: Ai thấy pháp là người ấy thấy
Phật, và ai thấy Phật là người ấy thấy pháp. Xá lợi
chính là Phật thân còn lại sau khi Đức Phật vắng bóng ở
cõi đời này.
Từ
thời Đức Phật cho đến thế kỷ thứ II (tr. TL), tín ngưỡng
phụng thờ tượng Phật chưa có mặt. Vì vậy những đệ
tử đã sử dụng những biểu tượng như hoa sen, cây bồ đề,
bánh xe Pháp luân và ngôi tháp để tưởng nhớ đến bốn
sự kiện Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và Nhập
diệt của Đức Phật, và qua đó cũng tưởng nhớ đến Ngài.
Nhưng vượt lên trên bốn biểu tượng này, xá lợi được
xem là quan trọng và thiêng liêng hơn cả, vì đó là những
gì trực tiếp liên hệ đến Phật thân. Vì trong ý nghĩa rằng
ai thấy Phật là thấy pháp, và ai thấy pháp là thấy Phật,
nên trở về chiêm ngưỡng Xá lợi là trở về chiêm ngưỡng
Phật và giáo pháp của Ngài. Chiêm ngưỡng xá lợi như vậy
là để thấy Phật – thấy Phật là thấy pháp, và thấy pháp
không chỉ là ôn lại lời dạy của Phật mà còn để thấy
được bản chất thực của cuộc đời.
Như
vậy, nhìn từ kinh Đại Bát Niết Bàn, hành hương là quay
trở về bốn thánh tích để chiêm ngưỡng và đảnh lễ;
và tháp cũng như xá lợi luôn có liên hệ mật thiết đối
với việc hành hương của người Phật tử. Và hành hương
trước hết nhằm giúp người đệ tử Phật tăng trưởng
tín tâm của mình.
Từ
tín tâm, hành hương là dịp người Phật tử gieo trồng thiện
nghiệp, điều kiện cần để một người sau khi mạng chung
được sanh về Thiên giới. Bởi vì hành hương trong Phật
giáo thường được kết hợp với việc thực hành bố thí
(dana), và bố thí được xem có ý nghĩa và gặt nhiều phước
lành hơn cả khi cúng dường lên bậc giác ngộ (qua những
biểu tượng) với tâm tịnh tín.
Hành
hương với lòng thâm tín và tâm thanh tịnh sẽ đưa người
Phật tử tại gia đi đến việc thực hành hạnh “xuất gia”.
Khi thực hiện một chuyến hành hương là người Phật tử
phát nguyện rời bỏ những “sinh hoạt thế tục” trong một
khoảng thời gian nào đó để sống một đời sống “không
nhà”. (Trong ý nghĩa này mà một vài người khi bàn về hành
hương đã liên hệ nó với thuật pravrajyàta (Pàli: pabbajjàta).
Pravrajyàta thường được dịch là xuất gia, đi ra khỏi, hay
rời bỏ đời sống trần tục. Và pravrajita, hay pravràjaka
là người rời bỏ đời sống trần tục).
Vẫn
từ kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật dù khuyên hàng đệ
tử nên chiêm ngưỡng và đảnh lễ Tứ động tâm, nhưng điều
đó không có tính ép buộc, nó hoàn toàn là điều tự nguyện.
Và hành hương trong Phật giáo không mang tính cộng đồng với
thời gian và những điều kiện được ấn định cụ thể.
Các tín đồ Phật giáo có thể hành hương về các thánh tích
vào bất kỳ thời điểm nào họ thấy thích hợp. Và mục
đích của hành hương, như đã nói, là để tăng trưởng tín
tâm, gieo trồng thiện nghiệp, thanh tịnh tâm ý (và hẳn còn
những mục đích khác nữa); và những sinh hoạt tại các thánh
tích thường là đảnh lễ, thực hành thiền định và trì
tụng kinh chú v.v…
Hành
hương của người Phật tử về một nơi nào đó sẽ có nhiều
ý nghĩa hơn khi người hành hương hiểu được những sự
kiện đã gắn liền với địa danh đó. Người hành hương
khi ấy không chỉ trở về một địa danh địa lý, mà còn
quay trở lại với con người lịch sử liên quan đến địa
danh đó. Trở về với một thánh tích chỉ để tham quan, nói
cách khác, là không phải vì ước nguyện tâm linh, thì đó
chỉ là một cuộc viếng chơi mà không phải là một hành
trình tâm linh thực sự. Và như vậy, hành hương về các thánh
tích, cần phải được thực hiện cùng lúc với sự quay về
đời sống tâm linh bên trong. Hành trình tâm linh đích thực
do đó là quay về và sống theo lời Phật dạy (ai thấy pháp
là thấy Phật).
Nhưng
tuy vậy, được trở về quê hương Đức Phật để chiêm
bái, đảnh lễ những thánh tích mà ta từng biết qua những
trang kinh, sử ký là ước mơ của những người con Phật.
Hành hương về nơi mảnh đất Đức Phật đã ra đời và
lớn lên, rồi xuất gia, thành đạo và thuyết giảng những
giáo pháp mang giá trị phổ quát đó quả thực là niềm hạnh
phúc lớn lao. Chiêm bái các thánh tích là dịp để ta suy ngẫm
nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong lặng im và suy nghiệm,
hành hương là dịp để người ta hiểu sâu hơn về cuộc
đời và thân phận con người.
Cuộc
sống trôi chảy miên man bất tận, đời người quả thật
ngắn ngủi trong dòng chảy đó. Ý thức về sự vô thường
ngắn ngủi của kiếp người, nỗ lực vượt lên những điều
nhỏ nhặt đời thường để tìm tới những gì tốt đẹp
hơn là điều Đức Phật đã thiết tha dạy bảo trong bài
kinh Đại Bát Niết Bàn. Và biết đâu một ngày nào đó, ta
được đi qua những mảnh đất mà Đức Phật đã lưu dấu,
và cuối cùng dừng lại ở Câu Thi Na, bất chợt nghe trong
tháp thờ Mahaparinirvana vọng ra lời kinh, “Các pháp hữu vi
là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.
Thích
Nguyên Hiệp
02-01-2010
05:23:47
Discussion about this post