TỊNH ĐỘ CHÂN TÔNG THỰC HÀNH
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Như chúng ta đã
biết, A Di Đà là một trong vô số Đức Phật trong pháp giới, và mỗi Đức Phật hiện
hữu một không gian hoạt động, Phật độ hay cõi Phật. Điều ưu việt của Đức Phật Di Đà nương nơi
tính bản nhiên những thệ nguyện của Ngài, là điều tạo nên một con đường mà nhờ
đấy tất cả chúng sinh có thể đạt đến giác ngộ. Tuy vậy tính bản nhiên chắc thật
của con đường này – hành giả nên thể hiện sự thực hành như thế nào, điều nổi bật
của nó, và tại sao nó tác động – được làm sáng tỏ một cách dần dần chỉ qua những
sự phát triển của một truyền thống dài lâu trong những nền văn hóa khác nhau, và
có thể được nói rằng đấy là công trình của Thân Loan Thánh Nhân mà con đường dựng
nên được mở bày một cách hoàn hảo nhất, hơn một nghìn năm sau khi những kinh điển
Tịnh Độ được kết tập trên văn tự. Suốt
khắp truyền thống Tịnh Độ, những câu hỏi trung tâm là làm thế nào và khi nào thể
nhập vào trong công trình [vãng sinh] phát khởi từ sự hoàn thành những thệ nguyện
của Đức Phật Di Đà (nghĩa là chúng ta vãng sinh được là do chúng ta thực hành đúng, hòa nhập
vào năng lực theo Đại Nguyện của Đức Phật
Di Đà, và cũng có nghĩa đấy là sự hoàn thành Bổn Nguyện của Ngài, bằng nếu
không Ngài đã không thành Phật – Tuệ Uyển).
ĐẠI
NGUYỆN THỨ MƯỜI TÁM
Theo
những kinh điển Tịnh Độ, sự thực hành mà có thể làm cho một người phá vở xiềng
xích của cõi luân hồi bằng sự vãng sinh vào cõi Tịnh Độ là niệm Phật, điều ấy
có ý nghĩa văn tự là nhớ nghĩ về hay chính niệm về (NIỆM) Đức Phật (trong phần này khi nói về niệm Phật chủ yếu
là nói về ‘nhớ nghĩ’ Đức Phật,chứ
chưa đặt nặng về ‘tụng đọc’ danh hiệu
– Tuệ Uyển). Trong truyền thống sơ
khởi của Phật giáo, một hình thức “nhớ nghĩ về Đức Phật” được thực hành tập
trung về Đức Phật Thích Ca. Nó bao gồm
những yếu tố của nhớ nghĩ (NIỆM) về Đức Phật: đặc trưng, tin tưởng, và cầu nguyện. Sau này, nó cũng đi đến bao gồm sự quán chiếu trên những Đức Phật
khác. Đấy là trong truyền thống Tịnh Độ,
ở đấy niệm Phật được dạy như phương tiện để vãng sinh đến cõi Tịnh Độ của Đức
Phật Di Đà, nó có sự phát triển quan trọng của nó. Văn kiện lưu tâm đến sự thực hành trung tâm của
Tịnh Độ A Di Đà được thấy trong bốn mươi tám đại nguyện của Đức Phật Di
Đà. Trong những thệ nguyện, có ba – mười
tám, mười chín, và hai mươi [[1]]–
hình thành những phương pháp hiển bày mà
nhờ đấy “chúng sinh trong mười phương có thể đạt đến sự vãng sinh về cõi Tịnh Độ. Từ lúc khởi đầu của truyền thống Tịnh Độ, Đại
Nguyện Thứ Mười Tám – trình bày những yêu cầu đơn giàn nhất cho những hành giả
– đã được thấu hiểu là nền tảng và trung tâm [của pháp môn]. Điều ấy nói rằng:
– Nếu
khi con đạt đến Phật quả, những chúng sinh trong mười phương tin tưởng một cách
chân thành và nguyện ước được vãng sinh đến nước con, thực hành thậm chí chỉ mười
niệm, nếu không được vãng sinh, con nguyện sẽ không đạt đến giác ngộ vô thượng. Ngoại trừ những người phạm tội ngũ nghịch và
phỉ báng giáo pháp.
Ở
đây, điều ấy tuyên bố rằng, tất cả mọi người sẽ vãng sinh Cực Lạc, người mà:
1) Chân
thành tin tưởng đến “Đại nguyện” [của Phật Di Đà] và ngưỡng vọng đến việc vãng
sinh Cực Lạc.
2) Thực
hành “thậm chí mười niệm”. Niệm được hiểu
bao hàm niệm Phật và được diễn dịch hoặc là “nghĩ về” Phật Di Đà và cõi Tịnh Độ của Ngài hay “niệm
danh hiệu” A Di Đà Phật. Do vậy, mười niệm trong Đại nguyện [của Phật Di Đà] có
thể có ý nghĩa đúng văn tự là chúng ta phải tin tưởng một cách tập trung chính
mình hay chính niệm về Đức Phật trong mười suy niệm; hay nó có thể có nghĩa,
như được Tổ Thiện Đạo nói là, chúng ta phải niệm danh hiệu Phật Di Đà ít nhất
mười lần.
Làm
thế nào một sự thực hành như thế lại có năng lực để đem chúng ta sinh vào thế
giới giác ngộ? Ở Ấn Độ, hai nhân vật ảnh
hưởng của truyền thống Đại thừa, là Long Thọ và Thiên Thân, phác họa những
khuôn khổ cho sự thông hiểu về con đường Tịnh Độ như những hình thức của Đại thừa.
CON
ĐƯỜNG THỰC TẬP DỄ DÀNG
Long
Thọ là người hệ thống hóa vĩ đại của giáo huấn đã nói trong kinh điển Đại thừa. Trong luận giải của ngài về Thập Địa Bồ Tát,
ngài tuyên bố rằng vấn đề ban đầu cho người Phật tử khao khát là đạt đến bậc thứ
nhất của Bồ tát (sơ địa), bậc bất thối chuyển. Khi một người đạt đến tầng bậc
này,
– Người
ấy thấy giáo pháp, thâm nhập giáo pháp, đạt đến giáo pháp, và trụ trong giáo
pháp vững vàng, từ nơi mà người ấy chẳng bao giờ dao động di chuyển, và vì vậy
người ấy đạt đến niết bàn tối hậu (Thực hành, 13)
Người
trong tầng bậc này phải tiến hành những thực tập của Bồ tát để tiến lên qua
chín địa còn lại, nhưng với sự thực chứng tuệ trí đạt được trong địa thứ nhất,
một sự thay đổi quan trọng đã diễn ra. Trong sự thực tập của Bồ tát trước điều này, luôn luôn có một hiểm họa
rơi vào trong sự giải đải hay hết hy vọng, hay chìm vào trong sự ngơi nghĩ vĩnh
viễn trong một hình thức vị kỷ không toàn hảo của niết bàn. Long Thọ gọi điều sau này là “cái chết của bồ
tát,” nên người ấy phải tự cố gắng với
thận trọng liên tục và bằng một triệu lần năng lượng của người chỉ tìm cầu sự cứu
độ cho riêng họ (giải thoát cá nhân – tiểu thừa) nếu người ấy muốn hiện thực hoàn
toàn quả vị Bồ tát và đưa những người khác cũng như chính người ấy đến giác ngộ.
Vì vậy, đạt đến tầng bậc bất thối chuyển và trở thành một vị Bồ tát mà sự giác
ngộ sau cùng của vị ấy là “ổn định một cách chắc chắn” và là nguyên nhân cho niềm
vui to lớn và vì thế tầng bậc thứ nhất hay đệ nhất địa còn được biết như “Hoan
hỉ địa.”
Tuy
nhiên, đạt đến địa vị này, chỉ sau hàng a tăng kỳ kiếp (vô số kiếp) của phát
nguyện và nổ lực để làm thực hiện đầy đủ những ba la mật. Sau này, Đạo Xước (562-645) cho rằng sự thực
tập như vậy, “Con Đường của Những Bậc Hiền Thánh,” chỉ thích ứng cho những người
với khả năng siêu việt. Liên hệ đến sự
giải thích của Long Thọ, Đàm Loan (467-542) chú ý rằng “ sự tìm cầu quả vị bất
thối chuyển trong thế giới ngũ trược khi không có Phật” biểu hiện những khó
khăn vô cùng tận cho hành giả (thực tập, 18). Thật khó khăn để tịnh hóa tâm thức và đạt được sự thiền quán thâm sâu mà
trong ấy những gốc rể của vọng tưởng tách rời ra, đặc biệt ở một thời điểm mà đời
sống con người là ngắn ngủi, trí tuệ con người và khả năng đạo đức đang bị tàn
lụi, và những điều kiện xã hội là bất lợi (ngũ trược ác thế). Nhưng trên tất cả, sự thực tập như vậy là khó khăn khi hành giả thiếu sự hướng dẫn của
một Đức Phật. Vì vậy, trong luận giải của
mình, Long Thọ nêu cao câu hỏi có hay không một con đường giản dị hơn, nhanh
chóng hơn cho mục tiêu căn bản này. Trong khi tuyên bố rằng một câu hỏi như vậy trong chính nó biểu lộ một
lòng nhiệt thành phai nhạt thích ứng một cách khó khăn của một vị Bồ tát, nhưng
ngài dạy rằng có vô số con đường đến Hoan hỉ địa. Một số vị Bồ tát tiến hành trong sự thực tập
khó khăn mà có thể so sánh đến chuyến du hành gian khổ qua đất liền, trong khi
những người khác đạt đến địa vị bất thối chuyển hoàn toàn nhanh chóng và thoãi
mái, như đi trên một chiếc thuyền.
Thay
vì gắng sức một cách khó nhọc để tịnh hóa tâm thức và nhờ đấy hiển lộ Phật
tính, theo Long Thọ, cũng có thể áp dụng, “sự thực tập dễ dàng bằng sự tin tưởng
-phú thác (TÍN) như phương tiện” để đạt
đến địa vị bất thối chuyển – [Hoan Hỉ Địa] (Thực tập, 15). Sự thực tập dễ dàng trên niềm tin tưởng hay
TÍN hoạt động để vượt thắng những khó khăn của nhiễm ô lan tỏa (hành khổ) và việc
vắng mặt sự hướng dẫn của một Đức Phật bằng việc đem hành giả vào trong mối quan
hệ với chư Phật và trong sự tiếp xúc với thế giới giác ngộ. Niềm tin này không phải là một sự chấp nhận dễ
dàng vì nó không thể chứng minh được; nó không là niềm tin trong lý thuyết cũng
không được đồng ý trong một sự giảng dạy nào đấy. Đối với Long Thọ, sự thực hành dễ dàng là
“nghĩ tưởng về chư Phật (niệm Phật) trong mười phương và nêu danh hiệu của các
Ngài trong nguyện cầu.” Do vậy, niềm tin
tự biểu lộ trên tất cả như sự chính niệm về chư Phật và Đại Bồ tát khắp pháp giới,
những vị biểu hiện tuệ trí và từ bi trong phương cách Đại thừa qua sự rực rở và
chói lọi của thân tướng và quốc độ của các Ngài, để nghĩ tưởng về những điều ấy
có thể được thông hiểu và bao gồm sự phản chiếu hay quán chiếu sâu xa trên những
đặc điểm của mỗi Đức Phật. Vì vậy “nghĩ
tưởng về” đại diện cho sự thâm nhập vào trong hành hoạt của chư Phật qua sự tin
tưởng-phú thác (TÍN) chính mình về điều ấy. Long Thọ không hạn chế “sự thực tập dễ dàng” tập trung trên Đức Phật Di
Đà, nhưng ngài riêng chỉ ra những Đại nguyện của Đức Phật Di Đà như một thí dụ
rõ ràng và đại biểu cho điều ấy và vì thế được Thân Loan Thánh Nhân tôn xưng
như Đệ nhất tổ trong bảy vị đại tổ sư của Tịnh Độ tông.
Đàm
Loan, theo sau Long Thọ, so sánh con đường Tịnh Độ với những con đường thực
hành khó khăn khác bằng việc lưu ý rằng điều ấy được căn cứ trên sự tự lực và
thiếu sự hổ trợ của tha lực” (Thực hành, 18). Đàm Loan là người đầu tiên sử dụng những thuật ngữ đối ứng “tự lực” và
“tha lực,” mà đấy là tuyên bố những yếu tố nền tảng của khái niệm tin tưởng trong
sự thực hành của Đạo Phật. Về một mặt, sự
tin tưởng chân thành trong phần của hành giả bao hàm, một sự tỉnh thức về năng
lực và ảnh hưởng của Đại nguyện Di Đà (tha lực), được hoàn thành qua sự thực
hành Bồ tát đạo của Pháp Tạng tỳ kheo (tiền thân của Đức Phật Di Đà), và về mặt
khác, một sự tỉnh thức về sự không đầy đủ của năng lực và thực hành tự thân (tự
lực). Vì thế, trong tóm lược pháp môn Tịnh
Độ như con đường dễ dàng, Đàm Loan tuyên bố:
– Trong
con đường dễ dàng thực hành, hành giả ngưỡng vọng được vãng sinh về Tịnh Độ với
duy chỉ niềm tin tưởng-phú thác (TÍN) của mình vào Đức Phật như nguyên nhân, và
để cho mình được ôm ấp bởi năng lực của Đại nguyện Di Đà, hành giả nhanh chóng
đạt được sự vãng sinh trong cõi Tịnh Độ. Gia hộ bởi năng lực của Đức Phật, hành giả lập tức hòa nhập sự an trú
chân thành trong Đại thừa. (Thực hành, 18)
CHÍNH
NIỆM
Trong
khi Long Thọ thiết lập nền tảng lý luận của con đường Tịnh Độ – sự thực hành
“suy nghĩ về Đức Phật và tụng đọc danh hiệu Ngài” và mục tiêu bất thối chuyển
(Hoan Hỉ Địa) – thì Thiên Thân là người đầu tiên cung cấp một giải thích có hệ
thống về sự thực hành niệm Phật trong con đường Tịnh Độ. Trong Tịnh Độ Luận, một luận giải về Đại Kinh
(Đại bổn Di Đà), ngài công bố niệm Phật như bao gồm “năm cánh cửa của chính niệm,”
hay năm khía cạnh thực hành trung tâm về Đức Phật Di Đà và cõi Tịnh Độ:
1- Tôn
kính,thờ phụng
2- Ca
ngợi, đặc biệt qua tụng đọc danh hiệu
3- Ngưỡng
vọng vãng sinh
4- Quán
chiếu về Đức Phật và cõi Tịnh Độ
5- Hồi
hướng công đức tích tập qua bốn khía cạnh trên của sự thực hành đến toàn thể
chúng sinh.
Năm
cánh cửa của chính niệm có thể được nhìn từ một vài khái niệm khác nhau. Ba cánh cửa đầu diễn tả những hành vi của
thân, miệng, và ý, tương ứng ba đặc trưng trong những điều mà tất cả hành vi của
con người được phân biệt trong tư tưởng của Đạo Phật. Xa hơn, điều thứ ba và thứ tư, ngưỡng vọng và
quán chiếu, đáp ứng đến thiền tập căn bản samatha – thiền định hay chỉ (tỉnh lặng
tâm thức) và thiền quán vipasyana – tuệ minh sát (tuệ giác nội quán thực tại). Bằng sự tập trung trên Đức Phật Di Đà và cõi
Tịnh Độ hành giả thâm nhập tam muội tịch tĩnh (chính định), mà trong ấy tất cả
những tư tưởng quấy nhiễu bị xua
tan. Và quán chiếu những trang nghiêm của
Đức Phật cùng cõi Tịnh Độ trong thể trạng này, hành giả nhận thức những biểu hiện
của giác ngộ hay thực tại.
– Với
Đại bi, hành giả quán chiếu tất cả chúng sinh trong khổ đau và phiền não, và đảm
đương những thân tướng chuyển hóa khác nhau để hướng dẫn họ, thâm nhập vào những
cõi sinh tử và những khu rừng si mê mù quáng (Thực chứng, 17)
Khái
niệm về hai phương hướng này – đến và đi, hay thể nhập vào Tịnh Độ và tái hiện
lần nữa trong thế giới này –tuyên bố một cách xúc tích cốt lõi của con đường Bồ
tát, và trở thành khái niệm nền tảng giáo huấn của Tổ Thân Loan. Chúng ta thấy trong khái niệm của Thiên Thân
về năm cánh cửa chính niệm, một cung cách lĩnh hội về thực hành, có thể được thấy
như một sự tiếp nhận Bồ tát đạo trong phạm vi của Tịnh Độ. Ngài nói về niềm tin toàn tâm toàn ý của hành
giả đối với Đức Phật Di Đà – “nương tựa với tâm ý chân thật” hay “nhất tâm quy
y” – như thái độ thích đáng trong sự thực hành, và cũng là “năng lực của Thệ
Nguyện Nguyên Sơ” như phương tiện trong sự hoàn thành thực hành. Tuy thế, trong khi con đường mà Thiên Thân hướng
dẫn có thể được gọi là nhanh chóng và dễ dàng trong sự so sánh đến những phương
thức khác của sự thực hành Bồ tát, nó vẫn đòi hỏi một năng lực tôn giáo và tâm
linh ngoại hạng. Cốt lõi của sự thực
hành niệm Phật này duy trì sự quán chiếu, mà trong ấy hành giả thấy những đặc
điểm của Đức Phật Di Đà, cõi Tịnh Độ, và những Bồ tát được sinh ra ở đấy như những
hóa thân của thực tại chân thật, và được hướng đến một sự tỉnh thức đến pháp
thân vô tướng, vô tác.
TỤNG
ĐỌC DANH HIỆU
Tịnh
Độ Luận là hệ thống giải thích duy nhất của tư tưởng Tịnh Độ và sự thực hành ở Ấn
Độ. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ thứ hai,
những tài liệu Tịnh Độ bắt đầu được chuyển dịch sang Hoa văn, và trong đầu thế
kỷ thứ sáu, Đàm Loan đã viết một luận giải về tác phẩm của Thiên Thân mà đấy là
nền tảng cho sự thiết lập Tịnh Độ tông như con đường đầy đủ và độc lập ở Trung
Hoa. Đàm Loan đi theo Thiên Thân trong
giáo lý về năm cánh cửa chính niệm với quán chiếu như cốt lõi, nhưng ngài cũng
thừa nhận khả năng của một người trong cả cuộc đời làm ác đạt được sự vãng sinh
qua niệm danh hiệu Phật lúc lâm chung.
Thêm
nữa đối với niệm Phật trình bày trong Đại nguyện thứ Mười Tám, có một khuynh hướng
niệm Phật được dạy trong kinh Đại Bổn Di Đà. Nó được dạy trong một thông điệp diễn tả ba mức độ của thực hành, phân
biệt trong sự khó khăn và phẩm chất của việc bảo đảm cho sự thực tập, nhưng tất
cả bao gồm sự thực tập về nghĩ tưởng về Đức Phật Di Đà (niệm Phật được hiểu
trong nghĩa này) và tất cả kết quả trong việc vãng sinh về Cực Lạc. Thân Loan đã thấu hiểu thông điệp này như được
giảng dạy hoàn thành Đại nguyện Thứ Mười Chín.
Điều
này diễn tả về sự thực hành có hai đặc trưng quan trọng. Đầu tiên, một cấp độ thực tập được diễn tả: Trình độ cao nhất là của những tu sĩ tiến
hành những thực tập tôn giáo [của tự viện]; cấp độ trung bình là của những cư
sĩ những người làm những hành vi đáng khen ngợi, cúng dường, và xây dựng chùa
tháp; và trình độ thấp nhất là của những người không thể làm những thiện nghiệp nhưng vẫn ngưỡng vọng về Cực Lạc
và suy tưởng về Đức Phật có thể là mười lần. Nhận thức về những căn cơ khác nhau của chúng sinh, ngay cả thế tất cả đều
đạt được sự vãng sinh về Cực Lạc, trở thành một tư tưởng bất di bất dịch về sự
thực hành.
Thứ
hai, vãng sinh được đạt đến bằng việc thấy Đức Phật Di Đà tại thời điểm lâm
chung và theo Ngài về Tịnh Độ. Đây là những
người ở trình độ cao nhất thấy Đức Phật Di Đà một cách trực tiếp, những người ở
trình độ trung bình thấy một hóa thân, và những người ở trình độ thấp nhất thấy
Đức Phật trong mộng. Trong khi những Bồ
tát của con đường trong sự thực hành khó khăn (khác với Tịnh Độ) có thể thâm nhập
thiền định cao sâu trong pháp môn thực tập của họ, nhưng những người trong Tịnh
Độ không thể hoàn thành điều này. Tuy thế,
Đức Phật xuất hiện đến với họ tại thời điểm mà đời sống tương lai của họ được
quyết định, và với tâm thức thanh tịnh qua nhận thức về Ngài, họ được Ngài hướng
dẫn đến Tịnh Độ và hóa sinh ở đấy trong đời sống kế tiếp.
Sự
giải thích tác động nhất của khuynh hướng niệm Phật tư tưởng là trong kinh Quán
Vô Lượng Thọ, trong ấy dạy một sự thực tập tăng dần, với mỗi cấp độ được chia
làm ba. Liên hệ đến trình độ thấp nhất,
nó diễn tả những người đã từng làm những việc ác cả đời, nhưng có cơ hội thâm
nhập lời dạy tại thời điểm lâm chung. Điều
ấy tuyên bố rằng, ngay cả nếu không thể nghĩ về A Di Đà, nếu họ chỉ đơn giản
nói hay đọc danh hiệu Đức Phật mười lần, quy y với Đức Phật, họ sẽ đạt được sự
vãng sinh. Trong ấy dạy rằng với lời
tuyên bố, những tác động của cả một đời làm ác, là những điều sẽ trói chặc họ
trong vô lượng kiếp luân hồi, nhưng sẽ được xóa sạch, và khi họ chết, họ sẽ thấy
trước họ một hoa sen chở họ đến Cực Lạc.
Trong khi truyền thống Ấn Độ tiếp tục
xem con đường Tịnh Độ trong phạm vi thực hành Bồ tát, trái lại đặc tính trong
truyền thống Tịnh Độ ở Trung Hoa đã chuyển sự chú ý rộng rãi hơn đến khía cạnh
của sự phản chiếu trên điều kiện tự nhiên của con người trong tư tưởng Tịnh Độ
và tìm những phương tiện mà tất cả mọi người ngay cả trong đời sống thế tục và
những ai không có điều kiện đối với sự thực tập tôn giáo [ở tự viện] có thể
vãng sinh. Vì kinh điển trình bày một cấp
độ thực tập, với điều quan tâm được tập trung trên sự thực tập tối thiểu cần
thiết, và thông điệp từ kinh Quán Vô Lượng Thọ ở trình độ thấp nhất của hành giả
đi đến căn bản cho việc diễn dịch ý nghĩa của niệm Phật trong Đại Nguyện Thứ Mười
Tám (từ trước đến giờ hay trong Tịnh Độ của
Ấn Độ, có hai đặc điểm, một thì đấy là pháp tu của hàng Bồ tát, và hai là niệm
Phật đặt nặng trên suy niệm về Đức Phật hơn là trì danh tụng đọc***). Điều này xuất hiện nổi bật trong Đạo Xước,
người sống trong thời gian khi khái niệm lịch sử suy tàn hay Mạt pháp trong sự
thực hành và thực chứng giáo huấn ăn sâu
vào trong hàng Phật tử. Đạo Xước chú giải
Đại Nguyện bằng việc hợp nhất điều ấy với giáo huấn trong kinh Quán Vô Lượng Thọ:
– Nếu
chúng sinh, mặc dù họ dã phạm phải những tội ác cả cuộc đời của họ, nên niệm
danh hiệu con (Di Đà) tại lúc lâm chung, tiếp tục trong mười niệm, và tuy thế nếu
không được vãng sinh, con nguyện sẽ không chứng giác ngộ vô thượng. (SSZ I,
410)
Suốt cả truyền thống Tịnh Độ cho đến khi
Tổ Thân Loan, kinh Quán Vô Lượng Thọ duy trì căn bản cho sự thấu hiểu Đại Nguyện
Thứ Mười Tám. Có hai căn bản quan trọng.
1.- Một, niệm Phật như tụng đọc danh hiệu
Phật – khác với tập trung tinh thần suy niệm hay quán tưởng – đi đến điểm quảng
bá sâu rộng một vị thế bành trướng quan trọng trong khuôn thức của sự thực
hành, nó được thấy là một sự giản dị thiết yếu, một hành động phù hợp với Đại
Nguyện Nguyên thủy. Tổ Thiện Đạo mệnh
danh cho điều này là “một hành vi quyết định chân thật”, phân biệt điều này với
những phương pháp trọng tâm đối với Đức Phật Di Đà như phụng thờ và quán tưởng;
Thiện Đạo đã hạ thấp những sự thực hành khác (với tụng đọc danh hiệu) đến một vị
trí thứ yếu hay hổ trợ. Tổ Pháp Nhiên
phát triển tư tưởng ấy xa hơn, và dạy rằng đọc tụng danh hiệu là sự thực hành
được Đức Phật Di Đà tuyển chọn trong Đại Nguyện Từ Bi của Ngài để cứu vớt tất cả
chúng sinh, và những sự thực hành khác được đặt qua một bên.
2.- Thứ hai, ý tưởng rằng Đức Phật Di Đà
tiếp dẫn chúng ta vào cõi Cực Lạc trở thành yếu tố mạnh mẽ của giáo huấn, và những
hành giả tìm cầu để chuẩn bị chính mình cho thời điểm lâm chung của cuộc đời mà
họ xem như quan trọng đối với sự vãng sinh của họ.
Thân Loan tuyên bố rằng kinh Quán Vô Lượng
Thọ là một giáo huấn quyền thừa và không phải là một thông điệp chân thật của Đức
Phật Thích Ca như trong kinh Đại Bổn Di Đà. Thân Loan theo lời dạy của Long Thọ trong việc nhấn mạnh tầng bậc Bất thối
chuyển, Sơ Hoan Hỉ Địa, có thể đạt đến được trong hiện tại, mà không phải tùy
thuộc trên những sự kiện tại thời điểm lâm chung. Hơn thế nữa, ngài thậm chí đi xa hơn, mà
tuyên bố rằng thân chứng niềm tin-phú thác (Tín) tự nó có nghĩa là sự đạt đến vị trí bất thối chuyển, Hoan Hỉ Địa,
và sau đó chúng ta giống như Bồ tát Di Lặc – một vị Bồ tát ở địa vị cao nhất –
vì chúng ta sẽ thân chứng giác ngộ tối thượng lập tức vào cuối cuộc đời này và
vãng sinh về Cực Lạc, mà không cần phải tiến triển gian khó qua những tầng bậc
khác (của những địa còn lại ***). Sự phát triển này ở Tịnh Độ tông có thể thực
hiện được qua sự duyệt xét lại nền tảng của quan điểm Niệm Phật. Tổ Thân Loan thấy tụng- đọc- niệm danh hiệu
Phật như một hành động tối thiểu đòi hỏi ở chúng sinh, nhưng điều ấy lại đưa nó
ra khỏi tất cả khuôn thức của sự thực tập truyền thống.
Truyền
thừa của Tịnh Độ Chân Tông
1- Long
Thọ – Ấn Độ,Thế kỷ thứ hai, thứ ba
2- Thiên
Thân – Ấn Độ, Thế kỷ thứ tư
3- Đàm
Loan – Trung Hoa, 467 – 542
4- Đạo
Xước – Trung Hoa, 562 – 645
5- Thiện
Đạo – Trung Hoa, 631 – 681
6- Nguyên
Tín – Nhựt Bổn, 942 – 1017
7- Pháp
Nhiên – Nhựt Bổn, 1133 – 1212
8- Thân
Loan – Nhựt Bổn, (21 tháng Năm 1173 –16 tháng Giêng 1263)
NOTES
1.
See Maitreya’s Mahayana-sutralamkara, I, 4, and Vasubandhu’s commentary.
http://www.nembutsu.info/indshin/readings/Chapter3-PracticePureLand.pdf
Tuệ Uyển chuyển ngữ – 17-07-2010
[1]
Điều
nguyện thứ mười tám: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương dốc
lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được
toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và
gièm chê chính pháp.
Điều
nguyện thứ mười chín: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh mười phương phát tâm Bồ
Đề, tu các công đức, dốc lòng phát nguyện, muốn sinh về cõi nước con, tới khi
thọ chung, mà con chẳng cùng đại chúng hiện ra chung quanh trước mặt người ấy,
thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.
Điều nguyện
thứ hai mươi: Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương nghe
danh hiệu của con, để lòng nhớ nghĩ đến nước con, tu trồng các công đức, dốc
lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng
trụ ở ngôi Chính giác.
Discussion about this post