Thiện Căn, Phước Đức Và Nhân Duyên

 THIỆN CĂN, PHƯỚC ĐỨCNHÂN DUYÊN

Tác Giả: Cư Sĩ Diệu Âm

Lời Tri Ân

Diệu Âm chỉ có một lòng
chí thành tha thiết muốn giao lưu pháp Niệm Phật Hộ Niệm cứu người có
duyên
vãng sanh Tịnh-Độ, trong một báo thân này được phước phần thành tựu đạo
giải thoát.

Thành khẩn cúi đầu phục
nguyện người người có duyên đọc đến liền phát tâm tin tưởng vững vàng vào đại
nguyện
của A-Di-đà Phật, quyết
lòng
niệm Phật cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc, tích cực trợ duyên cho nhau giúp
người vãng sanh, đừng để lỡ mất cơ hội này mà trăm ngàn vạn kiếp đành phải
chịu đọa lạc khổ đau!

Diệu Âm xin nói lên lời tri
ân
sâu sắc đến chư vị trong Ban Ấn Tống cùng thiện hữu tri thức đồng tu trong
nước cũng như khắp nơi trên thế giới đã phát tâm viết lại những cuộc tọa đàm
khô khan nói về Niệm-Phật, Hộ-Niệm, Vãng-Sanh này. Nếu những lời này có chút
công đức nào, xin thành tâm hồi hướng đến tất cả chư vị phát tâm cùng khắp pháp
giới
chúng sanh, nguyện tất cả trong một báo thân này đều được thành tựu đạo
quả
.

Nam Mô A-Di-đà Phật.

Diệu Âm (Minh
Trị) kính tri ân

Lời Ban Ấn Tống:

Từ
những lời tọa đàm tâm huyết của cư sĩ Diệu Âm vô tình tạo nên duyên cho nhiều
đồng tu trong nước cũng như nhiều nơi trên thế giới phát tâm kết thành một nhóm
cặm cụi, gắn bó làm việc với nhau trong thời gian qua. Chúng tôi xin tạm gọi
nhóm này là “Ban Ấn Tống Tọa đàm”.
Một điều khá hay là trong nhóm chỉ có một ít người được gặp mặt nhau, còn hầu
hết chỉ biết qua bằng email trên Internet. Ấy thế mà vẫn sinh hoạt tốt đẹp.

đến nay chư vị cư sĩ đồng tu đã tự nguyện
tham gia vào Ban Ấn Tống cũng khá đông, nên chúng tôi bắt đầu phân công tác để
cùng nhau làm. Thật khá vui và đầy đạo vị.

Pháp
Hộ
Niệm vãng sanh thật sự quá lợi lạc cho người học Phật, Ban Ấn Tống phát tâm
tích cực giao lưu rộng rãi pháp Hộ Niệm để trợ duyên cho người niệm Phật
nhiều cơ hội trong một báo thân này được hoàn mãn tâm nguyện vãng sanh thành
đạo
. Trong tinh thần này, tính đến nay (7/2012) chúng tôi đã ấn tống được các
bộ tọa đàm về Hộ Niệm của cư sĩ Diệu Âm như: “Hộ niệm là Pháp Tu”, “Khế Lý khế
Cơ”, “Hướng Dẫn và Khai Thị”. Hôm nay xin gởi đến chư vị tập sách: “Thiện-Căn,
Phước-đức, Nhân-Duyên”, ghi lại
cuộc tọa đàm của cư sĩ Diệu Âm. Trong 48 tọa đàm ngắn này, nửa phần đầu Cư Sĩ
tọa đàm nhân chuyến viếng thăm Âu Châu vào tháng 10/2011, nửa phần sau được kết
thúc
tại Niệm Phật đường A-Di-đà Brisbane, Australia tháng 11/2011.

Những
bộ tọa đàm này cư sĩ Diệu Âm đã hướng dẫn rất cụ thểrõ ràng về phương pháp
Hộ Niệm, đáng làm kim chỉ nam cho các Ban hộ Niệm khắp nơi vậy.

Ban
Ấn Tống luôn luôn hân hoan đón nhận tất cả chư vị phát tâm trợ duyên, vì chúng
sanh
phục vụ. Những sinh hoạt của “Ban Ấn Tống Tọa đàm” đều được đăng vào trang website:

www.hoasenvanno.wordpress.com

Chư
vị có thể lấy website này làm điểm gặp gỡ vậy.

“Ban
Ấn Tống Tọa đàm” chúng con xin
thành tâm cảm ơn đến Quý Thầy:


Thích Chí Giác Châu


Thích Hạnh Phú


Thích Nữ Như Hương (Chùa viên Minh)

đã từ bi nâng đỡ, chỉ dạy, khai thị cho
chúng con trên con đường phát tâm phục vụ đạo pháp, nhờ thế mà Ban Ấn Tống
chúng con làm việc dù có khó khăn nhưng vẫn được an tịnh, sinh hoạt được phát
triển và càng ngày càng thuận lợi hơn.

Ban
Ấn Tống thành tâm tạc dạ ghi ơn. Mong chư vị phát tâm càng ngày càng gắn bó với
nhau
để làm đạo, quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ.

Cầu
nguyện
tất cả chư vị trong một báo thân này đều được A-Di-đà Phật tiếp độ vãng sanh Tây-Phương
Cực-Lạc, trực chứng A-Duy-Việt-Trí Bồ-Tát, thành tựu đạo Bồ-Đề.

Ban
Ấn Tống cẩn ghi.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 1)

Nam Mô A
Di-Đà Phật.

Diệu Âm này
phàm phu, tội chướng sâu nặng, trí huệ chưa khai! Cư sĩ Tâm Nhật Thuyết nói
rằng cư sĩ Diệu Âm cho lời pháp thoại thì Diệu Âm này không dám nhận. Chỉ biết
rằng mình là người nghiệp chướng sâu nặng nên thông cảm với những người cùng nghiệp
chướng
sâu nặng như chúng ta… Cho nên những lời nói này là lời tâm sự.

Đồng
hoạn tương thân
“! Tức là cùng hoạn nạn với
nhau
, chúng ta thương nhau, đùm bọc với nhau để dìu dắt nhau nương theo pháp
Phật, cầu mong cho trong một báo thân này chúng ta có phước phần giải thoát,
giải tất cả những cái ách nghiệp của người phàm phu, thoát qua sáu đường sanh
tử
.

Sở dĩ
chúng ta nói được như vậy là vì đức Thế-Tôn biết rằng chúng sanh nghiệp chướng
sâu nặng như chúng ta vẫn được cái phước phần vượt qua sanh tử luân hồi. Ngài
ban cho chúng ta một pháp môn rất dễ mà lại vô cùng vi diệu. Dễ vì ứng hợp với
căn cơ thấp kém hạ căn như chúng ta. Vi diệu vì nhờ phương pháp này mà thay vì
khi buông báo thân chúng ta bị đọa lạc hàng vô lượng kiếp trong ba cảnh xấu ác,
nay lại vượt về tới Tây-Phương Cực-Lạc để một đời này bất thối thành đạo.

Xin thưa với
chư vị, là một phàm phu tục tử khi gặp được cái cơ duyên này chúng ta thấy mừng
rỡ vô cùng. Tất cả chúng ta ai ai cũng được quyền hy vọng thành đạo. Thấy vậy
mới biết pháp Phật vi diệu! Vi diệu bất khả tư nghì!…

Nếu chúng ta
là một đại Bồ-Tát, trong một đời này đi về Tây-Phương để thành đạo thì không có
gì đáng tuyên dương hay đáng mừng rỡ. Nhưng mà tuyệt vời chính ở chỗ một người
phàm phu tục tử, tội chướng tràn đầy, oan gia trái chủ chập chùng, chúng ta
đang đứng trước cửa ngõ của ba đường ác hiểm, ấy thế nhờ một câu A-Di-Đà Phật
mà về được tới Tây-Phương Cực-Lạc để một đời thành đạo… Thật quá vi diệu! Đức
Phật
nói rõ rệt như vậy!

Cho nên, khi
biết rằng là hạng phàm phu tục tử, chúng ta hãy thương yêu nhau, đoàn kết với
nhau
, yểm trợ cho nhau, dìu dắt nhau đi cho đúng con đường này. Con đường thành
đạo
ngắn nhất. Con đường thành đạo lạ lùng mà đến nỗi không ai có thể giải
được!

Tại sao lại
như vậy?… Chỉ khi nào về được Tây-Phương rồi, thành Phật rồi, chúng ta mới
hiểu được chuyện này. Một người tội chướng sâu nặng, thì trong nhiều kinh điển
đã nói rằng, với hạng người như chúng ta nhất định phải chịu đọa lạc, nhất định
tiếp tục trầm luân, chịu ách nạn sanh sanh, tử tử lũy kiếp không biết
ngày nào mới thoát nạn được!…

Ấy thế mà đức
Phật
còn có nói rõ rệt rằng, một người nào tin vào câu A-Di-Đà Phật, một người
nào nghe câu A-Di-Đà Phật mà tâm hoan hỷ, tin ưa, hạ một chí nguyện quyết đi về
Tây-Phương Cực-Lạc, rồi thành tâm niệm câu A-Di-Đà Phật. Niệm “Nam Mô
A-Di-Đà Phật
” cũng được, niệm bốn chữ thôi “A-Di-Đà
Phật
” cũng được, lược bớt đi hai chữ, bốn chữ thôi, cứ thế mà đi…
Lòng tin hôm nay thì vững hơn hôm qua… Sau khi chúng ta cộng tu rồi, lòng tin
phải vững hơn trước khi chúng ta cộng tu… Khi chúng ta ăn cơm, chúng ta
cái niềm tin vững hơn trước khi ăn cơm… Rồi ngày mai… ngày mốt… niềm tin
cứ tiếp tục tăng lên, đừng bao giờ giảm xuống. Trước những giờ phút xả bỏ báo
thân
, chư vị vẫn giữ nguyên ý nguyện này…

– Nghĩa là
niềm tin không lay chuyển…

– Nghĩa là
chí nguyện vãng sanh không được bữa có bữa không…

– Nghĩa là
tâm ý không được chờn vờn, phân đo…

Chờn vờn,
phân đo nghĩa là hôm nay thì chúng ta muốn vãng sanh, ngày mai thì chúng ta nói
thôi để suy nghĩ đã… Rồi ngày mốt thấy đời khổ quá thì nguyện vãng sanh trở
lại
… Không được chập chờn như vậy!… Tức là, Tín phải vững lên! Nguyện phải
càng ngày càng tha thiết, không được giảm! Câu A-Di-Đà Phật phải nở mãi trên
môi chúng ta. Cái môi niệm Phật, thì tâm phải niệm Phật. Thành tâmniệm
Phật
.

Phật dạy
rằng, không cần nhất định phải nhất tâm bất loạn, không cần nhất định phải
chứng đắc, chí thành lên, chí thiết lên, trì giữ câu A-Di-Đà Phật, Ngài nói quý
vị làm như vậy, rồi trước những giờ phút lâm chung cất lên một niệm
“A-Di-Đà Phật” cầu về Tây-Phương, nếu mà chư vị không đi về tới
Tây-Phương Cực-Lạc để một đời thành tựu đạo quả, thì A-Di-Đà Phật thề rằng Ngài
không giữ ngôi Chánh-Giác.

Xin thưa với
chư vị, khi nghe lời nói này, chư vị có cảm thấy sung sướng không?… Có thấy
ngộ ra con đường thành đạo của chúng ta không?… Đây là con đường duy nhất cho
chúng sanh như chúg ta trong một báo thân này thành đạo. Ngoài con đường này
nhất định không có con đường thứ hai để chúng ta có quyền nói: Thành tựu đạo
quả
.

Trở lại
chuyện của hàng hạ căn, chúng ta phải thương yêu với nhau, phải đoàn kết với
nhau
, phải bảo vệ với nhau. Để chi?… Để cho những người gọi là “Đồng
Hoạn” này, đồng cái hoạn nạn của nghiệp chướng, một đời này rủ nhau đi về
Tây-Phương gặp đức A-Di-Đà… Nam cũng thành tựu đạo quả, nữ cũng thành tựu đạo
quả
, một người dù nghiệp chướng sâu nặng này cũng được thành đạo quả. Nếu chúng
ta
có nhiều phước báu, trước khi ra đi có thể ngồi cười hề hề không bị bệnh khổ
gì cả. Nhưng vãng sanh dưới hình thức nào, chúng ta vẫn bình đẳng thành tựu đạo
quả
trên cõi Tây-Phương.

Mong cho chư
vị củng cố niềm tin cho vững vàng, quyết lòng nương theo câu A-Di-Đà Phật đi về
Tây-Phương. Cái điểm quan trọng của chúng ta đã được chư Tổ nói rất kỹ trong
những lời khai thị.

– Hãy chí
thành
, chí kính, hãy khiêm nhường tối đa, rồi dùng cái lòng chí thành đó niệm
câu A-Di-Đà Phật.

– Hãy bỏ lại
sau lưng tất cả những nghiệp mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ.

– Hãy bỏ lại
sau lưng tất cả những tập khí sai lầm, đối với một người phàm phu lấy lòng
khiêm nhường chí thành, thật thà, gọi là “Lão thật để niệm Phật“.
Chỉ vậy mà thôi…

Hy vọng rằng
tất cả mọi người ngồi đây, đều về Tây-Phương thành tựu đạo quả, để cùng với chư
Phật đi khắp mười phương pháp giới cứu độ chúng sanh.

Thành tâm
chúc mừng cho chư vị… nếu sau những lời này tất cả đều vững tâm, vững chí,
một lòng một dạ đi về Tây-Phương Cực-Lạc…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 2)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Vãng Sanh” là cái pháp tu thấp nhất, căn bản nhất, dễ
dàng nhất, hợp với căn cơ của chúng ta.

Trong thời mạt pháp này. Căn cơ của chúng ta thấp lắm, không cao đâu.
Nếu mà căn cơ chúng ta cao một chút, gọi là thượng căn thượng trí, thì ta không
thèm nói chi đến pháp hộ niệm, ta sẽ niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn rồi
đứng cò cò vãng sanh, biểu diễn một sự vãng sanh giống như ngài Thiện-Đạo Đại
, Ngài leo trên cây cao thiệt cao, Ngài giăng hai cánh tay ra rồi bay tà tà
tà tà xuống… Ngài ngồi xếp bằng dưới đất, bắt ấn tam muội vãng sanh luôn.

Nhưng niềm mơ ước để được nhất tâm bất loạn đối với chúng ta khó cách
nào có thể thành hiện thực được! Mình nói như vậy có phải là bi quan lắm không?
Xin thưa với chư vị, không phải bi quan, mà đây là điều thực tế.

Trong kinh Đại-Tập, đức Thế-Tôn có nói: “Thời mạt pháp ức vạn
người tu khó tìm ra một người chứng đắc
”. Nhất tâm bất loạn là một cảnh
giới
chứng đắc. Cho nên ta mới nói rằng ức vạn người đang tu hành ngày hôm nay
tìm không ra một người chứng đắc. Mà đã không được chứng đắc để nhất tâm bất
loạn
, thì bắt buộc ta phải có cách khác để phải được vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc. Vì tự ta không thể nào tự mình thành đạo được, nên phải tạo cho được
sự trợ duyên tốt, tạo cho được sự trợ duyên viên mãn để ta lấy cái nhân niệm
Phật
hôm nay kết thành cái quả báo viên mãn trên cõi Tây-Phương.

Như hồi sáng nay chúng ta đã nói qua, niệm Phật là cái “Nhân”,
nhưng mà không chú ý cái “Duyên”, thì coi chừng cái “Nhân
niệm Phật
” hôm nay nó sẽ nở ra cái “Quả” trong
một vạn kiếp nào đó ở tương lai, chứ không nở trong đời này. Trong khoảng thời
gian
dài vằn vặc đó ta có thể bị nạn!…

Chính vì vậy, chúng ta phải chú ý rất kỹ điểm này. Các vị Tổ Sư toàn là
những vị thượng thiện-căn, nhưng đến sau cùng hầu hết các Ngài đều chuẩn bị sự
hộ niệm rất cẩn thận, dặn dò các hàng đệ tử hộ niệm trợ duyên cho các Ngài một
cách hết sức chu đáo.

– Thứ nhất, chính các Ngài luôn luôn giữ cái tâm khiêm nhường để làm
gương cho chúng sanh.

– Thứ hai, chính Ngài cũng nhiều khi nhận rằng vẫn còn có nghiệp chướng.

Chúng ta nên nhớ, còn nghiệp chướng là còn trong sanh tử luân hồi. Nếu
tu nhiều thì có phước nhiều. Có phước nhiều thì nghiệp ác không có hoặc rất
nhỏ, nhưng mà chúng ta vẫn còn có cái nghiệp thiện. Hồi sáng này chắc quý vị có
nghe nhắc đến lời nói của ngài Tĩnh-Am, vị Tổ thứ mười một của Tịnh-Độ Tông
Trung Hoa. Ngài nói dù những người không có nghiệp ác, toàn là nghiệp thiện
thôi, nhưng Ngài lại nói: “Nghiệp thiện càng lớn thì sanh tử càng nặng”…
Còn nếu chúng ta nghiệp ác càng lớn, thì tam đồ càng nặng! Đổi chữ “Sanh Tử
thành chữ “Tam Đồ”, một chút vậy thôi!…

Chính vì thế, chúng ta tu hành không nên định nghĩa rằng làm thiện là
đủ. Hoàn toàn không đủ đâu! Chúng ta nhất định phải tu “Tịnh nghiệp”.
Tu tịnh nghiệp nhưng mà cầu chứng đắc nhất tâm bất loạn, để được an nhiên tự
tại
, bay tà tà từ trên cây xuống, ngồi xếp bằng thị tịch như ngài Thiện-Đạo,
thì không có đâu chư vị ơi!…

Ngài Thiện-Đạo là A-Di-Đà Phật tái lai mới biểu diễn được chuyện đó. Còn
ở đây chúng ta là hàng phàm phu tục tử thì nhất định không bao giờ có được
chuyện đó đâu… Chính vì vậy, cư sĩ Tâm Nhật Thuyết bất ngờ nhắc đến chuyện hộ
niệm
, thật là thích hợp trong khung cảnh tu hành với căn cơ hạ liệt như chúng
ta
.

Xin thưa với chư vị, muốn tu thành đạo trong đời này hãy nhớ cho kỹ lời
dạy của Ngài Ấn-Quang Đại Sư. Chúng ta nên nhớ kỹ, Ấn-Quang Đại Sư
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát tái lai chứ không phải tầm thường, nhưng suốt cuộc đời của
Ngài, khi nói lên một câu nào, Ngài thường hay khởi đầu bằng câu này trước: “Lão
Tăng là hàng phàm phu tục tử, tội chướng sâu nặng, trí huệ còn mê mờ…
”.
Quý vị để ý coi.

Tại sao Ngài nói như vậy? Ngài nói vậy không phải là nói cho Ngài đâu
à!… Mà đây là những lời Ngài nói cho hàng hạ căn phàm phu tục tử trong thời mạt
pháp
như chúng ta. Ngài dạy từng chút, từng chút cho chúng ta để những người
phàm phu tục tử này được phước phần vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Hay lắm
chư vị ơi!…

Ngài nói như thế nào?…

Càng tu hành ta càng thấy ta nghiệp nặng…

– Càng tu hành ta càng thấy ta hạ căn…

– Càng tu hành ta thấy chỉ còn có ta là phàm phu, nghiệp chướng sâu
nặng, còn tất cả mọi người đều là Bồ-Tát hết.

Hồi sáng tôi nói: “Xin chư vị đại Bồ-Tát…”. Tại vì tôi coi
tôi là hạng phàm phu mà. Xin thưa thật, từng điểm, từng điểm những lời khai thị
của ngài Ấn-Quang Đại Sư nó khớp, nó hợp với những người phàm phu như chúng ta
để theo đó tu hành thành đạo. Diệu Âm này tình thật mà nói, không biết sao lại
có một sự cảm ứng rất mạnh với những lời khai thị của ngài Ấn-Quang Đại Sư.
Ngay như những lời thơ “Khuyên Người Niệm Phật” cũng do ngài Ấn-Quang
Đại Sư khai thị cho. Ngài nói, “Mình biết niệm Phật, mình biết con đường
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, thì làm sao nỡ để anh em, cha mẹ, vợ con của
chúng ta tiếp tục chìm đắm trong bể khổ sông mê
”. Vâng lời Ngài, chúng ta
hãy cố gắng khuyên người niệm Phật cầu về Tây-Phương đi, để giúp cho một người
phàm phu vãng sanh về Tây-Phương thành bậc Chánh-Giác.

Hồi sáng này chúng ta nói niệm Phật dễ. Nhưng thật ra niệm Phật mà không
để ý… không cẩn thận… Chưa chắc gì dễ đâu! Thật sự!… Ngài Tịnh-Không
thường hay nhắc lại lời nói của ngài Lý-Bỉnh-Nam. Ngài Lý-Bỉnh-Nam nói: “Một
vạn người tu niệm Phật, suy cho cùng ra còn có hai-ba người vãng sanh
”.
Hai-ba người vãng sanh trong mười ngàn người đâu phải là dễ!…

Chính vì thế mà ta phải cẩn thận tối đa, đúng như cư sĩ Tâm Nhật Thuyết
đã nói: “Chuẩn bị hộ niệm”…. Lạ lắm! Một người niệm Phật
không có chuẩn bị hộ niệm, thì sau cùng hình như một vạn người tu vẫn chỉ có
một-hai người vãng sanh mà thôi! Ấy thế, cũng là một người niệm Phật như vậy,
nhưng kèm theo sự hộ niệm, chuẩn bị sự hộ niệm cẩn thận, khuyên nhắc kịp thời,
thì “Một ngàn người tu một ngàn người vãng sanh chư vị ơi! Một vạn
người niệm Phật một vạn người vãng sanh. Muôn người tu muôn người đắc
. Đây là lời nói của chư Tổ chứ
không phải là lời nói của Diệu Âm đâu.

Như vậy thì câu nói “Một vạn người tu, một vạn người đắc
đây có nghĩa là, những người quyết lòng niệm Phật nhưng phải chuẩn bị cái duyên
thuận
lợi khi rời bỏ báo thân này, luôn luôn hỗ trợ tốt cho nhau, đừng bao giờ
tách rời đường dây tiếp độ của A-Di-Đà Phật, thì “Một vạn người tu,
một vạn người đắc
”.

Ngài Vĩnh-Minh nói rằng: “Vạn nhân tu vạn nhân khứ”. Ngài
Thiện-Đạo nói: “Muôn người tu muôn người vãng sanh”. Ngài Ấn-Quang nói:
Người nào niệm Phật cũng được vãng sanh hết”.

Khi chúng ta hiểu được đạo lý này thì chuyện hộ niệm cho người vãng sanh
trở nên là đại ân nhân, đại cứu tinh cho những người trong thời đại mạt pháp
này muốn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Chắc chắn như vậy!… Một chứng minh
cụ thể, hồi sáng này tôi có khoe ra một người Thiên Chúa giáo vãng sanh. Một
người Thiên Chúa giáo thì đâu có niệm Phật nhiều như mình. Họ chưa bao giờ kết
hợp
với nhau thành một nhóm như thế này để ngồi bên địa chung niệm “A-Di-Đà
Phật
” đâu. Thế mà được cái “Duyên” là người ta khuyên niệm
câu A-Di-Đà Phật khi bị ung thư chờ chết. Khuyên người đó niệm Phật là “Duyên”.
Người đó phát tâm niệm câu A-Di-Đà Phật là “Nhân”. Cái
nhân này kết hợp với sự “Hộ Niệm” tức là “Nhân
Duyên
” đầy đủ. Kết quả là người đó vãng sanh về Tây-Phương
Cực-lạc.

Giả sử như ta khuyên người đó niệm Phật. Khi người đó niệm Phật rồi,
mình nghĩ rằng vậy là đủ, cứ để mặc họ tự tu lấy… Thì sau cùng người đó cũng
đành phải chìm đắm trong nghiệp báo để chịu nạn nhiều đời nhiều kiếp mà
thôi!…

Chính vì vậy, khi hiểu được con đường hộ niệm vãng sanh, xin hãy cố gắng
nghiên cứu thêm cho thật kỹ, rồi chúng ta hãy kết bè với nhau tu hành theo tiêu
chuẩn
của ngài Ấn-Quang Đại Sư đưa ra trong thời này thì rất tốt.

Ngài đưa ra như thế nào?… Một Niệm Phật Đường, một Đạo
Tràng
thành tựu là đưa được một người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, chứ
không phải là một đạo tràng có hàng vạn người tới tu…

Xin quý vị nghe kỹ câu nói này của ngài. Lạ lắm!… Nghĩa là, một chỗ
nào đó có thể giúp cho một người vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, thì đạo tràng đó
được gọi là “Đạo Tràng Thành Tựu!”… Lạ không?…

Như vậy, những đạo tràng nào mới dễ được thành tựu?… Ngài giới thiệu
cho chúng ta một kiểu mẫu: Kết nhóm với nhau, năm người, mười người, nhiều lắm
là hai chục người với một trưởng tràng nữa là hai mươi mốt người… Đủ rồi.
Không cờ, không bảng hiệu, không khoe trương, không làm pháp hội, không hóa
duyên
… Cứ âm thầm lặng lẽ, một đường mà tu, một câu A-Di-Đà Phật mà niệm, rồi
hỗ trợ cho nhau khi lâm chung, tức là hộ niệm cho nhau… thì đạo tràng này sẽ là
đạo tràng thành tựu trong thời mạt pháp này.

Chúng ta lấy toàn những lời nói của chư Tổ, và đúng là ứng hợp căn cơ
chúng ta. Cho nên rất là may mắn khi quý vị đã kết hợp với nhau tu hành theo
hình thức này. Đây đúng là tiêu chuẩn của ngài Ấn-Quang Đại Sư đưa ra. Nghĩa
là, cuối cùng chúng ta đã đi đúng đường rồi. Thành tâm chúc mừng chư vị.

Chúng ta đang đi càng ngày càng gần với Tây-Phương Cực-Lạc. Khi xả bỏ
báo thân này nhất định chúng ta sẽ trở về Tây-Phương thành Đại Thượng Thiện
Nhân
để thành tựu đạo quả trong một đời này.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 3)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Nếu nói “Khai
Thị
”, xin thưa thật là Diệu Âm không dám nhận lời. Hướng dẫn một vài điểm
nhỏ nhoi trong công cuộc niệm Phật vãng sanh về Tây-Phương, thì biết được chút
nào Diệu Âm xin thành tâm nói chút đó, chứ không dám nhận lời khai thị đâu.

Ngày hôm nay chúng
ta
kết hợp với nhau đến ngày thứ hai để niệm Phật, đây là một cơ duyên thù
thắng
, dù rằng phương pháp tu hành này còn hơi mới mẻ, thành ra chúng ta cũng
có chút ít bỡ ngỡ, và cái phước báu chúng ta cũng không lớn lắm, nên khung cảnh
tu tập cũng hơi chật hẹp, nhưng điều này không quan trọng. Điều quan trọng là
làm sao chúng ta phải về cho được Tây-Phương trong một báo thân này, đó mới là
chính.

Muốn về được
Tây-Phương thì lòng “Khiêm Nhường – Chí Thành – Chí Kính
là điểm chính yếu để chúng ta thành đạo. Thật sự chúng ta đều là hàng hạ căn
phàm phu! Đã là hàng hạ căn phàm phu thì chỉ nhờ tấm lòng chí thành chí kính mà
được đức A-Di-Đà tiếp dẫn ta về Tây-Phương…

Có dịp nào đó quý
vị về Việt Nam, hãy đi hỏi những vị hộ niệm, người ta sẽ kể cho quý vị nghe
những chuyện vãng sanh. Hầu hết ban hộ niệm nào cũng đều có sự nhận định hơi
giống nhau một điều này, là chỉ có người nào tánh tình hiền lành, chất phát,
thật thà, khiêm nhường mới dễ được vãng sanh. Nhờ kinh nghiệm này, mà các ban
hộ niệm không cần đòi hỏi người bệnh đó tu giỏi, tu dở. Người ta không cần điều
tra
công phu trong quá khứ của người này như thế nào, mà chỉ cần họ thấy
người này hiền lành, chất phát thì họ rất hoan hỷ, những vị thành viên trong
ban hộ niệm cũng rất sốt sắng đến hộ niệm cho người đó.

Những người trưởng
ban hộ niệm kể lại chuyện vãng sanh, hầu hết họ đều chú ý về yếu tố hiền lành
này. Nếu gặp một người bệnh hiền lành thì họ có thể đoán trước rằng người bệnh
đó trên chín mươi phần trăm sau khi ra đi sẽ để lại thoại tướng rất là tốt. Lạ
lắm! Tình thật, Diệu Âm cũng không phải là người lịch lãm lắm trong phương pháp
hộ niệm, nhưng cũng từng tham dự hộ niệm qua một số ca rồi, cũng rất đồng ý với
sự phán đoán này.

Những người nào
càng hiền lành chừng nào, càng chất phát chừng nào, càng thật thà chừng nào lại
càng dễ vãng sanh chừng đó. Lạ lắm!…

Trong những khoảng
thời gian gần đây có một số người chủ trương niệm Phật nhất tâm bất loạn để
vãng sanh, và thường đưa ra những phương thức giúp cho người đồng tu niệm Phật
được nhất tâm bất loạn. Diệu Âm thấy rằng những chương trình này tốt chứ không
phải xấu, tại vì nhất tâm bất loạn là cái điểm cao tột của người niệm Phật. Nếu
ta công phu chứng đắc được ta sẽ an nhiên tự tại vãng sanh về Tây-Phương. Đến
lúc đó chúng ta không cần nhờ đến những người hộ niệm làm chi. Đây là điều đáng
khen
.

Nhưng thực tế, trong thời đại này, với cái
căn cơ cỡ như Diệu Âm đây, tình thật mà nói là không cách nào có thể đạt được
cái cảnh giới nhất tâm bất loạn! Vì vậy, khen thì khen, nhưng chính Diệu Âm này
không dám thực hiện! Diệu Âm chỉ thường khuyên rằng, chư vị hãy cố gắng khiêm
nhường, thật thà để cầu cảm thông được với A-Di-Đà Phật, cảm thông với chư vị
đại Bồ-Tát, và nhất là cảm thông chư vị oan gia trái chủ để khi mình nằm xuống
chỉ cần chắp tay lại nói một lời:

Nam Mô A-Di-Đà
Phật. Chư vị ơi! Hồi giờ tôi mê muội, tôi làm sai rồi!… Bây giờ tôi thành tâm
xin sám hối với chư vị. Xin chư vị buông tha cho tôi, chúng ta hãy cùng nhau về
Tây-Phương thành đạo. Tôi hứa ngày nào còn sống, tôi còn niệm Phật hồi hướng
công đức cho chư vị. Ngày mà tôi về
được
Tây-Phương Cực-Lạc rồi, tôi sẽ quyết lòng tìm mọi cách để cứu độ chư vị…

Xin thưa, chỉ cần
một lời nói chân thành như vậy, một lần, hai lần, ba lần thì tự nhiên những oán
nạn về oan gia chủ nợ hình như biến mất đi hồi nào không hay. Nhất là được
những người hộ niệm đến bên cạnh mình, tiếp sức với mình, thành khẩn điều giải
oan
gia trái chủ, thì hầu hết những oán nạn đều có thể được giải tỏa. Tôi chỉ
nói hầu hết chứ không dám nói một trăm phần trăm đâu.

Ấy thế một khi
chúng ta muốn niệm Phật cho nhất tâm bất loạn, nếu là người thượng căn, hàng
đại Bồ-Tát thì không có vấn đề gì xảy ra cả. Nghĩa là thật sự họ an nhiên tự
tại
vãng sanh. Chứ còn nếu hàng trung hạ căn như chúng ta mà mơ cầu đến chuyện
đó thì thật sự thường gặp phải những chướng nạn khá lạ lùng!…

Hôm nay Diệu Âm
cũng xin thưa lại những việc có thật đã xảy ra, để chư vị tự suy nghĩ thử, hầu
thấy được con đường nào là dễ hành, con đường nào là khó tu?…

Thứ nhất, khi mình
niệm Phậtquyết lòng cầu nhất tâm bất loạn, thì với cái hạng căn cơ như
chúng ta thường thường đưa đến tình trạng vọng tưởng nhiều lắm, có những chứng
đắc
giả nó ứng hiện ra. Rồi vì tâm cơ của mình yếu quá nên không nhận ra được
đó là hão huyền! Những điều hão huyền đó càng ngày càng thấm sâu vào tâm, đến
một lúc nào đó mình không còn sáng suốt để nhận ra nữa!… Vì thế mà sau cùng
rất dễ bị hại!

Ở tại Úc, Diệu Âm
có một người bạn đã quyết lòng niệm Phật cầu nhất tâm bất loạn. Anh đã chứng
những cảnh giới gì đó không biết, mà nghe kể ra thì cũng hay lắm! Cách đây gần
hai năm Diệu Âmthành tâm khuyên anh ta hãy giữ lòng khiêm nhường niệm Phật
đi thì hay hơn, đừng nên mơ cầu thái quá. Nhưng anh vẫn khẳng định là mình có
chứng đắc. Anh ta đôi lúc có thấy được hào quang gì đó phóng đến và trí huệ của
anh hình như sáng ra!?…

Có nhiều lúc anh
ta gặp tôi thì nhìn qua, nhìn lại, nhìn phía sau… Dường như anh đang nhìn
thấy được cái quang minh gì đó? Lạ lắm!… Tôi nói, thôi đi!… Tôi không có
quang minh gì đâu. Anh hãy lo niệm Phật đi, cố gắng đừng có mong cầu như vậy
nữa nhé… Nhưng anh không nghe theo.

Thì cách đây cỡ
hai tháng, tôi có đến thăm anh, nhưng lần này tôi lại đến thăm một người đã bị
tẩu hỏa nhập ma rồi! Anh ta phải vào trong bệnh viện tâm thần, bác sĩ tâm thần
đang theo dõi liên tục. Tôi không biết bây giờ tình trạng của anh như thế
nào?… Tôi đã đoán biết rằng hiện tượng bất tường này có thể sẽ xảy ra cho anh
ta, nhưng tôi đã khuyên hai-ba lần rồi, mà anh ta không nghe theo. Tôi đành
chịu thua! Không biết cách nào khác hơn là đành chờ đến ngày anh ta thọ nạn rồi
đến thăm mà thôi! Thấy anh bị nạn, tôi cũng định dùng phương pháp điều giải để
hóa gỡ dùm cái chuyện nhập thân, nhưng chỉ mới nói chuyện qua được có một lần,
sau đó thì có một vị nào đó giới thiệu tới một thầy pháp nào hay lắm! Vậy thì
cũng tùy duyên thôi, chứ tôi cũng không biết làm cách nào khác hơn?

Có một vị khác nữa
cũng tới nói với tôi rằng, “Mình
đã đột phá được cảnh giới Hoa-Nghiêm rồi
”. Chư vị có biết đột phá cảnh giới Hoa-Nghiêm có nghĩa là sao không?…
Có nghĩa là người đó đã “Minh Tâm Kiến Tánh” rồi, là thuộc hàng Sơ Trụ
Bồ-Tát rồi đó. Sơ Trụ Bồ-Tát mới bắt đầu đột phá được tới cảnh giới Hoa-Nghiêm.
Tức là họ đã trở về được với “Chân Tâm Tự Tánh” rồi.

Vị này có những
năng lực giống như là thần thông rất cao vậy. Ví dụ như anh đang nghĩ gì, ngày
hôm qua anh đã làm gì, họ có thể nói ra vanh vách hết. Vị đó ở cách xa Diệu Âm
cỡ trên một trăm năm mươi cây số, nhưng có thể nghe được mình nói gì. Có một
thời gian Diệu Âm bị bệnh, buổi sáng không tụng kinh được, thì sau một tuần vị
đó đến thăm và hỏi Diệu Âm như thế này:

– Tại sao trong
tuần qua chú không tụng kinh? Trong khi hàng ngày mỗi sáng thường khi chú tụng
kinh
Vô-Lượng-Thọ, mà tại sao trong tuần qua chú không tụng?

Tôi nói:

– Dạ, tại vì con
bị bệnh…

– Anh không cần
nói tôi cũng biết rồi. Tôi nhập vào trong định và quán thì thấy được quang minh
của anh, tôi biết anh bị bệnh. Chính vì vậy mà tôi về thăm anh đây.

Vị đó nói như vậy.
Tức là chứng tỏ đã có một sự chứng đắc gì đó khá cao?… Có nhiều vị khác thấy
vậy phải quỳ xuống muốn tôn làm sư phụ. Ấy thế mà có một dịp đến gặp Hòa Thượng
Tịnh-Không, thì khi tiếp vị đó khoảng năm phút, Hòa Thượng đã quyết định dứt
khoát
mời vị đó ra khỏi Tịnh-Tông. Sau đó ra ngoài ở khoảng chừng hai tháng sau
thì vị đó đã bị trở ngại vô cùng!…

Những chuyện này
Diệu Âm biết qua, xin kể sơ lại thôi. Đây là những bài khai thị rất tốt để cho
chúng ta biết rằng, sự chứng đắc đối với hàng phàm phu chúng ta khó lắm! Đã khó
chúng ta cứ muốn làm, nhiều khi tâm nguyện chúng ta thì quá cao, mà lực của
chúng ta thì quá yếu, gọi là “Lực bất tòng tâm”… Có nghĩa là
cái tâm chúng ta muốn đạt cảnh giới cao, mà cái khả năng, cái năng lực của
chúng ta không đạt tới được! Khổ một nỗi, đạt không tới được mà cái tâm của
chúng ta vẫn cứ vọng cầu. Nếu đạt tới gọi là chánh cầu, đạt không tới gọi là
vọng cầu. Hễ vọng cầu thì thường ứng với vọng cảnh! Ứng tới vọng cảnh, nhưng
khổ một nỗi là tâm chúng ta chưa sáng, trí huệ chưa khai, nên thường lầm lẫn!
Lầm lẫn giữa vọng cảnh và chứng đắc, thành ra bị vướng nạn! Tu hànhsơ ý,
sau cùng rất dễ bị nạn là như vậy…

Với lòng thành
tâm, trong thời gian gần đây Diệu Âm luôn luôn khuyên đồng tu nên nghe lời dạy
của ngài Ấn-Quang để tu hành, hãy cố gắng giữ tâm niệm khiêm nhường, khiêm
cung, từ ái… để tu mới tốt.

– Nhờ cái lòng
khiêm cung và chí thànhchúng ta cảm thông được với chư Thiên-Long Hộ-Pháp
gia trì.

– Nhờ cái lòng
khiêm cung chúng ta mới điều giải được với các vị trong pháp giới hữu duyên.

– Nhờ cái lòng
chân thành rất dễ cảm ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà.

Ngài đã phát một
lời thề là người nào nghe danh hiệu của Ngài mà chí thành tin tưởng, vui vẻ,
rồi đem các công đức lành hồi hướng về nước của Ngài rồi cầu nguyện vãng sanh
về Tây-Phương thì Ngài sẽ cứu chúng ta về Tây-Phương. Đây là lời đại thệ Ngài
cứu độ vô lượng vô biên chúng sanh, bao gồm cả thượng, trung, hạ căn đều được
tiếp độ về Tây-Phương Cực-Lạc. Đại nguyện này cũng chính là để cứu độ những
người phàm phu tục tử như chúng ta.

Thấy được điều
này, Diệu Âm xin khuyên rằng, chúng ta hãy mau mau xác định ta là hàng phàm phu
hạ căn. Giả sử như mình nói sai một chút, vì mình là hàng thượng căn mà lại cho
hạ căn thì càng tốt. Người thượng căn mà tánh tình khiêm nhường như vậy lại
càng dễ thành đạo. Nếu ta là hàng trung căn mà cứ tự nhận mình là hạ căn thì
lại được Ngài tiếp đón còn dễ hơn nữa. Chứ nếu mình làm những cái gì đó vượt
qua
căn cơ của mình, mơ cầu những gì vượt qua căn cơ của mình thì thường thường
tâm thượng mạn dễ tăng lên lắm! Một khi thượng mạn tăng lên, ít khi cảm thông
được với chư vị Thiên-Long Hộ-Pháp, ít khi cảm thông được với chư vị Bồ-Tát.
Ngược lại, thường dễ bị oan gia trái chủ cài vào những cái bẫy làm cho chúng ta
bị hại, khó có thể ngăn ngừa được! Chính vì thế sau cùng thường bị nhiều khó
khăn!…

Ngưỡng mong chư vị
cố gắng lấy lòng khiêm nhường này để chúng ta cùng nhau tu hành, nương nhau đi
về Tây-Phương thành đạo…

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN DUYÊN

(Tọa Đàm 4)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Diệu Âm nghe cư sĩ Tâm Nhật Thuyết nói về “Trình bày”, tôi tưởng là trình bày về hộ niệm, không ngờ anh ấy lại
chuyển chữ “Hộ Niệm” thành “Tu Tập”. Chữ “Tu
Tập
” của người hạ cănchúng ta đang chọn lựa một phương cách tu tập rất
đơn giản, đơn giản nhất trong tất cả các pháp môn. Trong kinh Phật gọi là pháp
môn
Dị Hành”. Pháp môn dễ làm. Dễ làm nhưng lại có kết quả thù
thắng
.

Tại sao đức Thế-Tôn lại đưa ra một pháp môn rất là dễ dàng, trong khi
cũng có rất nhiều pháp môn tu tập rất khó khăn? Xin thưa, đến cái thời mạt pháp
này, nếu mà không có một pháp môn dễ dàng, thì chúng sanh không còn có cơ hội
nào được độ thoát. Nếu đức Thế-Tôn không đại từ đại bi, không có chỉ bày cho
chúng ta cái pháp môn niệm Phật, thì đến thời mạt pháp này, người tu thì có tu,
mà người đắc thì không có đắc!…

Nếu một giáo pháp đưa ra mà không có một người nào chứng đắc, thì chẳng
lẽ giáo pháp đó bị ế rồi làm sao?…

Trong thời mạt pháp này mà những người tu hành như chúng ta lại được
vãng sanh về tới Tây-Phương Cực-Lạc, xin quý vị hãy suy nghĩ thử?… Chúng ta
đang ngồi trong một căn nhà nhỏ, một cái Niệm Phật Đường về hình thức thì không
trang nghiêm, đồ sộ, nguy nga như những nơi khác, ấy thế mà chúng ta lại có
một niềm hy vọng rất vững chắc để được vãng sanh thành đạo. Phải chăng hình như
chúng ta đang ở trong thời kỳĐại chánh pháp”, chứ không phải
là thời “Chánh phápbình thường. Kỳ lạ không quý vị?…

Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói rằng, nếu mà chúng ta bỏ con đường niệm Phật
cầu về Tây-Phương, thì trong chín pháp giới chúng sanh không thể nào nghĩ rằng
có thể có người thành tựu đạo quả. Ngài nói tới chín cõi pháp giới chứ không
phải chỉ là cõi người không. Cõi người chẳng qua là một trong sáu cõi trong lục
đạo
, còn phải cộng thêm ba cõi nữa là Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát, là những vị
vượt qua tam giới rồi đó. Ngay cả những vị đã vượt qua tam giới đó, nếu họ
không tu trì theo pháp niệm Phật, thì họ cũng không thể thành tựu đạo quả.

Chính vì vậy, mình là người sinh ra trong thời mạt pháp thì tội chướng
rất sâu nặng, nhưng nếu chúng ta:

Nhất định quyết lòng nghe lời Phật dạy

Nhất định không còn thay đổi gì nữa.

Nhất định một đường mà đi… Thì theo như kinh Phật nói.

Nhất định những người này là những đại hành giả đang đi về Tây-Phương,
một đời thành đạo.

Chư Tổ truy trong kinh ra mà nói rằng, những người tin vững vàng, những
người một đường đi về Tây-Phương, rồi trì giữ danh hiệu A-Di-Đà Phật mà niệm,
thì các Ngài nói: “Một ngàn người tu một ngàn người đắc. Một vạn người tu
một vạn người đắc. Muôn người tu muôn người đắc”
.

Trong khi cũng là trong kinh, đức Thế-Tôn nói: “Thời mạt pháp ức vạn
người tu, khó tìm một người chứng đắc
”. Ấy thế mà chư Tổ lại nói: “Muôn
người tu muôn người đắc
”. Hai câu nói này hình như là một sự đối nghịch
nhau hoàn toàn! Lạ lùng!…

Vậy
thì
, đúng nghĩa câu Phật nói: “Ức vạn người tu khó tìm ra một người chứng
đắc
”, là chỉ cho những người trong thời mạt pháp này mà không chịu niệm
Phật
. Còn câu nói: “Muôn người tu muôn người đắc”, là chỉ cho người nào
nương theo pháp niệm Phật thì đều có cơ hội chứng đắc. Đây là câu nói dành riêng cho
những người quyết lòng trì giữ câu A-Di-Đà Phật.

Chính vì thế mà trong mấy ngày qua, Diệu Âm thường hay nhắc nhở rằng
phải giữ cái tâm này vững vàng thì một đời này chúng ta thành tựu. Nếu chúng ta
niệm Phật, niệm năm này qua năm nọ, sao thấy pháp môn có vẻ đơn giản quá! Nhẹ
nhàng quá!… Đi ra ngoài nghe có người nói rằng, làm gì mà có chuyện niệm Phật
vãng sanh
dễ dàng như vậy! Tâm ta liền bị thối chuyển! Tâm ta liền bị phân
vân!… À!… Ông này nói cũng phải. À!… Vị kia nói cũng đúng… Thế thì chúng ta
lại trôi theo cái dòng người gọi là: “Ức vạn người tu hành khó tìm ra một
người chứng đắc
” rồi!… Chúng ta đành đoạn bỏ cái cơ hội vãng sanh về Tây
Phương
thành đạo rồi! Thật sự oan uổng vô cùng!…

Cẩn thận hơn, chúng ta đã nói niệm Phật rồi, mà còn nói thêm hộ niệm nữa
là để xác định vị trí của chính chúng ta trong pháp giới là thuộc hàng dở ẹt!
Dở thậm tệ! Mình phải tự xác định mình là hàng dở thậm tệ. Đức A-Di-Đà phát đại
thệ
tiếp độ chúng sanh, thật ra đại thệ của Ngài là nhằm cứu những người dở
thậm tệ này. Đây là lời nói của Ngài Pháp-Nhiên Thượng-Nhân, một vị đại Tổ Sư
Tịnh-Độ-Tông của Nhật Bổn. Sau này phát hiện ra Ngài chính là Đại-Thế-Chí
Bồ-Tát ứng thân mà mình không hay. Ngài thị hiện lăn lộn trong đại chúng, cũng
bị tù bị tội, cũng bị người ta ép uổng chịu khổ đủ thứ hết!… Nhưng cuối cùng
phát hiện ra Ngài chính là Đại-Thế-Chí Bồ-Tát tái lai. Ngài nói, A-Di-Đà Phật
phát
đại thệ để cứu những người rất là dở, tội chướng thật sự thâm trọng. Vì để
cứu được người quá dở, tội chướng sâu nặng nên Ngài chỉ đưa ra cái điều kiện
rất dễ dàng:

Các con phải tin lời nói của ta, các con phải phát nguyện vãng sanh về
nước của ta, các con hãy trì giữ danh hiệu của ta là được rồi.

Bao nhiêu nghiệp chướng trùng trùng trong quá khứ, chúng sanh tội chướng
sâu nặng như chúng ta hình như đã bỏ xa nghiệp chướng ra rồi. Nghiệp chướng không còn vướng mắc chúng ta nữa rồi…

Xin thưa với chư vị, trong thời mạt pháp này mà chúng ta gặp được cái cơ
may này, quý hóa không thể nào mà tưởng tượng được! Một nỗi vui mừng lớn lao
không có nguồn vui nào lớn hơn! Ấy thế mà xin thưa với chư vị, vẫn còn phải cố
gắng
cẩn thận một điều. Ngài nói là Ngài quyết lòng cứu độ tất cả chúng sanh,
chữ tất cả này có nghĩa là chỉ cho hàng phàm phu tục tử, chứ không bao giờ chữ
tất cả này nhằm chỉ cho hàng đại Bồ-Tát đâu. Như vậy chúng ta là hàng “Đương
” của pháp môn niệm Phật. Mà đã là đương cơ của pháp môn niệm Phật rồi
thì phải tự xác nhận rằng mình có tội chướng sâu nặng mới được! Người tội
chướng
sâu nặng nếu chỉ cần gợi lên trong tâm một ý niệm tăng thượng mạn thì
đành phải rời quang minh của A-Di-Đà Phật để tự hứng chịu những cảnh trầm luân,
báo hại bởi nghiệp chướng!…

Vì thế, mấy ngày nay, Diệu Âm nói rất tha thiết rằng, muốn vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc thì hai chữ “Khiêm Cungnhất định chúng ta
phải gìn giữ từ giờ này cho đến ngày vãng sanh! Nhớ được điều này, thì dù chúng
ta
niệm Phật có miên mật như thế nào đi nữa, dù tâm chúng ta có an khang như
thế nào đi nữa, xin chư vị cũng cố gắng nhớ lời của Bồ-Tát Đại-Thế-Chí ứng hiện
thành Ấn-Quang Đại Sư nói: “Càng tu phải càng khiêm nhường. Càng tu phải
coi mình là hàng phàm phu tục tử. Nhất định phải nghĩ mình có nghiệp chướng sâu
nặng
”. Ngài còn dạy là phải đem chữ “Tử” dán ở trên đầu.

Một người phàm phu mà chết thì bị đọa lạc! Vì sợ bị đọa lạc nên phải lo
ngày lo đêm để niệm Phật. Chúng ta đang ngồi trong này có hơi ấm, nếu bước ra
ngoài cửa thì lạnh buốt xương. Đứng ở bên ngoài chịu lạnh buốt xương như vậy
một tiếng đồng hồ thôi chư vị sẽ thấy cái khổ sở của khí lạnh như thế nào! Lúc
đó mình mới mong cho người ta mở cửa để được bước vô trong nhà. Bước vào trong
rồi mới thấy cái giá trị ở trong cửa và ngoài cửa khác nhau như thế nào?…

Chỉ cần có ai đó mở cửa cho chúng ta vào, tự nhiên đây là cả một cái ân
huệ
vô cùng lớn lao cho ta khi đang bị lạnh. Xin thưa chỉ cần ở ngoài khí lạnh
một tiếng đồng hồ thôi mà chúng ta còn có cảm giác khó chịu như vậy, huống chi
là bị đọa lạc!… Ngài Ấn-Quang đại sư nói, người nghiệp chướng sâu nặng này khi
chết sẽ chịu trầm luân trong lục đạo. Mà thật ra… chịu trầm luân trong ba
cảnh khổ đời-đời cho đến vạn kiếp nữa! Bị cái cảnh này dễ sợ vô cùng! Quá sợ
đi! Vì quá sợ, nên mới thấy được giá trị của câu A-Di-Đà Phật, nhất định nó quý
không tưởng tượng được. Ngài nói:

– Sợ địa ngục mà lo niệm Phật.

– Sợ tam đồ mà lo niệm Phật.

Sợ chết rồi vạn kiếp không thoát được những cảnh khổ mà phải lo niệm
Phật
.

Ngài dạy phải dùng cái chữ “TỬ” mà dán trên đầu. Mình đâu có dám dán!
Dán như vậy bị người ta cười chê! Kỳ quá! Ai dám dán! Nhưng chúng ta phải nghĩ
rằng khi chết đi, có thể ta bị đọa lạc! Một lần bị đọa lạc, thì vạn kiếp chịu
khổ đau! Thế mới biết câu A-Di-Đà Phật thật sự là một đại cứu tinh cho chúng
ta
. Bên cạnh đó chúng ta nghiên cứu thật kỹ phương pháp hộ niệm. Phương pháp hộ
niệm
là đại cứu tinh trong đại cứu tinh giúp chúng ta vững vàng đi về
Tây-Phương Cực-Lạc đó.

Vì sao vậy?… Vì xin thưa với chư vị, chúng ta đang niệm Phật là do
thiện căn phước đức nhiều đời nhiều kiếp ứng hiện về. Nhưng bên cạnh đó nhiều
rất là nhiều, lớn rất là lớn những nghiệp chướng vẫn có song song bên cạnh, ở
sát bên ta chứ không đâu xa cả! Oan gia trái chủ trùng-trùng điệp-điệp vẫn ở
sát bên ta, đang chờ từng ngày, từng giờ, từng phút cái thời điểm ta chết để
người ta báo oán, người ta đòi nợ, người ta trả thù những chuyện mình làm sai
lầm
với họ.

Muốn giải ách nạn này, hằng ngày chúng ta phải thành tâm đem công đức tu
hành
hồi hướng cho pháp giới chúng sanh, hồi hướng cho chư vị oan gia trái chủ.
Muốn hồi hướng cho họ, muốn điều giải được với oan gia trái chủ thì quan trọng
nhất chính là sự khiêm cung của người niệm Phật. Một người niệm Phật mà không
có tính khiêm cung thì nhất định không thể nào điều giải được nạn oan gia trái
chủ!… Chắc chắn! Không có ý niệm khiêm cung thì nhất định bị oan gia trái chủ
lợi dụng. Lợi dụng để hảm hại những người không biết tu thì quá đơn giản, nhiều
khi họ không cần làm. Lợi dụng để hảm hại, trả thù một người đã biết niệm Phật
thì họ cần phải lựa những đòn thế vô cùng tinh vi, vô cùng tế nhị mới được. Nếu
chúng ta không để ý thì cũng khó mà biết đó.

Ví dụ như mấy ngày qua chúng ta đưa ra những người tự xưng mình là đã
đột phá cảnh giới Hoa-Nghiêm làm ví dụ. Những người đã đột phá được cảnh giới
Hoa-Nghiêm tức là đại Bồ-Tát rồi. Đối với chúng ta họ là những vị Phật rồi. Bốn
mươi mốt vị Phật trên cảnh giới Hoa-Nghiêm, họ là một trong những vị Phật đó
rồi.

Nhưng tội nghiệp thay! Những người tự xưng như vậy chắc chắn đã vô ý
quên đi cảnh giới phàm phu tục tử của mình. Đã sinh ra trong thời mạt pháp
còn dám tự xưng này xưng nọ!… Chỉ một sơ ý này thôi, bị oan gia trái chủ cài
bẫy liền. Cài bẫy gì?… Cài cho một sự chứng đắc tuyệt vời! Cách xa một trăm
năm mươi cây số vẫn nghe tiếng một người nói chuyện. Quý vị hãy tưởng tượng đi.
Có nhiều người cảm phục đến nỗi muốn quỳ xuống tôn làm sư phụ. Chắc chắn họ
phải có những sự chứng đắcvi diệu chứ? Nhưng khi đối trước ngài Tịnh-Không
đã bị mời ra khỏi đạo tràng. Hai tháng sau đó thì không còn ai dám chứa nữa!…

Đây là những lời khai thị rất sắc bén để chúng ta cố gắng gìn giữ. Nhất
định
ta là phàm phu phải đi theo con đường phàm phu thấp nhất và khiêm cung
nhất thì chúng ta sẽ được cảm ứng đến đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, cảm
thông
với hai mươi lăm vị Bồ-Tát Quán-Thế-Âm, cảm thông với rất nhiều chư
Thiên-Long Hộ-Pháp. Các Ngài sẽ bảo vệ cho chúng ta và sau cùng chúng ta được
A-Di-Đà Phật phóng quang tiếp độ vãng sanh về Tây-Phương.

Nguyện mong chư vị, những lời nói đơn giản mộc mạc này có lẽ cũng giúp
cho chúng ta biết được con đường nào là đường an toàn để đi về Tây-Phương. Còn
những ý nghĩ nào là điều sơ suất có thể làm cho chúng ta đáng lẽ được bước lên
đài sen thành đạo, mà lại bước lui vào cảnh thối chuyển thì phải tránh!… Một
khi lui ra khỏi đài sen thì bị sụp xuống một cái hố rất sâu. Trên miệng hố đó…
ngước nhìn lên… dường như ta thấy được con thuyền Bát-nhã của A-Di-Đà Phật,
nhưng lúc đó cũng đành chịu thua rồi, ta không còn cách nào đi về Tây-Phương
được nữa!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 5)

Nam Mô
A-Di-Đà Phật.

Trong
cảnh sanh tử luân hồi, lại đi vào thời mạt pháp rồi thì thường thường sau khi
mãn báo thân này chúng ta khó có thể tránh ba đường ác hiểm! Đây là điều mình
sợ nhất! Còn những thứ chướng nạn gì khác trên đời, xin bạch với Sư Cô cùng chư
vị, thật ra không có gì đáng sợ lắm đâu…


nhiều lúc mình thấy là “Nghịch Duyên”, nhưng nếu biết ứng xử thì
có thể biến cái nghịch duyên đó thành thuận duyên mà không hay! Nhiều khi tưởng
thuận duyên, nhưng nếu mình sơ ý có thể lại biến thành nghịch duyên! Trong
mấy ngày hôm nay chúng ta có đưa ra những chuyện như vậy. Ví dụ như hồi sáng
mình kể một câu chuyện một người tưởng rằng mình đang thuận duyên tu hành, có
chứng đắc, khai mở trí huệ, đạt được những sự thần kỳ diệu dụng… Nhưng không
ngờ đó lại là nghịch duyên, làm cho vị đó bị trở ngại quá nặng!… Trong khi đó
thì cũng có những người mới nhìn qua tưởng như là nghịch duyên, là ách nạn,
nhưng thật ra lại là duyên lành.

Một
người thì bị ách nạn liên quan tới chữ ái, đã bị trở ngại trên mười năm. Nhưng
khi hiểu ra đạo lý, mới đem lòng chân thành, chí thành ra điều giải, không ngờ
lại biến thành thuận duyên, đôi bên đều lưỡng lợi, vui vẻ. Một cảnh nghịch
duyên
khác thuộc về ác duyên, giống như chư vị oán thân chủ nợ trong nhiều đời
nhiều kiếp đến báo thù đòi nợ rất hung hãn, làm cho vị đó đã tự tử hai lần,
nhưng may mắn là không chết. Sau cùng cũng đem lòng chân thành chí tình ra
khuyên giải, rồi quyết lòng niệm Phật. Cả hai trường hợp chỉ giải quyết trọn
vẹn
trong vòng ba ngày. Rõ ràng là đôi bên đều lưỡng lợi. Mình thì an toàn niệm
Phật hồi hướng
cho pháp giới chúng sanhchắc chắn không quên hồi hướng về
Tây-Phương trang nghiêm Tịnh-Độ, còn các vị đó cũng được cái công đức của mình
bồi đắp cho họ và do lời khuyên chí thành của người gọi là bị nạn mà giúp cho
họ biết con đường tu hành.


rệt, lòng chí thành chí kính có thể hóa giải được chướng nạn. Cái điểm quan
trọng là mình có thật sự thành tâm chí thành để điều giải hay không?…

Hôm
nay nói về “Nhân Duyên”, Diệu Âm xin kể thêm một câu chuyện nữa
thuộc về một phương diện khác, nhưng cũng có thể hóa giải được. Câu chuyện này
liên quan đến không phải là oán thân trái chủ, cũng không phải là chữ ái, mà là
thuận duyên.

Đó là
vào năm 2005 khi Diệu Âm về Việt Nam, có một vị Phật tử phụ nữ, đi xe Honda tới
gặp Diệu Âm tại nhà. Sau lúc nói chuyện tu hành, thăm hỏi qua lại cỡ chừng bốn
mươi lăm phút, thì cuối cùng trước khi ra về, vị Phật tử đó có nói như thế này:

Thưa
thật với anh Diệu Âm, tôi tới thăm anh là do đứa em của tôi dẫn tới đây gặp
anh.

Diệu
Âm
mới hỏi:

Tại
sao đứa em của chị không đến đây, và làm sao cô đó lại biết tôi?

Thì
chị đó mới nói:


Đứa em của tôi đã chết rồi!…

Chết
bao lâu?…


Chết bảy năm nay. Chết từ lúc còn nhỏ.

Đứa em
của chị đó chết trong lúc còn nhỏ. Người chị này vì quá thương đứa em, ngày đêm
sầu khổ, khóc than! Có thể vì nỗi thương nhớ quá mạnh, nên cảm ứng sao đó không
biết… đứa em mới nhập vào người chị. Trong khoảng thời gian đầu nhập thân,
thường làm cho chị nóng nảy, buồn bực, không an. Gia đình có mời một vài vị nào
đó tới giúp đỡ. Nhưng đứa em đó ngỗ nghịch quá, thường phá phách! Phá dữ lắm!
Một lần nổi cơn phá phách như vậy làm cho chị cảm thấy nóng nảy, giận tức…
Nhiều khi sợ, nhiều khi giận, nhiều khi buồn… Nói chung, tâm trí bất an!

Thì
sau khi gặp một số vị Sư khuyên cái vong đó nên tu hành. Chị đó cũng được các
vị khuyên cứ an tâm lo tu hành niệm Phật hồi hướng công đức. Chị mới phát cái
tâm thành ra, (Đây là lời chị đó chỉ kể lại), là chị khuyên người em đó như
vầy
:

Thôi
bây giờ em lo tu hành đi, lo niệm Phật đi. Chị cũng niệm Phậthồi hướng công
đức
cho em
.

Sau
khi thành tâm khuyên như vậy, thì theo như chị nói, cỡ chừng sáu-bảy tháng nay
đứa em không còn quậy phá chị nữa. Bây giờ đứa em cũng chấp nhận lo tu hành
niệm Phật và chị cũng lo niệm Phật để hồi hướng công đức cho đứa em. Đứa em
cũng hứa sẽ hộ pháp cho chị để cùng tu hành luôn. Câu chuyện xảy ra đại khái
như vậy…

Lúc đó
Diệu Âm cũng lấy lòng thành ra khuyên chị đó tiếp tục niệm Phật. Chị đó nói, đó
là cái duyên của chị với đứa em. Đứa em là tình ruột thịt, nhập vào chị có lẽ
cũng do cái duyên đặc biệt. Nhân gặp duyên mới thành ra sự việc này.

Cái
nhân chính có lẽ vì chị quá thương mến đứa em. Vì quá thương nhớ nên thường
buồn khóc, có thể chị đã thầm khấn cầu: “Em ơi! Hãy ứng mộng cho chị thấy,
hay là về báo cho chị biết em ở đâu?… Khổ sở như thế nào?”…

Khi
đứa em chết, gia đình không có một người nào biết hộ niệm, mà chỉ lấy lòng
thương tiếc, khóc than đối xử với nhau!… Có lẽ nhiều khi chính vì tình thương
của người chị quá mạnh, nên đứa em cũng không đành đi đầu thai. Đó là cái nhân
mà sinh ra chuyện này. Đứa em lúc chết cỡ chừng bốn-năm tuổi thôi.

Bây
giờ đã là nhân duyên, là chị em với nhau, nên tôi khuyên người chị đó hãy cố gắng
niệm Phật tu hành. Rồi tôi cũng thành tâm khuyên người em đó luôn. Lúc đó tôi
không biết đứa em có đang ở đó hay không? Nhưng tôi thầm nghĩ rằng đứa em đang
ở tại đó. Tôi có hỏi chị:

Hiện
giờ đứa em của chị có ở trong mình của chị hay không?

Chị nói:


Có.

Có!
Như vậy thì những lời nói chuyện với nhau này đứa em của chị đã biết hết. Tôi
cũng nghiêm chỉnhthành tâm khuyên người em rằng:


Bây giờ nếu chị em đã có duyên như vậy, thì Diệu Âm này xin thành thật khuyên
em cố gắng lo tu hành đi. Trở về cảnh giới của mình lo tu hành. Nếu thương chị
thì chớ nên ứng nhập trong thân của chị nữa, nhiều khi hai cái cảnh giới khác
nhau không được tốt! Hơn nữa, còn làm cho chị mình bất an và làm chính em cũng
không biết đường nào để siêu thoát.

Tôi
khuyên người em có thể nên tìm đến những đạo tràng, những cảnh chùa… Lúc nào
ở đó người ta cũng rộng mở để cho mình tới tu hành. Thuận theo duyên của mình
thích ở đâu, hãy nói với người chị tới chỗ đó để hỏi xin, hầu giúp mình có thể
tới đó tu hành niệm Phật

Rồi
tôi nói với người chị cũng đừng có sợ. Đây là cái duyên lành, chứ không sao
đâu. Em của mình không nỡ nào làm hại mình đâu. Tôi khuyên người chị hãy cố
gắng
niệm Phật. Trong thời này, công đức lớn nhất là niệm Phật. Phải niệm Phật.
Cứ dùng lòng thương hại khuyên em niệm Phật cầu nguyện vãng sanh. Chị cũng phải
niệm Phật nguyện vãng sanh. Nếu chị có cơ duyên đi về Tây-Phương trước, thì
công đức của chị lớn vô cùng, chị sẽ hồi đáp cho đứa em thì đứa em nhiều khi
cũng được siêu sinh Tịnh-Độ. Hiện tại bây giờ chị có công đức nào thì hồi hướng
cho em công đức đó, và xin đứa em cũng lo niệm Phật đi, lo tu hành đi để cùng
vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc. Câu chuyện đã xảy ra như vậy.

Quý vị thấy đó, vấn
đề
chướng duyên liên quan đến oan gia trái chủ, do lòng chí thành chí kính, ba
ngày giải quyết cũng xong. Vấn đề tình ái giữa âm và dương xảy ra mười mấy năm
trường, mà thành tâm hòa giải, thật sự hòa giải, chí thành hòa giải, đừng nên
lưỡng lự, thì cũng trong ba ngày giải quyết xong…

Trở
lại
chuyện này, khi nói chuyện xong, thì chị đó đi về. Sau đó tôi không biết
kết quả như thế nào? Nhưng có điều chắc chắn là đã hơn gần mấy tháng trước, đứa
em không còn quậy phá chị nữa. Tại sao người em lại dẫn người chị đó tới gặp
tôi?… Để làm gì? Tôi không biết!… Có duyên thì tôi cũng thành tâm tôi khuyên
nhau như vậy.

Đây
cũng là một lời khai thị khá hay cho chúng ta. Tất cả đều có nhân duyên trong
đó. Có nhân duyên mới kết thành sự việc. Ta không nên buồn phiền, lo sợ thái
quá
nếu khi có sự việc tương tự xảy ra.

Giả
sử
, khi người chị gặp cái “Duyên” là người em nhập vào thân,
nhưng người chị quá lo sợ, hoảng kinh chạy tìm pháp này pháp nọ để trục cái
vong của người em ra, thì coi chừng cái “Thuận Duyên” này có thể
biến thànhNghịch Duyên”, tình cảm chị em sẽ biến thành thù hận!

Từ
nguyên nhân vì trước đó mình quá thương đứa em, một đứa em bị chết lúc còn quá
trẻ. Vì quá thương em, tình cảm chị em quá mạnh, cho nên người chị thường
thường
khóc và nghĩ tới đứa em nhiều quá. Trong khi đó, đứa em chết đi đáng lẽ
cũng được đầu thai chuyển thế rồi, nhưng chuyển thế không được vì quyến luyến
đến tình thương quá nặng của người chị. Còn người chị thì cứ cầu này cầu nọ,
mong sao cho em mình hiện thân về báo cho biết rằng em ở đâu để chị được yên
tâm!… Không ngờ, vì tình thương này mà đưa đến đứa em nhập vào người chị, làm
cho người chị cũng khó khăn trong vòng mấy năm trường!…

Nhưng
cũng may mắn, gặp được vị Sư khuyên tu hành. Khi gặp Diệu Âm, thì Diệu Âm cũng
chỉ thành tâm khuyên tương tự như vậy mà thôi. Diệu Âm cũng thành tâm khuyên
đứa em đang ở trong thân của người chị, hãy
nên tu hành đi, đừng nên bám víu vào cái cảnh vô thường này nữa. Đối với người
em đã bị vô thường rồi, người chị cũng sẽ bị vô thường theo! Người em đang bị
vô thường, không có chỗ nương dựa, phải nương nhờ vào thân người chị. Nương vào
người chị thì sẽ làm cho người chị đau khổ không tốt, mà cuộc đời của người chị
sau khi mãn rồi… Chẳng lẽ?… Chị em sẽ đi đâu đây?… Phải không?

Cho
nên, những chuyện này mình có thể dùng lời chân thành khuyên giải nhau được.

Thật
sự, mình thấy rõ ràng là người âm cũng có tình cảm, người ta cũng có lý trí,
người ta cũng có đủ tất cả những cái nào là: buồn, thương, nhớ… như chúng ta,
chứ họ cũng không có gì gọi là quá đáng đâu.

Tôi ví dụ, như
chuyện tại Niệm Phật Đường Liên-Hoa bên tây Úc, chắc quý vị đã nghe qua rồi chứ gì? Một ông chú
chết rồi, chết vì xì-ke, mới ứng hiện về nhập vào thân người cháu, rồi dẫn
người cháu đi đánh bài kiếm tiền để hút xì-ke. Mình thấy khi chết rồi, sống
trong cảnh giới đó mà họ cũng có những cơn ghiền như người ở thế gian. Nhưng
sau khi khuyên giải, khuyên tha thiết rằng hãy lo niệm Phật cầu vãng sanh.
Người chú cũng chấp nhận tìm đường giải thoát. Một tuần sau ứng về nhập lại vào
thân người cháu một lần nữa, dẫn tới đạo tràng đó để báo cáo: “Xin cám ơn
chư vị, chư vị đã giúp cho tôi con đường siêu thoát. Bây giờ tôi đã biết đường
siêu thoát rồi
”… Diệu Âm không biết là đã siêu thoát về đâu, chỉ biết
người chú đã trả lại cuộc sống bình thường cho người cháu.

Gặp
trường hợp này nếu mình vội vã dùng những thế lực mạnh mẽ để xua đuổi họ, để
đàn áp họ, nhiều khi nói những lời lỗ mãng với họ, thì từ “Cảnh Thuận
dễ biến thànhCảnh Nghịchhồi nào không hay!…

Như
trường hợp vị ở gần chùa Hoằng Pháp là một ví dụ. Tôi dặn vị đó không được cho
họ là những người ác, không được cho họ là ma, hay gọi là ma chướng, hay là oan
gia
trái chủ. Hoàn toàn trường hợp này không phải là oan gia trái chủ, mà họ
chỉ vì chữ ái. Trong kinh Phật nói “Bất cát ái, bất ly Ta-bà”.
Chữ Ái mà không buông thì nhiều khi mình đành phải chịu nhiều đớn đau lắm! Họ
vì chữ ÁI của thế gian, thì bây giờ mình nên dùng chữ ÁI của nhà Phật để hóa
giải.

Chữ “ÁI
của thế gian là “Tình Ái”. Chữ “ÁI” của nhà Phật chính là
Từ Bi”. Mình lấy lòng từ bi ra khuyên giải. Cái duyên “ÁI” thì
mình lấy chữ “ÁI” để giải. Chữ “ÁI” này chính là “TỪ BI, THƯƠNG YÊU, BẢO BỌC,
KHUYÊN NHẮC…”. Người ta thương mình, mình cũng dùng cái tình thương này để
khuyên họ một câu. Khi người ta cảm động, họ có thể hồi đầu tỉnh ngộ. Khi họ hồi
đầu tỉnh ngộ rồi, mình vẫn tiếp tục tu hành thoải mái, rồi đem tất cả công đức
bồi đắp cho họ, hồi hướng cho họ. Được vậy, họ hộ pháp cho mình, mình thì hồi
hướng công đức
cho họ, thành ra âm dương lưỡng lợi. Đừng bao giờ thấy những
tình cảnh này mà vội vàng tung những đòn thế quá ư nghiệt ngã, vô tình biến “Thuận
Duyên
” thành “Ác Duyên”.

Hiểu
được như vậy rồi, ta tu học Phật thì lấy cái tâm đại từ đại bi của Phật mà hóa
giải người hữu duyên, khuyên họ phát tâm Bồ-Đề cùng nhau tu hành. Xin thưa chư
vị, không có chuyện gì mà phải khó khăn điều giải đâu.

Trong
những ngày sau nếu có duyên, Diệu Âm sẽ kể thêm những chuyện mà thật sự Diệu Âm
đã gặp qua. Lấy những kinh nghiệm đó, mình thấy hình như điều giải không phải
là khó khăn lắm. Cái khó là:


Chính mình thật sự có tấm lòng từ bi hay không?…


Chính mình thật sự có phải là dùng chánh pháp để điều giải hay không?…

Nếu
mình không chịu dùng chánh pháp, mình lại dùng những cái gọi là bất bình đẳng,
nói rõ hơn tức là ghét người này, ghét người kia, khinh người nọ, chê người
kia… Mình lấy tham sân si mạn… ra mà đối đãi với chúng sanh, thì chúng sanh
sẽ dùng đến tham sân si mạn để đối đãi lại với chúng ta. Từ đó, bạn bè trở nên
thù địch! Yêu thương biến thành hận thù! Điều này hoàn toàn không tốt!…

Nguyện
mong cho chư vị hiểu được lý đạo này, đem cái nhân duyên của Phật ra để giảng
giải
cho nhau. Nhất định chúng ta có thể hóa giải trong vòng một-hai ngày là
hết!…

Nam Mô
A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 6)

A-Di-Đà Phật.

Hôm nay chúng ta được cái cơ duyên thù thắng hội tụ với nhau một chỗ
niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ. Trong thời mạt pháp này mà chúng ta được cơ duyên
này thật sự là một sự hy hữu. Từ trong kinh nói ra, thì đây có thể là sự hy hữu
trong vô lượng kiếp, không phải là bình thường!…

Thế giới hiện nay bảy-tám tỷ người, giờ phút này trong bảy-tám tỷ người
đó có được bao nhiêu người ngồi lại với nhau thành tâm niệm Phật như một nhóm
người nhỏ bé của chúng ta đây?…

Chính vì thế mà cơ hội này thật sự quá ư thù thắng. Cái thù thắng này
không phải là chúng ta kết hợp niệm vài câu Phật hiệu cho vui vui, tán tụng cho
hay
hay, rồi giữ đó làm kỷ niệm trong đời… Không phải! Mà chính cái cơ hội
này nó đưa chúng ta vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc có nghĩa là công phu chúng ta tu tập hôm nay, đưa chúng ta đến chỗ
thành tựu đạo quả. Bất khả tư nghì!

Trong vô lượng kiếp qua có thể chúng ta cũng làm thiện, cũng làm lành,
cũng có tu hành sao đó… Nhưng xin thưa thật, nếu mà ngồi với nhau, nghe với
nhau
một lời hướng dẫn, nhắc nhở với nhau một câu A-Di-Đà Phật, chỉ dẫn cho
nhau một lời nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc… thì trong vô lượng kiếp
qua chưa chắc gì chúng ta đã có. Tại vì sao?… Tại vì nếu trong quá khứ
chúng ta đã có cơ hội này, thì có thể chúng ta đã ở trong những cảnh giới của
Phật rồi, không ở cảnh giới Tây-Phương thì cũng ở cảnh giới Hoa-Nghiêm, không ở
cảnh giới Hoa-Nghiêm thì cũng ở cảnh giới Đông-Phương với Dược-Sư-Lưu-Ly-Quang
Phật rồi. Chúng ta không còn là phàm phu tục tử ở trong cảnh giới Ta-bà khổ ải
để chịu nạn đắng cay như ngày hôm nay nữa đâu…

Cho nên
nếu mọi người đều ngộ ra rằng, cơ duyên này thật sự vô cùng quý báu để chúng ta
về Tây-Phương, thì như trong kinh A-Di-Đà nói rằng, một người muốn về Tây-Phương
thì phải có đủ Thiện-Căn, Phước-Đức, và Nhân-Duyên, thì chúng ta đã có đủ rồi
đó.

Ngày hôm nay ta có nhân-duyên là ngồi với nhau niệm Phật, chúng ta quyết
lòng
đi về Tây-Phương với lời nguyện tha thiết cầu vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc, rồi ta quyết lòng tranh thủ thời gian niệm câu A-Di-Đà Phật, chuyên
nhất
. Nên nhớ phải chuyên nhất nghe chư vị. Nếu mình niệm Phật mà không chuyên
nhất
, thì coi chừng bị trở ngại! Nếu chúng ta làm được thật sự ba điểm này thì ta có đủ Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên.

Trong kinh A-Di-Đà có nói, một người thiếu cái thiện-căn, nghĩa là ít
thiện-căn, ít phước-đức, ít nhân-duyên, không thể vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc được…


ràng
, cơ duyên và niềm hy vọng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc đang tràn đầy
trong tâm hồn của chúng ta, mà thật sự chúng ta cũng vững tâm đi về Tây-Phương,
thì thật sự chúng ta đã có thiện căn rồi chư vị ơi!… Chúng ta đã có
phước-đức rồi chư vị ơi!… Và chúng ta đã có cơ duyên rồi chư vị ơi!… Ba cái điểm này
đầy đủ, nhất định sẽ đưa một hành giả đang ngồi trong một đạo tràng nhỏ mà
trang nghiêm này đi về Tây-Phương trong một đời này chứ không phải đến đời thứ
hai.

Khi đi về Tây-Phương rồi chư vị hãy tưởng tượng thử cái năng lực của chư
vị như thế nào? Tới đó, chắc chắn ta không cần tới ai giải thích cho biết trong
vô lượng kiếp chúng ta đã bị như thế nào đâu, mà chư vị có thể tự trả lời câu
hỏi này, tại vì khi đi về trên Tây-Phương Cực-Lạc, chư vị có tất cả những thần
thông
diệu dụng. Ví dụ có túc mạng thông, cho phép chúng ta biết được trong
lượng kiếp
, nghĩa là từ vô thỉ cho đến hiện tại, ta đã trải qua bao nhiêu cảnh
giới
khổ đau, ta đã đi qua những cảnh giới phước báu nào, ta đã tạo ra bao
nhiêu thiện-căn trong những kiếp đó, bên cạnh đó cũng có lúc ta làm biết bao
nhiêu điều mê mờ. Tất cả ta đều biết hết.

Còn bây giờ ngồi đây chúng ta không biết gì hết! Ta chỉ lấy trong kinh
ra để nói rằng ta có thiện-căn. Trong kinh nói, nếu một người nghe câu A-Di-Đà
Phật không tin, nghe lời nguyện vãng sanh không muốn nhắc đến, và nghĩ rằng
cuộc đời này không thể nào vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc được, thì người này
phải tu thêm thiện-căn, phải bồi thêm phước-đức, tu bồi thêm cho khi nào đầy đủ
rồi mới tin được.

Nhưng ở
đây chư vị đã tin tưởng niệm Phật, thì nhất định ba tư lương chúng ta đã có đầy
đủ. Quý vị quyết lòng đi về Tây Phương thì ba điểm này đừng nên hỏi một người
nào nữa cả. Hãy niệm câu A-Di-Đà Phật đi, càng niệm càng ngày quý vị càng thấy
rõ ràng con đường này. Vì sao vậy?… Vì trên con đường niệm Phật này quý vị cũng sẽ tiếp
tục
giúp người có đầy đủ thiện-căn phước-đức đi về Tây-Phương. Những người đó
hình như họ thua sút hơn ta. Tại vì muốn cho người đó niệm câu A-Di-Đà Phật, ta
phải khai thị lên khai thị xuống, dẫn dắt lên dẫn dắt xuống, phải tìm mọi thiện
xảo phương tiện
nhắc nhở cho họ, có thế họ mới niệm được câu A-Di-Đà Phật.
Những người như vậy mà khơi được cho họ một chút niềm tin. Nhờ một chút niềm
tin
được khởi lên đó thôi, mà họ dồn lại bao nhiêu thiện-căn phước-đức trong
nhiều đời kiếp để họ được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Còn bây giờ chư vị ngồi tại đây, xin hỏi rằng có ai khuyên chúng ta
không? Có ai khai thị cho chúng ta không? Có ai dùng thiện xảo phương tiện
mà dụ khị chúng ta niệm Phật không?…

Không!… Chúng ta hoàn toàn tự nguyện, thành tâm tự nguyện, tha thiết
tự nguyện niệm câu A-Di-Đà Phật.

Xin thưa thật với chư vị, trong kinh, Phật đã thọ ký rõ rệt rằng, đây là
những người mà trong vô lượng kiếp đã tu bồi thiện-căn phước-đức lớn không
tưởng
tượng được.

Trong
kinh Vô-Lượng-Thọ có nói đến vị A-Xà-Vương Tử cùng với năm trăm vị trưởng giả
tới tham dự pháp hội Vô-Lượng-Thọ của đức Thế-Tôn. Khi đức Thế-Tôn giảng về
Phật A-Di-Đà, cõi Tây-Phương Cực-Lạc. Họ thấy y chánh báo trên cõi Tây-Phương
Cực-Lạc quá ư vi diệu, họ phát nguyện thầm trong tâm rằng nhất định chúng ta
quyết lòng phải tu hành thành tựu như A-Di-Đà Phật. Chắc quý vị nghe những lời
pháp của ngài Tịnh-Không, bây giờ Diệu Âm chỉ nhắc lại mà thôi. Đức Thế-Tôn
biết liền và tán thán những vị này. Phật nói, đây là những người mà trong quá
khứ
đã cúng dường tới bốn trăm ức đức Phật Như-Lai rồi, nhờ thiện-căn và
phước-đức cúng dường bốn trăm ức đức Phật Như-Lai rồi, nên khi nghe Phật nói về
A-Di-Đà Phật, nói về Tây-Phương Cực-Lạc, họ mới phát niềm tin lên và phát
nguyện
sẽ tu hành để thành đạo, thành đạo như A-Di-Đà Phật.

Nhưng khi nghe ngài Tịnh-Không giảng về đoạn kinh văn này, thì chúng ta
mới ngỡ ngàng hiểu ra rằng thiện-căn phước-đức của chư vị đó chẳng qua cũng chỉ
là thiểu thiện-căn, thiểu phước-đức mà thôi, chứ không phải là đầy đủ
thiện-căn, đầy đủ phước-đức!

Tại sao vậy?… Tại vì ngài A-Xà-Vương Tử và năm trăm vị trưởng lão đó
đã không chịu phát nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, mà họ chỉ muốn tu…
tu cho đến đời đời kiếp kiếp nào đó, cho đến ngày được thành tựu như đức
A-Di-Đà Phật. Đức Thế-Tôn có lời tán thán, nhưng chỉ tán thán cái niềm tin của
những người đó, chứ Ngài không tán thán cái đường tu hành của A-Xà-Vương Tử.
Còn Ngài tán thán trọn vẹn là gì?… Ngài tán thán những người nghe Ngài nói về
A-Di-Đà Phật thì bắt đầu tin vào đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, phát nguyện
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Nếu người nào thành tâm phát nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc thì
thiện-căn phước-đức nhất định đã vượt trội A-Xà-Vương Tử và năm trăm vị trưởng
lão
, vì nhất định những người này trong vô lượng kiếp họ đã cúng dường không
phải bốn trăm ức đức Phật Như-Lai, mà cúng dường đến vô lượng đức Phật Như-Lai
rồi mới có đủ khả năng mạnh mẽ nghe lời Ngài, niệm A-Di-Đà Phật cầu về
Tây-Phương.

Chính vì vậy mà hôm nay nói đến chỗ này để cho chúng ta vững tâm vững
chí. Nên nhớ thời mạt pháp này khi khởi một cái tâm tu hành, thì luôn luôn có
ma sự ở bên cạnh tìm cách cản ngăn. Một khi quý vị phát một Bồ-đề tâm nhất định
bên cạnh đó có ma chướng.

Ma chướng tại đâu?… Ma chướng ở tại cái tâm của mình sao xuyến, phân
vân, so đo, kèn cựa!…

Ma chướng tại đâu?… Ma chướng tại vì xã hội này tìm ra một người đủ
thiện-căn phước-đức khó vô cùng!…

Chính vì tất cả những người chung quanh ta đều bị thiếu cái chỗ đó,
thành ra họ sẵn sàng dùng cái thiếu thiện-căn phước-đức đó để kéo chúng ta trở
về
trong lục đạo luân hồi. Họ có thể nói rằng, một người phải tu trong vô lượng
kiếp
mới được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, chứ làm gì mà một hai ngày niệm
Phật
, một đời niệm Phật lại đi về Tây-Phương.

Thì hôm nay gặp được cơ hội này, xin chư vị hãy mạnh dạn nói rằng:

– À! Ngài cứ việc tu trong vô lượng kiếp nữa đi rồi đi về Tây-Phương sau
cũng được! Còn tôi, một đời này tôi quyết đi thẳng về Tây-Phương. Tại sao?…
Tại vì trong vô lượng kiếp tôi đã tu rồi!…

Nếu như người đã có thiện-căn phước-đức tu được trong vô lượng kiếp, mà
vừa nghe một người nói ra như vậy thì chao đảo tinh thần, liệng bỏ tất cả những
thiện-căn phước-đức trong quá khứ đi, bây giờ lò mò tu lại thêm vô lượng kiếp
nữa!… Xin thưa thật, không biết sau khi mãn báo thân này họ có cơ duyên gặp
lại được câu A-Di-Đà Phật để đi về Tây-Phương hay không?!…

Mong chư vị càng ngày càng vững “Niềm Tin”. Nhất định cùng
nhau đi về Tây-Phương thành đạo Vô-Thượng…

Nam mô A-Di-Đà Phật.

 THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 7)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Diệu Âm thường hay nói với chư
vị rằng Diệu Âm này chính thị là phàm phu tội chướng sâu nặng, cho nên không
dám nhận lời khai thị đâu. Có thể nói là nhắc nhở, tọa đàm, hay bàn bạc gì đó
thì được, chứ còn khai thị thì xin thưa là không dám.

Trong cái cơ duyên chúng ta
ngồi chung với nhau, tại một căn nhà không phải rộng mấy để niệm Phật với nhau,
thì trong kinh Phật gọi đây là “Cơ-Duyên” hay là “Nhân-Duyên”.
Nhân-Duyên dù là nhỏ hay lớn vẫn là nhân-duyên, mà cái nhân-duyên này là niệm
Phật
để cùng nguyện vãng sanh thì nhân-duyên này thật sự là thù thắng. Trong
kinh Phật nói rằng, thiện-căn phước-đức
nhân-duyên giúp ta vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Trong
kinh Phật có nói thiện-căn phải đầy đủ, phước-đức phải đầy đủ, và nhân-duyên
phải đầy đủ mới được vãng sanh!…

Hôm nay ta có một cái tiểu
nhân-duyên, ngồi chung với nhau. Nói là tiểu vì căn nhà này chật hẹp, chúng ta
đi kinh hành cũng phải vấp lên vấp xuống. Tuy nhiên chúng ta lấy cái nhân-duyên
này mà tìm cách xây dựng, củng cố, phát triển lên, thì nhờ cái nhân-duyên này
nó sẽ nẩy nở ra thiện-căn, tô bồi phước-đức, tô bồi nhân-duyên. Thì từ cái chỗ
thiểu thiện-căn, thiểu phước-đức, thiểu nhân-duyên này sẽ trưởng dưỡng thành
đại thiện-căn, đại phước-đức, đại nhân-duyên để đưa chúng ta có cơ hội vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc…

chắc chắn chư vị cũng đã
từng đi hộ niệm cho người khác. Khi hộ niệm cho một người ở trong một căn phòng
chật hẹp, không thể được bày biện trang nghiêm như thế này đâu, mà chỉ có một
tấm hình A-Di-Đà để che cái tấm màn ti-vi, bên cạnh đó chúng ta cũng cố gắng
dẹp dọn chén bát cho gọn lại một chút rồi niệm Phật. Rõ ràng đầu tiên đó chỉ là
một tiểu nhân-duyên. Nhưng vì lòng chân thành, lòng thanh tịnh, lòng quyết cứu
độ
người sắp sửa rời bỏ báo thân vãng sanh, chúng ta đã biến cái duyên nhỏ hẹp
đó thành đại nhân-duyên.

Cái thiện-căn của người bệnh
đó đầu tiên yếu lắm, vì lòng tin vẫn chưa vững! Nhưng nhờ lòng chân thành của
người hộ niệm đã trưởng dưỡng cái lòng tin yếu kém của người bệnh thành đại
thanh-tịnh, đại chân-thành, hay nói rõ hơn là thành đại thiện-căn.

Người bệnh có cái phước báu
nhỏ bé vì đang bị ung thư nằm eo xèo trên giường bệnh, cũng đã biến thành đại
phước-báu… Đi về Tây-Phương là người có đại phước-báu.

Cho nên “Đại” hay “Tiểu” đều nằm ngay tại tâm này, chứ không
phải ở ngoài. Ví dụ như có người đến đây tu học, họ thấy cái nhà này chật chội
quá! Họ thấy nản lòng! Họ chê đủ thứ! Họ nói rằng tu hành kiểu gì mà kỳ lạ vậy!…
Chùa không ra chùa! Nhà không ra nhà! Bồ đoàn thì xẹo lên xẹo xuống! Đường đi
thì chật hẹp!… Họ chê đủ thứ!… Chê rồi thì họ rời bỏ nơi này. Rời bỏ đi thì
cơ duyên nhỏ bé này sẽ biến thành cơ duyên tí-tẹo! Cơ duyên tí-tẹo thì không
phải là chỗ đất tốt cho thiện-căn sinh trưởng. Thiện-căn không sinh trưởng được
thì dù đầu tiên thiện-căn có lớn cho mấy, nó cũng bị hao hụt đi, mất mát đi. Dù
có phước-báu lớn cho mấy đi nữa, thì phước-báu đó không thể nào trưởng dưỡng
thành một thứ tư lương để về Tây-Phương được!

Vì chê chán, chấp trước đó mà chúng ta rời bỏ chỗ niệm Phật, vô tình
thiện-căn dù lớn tới đâu đi nữa cũng chỉ tiếp tục tụng một bài kinh,
tụng một bài chú, niệm vài câu A-Di-Đà Phật để cầu xin phước-báu nhân thiên
cùng! Nghĩa là sao?… Nghĩa là phước-báu đó đáng lẽ được đi về Tây-Phương
hưởng đại phước, bây giờ lại tiếp tục trôi lăn trong lục đạo luân hồi để hưởng
cái tiểu phước. Một cái phước của con người còn trong cảnh tử tử sanh sanh!…

Ngài Ấn Quang nói, “Nhiều khi đời sau ta không còn là thân người
để hưởng phước nữa”!
Cũng có lúc phước-báu thì lớn đó, nhưng Hòa Thượng
Tịnh-Không nói, “Nổi một cơn sân giận lên
thì đi xuống địa ngục”!
Xuống địa ngục rồi thì hưởng phước dưới địa ngục!…
Hưởng phước dưới địa ngục bằng cách nào? Người ta thì bị tra tấn một vạn
lần trong một ngày, còn ta chỉ bị tra tấn một ngàn lần trong một ngày thôi!
ràng
là bị tra tấn ít hơn người ta một chút! Hoặc là
có lần Hòa Thượng nói, “Làm phước thì hưởng phước, nhưng dại khờ ngu si thì
đi vào cảnh giới súc sanh để hưởng phước”
. Có nghĩa là sao?… Ngài đưa ra
những ví dụ như một con chó ở trong nhà người tỷ phú, nó có thể sung sướng hơn, nó hạnh phúc hơn, nó ấm cúng hơn nhiều
người. Nhưng có được ấm cúng gì đi nữa thì nó vẫn là súc sanh! Vì chấp vào
nghiệp ngu si, nên cứ mãi mãi mang thân súc sanh đời đời kiếp kiếp, không biết
bao giờ mới thoát nạn!…

Chính vì vậy trong kinh Phật
nói đến: Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên. Trong pháp niệm Phật chúng ta
thường hay nghe nói: Tín-Nguyện-Hạnh. Thật ra nói cách nào cũng được cả.

– Thiện-Căn chính là niềm tin.

– Phước-Báu chính là câu phát
nguyện
vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc.

– Nhân-Duyên chính là người mở
lời niệm câu A-Di-Đà Phật.

Qu‎‎ý vị nghĩ thử có đúng hay không? Nói cách nào
cũng đúng hết trơn.

Như vậy thì:

– Một người quyết lòng niệm câu A-Di-Đà Phật… Nhất định
họ đã có đại Nhân-Duyên rồi.

– Một người quyết lòng nguyện
vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc… Nhất định họ đã có cái Phước-Báu rồi

– Một người khởi phát niềm tin
vững vàng vào câu A-Di-Đà Phật họ đã có đại Thiện-Căn rồi.

Chính vì vậy mà xin thưa với
chư vị, mình hiểu được đạo lý này rồi thì tất cả chúng sanh trong pháp giới này
dù trong quá khứ họ làm sai như thế nào đi nữa, nhưng bây giờ họ đã ngồi tại
đây niệm câu A-Di-Đà Phật rồi!… Khung cảnh dù chật chội một chút, nhưng cái
tâm này không thể chật đâu à!… Ngồi trong một cái nhà nhỏ, lâu lâu mình cảm
thấy
hơi ngộp ngộp, nóng nóng, nhưng khi về tới Tây-Phương, cảnh giới này không
còn nữa đâu à!… Qu‎ý vị có thấy
không? Nếu ở trong hoàn cảnh này mà họ thành tâm niệm một câu A-Di-Đà Phật, thì
khi đến một đạo tràng mênh mông tráng lệ họ cũng niệm một câu A-Di-Đà Phật, hai
câu niệm A-Di-Đà Phật này sẽ có
phước-đức vô lượng vô biên bằng nhau, không có gì khác nhau. Hơn thế nữa, trong
một cái môi trường nhỏ hẹp này mà tâm của họ thành, tâm của họ thiết, tâm của
họ không còn chấp vào không gian này nữa, thì câu niệm Phật của họ thật sự
nhiều khi đã có vô lượng vô biên công đức đến với họ rồi.

Người nào nói rằng tôi không
có phước-đức, hãy niệm câu A-Di-Đà Phật lên thì tự nhiên phước-đức, rồi
công-đức sẽ vươn lên, nó vươn lên ào ào đến chỗ vô lượng vô biên. Người nào nói
rằng mình không có thiện-căn thì hãy thành tâm mà tin đi. Tin như thế nào?…
A-Di-Đà Phật đã nói rằng chư vị hãy phát tâm niệm câu A-Di-Đà Phật cầu về
Tây-Phương đi. Làm sao trước giây phút lâm chung phải buông hết tất cả, niệm
danh hiệu của Ngài, niệm đến mười niệm để cầu vãng sanh mà Ngài không đưa về
Tây-Phương Ngài thề không thành Phật.

Xin thưa với chư vị, đừng niệm
chi đến mười niệm uổng lắm, hãy niệm một niệm mà thôi. Thành tâm niệm một niệm
mà thôi trước khi xả bỏ báo thân, chư vị cũng được vãng sanh về Tây-Phương. Chư
Tổ thường hay nói “Một niệm mười niệm tất sanh” là như vậy.

Cho nên, thiện-căn phước-đức
cũng là đây. Thiếu thiện-căn, thiếu phước-đức cũng là đây. Tất cả đều ở chính
chư vị hết. Đã đến đây rồi đừng nên bỏ mất cái đại thiện-căn, cái đại
phước-đức, cái đại nhân-duyên, cái đại thành tựu đạo Bồ-Đề!…

Xin chư vị nhớ lấy lời này để
quyết định chúng ta cùng nhau vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 8)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Chúng ta niệm Phật là để
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Ta muốn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc nên ta
niệm Phật. Người không muốn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc nên không muốn niệm
Phật
. Vì không niệm Phật nên họ không được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc!…

Người niệm Phật được vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc là do Thiện-Căn Phước-Đức
Nhân-Duyên đã hội tụ đầy đủ. Người không được vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc thì nhất định, nếu không thiếu thiện-căn thì cũng bị
khiếm khuyết phước-đức. Nếu có thiện-căn có phước-đức thì cũng mất nhân-duyên.

Người trong đời này gặp
được pháp mônNiệm Phật” là có “Nhân-Duyên”.
Có nhân-duyên mà không muốn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc thì nhất định một
là họ thiếu phước-đức hai là họ thiếu thiện-căn. Hồi trưa mình có nói sơ qua
vấn đề phước-đức. Muốn biết phước-đức thì coi cách hành trì của họ. Phước-đức
chính là làm thiện làm lành.

Kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ đã
xác định cái phước-đức của người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc là:

– Thứ nhất là phước
Nhân-Thiên: Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm không sát sanh, tu
thập thiện
nghiệp.

– Phước của Nhị-Thừa là:
Thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới, bất phạm uy nghi.

– Phước của Đại-Thừa là:
Phát Bồ-Đề tâm, thâm tín nhân quả, đọc tụng đại thừa, khuyến tấn hành giả.

Những người làm phước họ
sẽ được phước. Người được phước vãng sanh tức là trước những giờ phút lâm
chung
, họ cười hè hè, bớt đau, bớt bệnh… Những người mà cười hè hè ra đi,
ngồi xếp bàn ra đi… đúng là những người có phước. Còn chúng ta thì thiếu
phước một chút cũng ráng cố gắng phóng sanh, cố gắng làm thiện, cố gắng buông
xả
… để bớt cái nghiệp xấu đi. Chúng ta cũng được cái phước để vãng sanh, cũng
cười mà cười trong cơn đau một chút cũng được…

Còn Người thiếu thiện-căn
là như thế nào?… Những Người mà trí huệ đã bắt đầu khai mở thì thuộc về người
có thiện-căn. Khi mà trí huệ đã bắt đầu khai mở cũng dễ thấy lắm.

Thứ nhất là người ta tin
vào pháp môn Niệm Phật. Điều đầu tiên là họ tin vào câu A-Di-Đà Phật, đó thuộc
về thiện-căn. Người mà giảng giải kinh điển Phật đúng liễu nghĩa của Phật, đó
là người có thiện-căn. Người giảng giải kinh Phật không đúng theo chơn nghĩa
của Phật, nghĩa là nói lệch đi, giảng sai đi, tức là thiếu thiện-căn. Dựa vào
đây mà truy nguyên thì mình có thể biết một người bị mất vãng sanh về
Tây-Phương thuộc về phần nào…

Ví dụ như những người gặp
được pháp môn Niệm Phật, gặp được câu A-Di-Đà Phật, gọi là họ có nhân-duyên,
nhưng mà họ không tin, thì ta biết ngay rằng, “À! Người đó có nhân-duyên mà
thiếu mất thiện-căn rồi
”. Thiếu thiện-căn thì bắt buộc phải tu bồi
thiện-căn. Tu bồi thiện-căn ở đâu?… Giới-Định-Huệ sẽ có thiện-căn.

Có những người nghe được
câu A-Di-Đà Phật tức là có nhân-duyên. Tin vào câu A-Di-Đà Phật là có
thiện-căn. Nhưng khi tu hành thì bị người này phá, người kia phá, người kia
chống, người nọ chống, tạo mọi điều kiện để ngăn cản con đường tu hành của
họ… thì ta biết người này có thiện-căn, có nhân-duyên, mà thiếu phước-đức.
Tại sao thiếu phước-đức?… Trong đời trước, nhiều đời trước tu huệ thì nhiều
tu phước thì ít. Vì tu phước ít cho nên thiếu phước. Thiếu phước cho nên bị
cái vô-phước nó ngăn cản.

Hiểu được chỗ này rồi,
mình mới thấy một người mất phần vãng sanh nguyên do nằm ở chỗ nào? Dễ dàng,
ràng
vô cùng, không còn lơ mơ lờ mờ nữa. Chính vì vậy mà đừng bao giờ thấy một
bà già hiền hậu chất phát ngày ngày cầm tập vé số đi bán ngoài đường mà ta cho
họ là người thiếu thiện-căn. Không phải! Nếu mình đến hỏi: Bác có tin câu
A-Di-Đà Phật không? Ồ! Bác tin sống tin chết!
… Thì nhất định bà này có
thiện-căn, vì “Tín năng trưởng dưỡng chư Thiện căn mà.

Nghĩa là trong nhiều đời
nhiều kiếp bà đã tu phước thiện, bà đã đọc kinh điển và thật ra cái tâm của
người ta đã khai mở chút chút rồi, khai hơn những người không tin trong đó mà
mình không hay. Tâm trí khai mở trong hoàn cảnh thiếu phước, nên dù có khai mà
Bà vẫn phải cầm vé số đi bán! Bà cầm vé số đi bán, nhưng tối lại thì sẵn sàng
đi hộ niệm cho người bệnh, nhất định bà ngồi từ đầu đêm cho đến cuối đêm niệm
Phật
. Vì thiếu phước-đức nhưng lòng tin của họ lại vững vàng, họ có thể niệm
Phật
trợ duyên cho người bệnh vãng sanh, niệm Phật từ đầu đêm đến cuối đêm không
cần thay ca. Vô tình câu niệm Phật của họ sẽ tu bồi phước-đức cho họ.

– Tín năng trưởng dưỡng
Thiện-Căn.

– Tín năng trưởng dưỡng
Công-Đức.

– Tín năng trưởng dưỡng
Phước-Thiện
của họ.

Cho nên sau cùng rồi
người này nhờ được thiện-căn, nhờ được cơ duyên niệm câu A-Di-Đà Phật. Dù thiếu
phước nhưng nhờ trong thời gian họ thành tâm tu hành, thành tâm niệm Phật, niệm
trước
người bệnh. Một câu A-Di-Đà Phật là vạn đức, vạn phước, nhờ thế mà sau
cùng họ lại được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, nhiều khi được vãng sanh tự
tại
, không còn đau bệnh nữa. Không còn đau tức là có hưởng phước.

Chúng ta cứ lấy căn bản
của lời Phật dạy ra để xác định rằng ta là hạng người bị thiếu thiện-căn? Ta là
hạng người bị thiếu phước-đức? Ta là hạng người bị thiếu nhân-duyên hay là được
đầy đủ?…

Còn về hình thức thì dù
như thế nào đi nữa, chúng ta cũng chớ vội vã đánh giá sớm. Ví dụ như những
người có phước, biết tu phước. Quá khứtu phước thì hiện đời đường tu của họ
êm xuôi phẳng lặng, không ai ngăn cản. Người ta muốn lập một cái nơi ngon lành
để tu hànhtự nhiên có khả năng lập liền. Ấy thế mà khi nghe đến câu A-Di-Đà
Phật thì họ lặng lờ bỏ đi, họ không thèm nhìn tới. Mình biết ngay người này có
phước nhưng mà thiện-căn của họ không có.

Cho nên quý vị đừng bao
giờ sơ ý thấy một người tu hành có vẻ êm xuôi thì cho rằng, “À! người này
thiện-căn lớn quá
”. Không phải! Không phải! Không phải!… Thiện căn nó được
thể hiện qua “Niềm Tin” vào câu Phật hiệu của người đó.
Cho nên:

– Có nhiều người có
phước-đức lại thiếu thiện-căn.

– Có người có thiện-căn
nhưng lại thiếu phước-đức.

– Có nhiều người gặp
nhân-duyên mà có thiện căn thì người ta tin.

– Có nhiều người có
nhân-duyên gặp câu A-Di-Đà Phật mà không tin, chứng tỏ rằng trí huệ chưa chắc
gì đã khai mở.

Có thiện-căn tức là có
trí huệ, dù trí huệ ở một trình độ nào đó chưa biết?… Chính vì vậy, chúng ta
cần nên xác định rõ rệt. Tại sao trong đời này ta là một phàm phu, danh phận
thì không có, nhưng mà ta quyết lòng chết sống vì câu A-Di-Đà Phật, nhất định
quyết một đời này vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc?… Xin thưa thật ra là:

– Nhiều đời nhiều kiếp
chúng ta đã vun bồi phước-đức rồi,

– Nhiều đời nhiều kiếp
chúng ta đã có tu Giới-Định-Huệ rồi.

– Nhiều đời nhiều kiếp
chúng ta đã cúng dường hằng sa Thánh rồi.

Cho nên mới kết lại trong
đời
này ta được nhân-duyên gặp câu A-Di-Đà Phật và ta bám chắc, ta bám sát, ta
bám vững để về Tây-Phương.

Xin thưa với chư vị, thế
gian
có câu: “Đắc thất nan truy họa phước“. Ta ngồi ở đây tu
hành
như vầy, ta cũng có bị thất…

Ta thất là thất cái
gì?… Thất Casino. Ta không có giờ đi Casino.

Ta thất là thất cái
gì?… Không có giờ đi coi xi-nê.

Ta thất là thất cái
gì?… Ta không có được tới chỗ nào đó ngắm cảnh xem hoa…

Ta bị thua người đời ở
những chỗ đó.

Còn những người được
những thứ đó, họ tưởng rằng họ được hưởng nhiều quá? Nhìn những người niệm
Phật
, họ than rằng: “Trời ơi!… Những người đó sao cứ chui vào trong cái
nhà mà tụng niệm làm chi cho nhức đầu vậy?…”
Người ta tưởng rằng người
niệm Phật bị thua thiệt. Thật sự ra chúng ta chỉ thua họ những thứ hưởng thụ
đó, nhưng mà ta được là được có Thiện-Căn, ta hơn họ là hơn cái
Thiện-Căn này. Họ không tin câu A-Di-Đà Phật nhưng ta tin được vào câu A-Di-Đà
Phật.

Một người bài bác câu A-Di-Đà Phật, họ nói, Trời ơi!… Người thuệ thông minh như vậy
tại sao lại niệm câu A-Di-Đà Phật?…

Như vậy họ thấy chúng
mình
bị mất! Mất chỗ nào? Mình mất ở chỗ không tu được những pháp cao quá!
Không có nói năng được gì cho hay ho! Nhưng mà ta được chỗ nào?… Ta được câu
A-Di-Đà Phật. Ta niệm câu A-Di-Đà Phật, chân thành thanh tịnh, để quyết lòng đi
về Tây-Phương.

Còn họ mất cái gì? Họ mất
câu A-Di-Đà Phật! Họ có thể được phước của thế gian, tức là được nhiều người
ủng hộ, yểm trợ, sự nghiệp có thể đề huề, thịnh vượng.

Ta mất cái phước trước
mắt
này. Nhưng mà ta được cái gì?… Ta được là được đến lúc lâm chung ta hưởng
cái phước đi về Tây-Phương. Còn họ không biết hưởng cái phước ở lúc lâm chung,
nên họ không được đi về Tây-Phương đâu chư vị! Mà khi lâm chung họ hưởng cái cảnh…
Tùng nghiệp thọ báo!…

Vì thế, Ngài Tịnh-Không
dạy như thế này, “Ta tạo phước không được hưởng phước”.
Đừng nên nghĩ làm phước thì phải cầu hưởng phước. Hưởng được phước hữu lậu thì
sau cùng trụi lủi!… Bây giờ ta hãy cứ chịu thiệt thòi đi. Hòa Thượng Tịnh-Không
nói, đời này càng chịu thiệt chừng nào ta càng được phước chừng đó. Có
nghĩa là, ta chịu thiệt bây giờ, để cuối cùng khi nằm xuống ta đem tất cả cái
phước đó hỗ trợ cho con đường vãng sanh của chúng ta. Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
hội tụ ngay thời điểm lâm chung để chúng ta
an toàn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc…

Còn nếu chúng ta vội vã
hưởng cái phước này thì lúc lâm chung chúng ta mất hết phước. Nghĩa là đau
bệnh! Đau đến quằn quại! Đau quằn quại mà không có người hướng dẫn nữa, thì
chúng ta muốn cất lên nửa câu A-Di-Đà Phật cũng cất không được!

Ta quyết định giữ lấy “Thiện-Căn”. Những lời nói nào sai kinh Phật nhất định đừng
để nhập trong tâm. Nếu để nhập những lời nói sai kinh Phật trong tâm, thì ta
thuộc vào hạng người không có thiện-căn!

Như vậy hôm nay chắc quý
vị đã rõ thế nào gọi là Thiện-Căn? Thế nào gọi là Phước-Đức? Thế nào gọi là
Nhân-Duyên rồi chứ?… Nhân-duyên là cơ hội ngồi tại đạo tràng này niệm Phật.
Thiện-căn là lý giải kinh Phật phải đúng. Nhất định không được sơ ý một điều.
Phật nói niệm Phật vãng sanh, thì ta quyết lòng tin niệm Phật vãng sanh. Dù một
vạn người đem tất cả những lý lẽ gì để bài bác, ta tin vẫn cứ tin, thì
thiện-căn chúng ta đã có đầy đủ.

Còn người nào nói: “Làm
gì mà có chuyện hộ niệm vãng sanh?
. Người ta nói sai kinh Phật kệ họ. Nói sai kinh Phật
thuộc về hạng người không có thiện-căn, dù hình thức tu hành có gì đi nữa, thì
cũng là sai! Ly Kinh Nhất Tự Tức Đồng Ma Thuyết!…

Τrong kinh Phật thuyết A-Di-Đà, Phật dạy rằng: “Người
nào niệm Phật thì lúc lâm chung A-Di-Đà Phật cùng chư Thánh Chúng hiện ra trước
mặt
người đó, tiếp dẫn người đó vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
”. Ta căn cứ vào đây mà
niệm Phật đi về Tây-Phương. Ta quyết lòng cầu nguyện vãng sanh Tây-Phương.
Trong kinh A-Di-Đà Phật dạy bốn lần, nhất định bốn lần chứ không phải là ba
lần, phải cầu nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Phải nguyện vãng sanh về
Tây-Phương thì tất cả những nguyện khác chúng ta cho nó là thứ yếu. Nghĩa là,
có duyên thì ta làm, không có duyên thì ta không để trong tâm. Còn lời nguyện
vãng sanh thì nhất định phải giữ trong tâm này, không bao giờ ly ra. Giả sử
có một người nào đó cũng đem kinh Phật ra chứng minh rằng, “Cầu là vọng”, thì
ta cũng phải giữ vững tâm ý:

À!… Anh nói cầu là
vọng! Còn tôi nói cầu vãng sanh không phải vọng, mà đây là Chánh-Cầu… Nhất định
Phật không cho ta cầu cái gì khác, nhưng Phật lại dạy cầu vãng sanh Tịnh-Độ.
Nhất định ta phải cầu vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc.

Tâm nguyện vãng sanh vững
vàng
như vậy, thì chứng tỏ thiện-căn chúng ta đã có.

Nếu một người nào đó
phước-báu tràn trề mà họ không chịu niệm Phật, thì chứng tỏ rằng họ đã dùng
phước-báu đó để cầu danh cầu lợi gì đó, chứ không phải sử dụng nó để khi xả bỏ
báo thân này được hưởng cảnh đời đời cực lạc tại cõi Tây-Phương, thì phước-báu đó dù lớn
cho mấy đi nữa cũng chẳng qua là đem tiền mà gói lấy cái quan tài đắc giá dưới
nấm mồ mà thôi!…

Vậy thì những người nào
tiền bạc nhiều quá hãy lo tu hành đi, đừng sơ ý coi chừng đến khi chết xuống vì
vướng vào đống tiền đó mà bị đại họa! Quý vị có nghe Hòa Thượng Tịnh-Không kể
chuyện ở bên Hồng-Kông có người tới khoe vàng với Ngài không? Vì chấp vào đó
thì khi chết rồi dễ gì mà được siêu sanh! Dễ gì mà thoát ách nạn thành một con
mọt chui vào đó mà giữ tiền! Có phước-báu tưởng là ngon, ai ngờ sau cùng thành
đại họa!…

Cần phải hiểu rõ đạo lý
này. Ta có thiện-căn nên mới tin câu A-Di-Đà Phật. Ta có phước-đức nên mới ngồi
với nhau niệm Phật, và làm những việc thiện lành nhưng lặng lẽ không cần một
người biết. Hãy âm thầm đem cái phước đó gởi về Tây-Phương. Gởi về Tây-Phương
thì lúc lâm chung A-Di-Đà Phật sẽ đem cái phước đó xuống đón ta về Tây-Phương
để hưởng. Cơ hội hôm nay chúng ta đã gặp câu A-Di-Đà Phật, thì Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên đúng như trong kinh A-Di-Đà, đức Thế-Tôn nói, người có đủ
Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên sẽ được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Ta phải gom trọn tất cả
Thiện-Căn, Phước-Đức và Nhân-Duyên
này đưa vào lúc xả bỏ báo thân nhất định không trở lại trong cõi Ta-bà này nữa.
Một đời này vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Nếu những lời này làm cho
chư vị vững tin, thì xin
chúc mừng cho chư vị.
Nhất định chư vị được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 9)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Phật nói nhờ ‘‘Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
’’ đầy đủ mới vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
được.

Có người dùng Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên để khuyến tấn chúng ta niệm Phật vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc. Cũng có người nghe đến danh từ Thiện-Căn Phước-Đức Nhân-Duyên lại đi
khuyên chúng sanh đừng nên niệm Phật, tại vì không dễ gì lấy chút Thiện-Căn,
chút Phước-Đức, chút Nhân-Duyên mà đi về Tây-Phương Cực-Lạc đâu…

Cho nên cũng là một danh
từ mà từ một góc nhìn khác lại thấy khác. Một người dùng danh từ thiện-căn,
phước-đức, nhân-duyên đầy đủ để vãng sanh thì họ khuyến tấn chúng ta hãy quyết
lòng
vãng sanh. Nếu có thiện căn ít thì bây giờ tô bồi thiện căn đi, để được về
Tây-Phương. Nếu có phước-đức ít thì hãy tô bồi phước-đức đi, để đủ phước-đức đi
về Tây-Phương. Nếu chưa có nhân-duyên, thì hôm nay đã gặp câu A-Di-Đà Phật tức
là có nhân-duyên rồi đó, mau mau kết hợp nó lại để đi về Tây-Phương. Nhờ thế mà
một người được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Một người cũng nghe đến
đại Thiện-Căn, đại Phước-Đức, đại Nhân-Duyên lại sớm có cái tâm tiêu cực! Họ
nói rằng, quý vị không đủ thiện-căn, không đủ phước-đức, không đủ nhân-duyên
đâu, thôi đừng đi về Tây-Phương Cực-Lạc làm chi. Một lời nói làm đoạn mất con
đường
thành đạo của chúng sanh!…

Cho nên, khuyến tấn lên,
dù người được khuyến tấn chưa chắc gì họ đã đủ thiện-căn, phước-đức, nhưng cơ
hội này tạo niềm tin cho chúng sanh. Khi tạo niềm tin cho chúng sanh thì vô
tình niềm tin của mình cũng tăng trưởng. ‘‘Tín năng trưởng dưỡng chư thiện căn’’. Nhờ mình tô bồi tín tâm cho mọi người mà làm cho thiện-căn của
chính mình cũng tăng trưởng lên hồi nào không hay.

‘‘Tín năng trưởng dưỡng chư thiện
căn
’’.

Mình thấy một người kia
phước báu ít quá, đang đi bán bánh ú ở ngoài đường. Có người thì đang lượm
rác… Rõ ràng họ đâu có phước báu! Nhưng mình vẫn cứ khuyến tấn đi. Hãy nói, ở
đây phước báu không có, về Tây-Phương thì phước báu vô lượng. Quyết lòng tin
đi, xúi dục họ, làm cho người bán bánh ú, người bán vé số, một người lượm
rác… đang lang thang ngoài đường quyết lòng niệm Phật, tin tưởng vững vàng. ‘‘Tín vi đạo nguyên công đức mẫu’’.
Khi lòng tin của người đó thanh tịnh, lòng tin của người đó tràn đầy thì tự nó
tạo ra công đức. Tức là, nhờ lòng tin đó mà nảy sanh ra công đức. Công đức
còn sanh ra được, huống chi là phước-đức.

Hỏi rằng, phước-đức là
như thế nào?… Công đức là như thế nào?…

Một người lượm rác thì
không có phước-đức. Nhưng cái tâm họ thành, tâm họ tin tưởng, tâm họ chí thành
chí kính. Họ đem cái tâm thành đó hồi hướng về Tây-Phương Cực-Lạc, thì cái tâm
thành
đó, chút phước-đức từ lòng thành đó đã biến thành công đức.

Còn nếu chúng ta nghĩ
rằng, ‘‘À!… Bà đó không đủ phước-đức! Ta
có bạc tỷ dollars đây, ta mới có phước-đức’’.
Khoe cái đó ra!… Thật ra
phước-đức hữu lậu vẫn là thứ phước-đức hữu lậu! Sau cùng chính cái phước-đức đó
nó trói mình lại trong lục đạo luân hồi! Như ngài Tịnh-Không nói, tiền bạc
nhiều quá coi chừng vì đắm vào tiền tài này, sau cùng không cách nào rời khỏi
được đống tiền mà đành chịu nạn! Một đời hưởng phước để vạn đời chịu khổ! Lý do
chính tâm của mình đã đi sai đường!

Từ đâu mới tăng được
thiện-căn phước-đức lên?… Xin thưa với quý vị, thật ra là từ một niềm tin này
mà khởi phát lên. Tín!… Cái lòng tin này là mẹ sinh ra công
đức
. Một chút phước-đức này, lấy lòng thành gửi về Tây-Phương thì phước-đức
biến thành công-đức.

Đi tới một chỗ động đất,
người ta thì bỏ tiền ra bố thí triệu triệu… Họ lên danh sách này, lên danh sách
nọ. Phóng viên, truyền hình tới phỏng vấn đăng tin. Một người không có một đồng
bạc nào, thấy hoàn cảnh chúng sanh khổ quá, đưa ra một ổ bánh mì cho người
nghèo khótâm chân thành… coi chừng ổ bánh mì này có công đức còn ngon
lành
hơn những người bỏ bạc triệu ra đó…

Cho nên, công đức lớn hay
nhỏ là do cái tâm thành của một người chứ không phải là cái số lượng đưa ra.
Một người bỏ ra bạc triệu nhưng thật ra gia tài họ tới bạc tỷ, thì số bạc triệu
đó đâu đánh giá cao bằng một người chỉ có một đồng mà dám bỏ ra chín mươi xu để
cho người khác đỡ đói, tức là họ nhịn đói mà giúp cho người khác. Chính cái
lòng thành này nó châu biến pháp giới.

Trong kinh Phật có câu,
‘‘Tâm Bao Thái Hư’’,
tâm mở rộng ra thì ‘‘Lượng châu sa giới’’. Giảng về
Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên, có nhiều người nói: ‘‘Bà ơi! Bà hãy lo tu thiện-căn đi, tu phước-đức đi để đời sau tu tiếp.
Tu đến vạn kiếp sau, khi nào thiện-căn, phước-đức đầy đủ rồi, bà mới về
Tây-Phương được’’!…
Giảng giải như vậy, vô tình dẫn dắt
một người vốn đã nhiều nghiệp chướng, lại tiếp tục lăn lộn trong nghiệp chướng
để tạo thêm nghiệp chướng mới nữa, thì ngày nào họ mới có khả năng vượt thoát
sanh tử luân hồi đây?…

Trong khi biết rằng: À! Bà ơi! Thiện-căn, phước-đức của bà ít
quá! Thì bây giờ tôi chỉ cho bà cách tô bồi thiện-căn, phước-đức nhé. Tô bồi
như thế nào?.

Niệm Phật một câu, phước
sanh
vô lượng.

Lễ Phật một lễ, tội diệt
hằng sa.

Hãy đến Niệm Phật Đường
niệm Phật với tôi đi. Hãy thành tâm niệm một câu A-Di-Đà Phật đi thì phước
tăng vô lượng. Mà niệm với lòng chân thành, chí kính, thì cái phước-đức này
không còn là phước-đức hữu lậu nữa đâu bà, mà là công đức vô lượng vô biên đó.

Lễ Phật với tôi đi bà ơi!
Lễ Phật với tôi đi ông ơi! Lễ Phật một lễ tội diệt hằng sa. Bao nhiêu nghiệp
chướng
trùng trùng nhờ lòng thành lễ Phật mà nó tuôn ra hết. Niệm Phật một câu
đem công đức vào… Lễ Phật một lễ tuôn nghiệp chướng ra…

Bây giờ, chư vị hỏi lại,
thiện-căn phước-đức ở đâu?… Ở ngay chỗ chí thành chí kính niệm Phật này chứ
đâu. Tại sao chúng ta không biết giúp cho người ta con đường tạo thiện-căn
phước-đức để đi về Tây-Phương?… ‘‘Vạn pháp Nhân-Duyên sanh’’.
Một người trong cuộc đời này gặp cái Nhân-Duyên này, và nhờ thiện trí thức chỉ
đường
dẫn lối, họ ngộ ra đường đạo. Nhân-Duyên sanh ra vạn
pháp
Vạn pháp được sanh ra từ một người phàm phu tục tử này đã gặp được Nhân-Duyên
hôm nay mà trở thành một vị đại Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây-Phương.

Một người cũng trong hoàn
cảnh
này, gặp được nhân-duyên này, lại bị người ta gạt mất con đường siêu sanh
Tịnh-Độ! Niềm tin bị đoạn rồi, lòng nghi nảy sanh ra! ‘‘Nghi’’ thì duyên với ‘‘Nghi’’.
Một niệm nghi ngờ sanh ra, hàng vạn nghiệp chướng bao trùm họ lại. Rõ ràng ‘‘’’
mới nghi! Chứ ‘‘Ngộ’’
bao giờ lại nghi?…

Phật pháp đã dạy ta ‘‘Đoạn
nghi sanh Tín
’’. Hãy tìm mọi cách đoạn cái lòng nghi của chúng sanh đi,
để giúp cho họ sanh cái tín tâm ra. Có sanh được tín tâm, thì thiện-căn theo đó
mà tuôn trào ra, phước-đức theo đó mà trưởng dưỡng lên. Bây giờ không có
phước-đức cũng sẽ có phước-đức, không có thiện-căn cũng sẽ có thiện-căn. Tại
sao vậy? Tại vì chắc chắn bản lai của người đó là Phật. Phật là Lưỡng-Túc-Tôn.
Quý vị có hiểu chỗ này không? Lưỡng Túc Tôn không phải là hai chân, mà Trí-Huệ
Phước-Đức có đầy đủ. Trí-Huệ và Phước-Đức đã có đầy đủ mà
họ không biết sử dụng, chỉ vì họ đã lỡ mê rồi mà không biết đó thôi! Vì không
biết nên họ cứ tiếp tục đi theo con đường thiếu phước-báu!… Thật là oan
uổng!…

Chứ nếu họ ngộ ra một cái
thử coi… Một viên ngọc Như-Ý vô giá đó, tất cả mọi người chúng ta đều có. Mọi
người
đều có, thì hãy chỉ cho họ mau mau lượm viên ngọc đó lên đi. Họ lượm viên
ngọc đó đưa lên, họ trở nên một người quý vô giá. Vô giá về phước-đức, vô giá
về thiện-căn.

Hôm qua mình nói
thiện-căn thuộc về Trí-Huệ. Trí huệ đó ở đâu? Viên ngọc đó chìm trong bùn đen,
không thể phát quang! Mình tưởng rằng họ không có trí huệ! Nhưng chư Phật đã
thấy rõ ràng, viên ngọc đó từ vô thỉ đến bây giờ vẫn là như vậy, và đến vô
chung trong tương lai cũng là như vậy. Đối với một con vật cũng vậy. Đối với
một con người cũng vậy. Ví như con người này vụng dại tái sinh vào hàng súc
vật
, thì con súc vật này vẫn có viên ngọc như-ý đó. Nó vẫn là như vậy, không
mê, không ngộ, không tăng, không giảm…

Xin thưa với chư vị, xét
cho cùng ra, thiện-căn phước-đức vẫn ở tại tâm này, không phải ở ngoài. Nếu
nghi ngờ lời Phật thì mình đã đánh mất thiện-căn của mình rồi. Nếu tin tưởng
lời Phật thì mình trưởng dưỡng thiện-căn của mình lên. Mình quyết lòng đem cái
viên ngọc như-ý mình đưa ra thì lập tức viên ngọc phát quang. Nếu mình đưa
không được, thì nhờ chư đạo hữu tới tìm cách khai thị, giảng giải, hóa gỡ những
gút mắt sai lầm để cho khơi nó lên. Dù cho có bị dìm ở trong bùn đen ngàn năm,
khi vừa khơi lên, viên ngọc tự nhiên sẽ phát quang. Nên nhớ, viên ngọc không
bao giờ bị ô nhiễm cả.

Cho nên, cũng là
thiện-căn, phước-đức, nhân-duyên đó, lại gặp một người mê mờ, đem cái thiện-căn
của mình tiếp tục dấu đi, đem cái phước-đức của mình tiếp tục dấu đi. Để rồi
tiếp tục hưởng những cái mê mờ, những cái thiếu phước!…

Còn nếu chúng ta nghe lời
Phật thì khác. Phật nói sao?…

Khi Ta thành Phật, mười phương pháp giới chúng sanh nghe
đến danh hiệu của Ta, dẫu cho người đó tội lỗi bao nhiêu…

Tội lỗi là những gì?…
Là người mê muội đó, là người thiếu thiện-căn đó, là người thiếu phước-đức
đó… Thiếu là tại người ta quên mất của quý mà thiếu đó! Tại mê mà thiếu đó!
Chứ nếu họ tỉnh ngộ thì làm sao thiếu được?

Niệm danh hiệu Ta đi, quyết lòng cầu nguyện vãng sanh về
nước Ta đi…

Có chút thiện lành gì mà
nhớ được đó, từ sáng đến chiều mình làm được phước thiện gì đó, chút xíu như
vầy
chứ mấy!… Thật ra cái đó cũng chỉ là chút quà tượng trưng cúng dường trên
cõi Tây-Phương chứ đâu có là bao nhiêu!…

Gởi về nước Ta đi. Niệm mười niệm, cầu sanh về nước Ta.
Ta không tiếp dẫn về nước Ta, Ta thề không thành Phật.

Tại sao không chịu nghe
lời
Phật giúp cho chúng sanh tạo thêm thiện-căn phước-đức để trong nhân-duyên
này họ được về Tây-Phương?

Có người cứ nằm đây mà mơ
tưởng một ngày nào đó sẽ có thiện-căn, có phước-đức mới làm đạo. Xin thưa với
quý vị, có nhiều người nghĩ vậy đó: ‘‘Bây giờ bảo tôi đi khuyên người niệm
Phật… Tôi không khuyên đâu
’’. Hỏi tại sao vậy? ‘‘Tại vì bây giờ cái
năng lực của tôi dở quá! Anh hãy chờ cho tôi một thời gian nữa, khi năng lực
tôi mạnh rồi, khi năng lực tôi đủ rồi thì tôi mới đi ra làm đạo
’’…

Tôi chắp tay lại: Cảm
ơn!… Tôi tán thán cái lời hứa của anh, nhưng tôi không theo anh, không tán
thán
việc làm của anh!… Vì xin hỏi anh, khi nào năng lực của anh mới đủ
vậy?… Khi nào năng lực của anh mới mạnh vậy?… Xin nhắc nhở anh rằng, một
khi anh nghĩ rằng anh đã có năng lực, thì coi chừng… xin lấy lời của ngài
Tịnh-Không ra nói:

– Khi quý vị thấy mình có một năng lực… Khi quý vị nghĩ
mình đã chứng đắc… Khi quý vị nghĩ mình đã thành đạo… Thì coi chừng quý vị
đã bị tẩu hỏa nhập ma rồi!…

Trong khi ngài Ấn-Quang
dạy ta điều gì?… ‘‘Chí
Thành-Chí Kính
’’.
Ngài có dạy là phải chứng đắc trước rồi mới đi
khuyên người niệm Phật đâu? Mà Ngài nói:

– Khi ta biết con đường
niệm Phật cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc là con đường giải thoát, thì nỡ lòng nào
để cho thân bằng quyến thuộc, anh em của chúng ta tiếp tục chìm đắm trong bể
khổ sông mê?
Khuyên người niệm Phật cầu về Tây-Phương là giúp cho một chúng sanh
phàm phu thành bậc Chánh-Giác..
.

Ta là một phàm phu, sẵn
sàng đi khuyên một vị phàm phu. Tại vì chúng ta đồng cảnh ngộ với nhau thì dễ hiểu
nhau. ‘‘Đồng hoạn tương thân’’. Cùng hoạn nạn mình thương yêu nhau.
Mình không muốn đọa lạc, thì cũng không nỡ nào để cho người thân của mình bị
đọa lạc…

Thành ra, mình nên nói:
‘‘Thôi!… Mẹ ơi! Niệm Phật đi!… Cha
ơi! Niệm Phật đi!… Anh ơi! Niệm Phật đi!… Con cũng niệm Phật để được vãng
sanh
. Cha cũng niệm Phật để được vãng sanh. Chị niệm Phật cũng được vãng sanh…
Chúng ta toàn là phàm phu, nhưng nhờ A-Di-Đà Phật đưa ta về Tây-Phương thành
đạo’’.

Cho nên, ‘‘Khuyên
người niệm Phật cầu về Tây-Phương là giúp cho người phàm phu tục tử thành bậc
Chánh-Giác. Công đức này vô lượng vô biên
’’. Rõ ràng, có bao giờ Ngài
nói rằng, khi nào ta chứng đắc rồi mới được khuyên người niệm Phật đâu? Không
có!… Hoàn toàn chư Tổ không có nói như vậy. Ấy thế nhiều người học Phật mà:

– Không chịu lấy lời Tổ
ra làm chuẩn mực cho mình đi.

– Không chịu lấy lời Phật
ra làm cái gương cho mình soi.

– Không chịu lấy những
lời của chư vị Thánh Tăng ra mà làm kim chỉ nam hành đạo.

Mà cứ lấy toàn những thứ
‘‘Sở Tri Kiến’’ của mình ra mà nói, để dẫn dắt chúng sanh đi trên con đường
mông lung vô định hướng! Vô lượng vô biên chúng sanh, ngày ngày, giờ giờ, từng
sát-na đi xuống tam ác đạo, khổ đau bất tận! Ta không thương họ, tìm cách cứu
họ, mà bây giờ lại còn bày vẽ cho họ đi theo cảnh giới đau khổ đó nữa!…

Ngài Ấn Quang nói: Làm sao có thể chờ đợi đến đời
sau? Đời sau coi chừng thân người không lấy lại được
!…
Ấy thế mà
có người dám nói, hãy tìm chút phước đi để đời sau tu tiếp. Ngài Tịnh Không nói: Tu
Phước
thì hưởng Phước. Nhưng ngu si thì thành súc sanh để hưởng phước
. Khi thành súc sanh thì tiếp tục mê.
Tiếp tục mê thì Phật chỉ đàn kiến mà nói với Ngài A-Nan rằng: ‘‘Bảy đời Phật rồi, con kiến vẫn là
con kiến…
’’!

Xin chư vị hiểu cho
Thiện-Căn, Phước-Đức ở tại niềm tin. Giữ vững niềm tin thì được vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc. Lúc đó chư vị sẽ thấy rõ ràng thế nào là Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
đầy đủ.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 10)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc là sự thật, quyết không thể nghi ngờ! Quyết không thể nghi ngờ, thì bắt
đầu từ đây phải chuẩn bị tất cả hành trang để đi về Tây-Phương Cực-Lạc.

Trong đó niềm tin là khởi
sự cho tất cả những gì chúng ta cần phải trang bị đầu tiên. Người muốn vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc, thì nên nhớ rất rõ lời này:

Nhất niệm tương ưng nhất
niệm
Phật.

Niệm niệm tương ưng niệm
niệm
Phật
.

Người không muốn về
Tây-Phương thì quên câu này cũng được, không sao! Người biết rằng trong
lượng kiếp
qua, ta bị đọa lạc trong sáu đường luân hồi sanh tử, trong đó chắc
rằng ta cũng đã trải qua ba đường ác đạo. Trong đường ác đạo khổ lắm!… Dễ sợ
lắm!… Nay gặp cơ duyên này, quyết tâm đi về Tây-Phương Cực-Lạc. Người quyết
tâm
đi về Tây-Phương Cực-Lạc, thì nhất định, không được sơ ý quên câu nói:

Nhất niệm tương ưng nhất
niệm
Phật.

Niệm niệm tương ưng niệm
niệm
Phật.

Nếu những người khinh
thường chuyện lục đạo luân hồi, nếu những người không sợ tam ác đạo, nghĩ rằng
tam ác đạovô lượng vô biên chúng sanh trong đó, mình tới tham gia với họ
cho đồng tình, đồng nghĩa… thì có quyền không chú ý đến câu:

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Câu này có nghĩa là
sao?…

‘‘Nhất Niệm’’ là
một niệm. Một niệm mà muốn tương ứng với con đường vãng sanh Tây-Phương
Cực-Lạc, thì một niệm đó phải là niệm ‘‘A-Di-Đà Phật’’.

‘‘Niệm Niệm’’
tương ưng là có nhiều niệm. Nhiều niệm mà muốn tương ưng với con đường vãng
sanh
Tây-Phương Cực-Lạc, thì niệm niệm đó phải là niệm niệm Phật, không có gì
khác.

‘‘Nhất Niệm Tương Ưng’’
có nghĩa là: Giả sử cuộc đời này chúng ta sắp sửa tàn rồi, chỉ còn có thời gian
đủ để niệm được một niệm mà thôi tương ưng để về Tây-Phương Cực-Lạc, thì một
niệm đó phải là niệm ‘‘A-Di-Đà Phật’’. Nếu sơ ý, chỉ còn trong một giây nữa là
mình tắt hơi, mà khởi ra một cái niệm gì khác, thì niệm khác đó gọi là ‘‘Bất
Tương Ưng!
’’. Bất tương ưng thì không thể nào về Tây-Phương
Cực-Lạc được.

‘‘Niệm Niệm Tương Ưng
Niệm Niệm Phật
’’ có nghĩa là sao?… Có nghĩa là khi ta có cơ duyên gặp
được câu A-Di-Đà Phật, ta có thời gian huân tu để thành tựu. Nếu muốn thành tựu
con đường nào khác thì có thể lơ là câu niệm Phật, nhưng một người thật sự muốn
đi về Tây-Phương Cực-Lạc thì từ đây cho đến ngày mình xả bỏ báo thân, tức là
đến một hơi thở cuối cùng, thì phải niệm niệm liên tục, tương tụctương
tục
tương tục câu A-Di-Đà Phật, đừng nên xen những niệm khác. Đó là ý nghĩa:
Nhất hướng chuyên niệm A-Di-Đà Phật vậy.

Chính vì thế, nếu chư vị
nghĩ rằng, trong một đời này, ta cần phải về Tây-Phương Cực-Lạc, thì xin chư vị
cứ nhắc hoài câu này trong tâm.

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Một niệm mà muốn tương
ưng
với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật để về Tây-Phương thì niệm đó là niệm
A-Di-Đà Phật. Nhiều niệm, thời gian mình còn nhiều năm nhiều tháng, muốn sau
cùng được một niệm tương ưng là phải từ đây huân tu câu A-Di-Đà Phật, để câu
A-Di-Đà Phật nhập vào tâm. Sau cùng ta khởi được một niệm, một niệm cuối cùng
tương ưng: ‘‘Niệm Niệm Phật’’… Câu này vô cùng quan
trọng.

Chính vì vậy mà trong
pháp môn Niệm Phật, chư Tổ luôn luôn nhắc nhở chúng sanh, nhất là nhắc nhở hàng
hạ căn chúng ta không được rời câu A-Di-Đà Phật trong tâm.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói:
Từ sáng đến chiều, phải giữ trong tâm câu A-Di-Đà Phật. Ở những nơi trang
nghiêm
thanh tịnh như Niệm Phật Đường, hãy niệm lớn tiếng câu A-Di-Đà Phật. Ở
những chỗ không trang nghiêm, không thanh tịnh, hãy niệm thầm câu A-Di-Đà Phật.

Tức là niệm lớn hay niệm
nhỏ, cũng niệm câu A-Di-Đà Phật. Ngài nói vào trong nhà vệ sinh, nhà xí, cũng
phải niệm A-Di-Đà Phật. Không được gián đoạn, nhưng mà chỗ đó là chỗ không
trang nghiêm thì phải niệm thầm.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư dạy,
niệm Phật điều quan trọng là niệm cho sâu. Niệm sâu này chính là ‘‘Một
Niệm Phật Tương Ưng
’’ với đại nguyện của A-Di-Đà Phật.

– Một là tin tưởng.

– Hai là phát nguyện.

– Ba là trì giữ câu
A-Di-Đà Phật trong tâm.

Các Ngài nói lên nói
xuống cũng giống hệt như vậy. Niệm tương ưng chính là cái niệm có ‘‘Tín’’, có
‘‘Nguyện’’ và niệm câu A-Di-Đà Phật liên tục không ngừng trong tâm. Nếu một
người trong đời mạt pháp này, hạ căn như chúng ta, mà lơ là câu A-Di-Đà Phật,
không chịu chuyên niệm câu A-Di-Đà Phật. Muốn thử cái này một chút, thử cái kia
một chút… thì nhất định niệm này không phải là cái niệm tương ưng! Không niệm
tương ưng thì nhất định không có tương hợp với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật,
sau cùng là có thể bị trở ngại!… Không biết là cơ duyên cuối cùng của chư vị
có được may mắn như những người mà chúng ta đã hộ niệm cho người ta vãng sanh
hay không?

Ngài Liên-Trì Đại Sư diễn
tả
câu:

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Như thế nào?… Mỗi Ngài có một cái cách giải, hay lắm. Nhưng quý vị đưa ra
so sánh thì giống hệt với nhau, chứ không khác.

Ngài nói, ‘‘Tam tạng
thập nhị bộ
’’ là ba tạng kinh điển, mười hai phần giáo của đức Thế-Tôn
giảng dạy trong bốn mươi chín năm, ai muốn ngộ, thì cứ bỏ công sức ra mà ngộ.
Ai muốn đại khai viên giải, thì cứ việc nghiên cứu, không cấm. Tại vì kinh Phật
không được quyền cấm.

‘‘Bát vạn tứ thiên
hạnh
’’, tức là Ngài chỉ cho tám mươi bốn ngàn pháp môn tu tập của đức
Thế-Tôn nói trong kinh điển, ai muốn tu trì cứ việc tu trì, ai muốn hành cứ
việc hành. Đây là điều tốt, chứ không phải xấu. Còn riêng Ngài thì bốn chữ
A-Di-Đà Phật nhất định không ly. ‘‘Bốn chữ A-Di-Đà Phật nhất định không ly’’,
chính là:

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Ngài niệm Phật mà trong
sách ghi lại rằng, dưới chiếc chiếu Ngài ngồi niệm Phật nảy lên những hạt
lợi
. Quý vị tưởng tượng, một vị Đại Sư mà các Ngài làm như vậy, để lại cho
chúng ta những lời khai thị tuyệt vời!

Ngài Ưu-Đàm Đại Sư giảng
nghĩa
câu:

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Như thế nào?… Ngài nói
như thế này:

– Lúc giận niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc buồn niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc vui niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc đói niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc no niệm câu A-Di-Đà
Phật.

– Lúc đi niệm câu A-Di-Đà
Phật.

– Lúc nằm niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc bị người ta mắng
niệm câu A-Di-Đà Phật.

– Lúc được người ta khen
niệm câu A-Di-Đà Phật.

– Lúc thắng thế niệm câu
A-Di-Đà Phật.

– Lúc thất bại niệm câu
A-Di-Đà Phật.

Thời thời khắc khắc trả
lời
bất cứ mọi hiện tượng xảy ra trong đời bằng câu A-Di-Đà Phật.

Quý vị coi, Diệu Âm đem
những lời các Ngài để giảng nghĩa câu này. Nhưng thật ra, tất cả những lời răn
dạy của các Ngài về hình tướng thì khác, người này nói khác, người kia nói
khác, kinh Phật nói khác… nhưng chỉ khác trong lời nói, còn ý nghĩa thì hoàn
toàn
tương đồng với nhau. Các Ngài nói ra những lời mạnh mẽ như vậy để chi?…
Để một người trong thời mạt pháp này và thuộc hạng người hạ căn phàm phu nhớ
rằng, nếu không áp dụng câu:

Nhất Niệm Tương Ưng Nhất
Niệm
Phật.

Niệm Niệm Tương Ưng Niệm
Niệm
Phật.

Thì coi chừng không còn
lối thoát nào khác ngoài đường lục đạo luân hồi, sáu đường sanh tử. Ta học
Phật, ta biết chắc chắn rằng khi cái xác thân này chết đi, nhưng chúng ta không
chết, đời-đời kiếp-kiếp, vẫn là vô sanh vô tử. Cái oái oăm là ta sẽ sanh lại
trong cảnh giới nào đây? Sướng hay khổ? Chịu những ách nạn gì đây?… Nếu người
học Phật ngộ ra chỗ này, thì sợ đến toát mồ hôi! Vì sao?… Vì nghiệp chướng
sâu dày, oan gia trái chủ chập chùng, trí huệ quá ư là mê mờ!… Nhất định tất
cả những cái duyên này, cái nhân này, toàn bộđi vào trong sáu đường tử sanh
sanh
tử, mà xin thưa thật rằng, trong đó hết chín mươi chín phần trăm (99%) là
tam ác đạo, chứ không phải là tam thiện đạo!

Chính vì thế, nếu chúng ta
sơ ý, không chịu hiểu đạo, không chịu ngộ đạo, không chịu giật mình tỉnh ngộ,
cứ lầm lũi lầm lũi theo đoàn người thế gian đi vào trong hầm lửa, thì xin thưa
với chư vị rằng ba cái điểm Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên này quá thù thắng,
nhưng mà không giúp ích gì được chúng ta cả. Đời sau chúng ta vẫn bị nạn, mặc
dù ngày hôm nay, giờ phút này, chúng ta niệm Phật.

Niệm Phật mà không quyết
lòng
về Tây-Phương thì đây chỉ là ‘‘Nhất Niệm Bất Tương Ưng’’!… Nhất định sẽ không
tương ưng với đại nguyện đức A-Di-Đà Phật, không có cảm ứng!…

Niệm niệm! Mình niệm rất
nhiều! Đến ngày hôm nay đã gần bốn-năm ngày rồi, mình niệm Phật quá nhiều trong
suốt
bảy ngày liên tục. Mình niệm khan tiếng, nhiều lúc cũng có nhiếp tâm.
Nhưng nhiếp tâmbất tương ưng, tại vì con đường mình đi không muốn về
Tây-Phương! Tại sao vậy?… Vì niềm nghi ngờ đã khởi lên trong tâm này, niềm
tin
tưởng không vững. Niềm tin tưởng không vững, thì khi mình đọc ‘‘Nguyện
sanh Tây-Phương Tịnh-Độ trung
’’ chỉ là nguyện thử, là nguyện giả, là nguyện
để khỏi bị mích lòng những vị bên cạnh! Nhất định những lúc chư vị niệm Phật
này, chắc chắn cũng tạo ra cái nhân, nhưng là cái nhân trong vô lượng kiếp sau.
Đau đớn thay!… Một Niệm Tương Ưng đi về Tây-Phương. Nhưng ở đây mình niệm quá
nhiều… Ấy thế mà chỉ vì bất tương ưng, nên không thể về Tây-Phương Cực-Lạc
được! Không trở về Tây-Phương Cực-Lạc, thì xin thưa với quý vị, đời này là mạt
pháp
rồi, cơ hội này là cuối cùng rồi, cuối cùng trong khoảng sáu trăm triệu
năm nữa, lúc đó mới tính gì tính!…

Nhớ cho kỹ, sáu trăm
triệu năm, chứ không phải là sáu mươi triệu năm, hay là sáu triệu năm, thì mới
gặp được đức Di-Lặc-Tôn Phật hạ sinh cứu vớt chúng sanh. Cũng nên nhớ rằng,
muốn được đức Di-Lặc độ chúng ta, thì chúng ta phải là những người có thiện-căn
phước-đức đầy đủ, và phải là con người mới gặp được Ngài, chứ nếu mà nằm trong
hàng ngạ quỷ, trong hàng súc sanh, trong hàng địa ngục… Ôi thôi chịu thua!…

Đức Bổn
Thích-Ca-Mâu-Ni Phật là hàng sư phụ của Di-Lặc Bồ-Tát bây giờ mà cứu chúng ta
không được, thì đừng nghĩ rằng đức Di-Lặc sẽ cứu được chúng ta. Cho nên chỉ cần
một chút sơ ý, niệm bất tương ưng, chúng ta phải trải qua đời-đời kiếp-kiếp bị
đọa lạc!…

Ngộ chỗ này, mình thấy
mình phải đi. Tu phải chuyên… chuyên… chuyên… chuyên nhất. Nếu không chịu
chuyên nhất, nếu ham thích cái này, ham thích cái nọ… nhất định những cái
niệm ngày hôm nay chỉ là những niệm bất tương ưng! Niệm bất tương ưng thì không
về Tây-Phương Cực-Lạc được.

Chính vì vậy mà ngài
Tịnh-Không luôn luôn nhắc nhở người niệm Phật, nhất định phải chuyên nhất,
không được xen tạp. Xen tạp là tối kỵ, đại tối kỵ trong pháp môn Niệm Phật! Vì
xen tạp chính là cái ‘‘Niệm Bất Tương Ưng’’
không được cảm ứng! Không được cảm ứng thì đành rằng phải bỏ đại nguyện của đức
A-Di-Đà Phật mà đi con đường tự lực tu chứng. Với hàng phàm phu như chúng ta,
vạn kiếp, vạn-vạn kiếp nữa quý vị tìm đến kiếp nào để mình về Tây-Phương đây?…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa
Đàm 11)

 Nam Mô A-Di-Đà Phật.

 Ngày hôm qua mình nghe tiếng địa chung của
chị Mơ hay xuất quỉ nhập thần. Ngày hôm nay tiếng địa chung của chị Mơ hình như
là xuất thần nhập thánh. Hay quá! Tán thán, tán thán! Cố gắng lên.

 Ngày hôm qua mình có nhắc đến, một người
nếu thật sự muốn vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc với A-Di-Đà Phật thì đừng bao
giờ quên câu:

Nhất niệm tương ưng, nhất niệm
Phật.

Niệm niệm tương ưng, niệm niệm
Phật
.

Hẳn nhiên, nếu người nào không
muốn về Tây-Phương Cực-Lạc thì khỏi cần nhớ câu này làm chi. Những người nào cũng
muốn về nhưng mà không muốn về đời này, về đời khác sau này thì quên luôn cũng
được, không sao! Không ai nói gì đâu…

Hôm nay nhắc đến một câu của
Phật nói nữa. Phật nói rằng:

Mạt pháp, ức ức
nhân tu hành hãn nhất đắc đạo. Chỉ y niệm Phật pháp môn liễu thoát luân hồi
”.

Câu này Phật nói trong kinh
Đại-Tập. Nếu mà chú ý một chút thì Phật có lúc nói lời này, có lúc nói lời kia.
Chư Tổ nhiều khi tuyên dương lời này, tuyên dương lời kia. Nói về từ ngữ thì
khác với nhau, nhưng ý nghĩa thì hoàn toàn giống nhau. Cho nên từ những câu
này, nếu mà chúng ta ngộ ra bất cứ câu nào cũng được, không cần gì phải chấp
vào một câu.

Thời mạt pháp, vạn ức
người tu hành
”. Nói tu hành là nói những người chúng ta, tất cả bình đẳng.
Hãn” là họa hiếm, khó khăn lắm, may mắn ra… “Hãn nhất” là may
mắn
ra mới có một người, khó tìm lắm mới có một người… một người chứng đắc. “Đắc
đạo
” là người chứng đắc.

Chính vì mấy câu này, nên ngày
hôm trước chúng ta thường nhắc, người niệm Phật chớ nên cầu chứng đắc mà hãy
cầu vãng sanh. Cầu vãng sanh tức là cầu “Nhất niệm tương ưng nhất
niệm
Phật
”, tương ứng với đại nguyện của Đức A-Di-Đà Phật để Đức
A-Di-Đà Phật độ thoát chúng ta. Dù cho đời này ta gặp câu A-Di-Đà Phật quá trễ!
Có nhiều khi quá trễ đến độ mà trước giờ phút chuẩn bị lìa đời kịp thời ngộ ra
liền câu Phật hiệu cũng được. Để chi?… Để chỉ còn là một giây cuối cùng
niệm A-Di-Đà Phật rồi tắt hơi luôn. Tức là “Nhất niệm”, thì cái
niệm này phải tương ứng với cái niệm mà A-Di-Đà Phật đã nói với chúng ta. Tín-Nguyện-Hạnh
niệm Phật để vãng sanh
. Nếu người nào làm được như vậy thì bây giờ
khỏi tu. Hì hì!… Tu làm chi?…

Còn nếu mà mình nghĩ rằng
trong lúc lâm chung mình không niệm được, mình sợ rằng lúc lâm chung mình không
cách nào nhớ câu A-Di-Đà Phật. Nếu không còn cách nào nhớ được, thì chúng ta
hãy dùng câu: “Niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”. Niệm niệm từ
bây giờ đến ngày lâm chung là niệm câu A-Di-Đà Phật, tiếp tục mà niệm, gọi là “Tịnh
Niệm Tương Kế
”. Đây là lời của ngài Đại-Thế-Chí.

Mình thấy rõ ràng, chư đại
Bồ-Tát, chư Phật nói giống giống nhau, không có gì khác nhau.

Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni nói
rằng thời mạt pháp này ức triệu người tu hành, nhưng mà khó tìm ra một người
đắc đạo. Ngài không phải là chỉ nói cho quả địa cầu này không đâu. Nên nhớ rằng
đức Thích-Ca Ngài nói ra một lời là tam thiên đại thế giới ghi nhận. Xin nhớ kỹ
điều này, phải ngộ ra điều này. Ức triệu người tu hành, tìm một người đắc đạo
tìm không ra đâu à!

“Y” là y giáo; “Chỉ” là duy
trừ. Duy trừ những người nào nương theo pháp niệm Phật. “Chỉ y niệm
Phật
pháp môn liễu thoát sanh tử luân hồi
”, nghĩa là người đó được
thoát đường sanh tử luân hồi.

Chính vì vậychúng ta hôm
nay có cái cơ duyên gặp được pháp niệm Phật, thì xin chư vị đừng nên lơ là,
đừng nên sơ ý, đừng nên háo kỳ, đừng nên để cái tâm của mình nó duyên theo cảnh
giới
, nó duyên theo chúng sanh, nó duyên theo “Ức ức người tu hành hãn
nhất đắc đạo
” kia. Mà chúng ta hãy duyên theo cảnh giới Tây-Phương
Cực-Lạc. Tại vì Nhân Duyên ta phải tròn đầy,
phải hợp với nhau mới sinh ra cái “Quả”.

Chúng ta mấy ngày hôm nay nói
về Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên. Do cái Thiện-Căn, Phước-Đức
của chư vị tu được từ hồi nào không biết, bây giờ gặp đến cái Nhân-Duyên này,
là Nhân-Duyên niệm Phật. Tức là có cái Nhân niệm Phật, nhưng cũng nên coi chừng
cái Duyên, đừng sơ ý lạc mất Duyên mà chúng ta cũng có thể phải trôi lăn trong
lục đạo luân hồi tiếp.

Chỉ y pháp môn Niệm
Phật
”. Chỉ y pháp môn Niệm Phật chính là “Chỉ y
Tín-Hạnh-Nguyện niệm Phật
“, đừng nên sơ ýcoi chừng vượt
qua
cơ hội này.

Về chuyện niệm Phật vãng sanh,
chư Tổ có nói: Có người niệm Phật được vãng sanh là do cái Nhân
niệm Phật đã có. Cái Duyên vãng sanh ta có thì cái Quả
về Tây-Phương ta sẽ có. Ví dụ chư vị đang niệm Phật là có cái nhân niệm Phật.
Bây giờ xin hỏi cái duyên này là gì? Chính là ta phải tạo cơ hội cho tâm của ta
dính chặt trên con đường về Tây-Phương Cực-Lạc, đừng có rời ra.

Như vậy, khi niệm Phật
chúng ta lơ là cái chuyện nguyện vãng sanh thì vô tình chúng ta có cái Nhân
Niệm Phật
, nhưng mà mất cái Duyên đi về Tây-Phương.
Không đi về Tây-Phương, thì Nhân Niệm Phật này có thể nó biến thành cái quả
khác. Quả gì?… Nếu chư vị tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến không còn nữa,
tài-sắc-danh-thực-thùy không còn nữa, tu rất là ngon lành, rất là thiện lành, cái
nhân niệm Phật này nó sẽ giúp cho chư vị một cái quả báo gọi là quả báo
Nhân-Thiên, có thể đời sau sinh vào các hàng vua chúa. Hì hì!… Thấy sướng
chưa? Cũng sướng đó chứ!…

Nhưng nên nhớ, những người
sinh làm ông vua thì cũng ngon lành một chút đó nha. Nếu ngũ dục lục trần bỏ
đi, tài sắc danh thực thùy bỏ đi, thì có thể sinh thành ông vua mà cũng có thể
sinh trên cõi trời, cũng ngon lành lắm. Đây là những người niệm Phật có “Nhân”
mà thiếu “Duyên”. Nếu thiếu cái duyên vãng sanh Tây-Phương và thiếu luôn cái
duyên phước báu Nhân-Thiên, thì lỡ nó gặp cái duyên đi về các chỗ tai hại trong
tam ác đạo rồi thì chết!…

Như vậy, niệm Phật mà cũng phải coi chừng! Coi chừng cái
gì vậy?…

Tham sân si mạn… nổi lên
ào ào!

Cống cao ngã mạn nổi lên ào
ào!

– Cho ta là chứng đắc nổi lên
ào ào!

Tất cả những thứ này là cái
duyên vào trong tam ác đạo hết. Dễ sợ!… Xin đừng nên sơ ý. Phải cẩn thận!…

Bây giờ những người gặp được
ban hộ niệm, nguyện vãng sanh Tây-Phương tha thiết… tất cả đều thuộc về duyên.
Muốn vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc nhưng phương pháp tu hành không chịu chuyên
nhất
, niệm Phật không chịu tha thiết… Ngày nay thì niệm Phật, ngày mai thấy
người kia làm gì đó hay hay nên mình cũng chạy theo làm cho nó ra vẻ ngon ngon
một chút… Vô tình mình đã chạy theo đoàn người gọi là “Ức ức nhân tu hành,
hãn nhất đắc đạo
” rồi! Đây là mình có cái duyên, tức là giả sử như cuối đời
mình có người bên cạnh hộ niệm. Có nhân là bám sát vào cái đạo tràng của anh
Tâm Nhật Thuyết, nhưng mà cái tâm tu hành của mình trong lúc niệm Phật đã bị
xao lãng rồi. Mình nghĩ tại sao cứ niệm A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật hoài? Tại
sao các thứ khác mình không tu? Tại sao các câu chú khác mình không niệm?… Có
nhân có duyên mà niềm tin không vững! Vô tình chúng ta đã quên mất câu Phật dạy
rồi: “Nhất niệm tương ưng nhất niệm Phật. Niệm niệm tương ưng niệm
niệm
Phật
“.

Ta đã quên câu: Người
nào chỉ y theo pháp môn Niệm Phật mới thoát luân hồi
.

Y theo pháp môn Niệm Phật
chính là “Tín-Hạnh-Nguyện” cho đầy đủ.

Vì thế, xin thưa với chư vị,
cơ hội vãng sanh về Tây-Phương ở sát bên mình, nhưng vì cái tâm chúng ta bị xao
lãng
rồi nên mất phần vãng sanh! Trong kinh Phật có đưa ra dạng “Tâm viên
ý mã
”. Tâm không chịu định một chỗ, không chịu trụ một nơi, không đi
theo
đúng đường. Thường thường người niệm Phật mà không được về Tây-Phương
chính vì vướng vào lỗi này. Nghĩa là tu theo tình cảm, không chịu tu theo con
đường
quyết lòng đắc đạo, không chịu quyết lòng đi về Tây-Phương, không chịu
quyết lòng thành đạo…

Xin chư vị, mấy ngày hôm nay
Diệu Âm cứ nói quần qua quần lại điểm này là để làm sao khởi phát cho được
trong mỗi chúng ta một niềm tin. Phải có niềm tin vững như tường đồng vách sắt
mới được.

Người ta không muốn niệm Phật,
vì người ta không muốn về Tây-Phương. Ta muốn về Tây-Phương cho nên ta quyết
lòng
không đi theo họ. Họ không muốn về Tây-Phương, nên họ không quyết lòng
theo ta… Tất cả đều phải tùy duyên, chứ đừng nên nói rằng: “Thấy anh không
muốn về Tây-Phương, thì tôi cũng không về Tây-Phương nữa làm chi, để cho chúng
ta
được đồng nghĩa, đồng tình!
”. Hoàn toàn sai lầm!…

Tôi không kêu mời anh đi về
Tây-Phương làm chi đâu! Tôi chỉ biết rằng đi niệm Phật để về Tây-Phương là tại
vì…

Tôi muốn về Tây-Phương…

– Tôi thèm về Tây-Phương…

– Tôi thích về Tây-Phương…

– Tôi trông gặp được A-Di-Đà
Phật để một đời này thành đạo
.

Có nhiều người nói rằng, tôi
không muốn về Tây-Phương, tôi không muốn gặp A-Di-Đà Phật, tôi muốn ở lại trong
cõi Ta-bà để kết duyên với vô lượng vô biên chúng sanh… thì cái nguyện của họ
là muốn kết bạn với vô lượng vô biên chúng sanh để tiếp tục chịu khổ với nhau
cho chung tình, cho trọn nghĩa! Thì ta cũng phải có một quyết định cứng rắn
rằng: “Tôi quyết định về Tây-Phương, để tôi gặp chư đại Thánh Chúng, tôi
gặp chư Phật, chư Bồ-Tát”.
Để chi vậy?… Đồng tình đồng nghĩa với các
Ngài, để sau này đi cứu những người không chịu về Tây-Phương, vì họ sơ ý phải
trải qua một thời gian quá ư đau khổ!.. Nhưng nên nhớ, họ phải ngộ ra mới được.
Phải Ngộ ra rồi, thì lúc đó tôi mới cứu họ về Tây-Phương được. Nếu họ vẫn không
ngộ thì cũng chịu thua!… Còn bây giờ thì mỗi người có mỗi đường đi…

Mong chư vị hiểu được như vậy
thấy rằng, với khả năng của một người phàm phu tục tử như chúng ta, thì hãy
nhớ tới câu: “Mạt pháp, ức ức nhân tu hành”. Nghe cho kỹ, ức ức nhân tu
hành là chính chúng ta đây này. “Hãn nhất” là khó lắm! Khó tìm ra một người
được đắc đạo. Mà cái đắc đạo ở trong lời nói của Phật này là thoát qua sanh tử
luân hồi
, là vượt qua tam giới. Duy chỉ có một người nào nương theo pháp niệm Phật
mới thoát luân hồi được…

– Nương là phải nương cho
đúng.

– Nương cho chính.

– Nương cho thẳng.

– Nương cho chính xác!…

Không được phá giới của pháp
Niệm Phật nhé. Ví dụ như…

– “Đa tạp” là phá giới của
pháp môn Niệm Phật.

– “Nghi ngờ” là phá giới của
pháp môn Niệm Phật.

– “Sân giận” là phá giới của
pháp môn Niệm Phật.

– “Không thèm vãng sanh” là
phá giới của pháp môn Niệm Phật.

Những người nào y theo, gọi là
Chỉ y niệm Phật pháp môn”, thì người đó thoát luân hồi.

Xin thưa thoát luân hồi chỉ là
vượt qua tam giới, chưa cao mấy đâu. Niệm Phật còn được thoát luôn về tới
Tây-Phương Cực-Lạc để thành đạo Vô-Thượng…

Cho nên hiểu được như vậy,
mong chư vị càng ngày càng vững tâm. Nhất định đi đường nào một đường. Không
được nói một nửa về Tây-Phương một nửa ở lại Ta-bà. Không được đâu! Về
Tây-Phương rồi ta mới có quyền nói câu đó, vì về được Tây-Phương rồi ta mới có
thể phân thân xuống đây, lúc đó muốn làm gì thì làm. Chứ bây giờ chưa về được
Tây-Phương, thì nhất định một đường đi về Tây-Phương phải thẳng tắp. Có thẳng
tắp
như vậy thì hy vọng trong đời này ta mới có thể gặp A-Di-Đà Phật để mà đắc
đạo
. Chứ người nào còn lơ lơ làđi theo cá nhân, tu theo tình cảm,
thì nhất định bây giờ có tới gặp cư sĩ Tâm-Nhật-Thuyết ngày ngày đi nữa, niệm
Phật
ngày đêm tại Niệm Phật Đường Liên-Hoa này đi nữa, thì cũng chỉ kết thêm
một chút duyên lành trong vô lượng kiếp nữa rồi mới tính?…

Mong chư vị không dại gì một
đời
này có khả năng về được Tây-Phương lại không đi, mà chờ đến vạn kiếp sau
mới đi về… Thật sự là oan uổng lắm!… Xin chư vị nhớ cho.

Nhất định một câu A-Di-Đà Phật
để về tới Tây-Phương trước rồi tính sau.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa
Đàm 12)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Trong kinh Phật Thuyết A-Di-Đà
có câu là: “Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên đầy đủ mới được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
.

Trong kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ, Phật nói có câu: “Thâm tín nhân quả”. Nhân quả trong kinh
Quán-Vô-Lượng-Thọ là: “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”.
Như vậy niệm Phật là “Đại Nhân-Duyênthành Phật là “Đại
Quả-Báo
”.

Hai lời này từ trong kinh
A-Di-Đà và kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ hình như có sự liên kết với nhau…

Trong kinh A-Di-Đà Phật
nói “Người nào thiếu Thiện-Căn, ít Phước-Đức, ít Nhân-Duyên không thể vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc được
”. Có nghĩa là thiện-căn, phước-đức và
nhân-duyên phải đầy đủ, phải viên mãn mới vãng sanh. Rồi khi chúng ta coi trong
kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ Phật nói “Thâm tín nhân quả” tức là tin cho sâu.
Sâu chỗ nào?… Niệm Phật là “Đại Nhân”, thành Phật là “Đại Quả”.
Hình như là giữa hai lời kinh trong hai kinh bổ nghĩa với nhau.

Có Thiện-Căn, có
Phước-Đức trong quá khứ mới đưa đến cái cơ hội ngày hôm nay chúng ta niệm Phật.
Cũng bao nhiêu người niệm Phật như vậy, người nào trân quý vào cái cơ hội niệm
Phật
này chính là có chữ “Nhân”. Rồi tới chữ “Duyên”, thì ở trong kinh
Quán-Vô-Lượng-Thọ không nói đến chữ duyên. Nhưng mà đem chữ “Nhân” và “Duyên”
trong kinh A-Di-Đà kết hợp với chữ “Nhân-Quả” trong kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ, thì
ta có được đầy đủ ba thứ Nhân-Duyên-Quả báo. Rồi trong kinh Hoa-Nghiêm, Phật
nói, “Nhân-Duyên quả báo tơ hào không sai”.

Thật ra, trong kinh từng
lời, từng lời Phật nói giống nhau chứ không phải khác nhau. Trong kinh
Quán-Vô-Lượng-Thọ, Phật nói niệm Phậtđại nhân. Bây giờ chúng ta ở đây đang
niệm Phật, chúng ta đang làm cái đại nhân đó. Phật nói có đại nhân rồi, chúng
ta
phải cần đến cái duyên để nó sinh ra cái quả. Có những người có thiện-căn,
có phước-đức, có nhân-duyên viên mãn, họ đã có được tất cả những cái này rồi,
nhưng trong tâm của họ vẫn còn có sự hồ nghi rằng: “Đâu có chuyện vãng sanh
dễ dàng như vậy?”…
Vô tình cái nhân gọi là thiện-căn và phước-đức đã đưa
đến cái quả báo của ngày hôm nay là ta niệm được câu A-Di-Đà Phật, thay vì ta
lấy cái nhân này để đi thành Phật, nhưng vì nghi ngờ rằng cái nhân trong quá
khứ
của ta không đủ, rồi cái cơ hội niệm Phật này cũng không đủ sức, nên tâm
hồn
sinh ra chao đảo!… Vì tâm hồn chao đảo nên ta không chú tâm bồi dưỡng cái
duyên ngày hôm nay, vô tình để cho những cái duyên khác chen vào…

Ta đang niệm Phật
đại-nhân. Ta không tạo cái đại-duyên, nên câu A-Di-Đà Phật không trở thành
quả-báo vãng sanh. Mà công phu niệm Phật ngày hôm nay nó chuyển thành thứ Phước-Báu
Nhân-Thiên
.

Trong kinh Vô-Lượng-Thọ,
Phật nói những người niệm Phật thành tâm mà không cầu vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc, thì cái quả báo Nhân-Thiên của họ ở đời sau lớn lắm, thường thường
sinh vào trong hàng vua chúa, làm tổng thống, làm thái tử ở trong cõi Ta-bà
này.

Ấy thế, cũng là một người
niệm Phật mà khi họ gặp được cơ hội này, họ quyết lòng đem cái nhân này cầu
nguyện
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, thì lời nguyện vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc chính là cái duyên, họ đem tất cả cái nhân này gởi về Tây-Phương hết,
ngoài ra không đi chỗ nào nữa.

Cho nên cũng là một người
niệm Phật như vậy là đại nhân, nhưng mà người ta tạo ra cái đại duyên, không để
cho cái duyên nào khác bên ngoài xen vào, thì cái “Nhân” hợp với
cái “Duyên” lúc nào nó thành ra cái “Quả” lúc đó.

Trong đời này ta niệm
Phật
là có đại nhân, ta quyết lòng đem cái nhân này đi về Tây-Phương Cực-Lạc
tức là nguyện vãng sanh, rõ ràng “Nhân” gặp “Duyên” sinh ra “Quả báo” vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc. Còn nhân này là nhân thành Phật, nhưng ta bỏ con đường
vãng sanh thành Phật, lại chờ vài ngàn kiếp nữa mới nguyện vãng sanh về
Tây-Phương… Thật là oan uổng!

Trong những tọa đàm
trước, Diệu Âm có nói câu này, có nhiều người nghĩ rằng cần phải tu thiện tích
phước cho nhiều mới có khả năng vãng sanh, chứ làm gì mà vãng sanh dễ vậy? Vì
tự nghĩ thế nên mới dẫn dụ người ta hãy niệm Phật để cầu phước. Cầu cho có
phước rồi thì đời sau tiếp tục tu tiếp, chủ trương tiếp tục tu dưỡng phước-đức
đến vô lượng kiếp như vậy, mong cho đủ phước để vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc!… Thì trong kinh cũng có nói rằng, một người nào trong đời này gặp
câu A-Di-Đà Phật, niệm được câu A-Di-Đà Phật, chứng tỏ trong vô lượng kiếp về
trước họ đã tu thiện phước nhiều lắm rồi, lớn lắm rồi, thiện-căn phước-đức đã
có rồi, khiến cho đời này họ mới dám mạnh dạn mặc cái áo tràng, vào trong Niệm
Phật
Đường niệm câu A-Di-Đà Phật. Phật đã xác định như vậy, bây giờ chúng ta
ngồi đây niệm Phật mà còn nghĩ rằng mình không có nhân-duyên, mình không có
phước-đức?!…

Nghe trong các kinh khác,
Phật nói muốn về Tây-Phương Cực-Lạc, muốn thành đạo Vô-Thượng phải tu vô lượng
kiếp
, thành ra quý vị cũng dẫn dắt chúng sanh tu vô lượng kiếp. Nhưng xin hỏi
rằng, đời này mình tu như thế này, đời sau nếu mình được trở lại làm người,
liệu có ai chỉ cho mình câu A-Di-Đà Phật để niệm nữa hay không? Đó là điểm thứ
nhất.

Theo như ngài Ấn-Quang
Đại Sư nói, giả sử như đời sau mình không trở lại làm người thì sao?… Ngài
nói, nhờ có thiện-căn phước-đức lớn lắm mình mới gặp câu A-Di-Đà Phật. Tuy
nhiên
, đã sinh lại làm người trong thời mạt pháp của đức Thế-Tôn rồi, thì
nghiệp chướng của chúng ta nó cũng tràn trề chứ không phải là yếu đâu, không
phải nó thua cái thiện-căn đó đâu à!…

Nếu khôn khéo, mình nhanh
chóng, gấp rút gom hết tất cả những thiện-căn phước-đức trong nhiều đời nhiều
kiếp dồn vào đây để niệm câu A-Di-Đà Phật, thì ngày hôm nay ta có đại nhân để
đi về Tây-Phương. Đi về Tây-Phương rồi thì ta sẽ có được tất cả. Tu hành như
vậy thì ta đi con đường một đời thành tựu!…

Nếu bây giờ chúng ta chê
bai những công hạnh tu hành trong quá khứ, cứ liệng, liệng cho hết, buông xuống
cho trụi lủi đi những thiện-căn trước của mình!… Hoặc là chê bỏ nó đi!… Cứ
việc chê bỏ đi!… Chê bỏ rồi tiếp tục lăn lộn trong cảnh sanh tử này mà tạo
thiện-căn mới… Chưa biết thiện-căn mới sẽ như thế nào? Nhưng ta đành chịu thêm
cảnh sanh tử luân hồi vô lượng kiếp nữa!… Thì đây cũng chính là ta quyết định
lấy, chứ Phật không dạy như vậy!…

Bây giờ giả sử như một
người không đủ thiện-căn phước-đức đi. Hỏi họ, muốn tạo thêm không? Xin thưa
với chư vị, muốn tạo cũng dễ lắm!… Dễ lắm!… Dễ chỗ nào?…

– Một câu A-Di-Đà Phật
thành tâm niệm thì phước tăng vô lượng, phước-đức tràn trề!

– Một câu A-Di-Đà Phật
quyết lòng mà niệm Thiện-Căn tràn trề!

– Một câu A-Di-Đà Phật mà
niệm gọi là Đại-Nhân-Duyên…

Nhất định ta được trở về
Tây-Phương Cực-Lạc. Đó gọi là “Thâm tín nhân quả”…

Nếu mà chúng ta không tin
rằng ta niệm một câu A-Di-Đà Phật là do một cái nhân-duyên vô cùng vĩ đại,
cùng
tốt đẹp trong quá khứ, mà chỉ nghĩ rằng: À! Người ta niệm, mình cũng
niệm cho vui!…
Thì xin thưa thật, ở đây có một trăm người, nếu có một
người nào nghĩ rằng niệm câu A-Di-Đà Phật để tìm thêm chút phước-báu, là tự họ
đã tách rời con đường thành tựu, đi theo con đường phước-báu để chuẩn bị chịu
dập dềnh, dập dềnh vô lượng kiếp nữa trong sanh tử luân hồi rồi mới tính sau.
Không biết trong vô lượng kiếp đó tình cảnh của họ sẽ như thế nào?…

Hồi sáng mình nói rõ
rệt!… Lỡ lọt lại đời sau mà có được làm thân người đi nữa!… Làm người trong
thời mạt pháp này thì sao?… Mạt pháp của Phật pháp có nghĩa là một đời Phật
pháp
sẽ yếu hơn một đời. Bây giờ chúng ta đã gặp cơ duyên niệm Phật trong cái
thế mạnh hơn của Phật pháp, mà ta không chộp lấy cơ hội này để mau chóng đi về
Tây-Phương, lại còn có ý niệm chờ đến đời sau!… Chờ khi mà Phật pháp yếu đi!…
Chờ cho nghiệp chướng của ta nặng hơn!… Hỏi rằng chúng ta còn có cơ hội để đi
về Tây-Phương thành đạo Vô-Thượng được nữa sao?…

Khi hiểu được chỗ này,
thì chư vị mới thấy rõ ràng là ta ngồi đây niệm câu A-Di-Đà Phật, thật sự ta
đang ở trên con đường thẳng bưng đi về Tây-Phương. Nếu ta đem tất cả thiện-căn
phước-đức và nhân-duyên niệm Phật này để dồn vào việc vãng sanh trong một đời
này. Nhất định đây là con đường tốt nhất, không có đường nào khác tốt đẹp hơn.
Đó gọi là “Thâm tín nhân quả”.

Đừng dại gì dùng cái sơ
tín hay cái nông tín, nông tín là niềm tin cạn cợt đó, mà niệm Phật hầu tạo
thêm phước để đời sau tu tiếp nhé. Không nên làm như vậy! Làm vậy sẽ tội nghiệp
cho huệ mạng của mình lắm!…

Vì sao?… Vì xin thưa
rằng, dù thế nào đi nữa, tương lai ta có thiện-căn phước-đức lớn như thế nào đi
nữa? Điều này chưa biết! Nhưng bên cạnh đó oan gia trái chủ của chúng ta đang ở
sát bên mình đây nè!… Tuy rằng là người tu hành, nhưng anh không quyết lòng
đi về Tây-Phương thì họ cũng không quyết lòng buông xả những oán thù mà chúng
ta
đã gây cho họ đâu!…

Tại vì sao?… Tại vì
những người còn kẹt lại trong chốn lục đạo này thì không đủ khả năng trả cái
món nợ sinh mạng của họ đâu ạ! Không trả món nợ sinh mạng cho họ, thì nên nhớ
cho, nhất định họ không phải là Thánh đâu ạ!… Họ không phải là Phật đâu ạ!…
Mà họ là một phàm phu đã bị chúng ta sát hại! Tâm phàm phu là tâm chấp trước
nặng lắm! Tâm oán thù của họ mạnh lắm!… Họ không đành lòng tha thứ cho người
cắt thịt, lột da họ đâu à!…

Nghĩ thử, chính ta là
người đây này, cũng có lý trí đây này… Nhưng một người nào đó lỡ đụng chạm
tới tự ái của chúng ta một chút thôi, mà ta còn căm thù lên, căm thù xuống tới
mức không biết ngày nào mới có thể xả được! Nhiều khi người ta tới tạ tội,
người ta quỳ lạy mình để xin lỗi mà mình cũng không chịu tha thứ!…

Con người đó!… Có
trí
đó!… Có tâm hồn đó!… Mà còn tệ như vậy đó!… Đừng nói chi những chúng
sanh
yếu hơn mình, họ mê muội hơn mình mà mình sát hại họ?!… Chính vì vậy
oan gia trái chủ của chúng ta, xin thưa với chư vị, nếu một đời này mà họ biết
rằng mình không phải là người đi thành Phật, thì không dại gì họ lại tin tưởng
ở một người còn tham đắm cõi trần này đâu à! Một người đời này có khả năng
thành tựu, trước tự giải thoát, sau cứu được oan gia trái chủ giải quyết oán
thù, đền trả nợ nần mà không thèm đi, lại chờ, lại hẹn vài ngàn kiếp nữa!…
Không ai dại khờ gì đi tin sự khất nợ phiêu phỏng của hạng người phàm phu tham
chấp này đâu à!…

Chính vì thế, ách nạn
cũng tại đây, mà giải ách nạn cũng tại đây. Nếu chúng ta quyết lòng thành tâm
đi về Tây-Phương thành Phật, thì một lời nói khuyên nhủ điều giải oan gia trái
chủ sẽ giải quyết nhẹ nhàng, thoải mái. Nếu chúng ta không chịu về, ngập ngừng,
chập chững… thì lời điều giải sẽ không có ảnh hưởng gì hết! Chính vì thế, mà
nạn tai hay là phước báu, Cực-Lạc hay là đọa lạc… đều ở từ trong tâm này mà
ra hết.

Nếu chúng ta quyết lòng
đi về Tây-Phương, trên thì A-Di-Đà Phật phóng quang tiếp độ, dưới thì oan gian
trái chủ hộ trì, giữa thì chư Thiên-Long Hộ-Pháp chuẩn bị bảo vệ cho chúng ta
con đường đi thành Phật… Còn nếu chúng ta rời khỏi con đường vãng sanh thành
đạo
, tức là chúng ta đi theo con đường đọa lạc, không bao giờ có một vị
Long-Thiên Hộ-Pháp nào lại đi bảo vệ một người còn muốn trôi nổi trong lục đạo
luân hồi
đâu! Không có một vị Bồ-Tát nào lại bảo vệ cho một người muốn đi xuống
dưới tam ác đạo để thọ nạn đâu!

Chính vì thế, chúng ta
hãy ráng cố gắng quyết lòng niệm câu A-Di-Đà Phật. Chư vị nhìn đi… Đó!…
A-Di-Đà Phật đó! Ngài sẽ gởi hai mươi lăm vị Bồ-Tát đến bảo vệ cho chúng ta
liền. Hai mươi lăm vị Bồ-tát ngày đêm gia bị và không biết là bao nhiêu chư
Thiên-Long Hộ-Pháp bảo vệ chúng ta. Chúng ta đi con đường an lành, thanh thản
về Tây-Phương vừa thành Phật, trên thì tròn Phật đạo, dưới phổ độ chúng sanh.
Cơ hội này biết bao nhiêu là sung sướng…

Mong cho chư vị lấy cái “Nhân-Duyên
này nhất định đi về Tây-Phương thành đạo nghe chư vị.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa
Đàm 13)

Nam Mô A Di-Đà Phật.

Hôm nay là này thứ hai đồng tu
niệm Phật tinh tấn tại Leipzig. Ngày hôm nay riêng cá nhân Diệu Âm niệm Phật
cũng hay, đó là nhờ hai vị đánh địa chung hay quá!… Thật sự bất khả tư nghì!
Tán thán, tán thán!…

Ấy thế mới biết là khi chúng
ta
tu hành thì tự nhiên có chư Phật, Bồ-Tát gia trì, chư Long-Thiên Hộ-Pháp bảo
vệ
. Chúng ta cứ vững như vậy mà đi. Quan trọng là lòng thành chúng ta không thể
nào thối chuyển. Tất cả những lời nói của Diệu Âm cũng chẳng qua là làm sao
khuyến tấn cho người niệm Phật không bị thối chuyển.

Niềm tin vững vàng thì người
niệm Phật sẽ vãng sanh. Niềm tin bị chao đảo thì người niệm Phật mất vãng sanh!

Niệm Phậtniềm tin chao
đảo
, thay vì hưởng một đại phước-báu đi về Tây-Phương để đời-đời kiếp-kiếp được
an vui, cực lạc, thành tựu đạo quả, thì ta có thể chỉ hưởng một chút phước-báu
nào đó trong cõi nhân gian này, gọi là phước-báu Nhân-Thiên. Từ một cái đại
phước-báu để thành tựu đạo quả, an vui cực lạc vô lượng vô biên, vô sanh vô tử,
biến thành hưởng lạc một quãng thời gian rất ngắn trong cảnh khổ đau, để rồi
tiếp tục chịu vạn kiếp khổ đau! Thật là một điều quá sức oan uổng!

Ngày hôm qua chúng ta nói về
thiện-căn, phước-đức, nhân-duyên. Phật dạy: “Thiểu Thiện-Căn, thiểu
Phước-Đức, thiểu Nhân-Duyên thì không thể về Tây-Phương Cực-Lạc được”
. Lời
này có nhiều người không hiểu rõ, tạo nên nghi vấn nhiều khi không giải tỏa
được! Hôm nay Diệu Âm lấy một lời trong kinh Vô-Lượng-Thọ ra để chúng ta coi
thử có phải hình như là Phật đã giải đáp cho chúng ta rõ ràng rồi không?…

Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật
nói một người trong đời này gặp được câu A-Di-Đà Phật, niệm được câu A-Di-Đà
Phật, thì người đó trong vô lượng kiếp đã tạo ra một thiện-căn phước-đức sâu
dày. Nhờ thiện-căn phước-đức đó mới phát tâm niệm được câu A-Di-Đà Phật cầu
sanh Tây-Phương Cực-Lạc.

Cho nên khi muốn giải cho đúng
nghĩa, chúng ta không thể nào quên ba bộ kinh của Tịnh-Độ. Thật ra trong các
kinh, Ngài giải đáp hết rồi mà chúng ta không hay.

Chúng ta hôm nay ngồi đây niệm
Phật
, ta cứ lo âu rằng không biết mình có đủ thiện-căn phước-đức hay không? Thì
trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật nói, người nào nghe câu A-Di-Đà Phật mà phát lòng
tin
tưởng, niệm câu danh hiệu A-Di-Đà Phật cầu về Tây-Phương, thì đây là do
thiện-căn phước-đức của cá nhân người đó được tu bồi đến vô lượng vô biên bất
khả tư nghì
từ trong vô lượng kiếp rồi mới gặp được trường hợp hôm nay.

Chư vị nghĩ coi có phải là
trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật đã giải thích mối nghi cho người niệm Phật hôm nay
hay không?

Diệu Âm cứ lấy kinh của Phật
ra mà giải, để củng cố niềm tin cho người niệm Phật chúng ta, nhất định không
được thối chuyển. Vãng sanh hay không nằm tại điểm này đây.

Trong kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ,
Phật có nói một câu rất ngắn, nhưng có huyền nghĩa rất sâu! Phật nói: “Thâm
Tín
Nhân Quả
”. Nhân-Quả ở tại đây không phải là thứ nhân-quả bình
thường
, mà chính là “Niệm Phật là Nhân, thành Phật là Quả”. Từ
ba kinh này hợp lại, mình sẽ thấy rõ ràng một con đường đi từ đây cho đến ngày
về Tây-Phương hình như không còn có một điểm nào làm cho chúng ta thối chuyển
nữa. Phật đã giải thích rất rõ rệt!…

Một là nếu thiện-căn phước-đức
mà ít thì không thể nào đi về Tây-Phương được đâu! Có nghĩa là đi về Tây-Phương
được là do đại Thiện-Căn, là đại Phước-Báu, đây là điều quý vô cùng quý, quý
nhất!… Trên vũ trụ nhân sinh này không có cái gì quý hơn. Xin chư vị đừng nên
sơ ý. Đừng có nghĩ rằng là về Tây-Phương là để nằm ngủ. Có
nhiều người nói rằng, đây chúng sanh khổ quá không ở lại
cứu độ họ, mà lại tìm cách đi về Tây-Phương để nằm ngủ!… Hì hì!… Ở đây ngủ
không được hay sao mà lại đi về Tây-Phương để ngủ? Người ta tưởng công đức đi
về Tây-Phương quý giá như một giấc ngủ!…

Có người lại nói, ở đây chúng
sanh
khổ quá không chịu cứu độ, lại tìm cách về trên Tây-Phương để trốn!…
Người ta tưởng vãng sanh về Tây-Phương giống như là một cuộc chạy trốn! Đâu có
chuyện dễ dàng như vậy? Trong vô lượng kiếp tu hành rồi, công đức đã bồi dưỡng
rồi đến hôm nay mới gặp được cơ hội này và một đời đi về Tây-Phương thành tựu
đạo quả. Nếu đánh giá chuyện về Tây-Phương nhẹ nhàng như vậy, thì tự mình thay
vì về trên Tây-Phương hưởng đời-đời an vui cực lạc, mà còn cứu được vô lượng
biên
chúng sanh, tạo công đức vô lượng vô biên, lại biến thành một người đi
trốn, một người đi ngủ, hoặc một người tạo một chút phước báu nào hữu lậutại
thế
gian để hưởng, hưởng trong phần đoạn sanh tử một vài chục năm, hay hai-ba
năm gì đó, hay là hưởng một cái danh cái vọng hão huyền gì đó!…

Diệu Âm hôm trước có nói với
quý vị niệm Phật mà không cầu đi về Tây-Phương sau này làm con ông vua, trong
kinh Vô-Lượng-Thọ có nói. Mà thật ra muốn đời sau được làm ông vua là phải tu
thiện
tích đức nữa nghen chư vị, chứ niệm Phật mà không tu thiện tích đức thì
bị ngài Quán-Đảnh Đại Sư phán cho một câu chới với! Ngài phán làm sao?… “Niệm
Phật
coi chừng xuống địa ngục!
”. Ngài nói một câu như vậy!…

Tại sao như vậy?… Tại vì…

Niệm Phật mà không buông xả
chấp trước!…

Niệm Phật mà không chịu
buông xả phân biệt!…

Niệm Phật mà không chịu
buông xả thị phi.

Niệm Phậtcạnh tranh,
ganh tỵ, đấu tranh… rùm beng lên hết.

Cho nên hiểu kinh cần phải
hiểu cho liễu nghĩa, đừng bao giờ sơ ý. Đừng cho là niệm Phật như vậy rồi thì
đời sau chúng ta sẽ được thành ông vua. Làm ông vua cũng sướng chứ! Đâu biết
rằng, niệm Phật để tham làm ông vua đó hả? Ngài Tịnh-Không nói hễ có tâm tham
thì thành ngạ quỷ! Thành ngạ quỷ là do tâm tham, chứ Phật không đặc biệt nói
tham gì. Niệm Phật mà tham! Có nhiều người còn suy nghĩ sai lầm vô cùng ở điểm
này!

Chính vì vậy, khi đem ba lời
nói
của Phật trong ba kinh ra để giảng nghĩa cho ba chữ Thiện-Căn, Phước-Đức,
Nhân-Duyên này, Không biết là những ngày ở đây tôi có nói hết được ý nghĩa của
sáu chữ này không? Nếu hiểu thấu được rồi, thì chỉ cần sáu chữ này thôi mà pháp
giới vô lượng
vô biên hình như chứa trọn trong đó.

Một người không biết là mình
có đủ thiện-căn phước-đức hay không là do cái niềm tin chưa được tô bồi. Niềm
tin
chưa được tô bồi thì thiện-căn phước-đức nhiều đời nhiều khi có rồi mà mình
bỏ quên chỗ nào đó. Khi trí huệ của mình chưa khai mở, thì có một viên ngọc
Như-Ý đáng giá liên thành mà mình không biết, lại liệng nó vào trong cái hồ cá
của anh Tâm Nhật Thuyết. Viên ngọc bị nhận chìm tận dưới đáy, lâu ngày rong rêu
bao phủ! Những con cá ngày ngày bơi đùa giỡn chơi với viên ngọc, nhưng chúng
đâu có để ý gì đến viên ngọc đó! Một viên ngọc vô cùng quý giá bị bỏ quên, âm
thầm nằm dưới lớp rong rêu!…

Bây giờ đây chúng ta có cái
thiện-căn phước-đức. Như trong kinh Vô-Lượng-Thọ nói, một người nào trong một
đời
này gặp câu A-Di-Đà Phật mà tự nhiên tỉnh ngộ… Thì thật ra, sự tỉnh ngộ này
không phải là việc ngẫu nhiên đâu. Cho nên khi mình gặp được cơ hội này, tự
mình cũng cảm thấy có phần nào được an ủi. Nghĩa là, nhất định ta có thiện-căn
phước-đức sâu dày rồi. Thiện-căn phước-đức này nhất định nó sẽ là cái “Nhân” để
đưa ta về trên Tây-Phương. Lúc đó “Nhân-Quả” đã hoàn toàn viên mãn, không còn sơ
suất nữa.

Nhưng tại sao lại có người
niệm Phật mà không được vãng sanh?… Vì thiện-căn phước-đức chưa dồn tới kịp,
nên trí huệ của họ chưa phát sinh. Nếu hiểu được như vậy, thì chúng ta hãy tập
tánh khiêm nhường đi, thành tâm đi, chắp tay lại tụng từng lời nói của Phật dạy
đi… thì tự nhiên niềm tin này một ngày nào đó bỗng nhiên bộc phát mạnh mẽ.
Nhờ niềm tin này sẽ gom tụ thiện-căn lại, gom tụ phước-đức lại. Có bao nhiêu nó
phát triển thêm lên gấp ngàn gấp vạn lần. “Tín tâm thanh tịnh tức sanh
Thật Tướng
”, nhờ thế mà trí huệ cũng được khai mở luôn!… Tất cả đều
do niềm tin này.

Có nhiều người tới đây thấy
đạo tràng này chật chội quá! Chê!… Tôi nói, coi chừng cái đạo tràng tại Leipzig
này sẽ trở thành một đạo tràng đệ nhất ở Âu Châu mà chúng ta không hay đó!… Tôi
qua bên nhà anh Đạt chị Thủy, Niệm Phật Đường A-Di-Đà, xin quý vị cũng đừng có
chê nhé. Coi chừng cũng sẽ là Niệm Phật Đường nổi tiếng của người Việt Nam tại
Âu Châu mà chúng ta không hay đó!… Tại sao? Vì theo đúng như ngài Ấn-Quang
nói, thì đây là những đạo tràng thành tựu đúng hợp với tiêu chuẩn của Ngài. Nên
nhớ Hòa Thượng Tịnh-Không đã tán thán kiểu mẫu đạo tràng của ngài Ấn-Quang là
mẫu đạo tràng thành tựu trong chín ngàn năm của thời mạt pháp. Xin quý vị đừng
nên xem thường!…

Trở lại vấn đề thiện-căn
phước-đức nhân-duyên, do cái “Nhân” là phước-đức, thiện-căn trong quá
khứ
kết tựu thành cái “Quả Niệm Phật” của ngày hôm nay. Bây giờ chúng
ta
lấy cái “Quả Niệm Phật” này làm cái “Nhân đi về Tây-Phương”.
Bây giờ hai chữ Nhân-Duyên này tách ra, một chữ là “Nhân”, một chữ là “Duyên”.
Thì cái nhân này “Nhân niệm Phật”. Cái duyên là “Duyên nguyện vãng
sanh
” về Tây-Phương. Cái nhân-duyên này kết với câu “Thâm tín nhân
quả
” trong kinh Quán-Vô-Lượng thọ mình thấy rõ ràng đường mình đi sẽ
tới đâu.

Phật dạy là phải “Thâm Tín”,
là phải tin cho sâu, tin cho chắc, tin cho vững!… Cái nhân quả này không phải
tầm thường! Niệm Phật là “Nhân”, nguyện vãng sanh là “Duyên”,
thành tựuQuả Phật”. “Nhân-Duyên-Quả-Báo tơ hào không sai!…”
Rõ ràng!…

Hôm qua có người hỏi tôi rằng,
khi gặp một vị Sư, mình lạy có được hay không? Tôi nói, khi gặp chư vị tôi cũng
muốn lạy luôn. Tại sao vậy? Thật ra, đáng lẽ ra tôi phải đảnh lễ tất cả chư vị,
vì nếu chư vị quyết lòng đi như vậy thì nhất định chư vị sẽ là bậc đại Thánh
Chúng trên cõi Tây-Phương trong một đời này, hỏi rằng tại sao tôi không đảnh lễ
được?… Nếu chư vị về Tây-Phương rồi thì chư vị sẽ thành Phật, thì thật ra chúng
ta
đảnh lễ Phật. Xin thưa với chư vị, hỏi rằng cái thành quả của ngày hôm nay
đâu dễ gì có được? Đâu có rẻ rúng như một giấc ngủ? Đâu có rẻ rúng như một vài
triệu bạc được?…

Cho nên đây là một cái
duyên
vô cùng thù thắng! Nói với nhau không phải là để chúng ta ve vuốt với
nhau
một chút, mà thật ra chúng ta cần củng cố niềm tin cho nhau. Phải củng cố
vững vàng! Những người tới một đạo tràng niệm Phật mà rồi họ lặng lẽ ra đi, họ
lạnh nhạt với câu A-Di-Đà Phật, thì mình không nên trách họ, mà hãy thương hại
họ mới đúng. Tại vì họ lạnh lùng với câu A-Di-Đà Phật, thì đành rằng họ phải
chịu kiếp số lạnh lùng trong vạn đời vạn kiếp nữa!…

Nếu có một cơ duyên nào đó làm
cho họ tỉnh ngộ, chỉ cần họ tỉnh ngộ, họ trân quý câu A-Di-Đà Phật, thì lúc đó
dù thiện-căn của họ chỉ có một chút thôi nó cũng được tô bồi lên, tô bồi lên
cho đến chỗ thành tựu đạo quả luôn. Một chút phước-báu thôi, chỉ cần cái niềm
tin
vào câu A-Di-Đà Phật vững vàng lên, thì nhất định nó sẽ được trưởng dưỡng
cho đến lúc trở thành một vị đại Thánh Chúng trên cõi Tây-Phương. Thật không
phải là chuyện tầm thường!

Chúng ta ở đây đã biết được
thế nào gọi là nhân-duyên, thế nào gọi là phước-đức, thế nào là cái giá trị của
câu Phật nói trong kinh A-Di-Đà, thì đừng nghĩ rằng đi về Tây-Phương là nhỏ
nghe chư vị. Phải biết rằng chúng ta có thiện-căn nhiều, nhưng phải cố gắng bồi
đắp thiện-căn thêm nữa. Phước-báu đã có rồi, nhưng cũng phải bồi thêm phước-báu
hơn nữa. Hãy lấy niềm tin này mà bồi, bồi cho đến kỳ cùng luôn. Để chi vậy?…
Để nhất định ta phải về được cho tới Tây-Phương. Có phước-báu, có thiện-căn mà
bồi thêm nữa thì ta lên Thượng Phẩm. Hì Hì!… Thượng Phẩm thì trong hai ba
kiếp thôi mình thành Phật. “Nhất sanh thành Phật” đi bổ sứ, bổ
sứ như ngài Di-Lặc cứu độ vô lượng vô biên chúng sanh. Sướng biết chừng nào…

Chứ còn nếu ỷ y?… Một niệm ỷ
y, một niệm khinh mạn, một niệm cho là đủ… Thì chư Tổ nói rằng, ngay lập tức
chúng ta đã bị thối chuyển liền! Nhất định xin chư vị phải áp dụng cho được lời
dạy của ngài Ấn-Quang: Càng tu càng khiêm nhường, càng tu càng thấy mình yếu,
dù biết rằng mình có thiện-căn đi nữa, cũng cứ cho mình còn yếu mới được. Tại
sao?… Tại vì…

– Thiện-căn nó nằm song song
bên nghiệp chướng…

– Thiện-căn nó nằm song song
bên oan gia trái chủ chướng…

Thiện căn nó nằm song song
bên những tội lỗi mà những lúc mê lầm mình tạo ra!…

Hãy lấy niềm tin này mà tăng
trưởng
thiện-căn lên, thì tự nhiên nó làm mờ dần nghiệp chướng xuống, giúp
chúng ta an nhiên tự tại đi về Tây-Phương.

Nguyện mong cho chư vị hiểu
được chỗ này rồi, thì hãy an nhiên tự tại, cố gắng kết hợp chặt chẽ với nhau,
để chúng ta cùng được về Tây-Phương thành vị đại Bồ-Tát, cứu độ vô lượng
biên
chúng sanh…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 14)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Niệm Phật là một
pháp mônĐại Giải Thoát”, nhưng có nhiều người không trân quý là
tại vì chưa nhận rõ một tương lai rất gần có thể chìm đắm trong biển khổ, bị
nạn
trong ba đường xấu ác! Nếu chúng ta thấy rõ nghiệp chướng của mình quá
nặng, với cái nghiệp chướng này ta sẽ tới đó chịu nạn vạn kiếp, thì chắc chắn
cơ hội niệm câu A-Di-Đà Phật này trở nên quý giá vô cùng, không ai dám lơ là…

Ngài Ấn-Quang sau
khi đã nghiên cứu tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, Ngài mới giật mình tỉnh
ngộ
liền quay trở về một câu danh hiệu Nam Mô A-Di-Đà Phật, quyết trì giữ đến
cùng không dám rời ra. Trong phòng thờ của Ngài chỉ có một ảnh tượng A-Di-Đà,
đơn giản lắm, một kinh A-Di-Đà, bức tường sau bàn thờ Ngài để một chữ “Tử”,
có nghĩa là Ngài tự nhắc nhở một ngày nào đó Ngài phải chết.

Một vị tôn sư
phải để chữ “Tử” để nhắc nhở rằng bắt đầu từ giờ phút này cho đến cái ngày mãn
báo thân không thể nào rời câu A-Di-Đà Phật một ly một tấc. Ta là một phàm phu,
ta không phải là một đại Bồ-Tát như Ngài, thì cái cơ duyên bị nạn chắc chắn
phải dễ dàng, phải nhiều hơn Ngài hàng vạn lần! Đúng ra…

Chúng ta phải
biết sợ, sợ cảnh địa ngục một ngàn lần hơn Ngài.

Chúng ta phải
sợ, sợ rơi vào tam ác đạo một ngàn lần hơn Ngài.

– Và ta phải trì
giữ câu A-Di-Đà Phật một ngàn lần hơn Ngài, ta mới an tâm được.

Ấy thế mà có nhiều
người gặp câu A-Di-Đà Phật vẫn còn hững hờ! Sở dĩ hững hờ là:

Tại vì không
mường tượng ra được cảnh đau khổ vạn kiếp, bị thiêu đốt vạn đời dưới địa ngục!

Tại vì không
nghĩ rằng cảnh ngạ quỷ đói khổ như thế nào!…

Tại vì không
nghĩ rằng cảnh bị lột da xẻo thịt của loài súc sanh tệ hại như thế nào!… Đau
khổ
như thế nào!…

Chứ nếu mà chúng
ta
nghĩ tới cái chuyện đó thì xin thưa câu A-Di-Đà Phật không ai dám rời đâu.

Hồi sáng chúng ta có nhắc qua
câu: “Sanh tử hải trung, niệm Phật đệ nhất”. Tức là chư Tổ đặt
chúng ta như đang bị chìm trong cái dòng sanh tử cuồn cuộn, bị chết chìm trong
biển khổ đó. Nếu thật sự mình đang chết chìm trong biển khổ đó, nếu vớ được một
cái phao, thì quý vị có thấy cái giá trị của cái phao đó không?… Chắc chắn
không bao giờ dám rời phao đó ra đâu. Mà trong những cái phao đó, chỉ có cái
phao A-Di-Đà Phật là an toàn nhất, cái phao A-Di-Đà Phật là vĩ đại nhất, cái
phao A-Di-Đà Phật đưa mình vượt qua cái biển khổ đó, đưa mình về cảnh an vui
cực lạc nữa… Lúc đó mình mới thấy giá trị của câu A-Di-Đà Phật quý hóa không biết
ngần nào? Không có gì có thể so sánh được.

Ngài Tịnh-Không
thường hay nói rằng, chúng sanh mê muội không biết của quý. Ngài nói câu
A-Di-Đà Phật là cái của đại quý, đại báu mà vô lượng kiếp qua mình chưa từng
gặp qua, chưa từng bám được. Ấy thế mà không chịu bám, không chịu giữ! Nhiều
khi chư Phật, chư Tổ, đưa cái cơ duyên thành đạo đến tận tay ta rồi mà mình vẫn
hững hờ, cứ cố bám lấy những cái gọi là những phước báu tạm bợ bên ngoài. Những
thứ đó hoàn toàn là tạm bợ! Hoàn toàn là giả tạm! Hoàn toàn là huyễn mộng! Đến
cuối cùng chắc chắnlặng lẽ bỏ mình ra đi, nó không cứu được gì cho mình cả!
Ấy thế mà cứ thích bám vào cái đó, cứ sờ vào cái đó!… Trong khi cái phao
A-Di-Đà Phật không những cứu mình thoát ra biển khổ luân hồi trong một cuộc đời
này, mà còn biến mình đời-đời kiếp-kiếp trở thành một vị đại Bồ-Tát trên cõi
Tây Phương, thành đạo Vô-Thượng… Sướng ơi là sướng! Hì hì…Vậy mà không chịu
bám… Hì hì!…

Cho nên tu hành
chúng ta phải biết tập giựt mình! Tập giác ngộ! Khi nghe một vị Tổ nói ra một
lời, mình phải tập giác ngộ kịp thời. Hễ người nào mà giác ngộ kịp thời, thì
người đó vượt qua được cảnh đọa đày vạn kiếp. Người nào mà không giác ngộ kịp
thời thì chắc chắn sẽ bị trầm luân trong “Cảnh ngộp-ngộp-ngộp-ngộp
đó, “Cảnh Khổ-khổ-khổ-khổ” đó, trong vô lượng kiếp nữa chứ không thể
nào thoát được đâu!

Hồi trưa mình có
nói đến chuyện khổ của con người ở tại cõi Ta-bà này. Phật nói cảnh này là cảnh
khổ, gọi là “Khổ-Khổ”! Làm cái gì cũng khổ hết! Khổ kinh khủng lắm!
Mang cái thân ngũ ấm này khổ chết luôn! Bảo đảm! Rồi nếu còn tham phước báu
trên các cõi trời, cõi trời Sắc-Giới sướng lắm. Nhưng Phật nói, cõi trời Sắc-Giới
còn bị “Hoại-Khổ”! Vẫn còn khổ! Ở trên trời Sắc-Giới không cần ăn nữa,
không cần ngủ nữa, ngũ dục đã bỏ rồi đó mà vẫn còn phải khổ: Hoại-Khổ!… Lên
đến trời Vô-Sắc-Giới còn ngon hơn nữa, sướng hơn nữa, nhưng mà vẫn còn cái “Hành-Khổ”,
nghĩa là đến sau cùng vẫn đọa xuống!…

Thôi! Đừng nói làm
chi những cái xa vời quá! Trước mắt đây, mình nhìn tới những người thân khi xả
bỏ báo thân!… Trời ơi!… Trằn lên, trụt xuống, đau đớn không biết chừng nào!
Than lên, khóc xuống, rồi khi ra đi để lại một thân tướng cứng đơ! Con mắt thì
mở trao tráo! Hình tướng thấy mà sợ không dám nhìn!…

Có nhiều người,
khi còn sống thì “Mẹ-Mẹ Con-Con”. Khi mẹ chết rồi, thì: “Mẹ ơi!…
Phải chôn mẹ sớm đi cho rồi, chứ nhìn mẹ con thấy sợ quá, chịu không nổi!…
”.
Tại vì sao? Tại vì nỗi buồn buồn một chút của người con khi thấy mẹ chết, thật
ra chưa thấm thía gì đối với cái khổ của chính người mẹ phải chịu hàng vạn kiếp
bắt đầu từ khi tắt hơi đó! Quý vị đừng nghĩ là mình sợ cái thân chết của mẹ
mình là mình khổ lắm đâu! Chính người mẹ của mình bị khổ dễ sợ lắm! Khổ đến nỗi
không còn cách nào có thể diễn tả thành lời được!

Cái hiện tượng khổ
đó có thể đến với mình hay không? Dễ dàng!… Dễ dàng!… Sẵn sàng bên cạnh. Tại vì
mẹ mình nghiệp chướng sâu nặng, chứ còn mình có hơn gì mẹ mình đâu?… Mình rồi
sau cùng cũng bị như vậy!… Cho nên người nào khát mới biết cái cảnh khổ của
khát như thế nào?… Người nào chui vào hầm lửa mới biết lửa nóng như thế
nào?… Đi xuống dưới địa ngục rồi mới hiểu được cảnh lửa dưới địa ngục thiêu đốt!
Không phải thiêu đốt một ngày hai ngày đâu, mà thiêu đốt vạn năm!

Chính vì sợ cảnh
đó, nên ngài Ấn-Quang mới khai thị bằng chữ “Tử”. Chữ “Tử” không phải là tự tử.
Có nhiều người nghĩ sai! Không phải vậy! Ngài nói phải nhớ rằng lúc mình
chết!… Mình chết nhưng mình không hết!… Mình không hết mà sau cái chết đó
mình sẽ bị đọa lạc đau đớn lắm chư vị ơi!… Cho nên phải lo. Nếu mình hiểu
được lời khai thị của ngài Ấn Quang rồi, thì nói thẳng ra, ai cũng phải lo bám
cho chặt lấy cái phao A-Di-Đà Phật. Tại vì nhiều người không hiểu rằng chữ “Tử”
này nó đến bất cứ lúc nào! Họ cứ tưởng rằng: “À, mình bây giờ còn đẹp gái
mà, mình còn đẹp trai mà, cớ chi mà phải tu hành cho gấp?”…

Xin kể ra đây một
câu chuyện để thấy thế nào gọi là cái giá phải trả của sự trì hoãn. Đó là năm
2006, ở cái làng bên cạnh làng tôi, ở đó có ba ngôi chùa và cũng có một ban hộ
niệm
. Ban hộ niệm đó chính tôi về khuyến tấn lập nên, người ta biết niệm Phật,
biết hộ niệm. Có một anh chàng nọ lúc đó mới có bốn mươi hai tuổi, có chiếc xe
Honda. Cứ mỗi Chúa Nhật thì anh chở người mẹ tới chùa để niệm Phật, tụng kinh,
còn anh thì ngồi ở cái ghế đá ở ngoài hút thuốc. Tướng anh cũng đẹp trai. Người
ta hỏi:

– Tại sao anh
không vô niệm Phật với mẹ?

Anh đó nói.

– Bây giờ tôi lo
cho mẹ tôi trước.
(Bà mẹ lúc đó là tám mươi sáu tuổi). Khi mẹ tôi an
phận
xong tôi sẽ tu hành nghiêm chỉnh.

Tới chùa nhưng anh
đó cứ ở ngoài hút thuốc lá, không vô niệm Phật. Có một bữa nọ anh bị cảm. Cảm
sơ sơ nên cũng không ai để ý đến làm chi, bà mẹ cũng không kêu ai làm chi!…
Cảm sơ sơ có một ngày, nhưng không ngờ ngày hôm sau anh đó chết mất. Chết ngay
trong lúc bốn mươi hai tuổi. Bà mẹ của anh ta bây giờ là chín mươi mốt, chín
mươi hai tuổi rồi vẫn còn sống. Còn anh đó thì đã chết từ năm hai ngàn lẻ sáu,
năm-sáu năm rồi. Bà cụ đó năm nay đã chín mươi hai tuổi vẫn còn sống, còn sống
neo đơn một mình không ai chăm sóc!

Chúng ta hãy tưởng
tượng đi. Vì anh đó nghĩ rằng mình mới có bốn mươi hai tuổi, còn khỏe quá, chưa
chết, nên anh chỉ lo cho mẹ trước. Đâu có ngờ vô thường đã đến với anh trước,
đến với người mẹ sau!…

Chúng ta đi tới
Niệm Phật Đường như thế này, trong đời này mà có cơ duyên gặp được câu A-Di-Đà
Phật, thật là quý giá. Cái quý giá này xin thưa rằng là do thiện-căn, do
phước-đức, do ta đã biết tu hành từ trong vô lượng kiếp rồi mới có. Nhờ cái
nhân đó đưa đến ngày hôm nay ta mới gặp được trường hợp này mà tin tưởng lấy,
mà lo tu hành để niệm Phật cầu vãng sanh.

Tuy nhiên, có
nhiều người tới đây tu hành mà nghĩ: À!… Chưa đến nỗi nào chết đâu, thì cứ
lo niệm Phật cầu vãng sanh làm chi?
Như hôm trước ở thành phố Praha (Tiệp)
có một vị hỏi:

– Có nhiều người
trẻ, chưa phải đến nỗi chết, mắc mớ gì cứ niệm Phật cầu cho chết? Cầu cho vãng
sanh?

Tôi trả lời:

Nếu vị nào
đó niệm Phật cầu vãng sanh mà đi liền trong lúc còn trẻ, thì thật ra vị đó là
Tổ Sư rồi. Chúng ta gặp Ngài phải quỳ xuống chắp tay lại bái Tổ rồi.
chỉ có những vị Tổ Sư họ muốn đi
là đi, muốn ở thì ở thôi. Chứ không phải Tổ thì chuyện đi đứng đó!… Đi là chết
đó! Hì-Hì!… Chuyện luân hồi đó!… Chuyện mãn báo thân đó!… Không bao giờ
biết trước là lúc nào đâu à!…

Hòa Thượng
Tịnh-Không nói rằng, mình đâu có ký giao kèo với Diêm Vương? Hì hì!… Mà thật
ra Ngài cũng đâu cần ký giao kèo với mình làm chi?… Mình đến đây là do nghiệp,
nghiệp dẫn đến. Nghiệp dẫn đến, nó bắt mình phải trả chín chục năm thì chín
chục năm mới đi, chứ sức mấy mà bây giờ mới có bốn mươi hai tuổi mà đi sớm vậy,
phải không? Nhưng nếu cái nghiệp nó bắt mình lúc bốn mươi hai tuổi phải đi, thì
đừng có nghĩ rằng mẹ mình tám mươi sáu tuổi sẽ đi trước nhé. Không có đâu à!…

Chính vì vậy
chúng ta giác ngộ ra chỗ này, là trong đời này mà bắt gặp được câu A-Di-Đà
Phật, đây là cái phao cuối cùng trong thời mạt pháp này, mà cũng coi chừng
cơ hội cuối cùng trong vô lượng kiếp về sau nữa chứ không phải là chuyện giỡn
đâu chư vị!… Tại sao? Tại vì như một người chết xuống mà không có phần siêu
sanh Tịnh-Độ, lỡ bị lạc vào một trong những đường tam ác đạo, thì nhất định
không còn cách nào có thể gặp lại được Phật pháp. Bảo đảm!… Chắc chắn!…

Thời mạt pháp này
chỉ còn có chín ngàn năm nữa thôi, sau đó là thời “Diệt Pháp”. Quý vị cứ nghĩ
coi, nếu đi xuống dưới địa ngục, thì chín ngàn năm trên thế gian này chỉ là
thời gian hai-ba ngày dưới địa ngục mà thôi, còn người ở dưới địa ngục phải
trải qua hàng vạn kiếp như vậy. Hãy tính thử thời gian dài bao lâu? Vô lượng
kiếp! Làm sao mà gặp lại Phật pháp đây?…

Giả sử như lỡ lọt
vào hàng ngạ quỷ? Thôi! Thì cũng chịu thua rồi!… Vì muốn trở lên đầu thai lại
làm người, ít ra cũng phải đợi mãn cái kiếp sống của ngạ quỷ trước. Một đời của
ngạ quỷ là bao lâu?… Xin thưa, ít ra cũng vài ba chục ngàn năm là nhanh nhất
đó nghe chư vị!…

Còn lọt xuống hàng
súc sanh thì sao?… Bây giờ tu hành mấy đi nữa, chuyển xuống hàng súc sanh, dù
được vô trong nhà tỷ phú để hưởng phước đi nữa… Thì hưởng phước có một đời,
cũng vài năm gì đó rồi chết. Chết xong thì hết phước. Hết phước rồi thì đời sau
cũng phải lang thang đi gặm xương trong các đống rác nào đó! Nếu chẳng may, gặp
phải những người thèm thịt nữa thì thôi tiêu rồi! Hì hì!… Không cách nào mà
không bị trở ngại hết trơn!…

Hiểu được như vậy
rồi, mong chư vị hãy bám cho chắc lấy cơ hội này, đừng có buông ra nhé. Buông
ra là chết!… Tại vì chúng ta không chịu đặt ta trong cái thế đường cùng nên
mới tu tà tà!… Chứ mà thấy rằng, đây thật sự là đường cùng rồi… Làm người
trong thời mạt pháp thì chúng ta thật sự đã đi tới đường cùng rồi! Đường cùng
dẫn tới đọa lạc, đâu dễ gì tìm ra nẻo đường cực lạc, siêu thoát!

Cho nên cơ hội
vãng sanh này đã cuối cùng rồi mà không chịu giựt mình tỉnh ngộ, không chịu bám
chắc lấy câu A-Di-Đà Phật, thì coi chừng phải rơi xuống dưới biển khổ. Biển khổ
là biển tội chướng đó!… Dưới biển khổ nhìn lên mình thấy con thuyền Bát-nhã
của A-Di-Đà Phật cao vời vợi đó mà đành chịu thua! Tại vì khi chân mình đã chui
vô trong cái cùm, tay mình đã chui vào trong cái kẹp, mình muốn với lên rờ con
thuyền Bát-nhã một chút mà rờ cũng không được! Trong khi trước đó một giây đồng
hồ, mình đang đứng trên bờ mé của con thuyền Bát-nhã, nhưng không chịu đi tới
mà lại bước lui!…

Biết vậy mới thấy
câu nói, “Nhất niệm tương ưng nhất niệm Phật”, hay vô cùng! Nhất
định
phải nhớ, trong một trăm triệu người mới có một người biết niệm Phật. Quý
hóa vô cùng! Ấy thế mà một người niệm Phật lại không chịu lặng lẽ hưởng cái
phước phần đi về Tây-Phương, mà lại tùng với đại chúng để đi theo con đường khổ
nạn! Lúc chịu khổ rồi, nhìn qua nhìn lại chung quanh toàn là người khổ hết
trơn! Khổ ơi là khổ!… Đó gọi là khổ khổ! Khổ quá nên ngày nào cũng khóc: Khổ!…
Khổ!… Khổ!… Khổ!… Khổ!… Khổ!…
Hì!… Khổ khủng khiếp quá!…

Mong chư vị hiểu
thấu mà phải sợ chữ “Khổ” này. Mau mau niệm Phật. Hãy bám chặt lấy cơ
hội này để đi về Tây-Phương là con đường an toàn viên mãn nhất.

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 15)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Kính bạch Sư Cô!

Cùng chư vị đồng
tu!

Chúng ta
duyên
gặp nhau trong pháp hội niệm Phật này, và theo cơ duyên này chư vị đồng
tu ép Diệu Âm nói khai thị, chứ thật ra vì bắt buộc nên Diệu Âm cũng đem lòng
thành
để trang trải ra đây vài ý kiến, hầu mong chúng ta giữ được niềm tin vào
câu A-Di-Đà Phật.

Cái duyên pháp của
A-Di-Đà Phật rộng lớn vô lượng vô biên bao trùm pháp giới, không cách nào chúng
ta
có thể nói hết được đâu. Mà Phật pháp là một chuỗi pháp duyên vô cùng
tận
, nhưng nếu chúng ta biết “Y giáo phụng hành” những vị Đại Sư, chư vị
Tổ Sư thì ta có thể thâm nhập vào cửa đạo bằng cái duyên gì gần nhất của chính
mình. Hãy mau mắn chộp lấy cái duyên đó mà phăng tới, đừng nên phân đo, đừng
nên đi theo con đường gọi là “Đa tạp”.

Đa là nhiều, nhiều
là không chuyên! Nghĩa là hôm nay chúng ta chộp cái đầu mối này để đi vào. Đi
vào
vừa thấy khó khăn hay bị chút trở ngại gì đó thì vội vã liệng cái mối này,
chạy tìm cái mối khác. Chộp cái mối khác đi vào chưa được bao nhiêu lại thấy
cái mối kia hay quá, lại bỏ nữa để chọn cái mối kia… Rốt cuộc tự chúng ta làm
cho pháp duyên của chúng ta bị rối bùng beng đi!… Chứ thật ra, pháp Phật thì
rộng vô cùng vô tận, nhưng chúng ta có thể chộp một mối, rồi chỉ từ một mối đó
để thâm nhập vào đạo.

Nếu bây giờ chúng
ta
không biết mối nào để theo, thì hãy nghe lời đức Thế-Tôn dạy đi, câu A-Di-Đà
Phật là cái mối dễ dàng nhất. Cứ chộp cái mối đó mà đi thì tự nhiên thành tựu.
Một là tất cả, tất cả là một”. Từ một mối đó ta sẽ thấy hết tất
cả được Phật pháp. Ví dụ như mấy ngày nay chúng ta có duyên nói chuyện với nhau
về Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên, thì chúng ta hãy chộp lấy cái mối này mà
đi. Bây giờ cứ lấy cái mối này mà chúng ta phăng tới, mình phăng thử xem sẽ đi
tới đâu?…

Hôm qua chúng ta
nói trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật dạy một người nào tin vào câu Phật hiệu
A-Di-Đà thì người có thiện-căn, phước-đức lớn lắm!… Bây giờ hôm nay chúng ta
hỏi lại: Người nào là người thiếu thiện-căn?… Chắc chư vị có thể đã trả lời
được câu hỏi này rồi, phải không? Người nào vậy? Là người không tin vào câu
A-Di-Đà Phật. Mình thấy quá rõ rệt!…

Như vậy trong
chúng ta ai là người thiếu thiện căn nhất đây? Diệu Âm xin đưa tay lên, xung
phong trước. Chính Diệu Âm này là người thiếu thiện-căn nhất. Vì sao vậy? Vì
năm mươi tuổi đầu vẫn
chưa
tin câu A-Di-Đà Phật! Chạy lung tung, còn chê nữa! Đến năm mươi tuổi đầu, có
duyên
may mắn niệm câu A-Di-Đà Phật mới phát khởi niềm tin. Mà một khi phát
khởi
niềm tin thì thiện-căn có nhiều hay ít, không cần biết! Mà chỉ biết rằng
đã có niềm tin thì cũng đã có chút chút thiện-căn. Có chút chút thiện căn rồi
là được, mọi chuyện khác sẽ tính sau… Cứ
biết có rồi cho vững tâm đã…

một lần đi về
Việt Nam, Diệu Âm gặp lại mấy người bạn học cũ. Những người bạn mới hỏi, bây
giờ bạn tu hành như thế nào? Diệu Âm nói, bây giờ tôi chỉ biết niệm câu A-Di-Đà
Phật. Thì những người bạn mới nói:

– Mình là người
thông minh, trí huệ, có học hành… tại sao không nghiên cứu kinh điển để hiểu
lý đạo cao siêu trong pháp Phật mới xứng đáng? Tại sao lại niệm câu A-Di-Đà
Phật?…

Diệu Âm mới nói
rằng:

– Bạn đừng có
khinh thường câu A-Di-Đà Phật. “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả đó”.

Người bạn mới nói:

Chẳng lẽ một
con ếch đang nằm dưới giếng, hàng ngày nó kêu ộp-ộp-ộp!… Bây giờ con ếch đó
niệm câu A-Di-Đà Phật chẳng lẽ nó cũng thành Phật sao?…

Những người bạn đó
chê Diệu Âm ngu si giống như con ếch nằm dưới giếng tăm tối, âm u mù mịt!… Nhìn
lên bầu trời chỉ thấy một cái lỗ nhỏ thế này tưởng rằng bầu trời là như vậy!…
Trong khi đó thì Diệu Âm lại thầm nghĩ rằng, con ếch ở dưới giếng nó ngu si
thật đó, nhưng nếu tâm nó niệm lên được một câu A-Di-Đà Phật thì con ếch đó dù
ngu si nhưng nó có thiện-căn, nhờ cái thiện-căn này mà nó có thể vãng sanh về
Tây-Phương thành đạo. Còn những người bạn kia tưởng mình là khôn ngoan, tưởng
mình là trí huệ mà không tin vào câu A-Di-Đà Phật, thì nhất định đây là người
không có thiện-căn! Phước-báu thì có thể hơn con ếch một chút. Có chút ít
phước-báu nên mới có được chiếc xe Honda, mới làm được thân người, nhưng mà
không tin vào câu A-Di-Đà Phật thì thiện-căn không có! Chắc chắn thiện-căn thua
con ếch! Cái phước báu có trong đời này hãy cố gắng mang vào đời sau đi!… Còn
không có thiện-căn, không tin vào câu A-Di-Đà Phật, thì nhất định một đời này
luống qua không thể nào về tới Tây-Phương được nữa rồi!… Tương lai mình không
biết là những người khôn ngoan này sẽ ngon hơn con ếch, hay là con ếch sẽ ngon
hơn người đây?…

Trở về vấn đề
thiện-căn, phước-đức, nhân-duyên. Chúng ta chớ vội dùng cái hình tướng của thế
gian
ra mà đánh giá một người, coi chừng sai lầm! Một người được cho là thông
minh
, đĩnh ngộ, như những người bạn của Diệu Âm, có người đã trở thành giáo sư
đại học, nhưng mà không tin câu A-Di-Đà Phật, chê một người niệm Phật giống như
một con ếch mù mờ chui xuống dưới đáy giếng. Trong khi họ không biết rằng sự cứu độ của
A-Di-Đà Phật phổ rộng khắp pháp giới chúng sanh. Ngài nói dẫu cho những chúng sanh
trong hàng súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, mà có cơ duyên niệm được câu A-Di-Đà
Phật cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc, dẫu cho mười niệm mà Ngài không cứu về
Tây-Phương, một đời thành vị Bồ-Tát, thành đạo Vô-Thượng, Ngài thề không thành
Phật
.

Như vậy xin hỏi
rằng:

– Cái hình tướng
này có đảm bảo cho chúng ta tự khoe mình là thông minh trí huệ hay không?…

– Cái hình tướng
này có bảo đảm cho mình khoe là thiện-căn phước-đức hơn người hay không?…

Xin thưa chư vị,
không! Thời gian nói chuyện quá ngắn, chúng ta không thể tiếp tục được. Chiều nay chúng ta sẽ tiếp
tục
mổ xẻ thêm để cho rõ thế nào là thiện-căn? Thế nào là phước-đức? Thế nào là
một người thành tựu? Thế nào là một người bất thành tựu?… Là một chúng sanh
trong cõi ngũ trược ác thế này, xin thưa với chư vị, đã đến thời mạt pháp rồi
gặp câu A-Di-Đà Phật mà không tin nữa ư? Không tin thì đại họa ứng hiện, đối
đầu! Nhất định hết một báo thân này nạn tử tử sanh sanh không thể nào có hy
vọng
thoát ly! Mà xin thưa rằng, với nghiệp chướng sâu nặng, trí huệ thì mỏng
manh như chúng ta, chắc chắn không thể nào thoát nạn được!

Chư vị đừng nghĩ
rằng một chúng sanh trong pháp giới thấp kém họ thiếu cái thiện-căn hơn mình
đâu. Chưa chắc! Họ đang thiếu cái phước-báu, chứ còn thiện-căn thì chưa chắc.
Ví dụ, một người làm thiện, xây cầu, đắp cống, có nhiều phước báu. Nếu mà biết
gìn giữ, ăn ở hiền lành, thì cái phước báu này đời sau họ có thể hưởng. Mình
đang tu hành như thế này, niệm câu A-Di-Đà Phật tức là mình có thiện-căn,
thiện-căn hơn những người làm phước đó. Nhưng nếu mình không đem cái thiện-căn
này để về Tây-Phương Cực-Lạc, lại còn nghĩ rằng mình ngon hơn thiên hạ. Một tâm
tăng thượng mạn nổi lên, cống cao ngã mạn, đố kỵ, ganh tỵ đủ thứ… Giận dữ,
tham sân si mình không bỏ, đến khi mình nằm xuống, vì cái tập khí này mà không
cho phép mình về Tây-Phương Cực-Lạc. Hoặc là khi nằm xuống mình khởi một niệm
sân, mình khởi một niệm tham, mình khởi một niệm si, khởi bất cứ một niệm nào
đó… Thì chính vì cái niệm trong tâm này biến thànhCận tử nghiệp” đúng nghĩa nhất, làm cho chúng ta sau khi lìa bỏ báo
thân
đi theo cái ác niệm đó mà đầu sanh trong tam ác đạo. Nên nhớ đây là lời
của Quán-Đảnh Đại Sư nói. Ta niệm Phậtsơ ý chui xuống dưới tam ác đạo thành
một con vật, một con vật mà có thiện-căn vì trong đời trước có niệm Phật.

Quý vị thấy không?
Rõ rệt không? Tại vìsơ ý, nó không hiểu đạo, nó không biết gìn giữ cái
duyên cho trọn vẹn, mà tự nó tạo ra cái nghịch duyên trong lúc xả bỏ báo thân,
vô tình tu hành suốt một đời sau cùng phải chịu cảnh đọa đày! Tuy sống trong
cảnh đọa đày, nhưng A-lại-da thức của con vật đó vẫn còn chứa rất nhiều chủng
tử
A-Di-Đà Phật, tức là nó có thiện-căn…

Một con ếch ở dưới
giếng!… Chúng ta dùng cái máy niệm Phật mở xuống dưới giếng, nhiều khi tiếng
niệm Phật của cái máy vang vang, làm động đến tâm con ếch, nó giựt mình, những
thiện-căn của đời trước tự nhiên sống lại, A-lại da thức ứng hiện ra, làm cho
nó niệm được câu A-Di-Đà Phật. Thay vì kêu “Ộp-Ộp”, thì tiếng “Ộp” thứ nhất là
tiếng “A”, “Ộp” thứ hai là tiếng “Di”, “Ộp” thứ ba là tiếng “Đà”, “Ộp” thứ tư
là tiếng “Phật”… để cầu sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Hì hì!… Con ếch đã đem
tất cả những thiện-căn gì có được trong quá khứ mà nó đã lỡ lầm bỏ sót để hướng
về Tây-Phương. Nó về Tây-Phương thành đạo…

Trong kinh có nói:
Tam ác đạo trung, lai sanh ngã sát. Thọ ngã pháp hóa, tất thành A-Nậu-Đa-La
Tam-Miệu-Tam Bồ-Đề
.
(Nghĩa là, chúng sanh trong ba đường ác khi sanh về nước Ta, thọ giáo pháp của
Ta, tất cả đều thành Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác). Đây là lời Phật nói
trong kinh Vô-Lượng-Thọ.

Như vậy, chúng ta
không thể nào chê bai một người ở ngoài đường vì thấy họ không có niệm Phật.
Người ta không chịu niệm Phật vì có thể, một là họ không có thiện-căn. Hai là
thiện-căn chưa phát hiện được. Hiểu được vậy thì mình không được quyền chê.
Mình đừng có khinh thường con cá, con gà, con vịt… là loài súc sanh mà bắt nó
để ăn thịt. Ăn thịt chúng coi chừng mình ăn thịt một vị Phật đó!… Bắt một con
ếch để ăn thịtcoi chừng ăn thịt một vị Phật đó, tại vì nó có thiện-căn,
chơn tâm của nó là một vị Phật…

Chính vì vậy
hôm nay chúng ta cứ phăng tới thử coi thiện-căn này sẽ đi tới đâu?…

Nhất định chúng ta
phải tin vào câu A-Di-Đà Phật. Tin được vào câu A-Di-Đà Phật thì dù thiện-căn
nhỏ như Diệu Âm đây mà quyết lòng thành tâm niệm Phật, thì thiện căn nhỏ này sẽ
trưởng dưỡng vô cùng nhanh chóng, nhanh đến độ có thể đưa ta một đời này về tới
Tây-Phương Cực-Lạc. Còn người có thiện-căn lớn ư? Lớn mà không chịu tin, thì
thiện-căn đó sẽ hao mòn đi, èo uột đi, bị ém nhẹm ở một chỗ nào đó để cho tập
khí
nổi lên dìm cái thiện-căn này trong cảnh địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, rồi
may ra trong một kiếp nào đó mới thành tựu!…

Hiểu được đạo lý
này, xin chư vị hãy cố gắng gìn giữ cơ duyên này, nhất định đi về Tây-Phương,
thành đạo trong một đời này.

A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 16)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Kính thưa đại chúng, hôm nay Chị Mơ đánh địa chung hay bất khả tư nghì,
làm cho nhiều người niệm Phật nhiếp tâm. Sự nhiếp tâm của chư vị cao hơn Diệu
Âm
. Tán thán!… Tán thán!…

Hồi nãy đi ra ngoài, có một vị gặp Diệu Âm và hỏi, anh Diệu Âm có ngủ
gục không? Hì hì!… Nếu có ai ngủ gục thì cũng xin tán thán luôn, vì dù có ngủ
gục chút ít nhưng cũng ráng niệm Phật, vậy thì cũng ngon hơn những người không
niệm Phật.

Rõ ràng trong một môi trường giống hệt nhau, có người nhiếp tâm được, có
người còn hơi… tranh thủ ngủ tiếp!…

Thường thường khi chúng ta ngồi tịnh, nhất là những lúc năm phút tịnh
niệm, đôi lúc chúng ta nhiếp tâm được, định cái tâm được, cảm nhận được… Có
đấy!… Nhưng thông thường với hàng phàm phu như chúng ta thì sự nhiếp tâm đó
không có nhiều lắm đâu. Cho nên khi nhiếp tâm được thì chúng ta cứ việc nhiếp
tâm
, định tâm niệm Phật, còn khi không định tâm niệm Phật được, thì xin quý vị
cũng đừng nên quá ái ngại

Những cái dạng mà chúng ta thường gặp trong lúc ngồi tịnh, một là Trạo-Cử,
hai là Hôn-Trầm, ba là Vô-Ký, ba cái dạng này thường hay đến
với chúng ta lắm! Chuyện này hết sức bình thường. Xin chư vị đừng nên phân tâm,
cũng đừng nên chú ý đến nó nhiều quá, mất công lắm! Tại vì nói chung thì nghiệp
chướng
chúng ta vẫn còn khá nặng! Nghiệp chướng khá nặng có nghĩa là phước-báu
chúng ta cũng không phải cao. Mình đang nói về Thiện-Căn, Phước-Đức, thì
Phước-Đức tức là cái phước-báu đó.

Thứ nhất là “Hôn-Trầm”!… Như một vị đạo hữu nói, tại sao mà
tôi bị hôn-trầm hoài. Tức là đôi lúc mình cố gắng công phu, nhưng mà “
Gục
”… “Nó Gục” chứ không phải “Mình Gục”… Nói chung là
bị ngủ gục. Không sao đâu! Yên chí đi! Ngủ gục thì khi giựt mình tỉnh dậy, hãy
mở mắt ra, lấy hai tay dụi dụi hai mắt một chút, xoa xoa cái đầu một chút…
rồi tiếp tục niệm Phật, không sao hết, đừng có ngại. Đó là do nghiệp chướng của
mình nó sinh ra như vậy. Cứ ráng cố gắng! Ngủ gục vài ba lần thì sau đó hết đi.
Nếu mình thường ngủ gục nhiều quá, thì Diệu Âm có một cách công phu khác, là
trước khi niệm Phật nên thực hiệnMột ly công phu cà-phê”. Nhờ cách
này, thì ngủ gục cũng giảm bớt đi!…Hì hì!…

Thứ hai là “Trạo-Cử”!… Cái này cũng rất hay gặp ở những người
như chúng ta. Thường khi chúng ta cố nhiếp tâm, nhưng mà nhiếp tâm không được!
Trong lúc chúng ta nhắm mắt để nhiếp tâm niệm Phật, thì đầu óc của ta cứ nghĩ
hết chuyện này đến chuyện nọ, rất nhiều chuyện cứ tiếp tục hiện ra. Thì khi gặp
trạo-cử như vậy xin quý vị cũng đừng có sợ. Không sao hết! Hãy nên mở mắt ra,
đừng nhắm mắt lại nữa!…

Thường thường khi ngồi công phu, chư Tổ dạy chúng ta mắt nên mở ba phần,
nhắm bảy phần, Nghĩa là chúng ta còn có thể nhìn thấy được những hình ảnh phía
trước, nhờ vậy mà trạo-cử có thể biến mất đi.

Đây là cách đối trị trạo-cử đối với hàng phàm phu như chúng ta. Còn so
sánh
với những vị đã thể nhập vào trong đại định, trụ trong định vài ba năm,
thì điều này mình làm không được. Nếu năng lực mình làm không nổi, nhưng cứ
ráng làm đôi lúc cũng trở thành vấn đề tai hại! Tâm ý chúng ta thì muốn cho
nhiếp tâm, được nhất tâm bất loạn, nhưng nhất tâm không được, mà lại bị vướng
vào tình trạng trạo-cử…

Thì trạo-cử có hai dạng, dạng thứ nhất là tâm ý nghĩ tưởng lung tung.
Một dạng thứ hai thì tiến sâu hơn gọi là vọng tưởng. Từ ý nghĩ sinh ra cảnh
giới
. Có người gặp cảnh giới lung tung của trạo-cử mà cứ tưởng là nhất tâm! Tới
tình trạng này thì cũng hơi khó rồi đó!…

Từ tư tưởng sinh ra hiện tượng! Ví dụ, như mình đang suy nghĩ về oan gia
trái chủ rồi đi vào ngồi niệm Phật. Mình nhắm mắt lại muốn cho nhiếp tâm nhưng
nhiếp tâm không được, trong khi đó tâm mình lại cứ tiếp tục nghĩ về oan gia
trái chủ… “À! Họ đang đến với mình rồi đó!…”. Khi tâm mình đang
vướng như vậy mà mình không mở mắt ra, lại tiếp tục nhắm mắt để cố nhiếp tâm
thì có thể một phút, hai phút, bỗng dưng mình thấy hình gì có cái dạng dạng gì
đó giống như oan gia trái chủ tới!… Nếu biết cách điều trị, thì giải quyết
vấn đề này cũng dễ lắm. Hãy mở mắt ra đi, dụi dụi con mắt một chút thì có thể
hết. Chư Tổ dạy khi gặp trường hợp như vậy, nên dùng câu này:

Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.

(Phàm những gì có hình tướng đều là hư dối, không có thật!)

Đọc câu này cũng được, nghĩ đến câu này cũng được, hay là mình nói cho
ngon một chút là quán đến câu này cũng được. Những hình ảnh mình thấy đó, hãy
cho nó là hư vọng đi! Đó chỉ là những hình ảnh do tâm mình nghĩ tưởng đến mà nó
sinh ra như vậy thôi!

Hôm trước Diệu Âm có đưa ra một ví dụ, nếu quý vị nhắm mắt lại đi, rồi
suy nghĩ đến một con bướm. Niệm Phật mà nghĩ đến con bướm thì tự nhiên đầu tiên
hình như có cái cánh lờ mờ bay bay… Nó khởi ra cái dạng hơi giống như con
bướm. Nếu mình tiếp tục nghĩ đến con bướm thì từ cái dạng lờ mờ đó nó hiện ra con
bướm thật. Rồi mình nghĩ con bướm bay ra cửa thì nó bay ra cửa, mình nghĩ nó
quay trở vô thì nó quay trở vô. Ban đầu đó chỉ là một cái dạng hoàn toàn mờ mờ
không thật. Nhưng tâm của mình cứ duyên theo nó thì sau cùng nó hiện ra
rệt!…

Có những hiện tượng mà nhiều người cứ nghĩ rằng mình bị oan gia này oan
gia
nọ, trái chủ này trái chủ nọ. Nhưng thật sự nhiều khi chỉ là vọng tưởng,
những điều hão huyền, bắt nguồn từ chỗ trạo cử hơi nặng mà không biết đối trị
mới sinh ra thôi. Đây là do hạ thủ công phu tu tập mà không chịu nghe kỹ lời
dạy của chư Tổ. Hiểu ra thì vấn đề này thật đơn giản lắm!…

Chư Tổ nói, khi niệm Phật, mình muốn nhiếp tâm, ráng cố gắng nhiếp tâm
đến nỗi cái đầu nóng lên luôn! Tình trạng này thật ra không thể nhiếp tâm được!
Cái thể lực của mình đã không theo kịp cái tâm của mình. Chẳng khác gì như tập
thể dục, một khi tập quá sức thì mình phải đổ mồ hôi, mệt lả người! Mệt thì tự
nhiên
mình cảm thấy chóng mặt, uể oải!…

Hãy mở mắt ra, dụi dụi mắt một vài cái…

Ngài Ấn-Quang Đại Sư nói, đang đi ở trong Niệm Phật Đường nhưng nhiếp
tâm
không được, mà đầu óc lại nóng bừng, thì hãy mở mắt ra nhìn qua cửa sổ,
xuyên qua bầu trời ta thấy áng mây bay bay, tự nhiên hình như có luồng thanh
khí đi vào xoa dịu sự căng thẳng. Rồi hãy xoa xoa đầu một chút thì hết, tất cả
khó khăn mình đều có thể tự giải quyết. Đơn giản!

Vấn đề chính là tại vì mình không biết ứng xử theo đúng căn cơ của mình,
nên thường thường hay bị trở ngại như vậy mà thôi!…

Trạo-cử là dạng nghĩ này nghĩ nọ, lung tung! Khi tâm cứ nghĩ này nghĩ nọ
lung tung, thì xin hãy trở về với thực tế, là mở mắt ra để được tỉnh thức. Tỉnh
thức
để tiếp tục niệm Phật mới tốt. Niệm Phật đừng sợ cái niệm lung tung trong
tâm khởi ra, mà hãy sợ mình có tỉnh thức kịp thời để tiếp tục niệm câu A Di Đà
Phật
hay không?…

Như vậy tỉnh thức là mở con mắt ra. Gọi là “Thức-Tỉnh” hay “Tỉnh-Thức”
cũng được. Muốn gọi sao thì gọi, đừng chấp vào danh tự làm chi. Điều quan trọng
là niệm câu A-Di-Đà Phật, tiếp tục niệm câu A-Di-Đà Phật. Lúc đó hãy niệm lớn
lên. Với tiếng địa chung của Chị Mơ này mà niệm lớn thì sướng lắm. Niệm Phật to
lên, để chi vậy?… Niệm lớn làm cho cái lực của mình được hồi phục lại, làm
cho mình nhiếp tâm lại được, và tiếng niệm có cái lực gọi là lực bố ma

Ma là gì?… Ma là cái trạo-cử của mình đó. Tiếng niệm Phật lớn làm cho
mình mất tình trạng trạo-cử đi, mất cái nghĩ lung tung đi. Những hình ảnh
mình thấy, mình nghĩ… tự nhiên biến mất đi. Câu A Di Đà Phật đã phá tan sự
trạo-cử.

Có một dạng nữa gọi là “Vô-ký”. Cái dạng này dễ làm nhiều người
lầm lẫn nhất, dễ lầm lẫn hơn so với dạng trạo-cử! Tại vì trạo cử thì rõ ràng
quá, chớ còn vô-ký rất khó nhận ra. Vô-ký là gì? Là ngủ thì không phải ngủ!
Định thì không phải định! Nhiếp tâm thì không phải nhiếp tâm! Trạo-cử thì không
phải trạo-cử! Một dạng lơ lơ, lửng lửng!… Chắc chắn cũng có nhiều người gặp
phải trường hợp này.

Rất nhiều người khi mới bắt đầu tu hành thường hay lầm lẫn chuyện này,
bị vô-ký rồi lại đi ra ngoài khoe rằng: Tôi là đã được định rồi! Tôi đã được
nhiếp tâm rồi! Tôi đã nhất tâm bất loạn rồi!… Mà thật ra chỉ là trạng thái
vô-ký, chứ không phải nhất tâm bất loạn!… Tại vì khi đã nhất tâm bất loạn tức
cảnh giới chứng đắc, phá được “Vô-Minh Hoặc” rồi, không phải đơn
giản
đâu. Một người đã thật sự chứng đắc thì bao giờ lại đi khoe ra? Đã khoe ra
thì không thể là chứng đắc được! Mà hầu hết chín mươi chín phần trăm là rơi vào
cái cảnh giới vô-ký mà họ không hay!…

Bị tình trạng vô-ký quá nặng mà người ta cứ nghĩ rằng họ đang ở trong
định. Khi nghĩ rằng mình ở trong cảnh giới định tức là cái tâm đã vọng lên rồi.
Tâm vọng lên thì gọi là trạo-cử chứ sao gọi là định? Mà trạo cử nổi lên trong
cảnh vô-ký nên không hay! Cảm giác vô-ký đôi lúc cũng êm dịu lắm, sung sướng
lắm. Người ta ngồi có thể hai ba tiếng đồng hồ, ngon lànhthoải mái nữa. Khi
ra khỏi cái cảnh vô-ký nhiều khi cũng cảm thấy thoải mái lắm!… Lạ lắm!…

Chư Tổ có dạy rằng, cách tốt nhất khi mình gặp những hiện tượng lạ như
vậy, thì nên đến bái kiến những vị Sư, vị Thiền Sư nào đó để xin hỏi đạo với
các Ngài. Các Ngài có thể khui ra một chút đạo lý để giúp cho mình biết rõ đó
trạng thái vô-ký. Trong cảnh giới vô-ký, khi giựt mình tỉnh dậy, nhiều khi
mình cũng có cảm giác lâng lâng, không biết là mình đang ở đâu đây? Đang ngồi
niệm Phật với đại chúng, đang ngồi trong thiền đường, hay đang ngồi trong một
cảnh giới trên mây đây?… Cảm giác đôi lúc cũng sung sướng lắm! Gặp trường hợp
này, chư vị nên đánh giá rằng đó là cảnh giới vô-ký, nửa thật, nửa mơ!… Hình
như mình đang ở trong mộng, mà thật ra là mình đang ngồi niệm Phật!…

Cái cảnh giới này nó cũng giúp cho ta có chút an lành đó, nhưng thật sự
không phải là nhất tâm đâu, thật sự không phải là vào định đâu. Vì không rõ
điều này, nên nhiều người vừa rơi vào cảnh vô-ký, đã vội vã cho rằng mình đã
niệm Phật nhất tâm rồi, liền chạy ra ngoài khoe thấy này thấy nọ. Khi người ta
khoe ra rằng thấy này thấy nọ, chứng cách này cách nọ thì ta có thể đoán biết
rằng, hầu hết họ bị rơi vào những cảnh giới vô-ký này!…

Nếu một người thật sự đã vào định rồi, đã chứng đắc rồi, thì trí huệ đã
khai, tâm hồn của họ đã an khang, thanh tịnh. Hòa Thượng thường nói, một khi
thật sự được định do bởi công phu tu hành, thì đây là những người có sự hàm
dưỡng tốt. Không bao giờ người có công phu hàm dưỡng tốt lại khấp khởi mừng vui
vì một cơn định nào đó đâu!

Như vậy khi một người đã khấp khởi mừng vui, tự thấy mình ngon hơn thiên
hạ
sau một cơn “Định” nào đó, thì hầu hết đều do, một là sự hôn-trầm hơi nặng
một chút mà không hay! Hai là bị tình trạng vô-ký rồi!… Vì bị vô-ký mà không
được ai giải bày nên đã hiểu lầm! Rất nhiều người sau một thời gian vô-ký đã tự
khoe rằng mình đã được chứng đắc. Vì tâm móng cầu chứng đắc hơi mạnh, nên
thường hay mở cửa cho cái nạn gọi là “Ma” dựa. Chứ thật ra là chính cái tâm của
mình đã khởi lên một cái niệm móng cầu! Khởi tâm móng cầu do tại sức định không
có, tánh khiêm nhường không có, lòng chí thành không có… từ đó mới khơi nguồn
cho ách nạn xảy ra!…

Hôm trước chúng ta cũng có nói qua, muốn phá một người tu hành cần phải
chờ đợi sự sơ hở. Thường thường cái phương pháp hay nhất, cái phương tiện dễ
nhất để oan gia trái chủ hay những vị nghịch duyên phá được chúng ta là họ giúp
chúng ta tăng thượng mạn lên. Mà cách tăng thượng mạn dễ nhất là giúp cho chúng
ta
chứng đắc gì đó! À!… Anh muốn chứng đắc, ta cho chứng đắc luôn!…

Họ có những cái gì họ giúp mình cái đó. Ví dụ như họ có tha tâm thông.
Tha tâm thông chúng sanh trong pháp giới nhiều lắm, thì người ta cho cái tha
tâm thông
cho mình, họ giúp cho mình được tha tâm thông. Nghĩa là gì? Tôi biết
anh đang nghĩ gì, tôi biết anh hôm qua anh đã làm gì. Những cái “Chứng” nho nhỏ
như vậy làm cho mình mừng vui lên. Để chi? Để cho mình không ngờ đến những đòn
hiểm họa bên cạnh. Mình sơ ý, họ sẽ thừa cơ hội để trả thù!…

Muốn tránh chuyện này, đơn giản, không có gì khó khăn lắm đâu! Xin chư
vị hãy rút lại những cái mừng khấp khểnh mà mình gọi là chứng đắc đi, hãy rút
lại
những sự tự mãn gọi là ngon lành đi, hãy rút lại cái ý niệm nhất tâm bất
loạn
gì đó đi. Hãy rút lại liền đi. Hãy tập tính khiêm nhường, chí thành, chí
kính. Rút lại rồi, tự mình thành tâm niệm Phật hồi hướng cho pháp giới chúng
sanh
. Xin thưa với chư vị, chí thành cảm thông, hết liền lập tức.

Ví dụ, như một vị đã tự khoe là mình đã chứng đắc Hoa-Nghiêm Tam-Muội,
khoe ra đủ thứ hết… Nhưng chỉ cần bị Hòa Thượng la một câu, mời ra ngoài, thì
vài tháng sau đã xăn tay áo đánh lộn với người ta lỗ đầu chảy máu! Có sự chứng
đắc
nào mà kỳ lạ như vậy?!…

Một người tự khoe chứng đắc đi biểu diễn thần thông khắp nơi. Khi gặp
một vị Tổ, bị Tổ la rầy, “Anh về lo nhiếp tâm để niệm Phật đi, chớ đứng đó
mà cho là chứng đắc… chứng đắc!… Coi chừng có ngày anh “Queo-Râu” đó!
…”
Nếu anh biết giựt mình!… Giựt mình thì tỉnh ngộ!… Tỉnh ngộ thì tự nhiên những
thứ “Thần-Kỳ” gì đó sẽ biến mất đi! Biến mất đi, tức là chướng nạn được hóa
giải, chứ không phải anh bị thua thiệt đâu.

Bởi vì thương chúng sanh tâm ý quá hiếu kỳ, nên có nhiều lúc các Ngài
phải trợn con mắt lên, hét một tiếng thật to làm cho chúng sanh giựt mình tỉnh
ngộ
. Còn chúng ta không đủ năng lực để hét như vậy, thì chúng ta chỉ thành tâm
khuyên nhau hãy cố gắng niệm Phật. Thấy mệt mệt thì cứ mở mắt ra để cho thức
tỉnh
. Nếu chúng ta đang cố gắng nhiếp tâm như thế này mà thấy hình như bị mê
mê! Nhiều khi cảm thấysự cố hơi bất thường nào đó, thì hãy mở mắt ra, xoa
xoa cái đầu một chút là được rồi…

Cứ theo phương pháp đơn giản như vậy để tu hành thì tự nhiên được êm
xuôi. Chúng ta đang áp dụng phương thức “Năng nhặt chặt bị”. Miễn là
lòng phải thành tâm niệm Phật. Mỗi ngày cố gắng niệm thêm, niệm thêm, niệm
thêm… Phước báu của chúng ta tăng lên. Nghiệp chướng của chúng ta giảm xuống.
Với lòng chí thành thì chư vị oan gia trái chủ dễ thông cảm để chúng ta được an
lành
hoàn thành sứ mạng: Một người phàm phu được vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 17)

Nam Mô
A-Di-Đà Phật.

Chúng ta đang niệm Phật cầu
vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc. Trong kinh Phật nói, chúng ta đích thị là
người có Thiện-Căn, có Phước-Đức. Trong Nhân-Duyên
này, ta có hy vọng đi về Tây-Phương. Nói rằng “hy vọng”, có nghĩa
là ta vẫn còn ngồi tại cõi Ta-bà ngũ trược ác thế này để niệm câu A-Di-Đà Phật
và ngày ngày hồi hướng về Tây-Phương, để cầu mong được vãng sanh, chứ thật sự
là ta chưa được vãng sanh.

Chưa được vãng sanh thì ta
cũng chưa dám nhận là có phước-báu. Dù có thiện-căn cho mấy, ta cũng chưa dám
nhận là đủ thiện-căn.

Hôm qua chúng ta đã bàn qua,
nhiệm vụ chúng ta là phải cố gắng tô bồi thiện-căn hơn nữa, tô bồi phước-báu
hơn nữa. Đừng nên sơ suất! Tại vì khi sơ suất thì với thiện-căn này đáng lẽ
được trở về Tây-Phương, trí huệ khai mở, thành đạo Vô-Thượng, ta lại đành chờ
thêm một thời gian nữa khi nào thiện-căn trở lại mới tính. Điều này không tốt!

Ta có phước-báu đó. Nhưng đến
khi nào thật sự trở về tới Tây-Phương Cực-Lạc rồi thì mới chính thức thực tế
hưởng cái đại Phước-Báu này.

Chính vì vậy, giờ đây chúng ta
cũng phải biết cách gìn giữ phước báu, đừng để nó rơi rớt. Chỉ khi nào được ngự
lên trên đài sen đi về Tây-Phương rồi, lúc đó mới an tâm. Bất cứ người nào cẩn
thận
, chu đáo, đều phải chú tâm về vấn đề này.

Hồi sáng chúng ta nhắc đến
thiện-căn, bây giờ mình nhắc đến phước-báu một chút. Rồi ngày mai mình nhắc đến
thiện-căn. Thế là cứ xoay quần riết ba cái này, quần cho đến khi nào mình về
được tới Tây-Phương mới thôi.

Phước-Báu” là
tu thiện, làm thiện, làm lành, làm phước. Phước có bố thí pháp. Ví dụ như Diệu
Âm
hay thèo-lẻo cái miệng! Với cái nhân này nhiều lắm thì đời sau trở lại làm
người, thành một vị tiến sĩ nói thuyết này thuyết nọ cho hay! Được nhiều người
vỗ tay khen ngợi. Thật ra cái phước này không phải đích thật là loại phước ngon
lành
cho mình về Tây-Phương đâu.

Tu Phước còn có loại bố thí
tiền tài. Người bố thí tiền tài thì được quả báo có tiền tài. Có tiền gọi là có
phước-báu. Mình bây giờ tu phước, bố thí tiền thì nhiều lắm đời sau mình hưởng
cái phước này là cùng. Nói nhiều lắm nghĩa là chưa chắc chắn, vì vẫn phải còn
liên quan đến nhiều duyên khác nữa mới hưởng được.

Nếu như mình ăn chay. Ăn chay
cũng là cách tu phước. Mấy ngày nay có nhiều người nói đến ăn chay trường.
Thường bàn luận về ăn chay trường. Khoe ăn chay trường… Rồi có người còn hay
hơn nữa, phát tâm phóng sanh. Làm phước thật nhiều, đời sau nếu hưởng được
phước báu đó, thì thân thể của mình sẽ to, lớn, khỏe mạnh, chín mươi tuổi vẫn
chưa có một bệnh nào xảy ra.

Chính vì vậy làm phước mà
không biết hưởng đúng cách, thì chỉ hưởng trong lục đạo luân hồi, chưa chắc gì
đã toàn thiện. Hưởng cách đó, dù có gì đi nữa cũng chỉ là phước báu hữu lậu.
Tất cả những điều thiện lành mình đang nói đây đều là phước báu hữu lậu hết.

Như vậy bây giờ làm sao hưởng
được cái phước báu vô lậu đây?… Hay nhất là, theo như lời ngài Tịnh-Không
nói, làm phước mà không cầu hưởng phước trong đời này. Hãy dồn tất cả cái phước
đó đến lúc lâm chung mới hưởng. Bây giờ có phép mầu nào đó để mình đem hết tất
cả những phước của mình dồn tới lúc lâm chung mình hưởng đây? Người muốn vãng
sanh
về Tây-Phương là người chuyển cái phước báu hữu lậu này thành một thứ đại
phước báu, thành thứ tư lương đi về Tây-Phương. Ngon lành!…

Muốn chuyển cái phước báu này
thành cái tư lương về Tây-Phương, không có cái gì khác hơn là hãy tập làm cái
hạnh phước báu Ba-La-Mật. Ba-La-Mật là sao? Làm mà giống như không làm, làm mà
quên đi…

Ví dụ, như có nhiều vị phát
tâm
ghi lại những lời tọa đàm của Diệu Âm để ấn tống thành sách, sẽ có nhiều
người góp tịnh tài vô để ấn tống. Diệu Âm khuyên những vị đó đừng lập danh sách
gọi là “Phương Danh Ấn Tống”. Nếu có người nào trách chư vị thì Diệu
Âm
sẽ chịu cho. Nếu người ta nghi chư vị gạt tiền của họ thì Diệu Âm cũng sẽ
chịu cho. Nhưng chư vị đừng gạt nhé! Phải làm thật lòng là được. Rồi cái tiếng
xấu
mà người ta nói, thì không sao đâu, tôi chịu cho. Tôi chịu mang tiếng gạt,
mà tôi không có làm. Người ta chửi tôi thì cái nghiệp của tôi bay ra hết.
Nghiệp bay ra hết thì tôi được tăng trưởng phước-báu lên. Vậy thì tốt chứ có
sao đâu?

Hãy tập làm cái hạnh bố thíBa-La-Mật”,
bố thí viên mãn. Tập đừng hưởng phước báu của thế gian này. Hay lắm! Điều này
là thật sự là hay!

Ví dụ, khi mình tới cúng dường
cho chùa, các chùa thường thường ghi danh sách lớn lắm. Để ý rồi mình mới thấy,
người nào cúng cả ngàn euro thì được ghi tên lên cao nhất, chữ lớn nhất. Người
cúng hàng trăm euro ở hàng thứ hai, thứ ba… Còn những người ở hàng chót nhất
thì một vài chục, hoặc một vài đồng!…

Thật ra làm vậy đôi khi cũng
tội nghiệp cho những người bỏ đồng tiền ra cúng dường, bố thí! Tại vì thật ra
tu phước thì có phước, nhưng mà cái niệm cống cao ngạo mạn, cái niệm cạnh tranh
hình như cũng từ đó phát ra… Khởi ra cái niệm này thì dù mình làm phước lớn
cho mấy đi nữa, cái phước báu này cũng trở thành là “Thiểu”! Nghĩa là
chút chút! Như vậy, khi gặp một nơi nào đó người ta cần phải niêm yết danh
sách, thì chính ta hãy cố gắng tập quên đi. Cứ tập quên cho nhiều đi. Khi làm
cái gì thường phải lên danh sách, làm cái gì cần phải lên tivi, làm một cái gì
cần phải lên đài truyền thanh để mà tung ra, thì cứ để họ tung, còn chính ta
phải tập quên đi.

Hòa Thượng Tịnh-Không nói:
Mình làm một việc thiện mà đi khai ra một lần thì coi như mình huề vốn rồi.
Người ta khen mình là huề vốn rồi. Làm một việc thiện, lại mời đại chúng gom
lại một trăm người để mình tuyên bố việc thiện đó ra, thì tới một trăm người
nghe, một trăm người biết. Một lần làm phước mà tới một trăm người biết thì coi
chừng
mình bị lỗ vốn tới 99 lần!… Ngài nói như vậy. Hay lắm!…

Thành ra muốn gìn giữ phước
báu, hay nhất là chúng ta tập làm mà giống như không làm. Nếu mà ta quyết lòng
coi thế gian này chỉ là chuyện tạm bợ, thời gian chỉ ngắn ngủi không có gì để
cho mình lưu luyến! Thì thôi! Bây giờ bắt đầu từ đây, ráng cố gắng đoạn cái
danh đó đi. Đoạn bằng tư tưởng, đoạn bằng cái tâm này, chớ không phải đoạn bằng
sự tướng. Giả sử mình nói, con xin cúng dường cái này, xin Thầy đừng có lên
danh sách làm chi. Nhưng mà luật lệ ở đó phải lên danh sách, thì thôi việc đó
tùy duyên là được.

Về tu phước, trong kinh
Quán-Vô-Lượng-Thọ, Phật có nói rõ: Pháp Nhơn-Thiên, pháp Thanh-Văn Duyên-Giác,
pháp Bồ-Tát. Pháp tu bố thí thuộc về phước Nhân-Thiên, có bốn điều:

Hiếu dưỡng phụ mẫu.

Phụng sự sư trưởng.

Từ tâm không sát sanh.

– Tu mười thiện nghiệp.

Sơ khởi, mình khui ra chuyện
hiếu dưỡng phụ mẫu thôi, nếu làm được thì cũng ngon lắm rồi. Xin thưa rằng, khi
đã nghĩ đến hiếu dưỡng phụ mẫu, thì đừng nên nghĩ rằng ngày ngày mua vài con gà
để phụng dưỡng cha mẹ ăn uống no nê là được. Không phải đâu!

Cố gắng khuyên cha mẹ niệm
Phật
. Mấy ngày nay thấy cô Kim Bình hết lòng khuyên bà cụ niệm Phật. Đúng như vậy
đó. Còn người làm mẹ được con cái báo hiếu, khuyên mình niệm Phật, thì mình
cũng phải tìm cách đáp ứng cho đúng sự báo hiếu mới tốt. Đừng nên làm cho người
con của mình thất vọng nhé. Người mẹ cũng nên nhớ rằng, đời này vị này là con
của ta, nhưng trở ngược về trong quá khứ thì chưa biết ai là mẹ ai là con đâu.
Chưa chắc đâu. Nhớ kỹ điểm này.

Khi chúng ta biết “Hiếu
Dưỡng
Phụ Mẫu
”, thì chúng ta cũng phải biết “Hiếu Hòa” với đại
chúng
, với mọi người. Ta làm được sự hiếu hòa này thì ta có phước đức lớn lắm.
Đừng nên, hễ mẹ của ta thì ta tiếp xử vui vẻ, lễ phép, còn bà kia không phải là
mẹ của ta thì ta có quyền cự chống họ. Không tốt! Đi đến một nơi tu hành, mình
chán ghét người này, mình phê phán người nọ… Làm vậy thì mình đã mang cái tội
bất hiếu với cha mẹ rồi đó! Lạ lắm!…

Trong kinh Phạm-Võng có nói
rõ, giúp mình hiểu được cái cảnh luân hồi trong lục đạo nó xoay vòng với nhau.
Chưa chắc một người bạn của mình thật sự là bạn đâu, có thể trong đời trước họ
là cha là mẹ của mình mà không hay đó. Một người phụ nữ, một người bạn khác quý
mến
ta, mình đừng có tưởng do mình tài giỏi, ăn nói hay ho nên người ta kính
mến. Chưa chắc! Suy cho cùng ra coi chừng trong quá khứquyến thuộc với
nhau
, lại là chị mình. Không phải là chị, thì là mẹ mình. Không phải là mẹ, thì
có khi là bà nội mình nữa đó…

Chính vì vậy, nếu chúng ta
biết được chuyện hiếu hòa là quan trọng, thì xin chư vị cố gắng áp dụng phương
thức, đừng nên kình chống lẫn nhau. Hãy cố gắng đoàn kết với nhau, hòa hợp với
nhau
để làm đạo. Đây là điều hay nhất. Nếu tu như thế này thôi, đối với những
pháp tự lực thì vĩnh viễn đời-đời kiếp-kiếp, ta không có cái cơ hội giải thoát.
Nhiều lắm chỉ hưởng được cái phước báu Nhân-Thiên là cùng. Nhưng đem những việc
làm
thiện lành này chiều lại ta nguyện đem công đức này, hồi hướng về
Tây-Phương trang nghiêm Tịnh-Độ,
thì xin thưa
chúng ta đã chuyển hết tất cả cảnh giới tu hành rồi. Hay lắm! Cũng tu y hệt như
vậy mà ta chỉ thêm một câu nữa thôi lại chuyển đổi được cảnh giới. Mà phải
thành tâm nghen. Các Bác, các Cụ hãy thành tâm nghen.

Nếu chúng ta không đọc câu này, thì ta chỉ
là những người phàm phu, vẫn tiếp tục đi trong cảnh giới phàm phu! Một phàm phu
có phước hơn những phàm phu khác là cùng! Nhiều lắm chứ chưa chắc chắn đâu!
Nhưng chúng ta cũng tu hành y hệt như vậy mà cứ đem tất cả những việc làm thiện
lành này, chiều lại thành tâm, Nguyện đem công đức
này hồi hướng về Tây-Phương trang nghiêm Tịnh-Độ
“, thì mình đang tu cái hạnh “Tịnh
Nghiệp
”, chớ không phải là tu “Thiện Nghiệp” nữa. Lạ không! Rất
nhiều người chưa biết chuyện này đâu. Cứ cho rằng tu hành thì làm lành lánh dữ
là được. Sai lầm!… Chư Tổ đánh giá sai lầm! Có nhiều khi các Ngài còn trợn
con mắt lên nói: “Nhà ngươi mà chỉ lo làm thiện cho nhiều, thì cái nghiệp
thiện nhà ngươi lớn. Nghiệp thiện lớn thì sau cùng nhà ngươi cũng phải lăn lộn
trong cảnh lục đạo luân hồi này chứ không được giải thoát!…”.

Đây là các Ngài đang la rầy
một người không biết mỗi chiều đem công đức tu hành hồi hướng về Tây-Phương
Cực-Lạc đó.

Như vậy mình hồi hướng về
Tây-Phương Cực-Lạc chính vì tâm mình là tâm đi về Tịnh-Độ, chớ không phải là
tâm cầu hưởng phước trong cõi Ta-bà.

Vậy thì, chuyện làm thiện làm
lành này, thành thật mà nói, chỉ là trợ hạnh mà thôi!…

Nói tóm lại, người đi về
Tây-Phương thì…

Chánh Hạnh phải là niệm câu
A-Di-Đà Phật.

Chánh Nguyện phải là nguyện
vãng sanh về Tây-Phương.

– Với niềm Tin dũng mãnh.

Cách tu hành thì cũng giống y
hệt như mọi người, nhưng sau cùng ta vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Dù cái
phước-báu này nhỏ cho mấy đi nữa, ta cũng có thể biến phước-báu này thành công
đức vô lượng vô biên trên cõi Tây-Phương. Ta là người có “Đại Phước-Báu”.

Hiểu được chỗ này rồi mới thấy
rõ rằng chúng ta tu có gì khác với thiên hạ đâu? Chúng ta cũng làm thiện, cũng
làm lành. Đôi lúc cũng hơi buồn buồn chút chút… Có chớ!… Phàm phu làm sao
không có? Làm sao hết được phiền não phải không? Nhưng mà ta đang tu tịnh
nghiệp
, tức là ta quyết lòng đi về cõi Tịnh-Độ. Nó khác nhau chỉ là đem tất cả
công đức này hồi hướng về Tây-Phương.

Nhưng đã hồi hướng về
Tây-Phương thì đừng có hồi hướng cho nhân gian nữa nhé. Những người nào đem
công đức này hồi hướng cho nhân gian thì nhất định không thể nào vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc.

Hồi hướng cho nhân gian
sao? Là khi mình làm một việc gì, vội đi khai báo cho rùm beng lên để thế gian
này thấy được cái công đức của mình, đây là mình đang hồi hướng về nhân gian
vậy! Mình tích thiện kiểu đó thì đành rằng đời này phải chịu luống qua thôi!…

Xin thưa với chư vị, pháp tu
này có phải là đơn giản lắm không? Quá đơn giản! Thật sự quá đơn giản! Tại vì
những điều chính yếu của cách tu hành nhiều khi chúng ta không phát hiện ra
được. Chứ phát hiện ra rồi, thì thật sự ta đang đi trên con đường thẳng tắp về
Tây-Phương Cực-Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 18)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Chúng ta chỉ còn
có một buổi này với ngày mai nữa là xong pháp hội này, một cơ duyên thù thắng,
kết quả tốt đẹp. Trong mấy ngày nay Diệu Âm thấy là mọi người ai cũng vui vẻ.
Thật sự là bất khả tư nghì! Lợi dụng trong những khoảng thời gian còn lại, Diệu Âm xin kể một vài câu
chuyện
nho nhỏ vui vui bên cạnh con đường đi khuyên người niệm Phật. Những câu
chuyện
này hình như cũng có một chút ít ý nghĩa khai thị cho chúng ta.

Cách đây tám-chín
năm rồi, chín năm, năm hai ngàn lẻ hai. Có một lần Diệu Âm đi về Việt Nam, rồi
đến một nhà của một đứa em, hướng dẫn cho cũng khoảng chừng hai chục người niệm
Phật
. Thì trong buổi niệm Phật, sau khi đi kinh hành xong rồi ngồi xuống, chính
Diệu Âm đánh địa chung. Không biết lúc đó đánh địa chung có hay bằng cô Mơ ở
đây hay không?… Không biết! Quên rồi!

Sau khi đánh địa
chung xong thì ngồi tịnh, tức là năm phút tịnh niệm. Trong khoảng thời gian
tịnh niệm năm phút đó, thì có một việc xảy ra hơi bất ngờ! Một chị đồng tu tự
nhiên
sao có một hiện tượng bất thường phát lên, chị nói lên với trạng thái
không kềm chế được! Chị có những cử chỉ bất thường! Chị với tay chụp người này,
chụp người kia. Chị nói lên những lời hình như không kiểm soát được… Chị nói:

– Chư vị Bồ-Tát
ơi! Bây giờ tôi biết thế nào là tu hành rồi. Tôi đã biết con đường giải thoát
rồi. Ông-Bà Cha-Mẹ tôi cũng được giải thoát rồi… Xin cảm ơn chư vị Bồ-Tát…

Chị đã gọi mấy
người xung quanh đó là Bồ-tát. Mấy người chung quanh thấy vậy sợ quá phải né
ra, né ra xa chỗ khác. Không biết là tâm sự của họ lúc đó như thế nào? Nhưng
thật sự nỗi lo lắng hiện lên nét mặt!… Hiện tượng đó xảy ra lúc vừa mới dứt
địa chung, mọi người đang ngồi tịnh niệm, rất im lặng. Tôi cũng đang ngồi tịnh niệm
ở phía trên. Nghe vậy tôi mở mắt ra nhìn chị, nhìn xong tôi lại nhắm mắt lại…
Còn vị đó thì tiếp tục nói lung tung. Mấy người đồng tu tưởng rằng tôi ngồi
tịnh niệm nhiếp tâm quá đến nỗi không nghe thấy gì cả, nên mới kêu lên: “Anh
Năm!… Anh Năm!…
”. Họ kêu tôi hãy mở mắt ra xem tại sao chị đó lại bị
như vậy?

Tôi mở mắt ra
nhìn!… Nhìn xong rồi lại nhắm mắt nữa!… Mọi người thấy tôi sao mà bình tĩnh
quá, nên cũng làm thinh luôn! Họ đành phải né xa ra để mặc chị làm sao thì làm!
Mọi người đều nương vào tôi mà, nhưng thấy tôi làm thinh nên họ cũng làm thinh
luôn! Chị đó nói năng lung tung khoảng một vài phút, thì bắt đầu ngồi im, không
nói nữa…

Lúc đó tôi mới mở
mắt
ra nhìn chị, rồi tôi nhìn mọi người. Người ta tưởng rằng tôi phải làm cái
gì đó, nhưng tôi chỉ mỉm cười, rồi tôi lại nhắm mắt lại nữa. Tôi đợi khoảng một
phút nữa, coi thử chị đó có nói gì thêm không. Nhưng chị không nói gì nữa cả.
Chị bắt đầu hiền lại rồi! Bình tĩnh lại rồi. Tôi mới cười và nói:

Sao?… Chị
muốn nói gì nữa không? Nói tiếp đi! Có muốn làm gì nữa không? Làm tiếp đi!…

Tiếng nói của tôi
phá tan bầu không khí im lặng làm tất cả mọi người cùng cười rộ lên!… Nghĩa
là họ cùng cười rợp cả cái phòng luôn!….

Thật ra, trong
khoảng
thời gian hơn mấy phút đồng hồ đó, mọi người đều bị căng thẳng quá!
Không biết là chị này bị chuyện gì mà sanh ra bất bình thường!… Sau khi mọi
người
cười rộ lên làm cho chị đó cũng mắc cở, chị cũng cười theo luôn. Tới lúc
này thì bao nhiêu sự căng thẳng mới giải tỏa hết. Đúng ra trong buổi cộng tu đó
tôi sẽ không nói khai thị gì đâu, nhưng gặp phải hiện tượng đó, tôi đành phải
nói vài lời để giải tỏa thắc mắc cho mọi người an tâm.

Tôi nói với mọi
người
nên hiểu rằng cái hiện tượng này là bình thường, chứ không có gì đáng
ngại! Giả sử như trong lúc xảy ra sự việc như vậy, nếu tôi chưa từng trải qua
kinh nghiệm nào, thì có lẽ buổi cộng tu đó sẽ lộn xộn lắm! Nhưng mà tôi đã có
kinh nghiệm qua rồi. Ở trong Tịnh-Tông Học-Hội tôi đã từng gặp qua một vài
trường hợp tương tự. Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật cũng có nói về hiện tượng
này, nên tôi mới bình tĩnh, vững tâm và biết ngay rằng chị này ứng ngay ở chỗ
đó, chớ không có gì lạ!… Đó là hiện tượng bất chợt gặp câu A-Di-Đà Phật, họ quá vui mừng
đến nỗi không còn kềm chế được!…

Chị đó đã tu tập
theo pháp tọa thiền hơn mười ba năm. Sức ngồi thiền của chị kéo dài năm-sáu-bảy
tiếng đồng hồ là chuyện bình thường. Có nhiều khi chị có thể ngồi luôn từ sáng
đến chiều, trải qua trong vòng bảy-tám tiếng đồng hồ trong cảnh tịnh tâm. Khả
năng tọa thiền của chị thật sự cũng khá.

Nhưng khi quý vị
đồng tu mời chị đó đến niệm Phật thử cho biết. Đó là buổi tu niệm Phật thử đầu
tiên của chị. Trong khi tu thử thì vô tình làm cho chị giựt mình! Chị tưởng là
cách tu cũng giống như chị thường tu, nghĩa là khi vào trong Niệm Phật Đường là
phải ngồi, ngồi cho thật lâu để tịnh. Từ trước tới giờ chị chưa bao giờ thấy
qua cách tu nào vô trong Niệm Phật Đường chỉ có niệm Phật, niệm Phật suốt. Đi
kinh hành
cũng niệm Phật, ngồi xuống cũng niệm Phật, rồi khi ngồi tịnh tôi cũng
nói tịnh niệm, ngồi tịnh cũng niệm Phật….

Tiếng niệm Phật từ
đầu cho đến lúc ngồi tịnh niệm Phật, làm cho chị ngộ ra điều gì đó và phấn khởi
quá đến nỗi kềm chế không được, nên mới phát tác lên một hiện tượng bất thường
như vậy!

Trong kinh Phật,
kinh Vô-Lượng-Thọ, Phật có nói lên hiện tượng này. Có những người khi nghe được
câu danh hiệu A-Di-Đà Phật, tự nhiên họ phát khóc, họ khóc nức nở, khóc không
kềm được nước mắt! Tôi đã từng thấy có những người khóc đến nỗi mà họ phải rút
từng nắm từng nắm giấy để chặm nước mắt. Chặm như vậy mà chặm cũng không kịp
nước mắt.

Rồi cũng có người
khi nghe câu danh hiệu A-Di-Đà Phật thì lại vui mừng. Người ta mừng vui đến nỗi
ở giữa đạo tràng trang nghiêm mà họ nhảy, họ la lên, mất bình tĩnh, không kềm
được sự cảm xúc! Nhiều khi áo quần cũng bay phất phới lên như bướm!…

Nguyên nhân là vì những người
này trong tiền kiếp họ đã niệm Phật rồi, nay gặp nhân duyên này tạo cho họ sự
cảm xúc mãnh liệt như vậy.

Thì chị này ở vào
trường hợp thứ hai. Chị quá mừng vui!…

Khi chị bình tĩnh
lại rồi, tôi mới nói cho vui:

– Sao?… Bây giờ
chị muốn làm nữa không?…

Thôi! Em mắc
cỡ
quá rồi anh Năm ơi! Em không dám làm nữa đâu. Thật ra lúc đó em mừng quá, em
muốn đến lạy từng người một để cảm ơn. Em muốn lạy Phật, em lạy chư vị Bồ-Tát,
cảm ơn tất cả chư vị Bồ-Tát đã giúp cho em một con đường giải thoát

Giả sử như lúc ngộ
ra đường đạo như vậy, mà gặp người không có kinh nghiệm giúp đỡ, lại lầm rằng
vị này bị trở ngại, bất thường… vội phản ứng không thích hợp như chụp tay,
chụp chân, kềm chế, đè xuống, v.v… thì có thể từ chỗ gọi là “Kiết
biến thànhHung”, từ chỗ vui biến thành lộn xộn! Rõ ràng không
biết đâu là “Kiết”, đâu là “Hung”? Kinh nghiệm này nói ra để khi gặp chuyện
chúng ta biết cần giữ điềm tĩnh để giúp nhau. Tôi giải quyết bằng cách chờ chị
im lại rồi mới nói:

Sao? Muốn làm
nữa không?…

Thôi! Em mắc
cỡ
quá!

Nếu mắc cỡ
quá không làm nữa thì niệm Phật. Chắp tay lại đi…

Tôi niệm: “A-Di-Đà
Phật”.

Chị đó niệm: “A-Di-Đà
Phật”.

Tôi bảo chị niệm
theo tôi ba tiếng “A-Di-Đà Phật”. Xong, tôi hỏi:

Sao? Bình
tĩnh
lại chưa?…

– Chưa bình tĩnh
lắm!…

Chưa bình
tĩnh
thì niệm thêm ba tiếng nữa: “A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật”.

Sáu tiếng
rồi. Bây giờ bình tĩnh chưa?…

Bình Tĩnh
rồi!…

Rõ ràng đơn giản,
giải quyết cụ thể.

Chính vì vậy, hồi
sáng nay có người đến hỏi tôi là muốn tự tu ở nhà có được không?… Được chứ
sao không. Nhưng cần cẩn thận! Nhiều khi tâm mình thành khẩn, thành khẩn thì dễ
được cảm ứng, cảm ứng tốt chứ không phải xấu. Cảm ứng tốt nhưng vì quá bất ngờ,
nên mình không kềm chế được niềm vui. Từ chỗ đó, đúng ra là mình được thiện
lợi, nhưng vì không có một người hiểu việc bên cạnh để khuyên giải, hay tiếp
trợ cho mình để cho mình được thiện lợi. Có nhiều người họ lại tưởng rằng mình
bị chướng nạn! Vì hiểu lầm nên có thể tự dẫn đến chỗ lộn xộn tâm trí!…

Quý vị thấy không?
Đây là trường hợp được cảm ứng tốt. Cảm ứng tốt mà sơ ý thì có thể vẫn còn trở
ngại như vậy, huống chi là những cảm ứng xấu! Tại sao lại có chuyện Kiết
Hung
đảo lộn như vậy?… Xin thưa tại vì thật ra là “Tâm
” của mình nó yếu lắm, không phải là mạnh đâu!…

Ví dụ, khi mà ngộ
ra như vậy, nếu như vị đó có tâm cơ mạnh thì sẽ điềm tĩnh vô cùng, thấy an lạc
vô cùng, và tự họ nhận ra con đường giải thoát chính là câu A-Di-Đà Phật, mà
mình đã cố gắng tìm. Công phu tu trì rất là cao để tìm ra đường giải thoát,
nhưng trong mười mấy năm trường qua tìm không được, nay gặp câu A-Di-Đà Phật mà
ngộ ra. Ngộ ra đường giải thoát, nhưng vì tâm cơ yếu, không chịu đựng nổi sự
thử thách của cái ngộ đó, nên mới phát tác lên, nhảy chụp người này, chụp người
nọ, làm lộn xộn giữa đạo tràng như vậy!…

Đây cũng là một
lời khai thị rất hay. Chúng ta tu hành trong thời mạt pháp này, hãy nên kết
nhóm với nhautu hành. Chúng ta cũng nên cần có những sự hiểu biết căn bản,
cụ thể để kịp thời giúp cho một người đang được cảm ứng thiện lợi, sẽ tiếp tục
được thiện lợi. Như vị đó sau khi đã có cảm ứng đó rồi, mới quyết tâm, xin thề
là từ nay về sau sẽ niệm Phật. Bây giờ thì chị đó niệm Phật rất giỏi, rồi cộng
với công phu tu thiền định sẵn có của chị, những ngày tinh tấn tu hành, chị
ngồi niệm Phật từ sáng cho đến trưa luôn.

Có những chuyện
cũng tương tự như vậy, nhưng nếu không biết cách giải, có thể đưa đến chỗ trở
ngại! Ví dụ như khi Ngài Lý-Bỉnh-Nam lập ra một tuần thất tinh tấn. Thì một
tuần lễ đầu phát hiện có hiện tượng bị trở ngại!…

Mình ở đây cũng có
tu ngày tinh tấn, nhưng thực ra là giả đò tinh tấn! Mình thuộc hàng giả đò, chứ
không có tinh tấn gì hết! Nếu đúng là tinh tấn thì từ sáng đến trưa, từ trưa
đến chiều, từ chiều đến tối, không được nói một lời nào. Ăn xong là phải
Niệm
Phật Đường niệm Phật liền, miên mật niệm Phật suốt một tuần lễ.

Khi phát hiện có
hiện tượng trở ngại như vậy, ngài Lý-Bỉnh-Nam nói, gặp một cảm ứng như vậy, nếu
mà vị chủ thất không vững, thì có thể làm trở ngại cho người ta! Cho nên Ngài
nói, muốn kiết thất tinh tấn, gọi là đúng với tinh thần tinh tấn, thì chọn ra
cỡ chừng sáu người cộng với người chủ thất là bảy người. Bảy người thôi, cùng
nhau nhập thất niệm Phật tinh tấn trong vòng một tuần lễ.

Khi Ngài tổ chức
lần thất tinh tấn thứ hai, thì không phải chỉ có một người bị trở ngại, mà có
đến hai ba người bị. Bắt đầu từ đó Ngài mới khuyên rằng:

Thời mạt pháp
này, tâm cơ chúng sanh yếu quá, không chịu nổi thử thách. Cho nên xin đừng
ý
, tổ chức tu tinh tấn bừa bãi, hay gọi là quá tinh tấn.
Không tốt!…

Một khi muốn tu
tinh tấn như vậy, thì luôn luôn cần phải có người chủ thất vững. Để chi vậy?…
Người có cảm ứng tốt mình cũng giải được, mà người có cảm ứng không tốt mình
cũng phải giải được cho họ.

Thật ra cũng không
phải là chuyện nguy hại xảy ra thường xuyên. Nhưng chỉ sợ rằng là khi đối diện
với những cảm ứng đó, mình có kềm chế được, có giữ được cái tâm bình tĩnh hay
không?

Ví dụ như chị đó,
nếu lúc đó không có một người nào vững để kềm lại, cũng có thể bị chút ít trở
ngại. Trở ngại vì lầm lẫn! Đáng lẽ, lúc họ cảm thấy lâng lâng, sung sướng quá,
cứ để tự nhiên cho họ hưởng cái cảm giác sung sướng đi, rồi sau đó tự nó sẽ
giải nghiệp cho người ta. Có nhiều người sơ ý chạy tới cột tay, cột chân, cưỡng
bức
họ… Từ đó điều thuận lợi biến thành trở ngại là như vậy.

Cho nên thường
thường
chúng ta phải kết nhóm với nhau để tu hành. Và dù là cảm ứng tốt đi nữa,
mình cũng phải quán: À! Vì cái tâm cơ mình còn yếu quá! Cảm ứng tốt này chỉ
cảm ứng tạm thời thôi! Chứ ta chưa phải là đắc đạo gì đâu!
… Cũng như
chị đó ngộ ra đường tu. Khi chợt ngộ, cảm giác quá mạnh, nó vượt qua sự kềm chế
nên mới có động thái bất thường thôi, chứ không phải ngộ được ra như vậy là
khai ngộ, hay đắc đạo gì đâu!

Tôi khuyên chị đó
hãy tiếp tục tu hành. Vẫn vui vẻ thoải mái không cần sợ sệt gì nữa hết! Cứ giữ
tâm thanh tịnh niệm Phật và biết rằng: À! Như vậy đường giải thoát cho chính
ta là câu A-Di-Đà Phật
. Chị đó bắt đầu quyết lòng niệm Phật. Sau này chị đi
hộ niệm, những cuộc vãng sanh mà được chị giúp, tuyệt vời vô cùng!…

Thì đây cũng là
một lời khai thị rất hay cho chúng ta về cách thức tu hành.

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 19)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Chúng ta chỉ còn
có một ngày hôm nay, nói chuyện với nhau. Rồi ngày mai thì mỗi người đi về mỗi
nơi. Cơ duyên này cũng chỉ kéo dài một thời gian ngắn ngủi, xin tất cả hãy trân
quý, để cho cái duyên này mình được đắc thiện lợi.

Ngày hôm qua mình
kể ra câu chuyện của một người lần đầu tiên niệm Phật mới ngộ ra và nói lên
rằng bắt đầu từ đây tôi đã biết con đường giải thoát rồi. Ông bà cha mẹ, cửu
huyền thất Tổ
của tôi cũng sẽ được giải thoát… Rõ rệt, trong một đời người tu
hành
cơ duyên chỉ đến có một lần, ngộ hay không ngộ cũng một lần, không dễ gì
có lần thứ hai. Cho nên mình thấy cơ duyên niệm Phật quý giá vô cùng.

Trong lần đầu tiên
đó, vị đó ngỡ ngàng mà đến nỗi không kềm được những lời nói, những cử chỉ của
mình, nên phát tác ra những động tác không kiểm soát được. Chuyện này cũng giúp
cho người đó, cũng như cho chính chúng ta biết rằng, dù mười ba-mười bốn năm
qua tu thiền định, mức công phu cũng thật là khá, nhưng khi gặp người niệm Phật
mới ngỡ ngàng ra một chuyện là sức định đó còn yếu hơn những người đang ngồi
niệm Phật. Vì người biết được pháp Niệm Phật, người ta nhiếp tâm niệm Phật thì
họ cũng có những cảm ứng tốt, nhưng mà không đến nỗi phải mất sự kiểm soát!
Trong khi vị đó đã có công phu hơn mười ba năm và sức ngồi thiền có thể đến
bảy-tám tiếng đồng hồ dễ dàng. Nhưng không ngờ khi vừa gặp một cảnh giới lạ thì
kiểm soát không được, kềm chế không nổi!

Câu chuyện này
cũng giúp cho ta hiểu được rằng, sự thử thách của cảnh giới không phải là đơn
giản
đâu! Nhiều khi ở trong những môi trường bình thường, mình tưởng là có sức
định. Nhưng khi gặp một chuyện bất ngờ, thì mình thấy rõ rệt cái sức định mình
không còn nữa!…

Câu chuyện này
cũng nói cho chúng ta biết là tâm cơ của tất cả chúng ta trong thời kỳ mạt pháp
này, thực tế không phải là cao lắm đâu. Chính điều đó cũng là một bài học, xin
đừng sơ ý. Có nhiều người khi tu hành không chịu giữ tâm của mình thanh thản,
nhẹ nhàng, nói theo lời của ngài Ấn-Quang là “Chí Thành-Chí Kính”, nói
theo lời của ngài Tịnh-Không là “Khiêm Cung”, thì chúng ta dễ đi đến cái
chỗ bị mắc lừa!…

Trong kinh có nói
là khi chúng ta niệm Phật, chúng ta sẽ thấy A-Di-Đà Phật đến tiếp dẫn. Nghe
vậy, nhiều người nói rằng, tu hành ta phải cầu nguyện cho Phật hiện thân ra để
mình thấy… Có nhiều người khuyên rằng không nên làm như vậy. Có người lại
nói, vì niềm tin của mình chưa đủ nên Phật có thể ứng hiện cho mình thấy để tạo
niềm tin cho mình tu, điều này có gì đâu mà sai lạc?!…

Thì hôm nay, dựa
theo câu chuyện của ngày hôm qua mình kể mới thấy rằng, với hàng chúng sanh,
phàm phu căn tánh hạ liệt như chúng ta thì Phật không nỡ lòng nào ứng hiện cho
mình thấy đâu… Tại sao vậy? Tại vì Phật thương chúng sanh, Phật không nỡ nào
để cho chúng sanh bị loạn tâm!…

Thật ra cái vị
được kể hôm qua là do cái thiện-căn tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp đã có.
Nghĩa là trong quá khứ nhiều đời nhiều kiếp vị đó có niệm Phật, nhưng vì một sơ
suất nào đó mà bị mất phần vãng sanh, mất đường thành tựu. Trong suốt thời gian
trôi lăn trong cảnh sanh tử luân hồi, vô tình đến ngày đó gặp được người niệm
Phật
, rồi cộng tu chung với họ, nên những thiện-căn phước-đức mới trỗi dậy,
trỗi dậy mà kềm chế không được đến nỗi đã phát ra những động tác bất bình
thường
, giống như bị tẩu hỏa nhập ma vậy!…

Nếu trong trường
hợp
đó gặp những người thiếu kinh nghiệm, vô tình tạo cho họ những chướng nạn!
Từ chỗ không có nạn mà thành ra nạn! Cũng trường hợp như vậy mà gặp những người
đã biết, đã có kinh qua những chuyện đó rồi, đã hiểu được rồi, thì người ta
giúp tăng thêm thiện duyên cho người đó, nhờ đó người ta tiếp tục con đường tu
hành
thành đạo, không có gì trở ngại hết.

Tuy nhiên, nói về
tâm từ bi trong quá khứ thì có tốt, nhưng mà nói về tâm định trong hiện tại thì
có trở ngại. Trở ngại chỗ nào?… Khi một người thật sự đã định, thì đối trước
những sự cảm ứng đó, không bao giờ người ta lại mất sức kiểm soát như vậy đâu.
Đúng không?…

Chính vì khi vị đó
phát hiện như vậy thì mới ngỡ ngàng một điều: À trong lúc mà mình tập tọa
thiền
, cố gắng giữ tâm thanh tịnh, cố gắng làm cho vọng tưởng của mình lắng
xuống, và có công phu ngồi im rất lâu. Nhưng khi vô tình gặp một sự cố bất ngờ
xảy ra, hình như cái sức định đó tự nhiên không còn nữa, đến nổi phát những
động tác không được trang nghiêm, làm cho nhiều người phải hoảng sợ lên!…

Lúc đó mình mới biết rằng: À! Thì ra một người niệm câu A-Di-Đà Phật, thực
hành pháp
môn Niệm Phật là “Tối Thượng Thiền” rồi, chớ không
phải là “Bình Thường Thiền” nữa đâu. “Đại Thượng Thiền” rồi chớ không phải là
thứ thiền bình thường
.

Thiền-Định không
phải là cứ ngồi im như thế này là thiền định đâu. Ngài Tịnh-Không nói rất hay,
căn cứ vào những chuyện này để chứng minh cho lời nói của Ngài rất tuyệt vời.
Ngài nói, “Định” là có “Chủ Định”, chớ không phải
định là ngồi im một chỗ. Hay vô cùng phải không chư vị? Cái tâm của người niệm
Phật
với lòng tin tưởng vững vàng, với con đường đi xác đáng và điểm về rõ rệt,
thì tâm của họ thật sự đã định. Đường đi của họ định vào trong câu A-Di-Đà
Phật, không còn chao đảo nữa. Cái gọi là “Tâm Viên
không còn xảy ra nữa. Cái gọi là “Ý Mã” không còn ứng
hiện
trong tâm của họ nữa, dù thân của họ vẫn lái xe, vẫn đạp xe đạp, vẫn cỡi
xe Honda ào ào ngoài đường.

Ý chí của họ, chí
nguyện
của họ là nguyện vãng sanh về Tây-Phương. Hướng về đã có. Họ không còn
chao đảo gì hết. Ai nói gì nói, tâm họ vẫn vững như bàn thạch. Đó gọi là “Định”.

Điểm đến của họ… Họ không cầu mong cho chứng
đắc
, họ không cầu mong cho cái tâm an lạc, họ không cầu mong cho cái thân thể
này tráng kiện, an khang. Mà họ cầu mong làm sao hết một báo thân này nhất định
về tới Tây-Phương Cực-Lạc. Đường đi, hướng về, điểm đến đã xác định trong tâm
của họ rồi. Hòa Thượng nói, “Định là có Chủ định”,
chính tại chỗ này đây.

Chính vì có chủ
định, nên tất cả những cảnh giới hào nhoáng bên ngoài, đối với họ hình như
không
còn ý nghĩa gì hết. Trong kinh Kim-Cang Phật nói rằng: “Ngoại bất
trước tướng. Nội bất động tâm
”, đây mới gọi là định, chứ không phải chúng ta ngồi, ngồi
từ sáng cho đến chiều, khi gặp một cảnh người ta niệm vài câu A-Di-Đà Phật thì
làm cho mình mừng vui phải nhảy lên, đến nỗi không còn kiểm soát được. Đây cũng
là một lời khai thị rất xác đáng cho chúng ta.

Niệm Phật
đường đi.

– Nguyện vãng sanh
là hướng đến.

Vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc gặp A-Di-Đà Phật là điểm ta về.

Khi mà chúng ta đã
định vào chỗ này rồi, thì gọi là “Đại Định”.

Cho nên chư Tổ
nói, người quyết lòng niệm Phậtthực hiện pháp môn tối thượng thiền, chứ
không phải là thiền bình thường đâu chư vị.

Hiểu được chỗ này,
chúng ta mới thấy rõ ràng rằng, niệm Phật cũng là tu Định, ngồi định thiền cũng
là tu Định, chư Tổ Sư ra ngoài chợ cũng để tu Định. Nhưng ta không đủ khả năng
làm như Tổ, nên cứ kết hợp với nhau thành một nhóm nhỏ, vững vàng một đường mà
đi, không còn chao đảo nữa, thì ta cũng ở trong “Đại Thiền Định
để thành tựu đạo quả trong một đời này.

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 20)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Chúng ta gặp nhau là do Duyên. Chúng ta tu với nhau cũng là Duyên.
Chúng ta niệm Phật là Nhân. Nhờ cái cơ duyên này ta đi về Tây-Phương Cực-Lạc…

Hàng phàm phu tục tử của chúng ta nghiệp chướng sâu nặng, oán thân
trái chủ nhiều, đường tu hành của chúng ta có những trở ngại! Đó chính vì chúng
ta
thiếu phước, dù cho thiện-căn của mình đã có, mới đưa đến hôm nay chúng ta
phát lòng dũng mãnh, tin tưởng vào pháp môn Niệm Phật, đang chí thành niệm Phật
cầu về Tây-Phương.

Chúng ta phải có cái tâm nguyện rằng về được Tây-Phương, như trong
kinh Phật nói “Mười niệm tất sanh”, nhưng trong tâm chúng ta cũng
còn nên nghĩ rằng vì phước phần yếu kém, nghiệp chướng sâu nặng, cho nên trở
ngại không phải là không có đâu!

Trong thế gian người ta nói là “Đồng hoạn tương thân”.
Tự mình nhận mình là những người đồng hoạn nạn trong cảnh sanh tử luân hồi. Xin
chư vị cố gắng thương mến nhau, cố gắng giúp đỡ nhau tối đa để cùng nhau thành
tựu
. Hãy đem lòng “Chí Thành-Chí Kính” này niệm Phật cầu Phật gia trì,
thì chúng ta chắc chắn sẽ được Phật thương hại, phóng quang tiếp độ chúng ta.
Trước khi được Ngài tiếp độ, thì chúng ta được các vị Bồ-Tát từ bi gia trì.

Chư vị cũng nên biết rằng, trong quang minh của Bồ-Tát, của chư
Phật lúc nào cũng có các vị Thiên-Long Hộ-Pháp kèm theo sát bên cạnh. Người
niệm Phật được chư Thiên-Long Hộ-Pháp bảo vệ. Chắc chắn có! Chỉ vì sơ ý ta bỏ
rơi
sự bảo vệ của các Ngài, bỏ rơi lực gia trì của Bồ-Tát, bỏ rơi đại nguyện
của A-Di-Đà Phật…. Nên sau cùng chướng nạn bao trùm chúng ta một cách tự do,
làm cho chúng ta khó bề đi về Tây-Phương được…

Chính vì vậy, phương pháp tu hành của những người phàm phu như
chúng ta cần phải chọn cách dễ nhất, thấp nhất, căn bản nhất mới an toàn. Xin
chư vị đừng nên tìm đến những phương pháp cao quá, vì những phương pháp cao quá
đòi hỏi đến những căn cơ rất cao, cần đến cái tâm rất thanh tịnh mới có thể
thực hiện được. Căn cơ chúng ta thấp kém! Tâm thanh tịnh chúng ta yếu đuối!…
Khi nhiếp tâm niệm Phật nhưng chúng ta vẫn có thể bị vọng tưởng! Ngồi trước bàn
Phật chúng ta cũng bị hôn trầm, trạo cử… Đây là chuyện hết sức thường! Cho
nên một lần trạo cử nổi lên thì tự chúng ta hãy nhắc nhở rằng: À! Nghiệp
chướng
chúng ta vẫn còn!…
Mỗi khi đang niệm Phật mà bị buồn ngủ, chúng ta
hãy nghĩ: À! Nghiệp chướng chúng ta vẫn còn!... Nhiều khi sơ ý bị rơi
vào tình trạng vô ký, chúng ta đừng vội cho ta là chứng đắc nhé!…

Như vậy thì sự khiêm cung luôn luôn là điều phải nhớ. Đừng bao giờ
rời khỏi hai chữ “Khiêm Cung”, thì nhất định chúng ta sẽ thực
hiện
được lòng chân thành, chí thành, chí kính mà ngài Ấn-Quang thường xuyên
khuyên nhắc chúng sanh phải giữ trong đời mạt pháp này.

Chư vị cố gắng đến đây tu tập, mình hãy gói ghém với nhau để niệm
Phật
trong hoàn cảnh đơn giản, nhỏ hẹp nhưng mà tâm hồn chúng ta thành thực,
hiểu biết với nhau, thì những phiền não cũng sẽ giảm bớt. Chúng ta là hạng người
phàm phu, thì chắc chắn có người bị tật này, có người bị tật kia, có người thì
thích nói chuyện, có người thì thích im lặng. Có người thì muốn ngồi thật
nghiêm trang, có người ngồi xuống một chút thì rục rịch rồi… Chúng ta phải
chấp nhận cái hiện tượng này một cách hết sức tự nhiên, để cho tâm hồn chúng ta
thoải mái

Nói chung, thay vì chúng ta la rầy, khó chịu trước một điều gì
xuất
, thì bây giờ xin chư vị hãy cố gắng chấp nhận đi, vui vẻ lên, tha thứ cho
nhau… Tha thứ được cho nhau thì đi đến một đạo tràng nào chúng ta cũng tạo
được sự trang nghiêm cho đạo tràng đó. Nếu chúng ta không chịu tha thứ cho
nhau, thì đến một đạo tràngtrang nghiêm, chính chúng ta sẽ là người bị
phiền não trước. Rồi chúng ta lại đi ra ngoài nói rằng chỗ đó phiền não quá!…
Thật ra, phiền nãohiện tượng từ trong tâm của mình hiện ra, chứ không ở
ngoài đưa vào.

Có những đạo tràng rất là lộn xộn! Nhưng khi có một người với tâm
hồn
thoải mái, vui vẻ, bao dung… Họ đến nói vài lời tâm lý, nhẹ nhàng, tha
thứ
… thì cái đạo tràng đó dần dần biến thành trang nghiêm, hiền hòa đi.

Khi mình tu hành, nếu mình gặp một người nào ở ngoài họ bài bác
pháp Niệm Phật, thì xin chư vị cũng đừng nên phiền não. Đường người ta đi thì
cứ để người ta đi, mình hỗ trợ người ta không được thì thôi, ít ra cũng đừng
nên chống đối lại họ. Ngược lại nếu có người nào chống đối mình, thì mình cũng
phải thương hại họ, tại vì đây cũng là do duyên. Hay nói rõ hơn, thiện-căn
phước-đức chưa được phát lộ, nên người ta chưa tin. Trong kinh Phật nói, những
người mà không tin vào câu A-Di-Đà Phật thì đời này việc thoát vòng sanh tử
luân hồi không có đâu! Về Tây-Phương Cực-Lạc thì không được đâu! Vì vậy mà mình
phải thương họ mới đúng.

– Chính lòng thương này làm cho mình không phiền não.

– Chính lòng thương này làm cho những sự chống đối, khó chịu hay
đối nghịch giảm bớt đi…

Diệu Âm hay nói rằng, khi mình gặp một người, người đó viết thư
bài bác hay nêu lên một ý kiến đối nghịch gì đó, nhất định chúng ta đừng nên để
vướng mắc trong tâm, cũng đừng bao giờ viết lại một lời thư để trách móc
hoặc tìm cách giải thích cho người ta hiểu… Không cần chuyện đó. Mà chư vị
hãy dùng cách này hay hơn, là vui vẻ, thoải mái, khuyến tấn người ta. Nên nhớ
tìm cách mà khuyến tấn người ta.

Ví dụ, như một người tệ hại, nào là sai lầm, trộm cắp, cự cãi, đủ
thứ hết… Khi gặp họ, mình không phải là cha mẹ, cũng không phải là police,
nên mình không có quyền bắt nạt họ, mình cũng không được quyền chỉ trích họ. Mà
tốt nhất là mình hãy moi tìm cái nào tốt của họ mà khen lên. Ví dụ như người đó
có tài hát hay, mỗi lần gặp mình tìm cách khen cái tài hát hay của người ta
trước, “Chú hát hay quá!…

Những người mà đa tài, thì đa tình. Ví dụ anh có cái tội yêu đương
lung tung… cũng được, không sao hết!… Thường thường những người có tài, thì
người ta có đa tật. Những tật đó không sao đâu(!), anh hãy chấp nhận cái hiện
tượng
này đi. Mình cứ làm lơ những chuyện sai lầm của họ đi. Mình cứ khen cái
hay của người ta lên đi. Chư vị để ý coi, người khác thì cải đổi người đó không
được, mà chính những người ưa khen họ lại cải đổi họ được. Đó là thế gian pháp.
Phật pháp cũng không khác gì mấy.

Chúng ta nên đến với nhau bằng những “Hạt Đậu Trắng”.
Quý vị biết hạt đậu trắng không?… Đừng nên đến với nhau bằng những “Hạt
Đậu Đen
”. Làm như vậy thì tâm chúng ta có những “Hạt Đậu Trắng”. Hạt đậu trắng tượng trưng cho “Thiện”.
Hạt đậu đen thì tượng trưng cho
Ác”. Nếu chúng ta mà cứ moi hoài moi mãi hạt đậu đen, thì một là tâm
chúng ta sẽ phiền não! Hai là người bị moi ra đó sẽ phiền não! Hai cái phiền
não
này sẽ chống đối, cạnh tranh, chiến tranh với nhau. Rốt cuộc, tất cả đều bị
thua thiệt hết! Trong chiến tranh không có người nào chiến thắng! Bây giờ thì
chúng ta nên tập đối xử với nhau bằng cách khác, tập moi cho được hạt đậu trắng
của người ta ra mà khen. Để chi?… Để cho hạt đậu trắng đó có duyên hay gặp
môi trường thích hợp mà nở ra những hạt đậu trắng khác. Nói rõ hơn, chúng ta
tìm cách bỏ thêm hạt đậu trắng vào cái hũ. Thì đến một lúc nào đó, cái hũ đó
cũng còn bấy nhiêu hạt đậu đen đó, nhưng mà đậu trắng càng ngày càng nhiều hơn,
nó sẽ bao hạt đậu đen lại… Bây giờ ta chỉ thấy cái hũ hình như chỉ có toàn là
đậu trắng không thôi…

Xin thưa chính Phật pháp chúng ta cũng vậy đó. Nhất là tu hành
trong thời mạt pháp này, nhất định chúng ta phải đến với nhau bằng cái tốt. Tìm
cách
quên đi hoặc cố gắng tha thứ cái lỗi của người ta. Được vậy thì nhất
định
Đạo tràng này không trang nghiêm cũng trang nghiêm. Đạo tràng này
không thịnh vượng cũng thịnh vượng. Đạo tràng này không thành tựu cũng thành
tựu
.

Cái nghi luật trong đạo tràng của chúng ta là nhắc nhở nhau đừng
nên phá giới. Nhưng đối với một người phá giới đến đây tu ta cũng nhận luôn.
Nhận vậy có ý nghĩa gì?… Anh hãy cố gắng giữ giới luật trong lúc tu ở đây
thôi, sau đó thì ra ngoài anh phá sao phá, tôi không biết!… Mình tha thứ cho
người ta. Nhờ lòng tha thứ này dễ làm cho người ta “Phản tỉnh”,
tự họ phản tỉnh lấy. Có cái tâm như vậy thì chúng ta sẽ cải đổi đạo tràng này
càng ngày càng tốt. Rất hay!

Chư vị nhìn Phật A-Di-Đà đi, Ngài là đại thiện, đại lành đó. Nhưng
mà Ngài nói rằng, những người ngỗ nghịch thập ác mà biết hối hận, biết ăn năn,
niệm danh hiệu Ngài, dẫu cho mười niệm vẫn được về Tây-Phương để thành đạo.
Ngài có nỡ bỏ người nào đâu?… Còn chúng ta có thấy người khác sai sai một
chút thì kệ họ chứ? Họ sai với người khác chứ có sai với mình đâu? Ghét họ làm
chi?…

Tôi trực nhớ ra một câu này. Nhớ cho kỹ câu này nghen, hay lắm!

Tùy duyên tiêu túc nghiệp,

Thiết mạc tạo tân ương!

Tùy duyên” là gặp cái duyên nào chúng ta cũng cố gắng xoa
cho nhẹ đi cái “Túc nghiệp”. Túc nghiệp là cái nghiệp nặng đó. Gặp dịp
nào cũng xóa cho hết cái nghiệp mình tạo gọi là tùy duyên. Duyên ác mình xóa
cũng được, duyên thiện mình xóa cũng được. Người nào dù ác cho mấy, khi họ biết
quay đầu đều có thể thành đạo. Quý vị để ý coi, coi chừng họ thiện hơn mình, họ
lành hơn mình, xin đừng có khinh thường! Nhất định như vậy! Trong kinh Phật gọi
là: “Buông đồ đao xuống, lập địa thành Phật”.

Tùy duyên tiêu túc
nghiệp
” rồi, thì chính mình phải nhớ đến câu: “Thiết
mạc tạo tân ương
”. Nghĩa là, quan trọng nhất, cần thiết nhất là
đừng có tạo thêm nghiệp mới nữa. Hay lắm!… Đừng có tạo thêm cái phiền não mới
nữa.

Thấy người ta tạo ra phiền não, mình cũng phiền não!… Không tốt!
Lỡ tạo rồi thì đây là phiền não cũ, từ giờ phút này mình đừng tạo thêm phiền
não
mới nữa. Nếu ngày mai có người tới tạo thêm phiền não mới, thì phiền não
mới này là của họ, riêng mình đừng có phiền não nữa. Tại vì hễ mình phiền não
tức là mình tạo thêm nghiệp chướng mới cho chính mình. Đó gọi là “Tân Ương”,
là những cái nghiệp mới của mình.

Cứ vậy mà tu thì xin thưa với chư vị, đạo tràng này của chúng ta
sẽ càng ngày càng thêm thanh tịnh. Nhất định đạo tràng này sẽ thành tựucứu
độ
được nhiều chúng sanh

Mong chư vị lấy lòng đại từ đại bi của Phật ra mà tiếp xử với
nhau
. Chúng ta nương nhau đi về Tây-Phương bằng cái hình tướng của người nghiệp
chướng
sâu nặng, tội chướng thâm trọng, ấy thế mà được A-Di-Đà Phật đưa về
Tây-Phương một đời thành đạo.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 21)

Nam Mô A-Đà Phật.

Diệu Âm vừa mới
trở về sau khi đi qua bên Âu Châu gần một tháng, ở đó ngày nào cũng có tọa đàm
với chư vị đồng tu về đề mụcThiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên”.

Trong kinh A-Di-Đà
Phật nói: “Không thể dùng ít thiện-căn, ít phước-đức, ít nhân-duyên mà có
thể vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
”. Nhiều người nghe đến câu này mới sợ
rằng mình không có khả năng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Thì trong suốt gần
một tháng qua, chính Diệu Âm cũng dùng câu này để khuyến tấn chư vị đồng tu
quyết lòng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc cho được trong một báo thân này, vì
Phật nói: “Ít Thiện-Căn, ít Phước-Đức, ít Nhân-Duyên không thể vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc”.

Lời nói này có
nhiều ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất là Phật khuyến tấn chúng ta phải tiếp tục tu hành, phải vững
tâm tu hành, phải tinh tấn tu hành để không thể nào lọt lại trong cõi Ta-bà.

Nghĩa thứ hai là
Phật nói, vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc nó quý giá vô cùng vô tận, không thể nào
đem cái phước-báu, cái thiện-căn nào của thế gian so sánh với chuyện vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc.

Trong Kinh
Vô-Lượng-Thọ, Phật nói rằng, một người trong một đời này gặp được pháp môn Niệm
Phật
tin tưởng quyết lòng trì niệm câu A-Di-Đà Phật là do Thiện-Căn
Phước-Đức của người đó đã tu trong vô lượng kiếp, và đã có giá trị vô lượng
biên
không thể nào tính đếm được!...

Đem ba cái yếu tố
này Diệu Âm khuyên tất cả chư vị ở đó, sau một thời gian chư vị vững tâm, vững
chí, vững đường tu, quyết lòng đi về Tây-Phương, không thể nào để cái tâm mình
nghiêng ngã theo lời bàn tán của thế gian được.

Trong khi ở đó,
vừa mới bước chân qua Âu Châu mấy ngày thì được tin là tại Niệm Phật Đường
chúng ta hộ niệm cho một cụ vãng sanh, đây là một điều vui mừng không thể tả,
mà thật ra thì chính Diệu Âm cũng lấy làm đáng tiếc là chính mình không có cái
cơ may ngồi bên cạnh cụ Cam Muội, pháp danh Diệu Âm để tiễn đưa Cụ về
Tây-Phương. Rõ rệt niệm Phật vãng sanh. Và nhân vì có điều bất may mắn này mà
Diệu Âm cũng thấy một chuyện mừng, đó là đồng tu của Niệm Phật Đường chúng ta
thật sự đã trưởng thành. Thật sự chư vị đã tự mình đưa một vị vãng sanh, đây là
một điều thật bất khả tư nghì!…

Cuộc tọa đàm này
khởi nguồn từ bên Âu Châu. Trước khi về thì chư vị ở đó tha thiết nói với Diệu
Âm
rằng, khi trở về Úc hãy tiếp tục nói cho trọn cuộc tọa đàm này. Diệu Âm cũng
thấy chuyện này cần thiết, nhất là phá tan những nghi ngờ của người thế gian
cho rằng chuyện vãng sanhhão huyền, không thật.

Thì hôm nay trở về
đây, Diệu Âm xin cố gắng làm tròn phần cuối của cuộc tọa đàm và mong rằng sau
cuộc tọa đàm này tất cả chúng ta ai cũng vững tâm, vững dạ quyết lòng vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc…

Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên!
Cơ hội này mà chúng ta không về Tây-Phương Cực-Lạc
được, thì thật sự chúng ta:

– Thuộc hạng người
kém may mắn!

– Thuộc hạng người
kém thiện-căn!

– Thuộc hạng người
đã gặp cơ duyên thành Phật mà đành phải bỏ con đường cực lạc để chạy theo con
đường
đọa lạc vạn kiếp! Tương lai còn cơ hội nào nữa có thể thoát nạn được?…

Đây là điều mà chư
vị phải tự mình suy nghĩ cho thật kỹ. Một bước thôi!… Bước tới ta nhất định
vãng sanh về Tây-Phương. Một bước chần chờ, một niệm nghi ngờ, một lần giải
đãi
nhất định cơ hội này sẽ luống qua!… Lúc đó chư vị sẽ thấy thế nào gọi
là thiểu thiện-căn, thiểu phước-đức, thiểu nhân-duyên!… Sự mất mát này quá lớn!
ân hận đi nữa cũng không được gì hơn!… Chỉ tại vì:

– Tham một chút
danh vọng thế gian…

– Tham một chút
vui trần tục…

– Tham một chút
lợi ích nhỏ nhen vô thường của cõi đời này mà đành bỏ đi cơ hội vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc.

Xin thưa với chư
vị, lúc đó dù có khóc, nước mắt tràn như biển Nam Hải, cũng không thể nào rửa
được niềm đau vô tận vô biên trong vô lượng kiếp đâu!…

Trong chuyến đi
vừa rồi Diệu Âm rất thường tán thán cái mẫu người vừa mới vãng sanh ở trên tây
Úc. Diệu Âm đem hình tượng đó ra để mà khuyến tấn chư vị đồng tu bên Âu Châu.
Diệu Âm nói rằng, người ở bên tây Úc tôi đã gặp qua, là một người Thiên Chúa
giáo
không biết kinh, không đi chùa, ấy thế mà sau cùng gặp các vị đồng tu
khuyến tấn, vị đó đã quyết lòng quyết dạ đi về Tây-Phương. Thấy vậy, tôi dám
đoán vị này chín mươi lăm phần trăm vãng sanh. Trong khi có những người tu
hành
, có niệm Phật, có tới chùa mà đưa ra lập luận như thế này: Không dễ gì
đem một chút thiện-căn, một chút phước-báu, một chút nhân-duyên mà đi về
Tây-Phương được!… Nên họ mạnh dạn khuyên đồng tu hãy cố gắng tu hành, tìm
kiếm
chút phước đi để đời sau tu tiếp…

Tôi nói, những
người này là những dạng người quá ư là bạc phước! Quá ư là ít thiện-căn! Quá ư
khinh thường lời Phật! Không chịu y giáo phụng hành!…

Tôi khuyên các vị
đồng tu khi mở một lời nói nhất định phải nói đúng kinh, đừng bao giờ nói một
lời
nào sai kinh. Chúng ta tới đây tu hànhnói một lời sai kinh, đưa một ý
tưởng
hồ nghi, tạo cái mối hồ nghi trong đại chúng… Dù cho chư vị đến Niệm
Phật
Đường, đến đạo tràng, đến chùa niệm Phật suốt đời, thì suốt cuộc đời đó
thay vì tạo công đức chúng ta lại tạo tội lỗi! Chúng ta tạo cảnh địa ngục cho
chính chúng ta! Vì sao vậy?… Vì đưa những lời nghi ngờ này sẽ phá tan mất
niềm tin của đại chúng, đoạn mất huệ căn của người ta, đánh lạc hướng vãng
sanh
, làm cho người ta phải chịu đọa lạc!…

Hôm nay chúng ta
ngồi tại đây, quý vị biết là do thiện-căn của chúng ta đã tràn ngập trong
lượng kiếp
, phước-đức chúng ta dù không có đi nữa thì niệm một câu A-Di-Đà Phật
phước sẽ tăng vô lượng. Cho nên Thiện-Căn cũng ở tại “Tâm”, Phước-Đức cũng ở
tại “Tâm”. Chư vị lấy niềm tin vững vàng mà đi đi… Xin thưa thẳng rằng,
duyên
ngồi trong đạo tràng này niệm Phật nhất định đưa chư vị vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc. Vậy thì, không thể nào không đi con đường “Cực-Lạc”, mà lại
chọn con đường “Đọa-Lạc” để mà đi?…

Ở bên Âu Châu có
một vị ung thư sắp chết, thế mà ban hộ niệm nói không nghe, tại vì không tin.
Sống trong những ngày tháng chờ chết mà lại thích đi đánh casino, đánh bài. Hỏi
tới thì nói rằng làm như vậy cho vui… Diệu Âm đến đó chỉ có một tiếng đồng hồ
để nói chuyện. Diệu Âm nói cứng như tường đồng vách sắt.

Cơ duyên này
anh không có dễ gì tìm ra trong vô lượng kiếp đâu. Nếu ngay từ bây giờ anh
không chịu đổi tâm, không chịu từ bỏ casino, thì nhất định anh phải chịu đọa
lạc! Bị đọa lạc vạn kiếp anh ráng chịu lấy. Còn khi nghe những lời nói này, mà
anh mau mau tỉnh ngộ đến trước bàn Phật quỳ xuống sám hối đi. Bắt đầu từ giờ
phút này anh không được đi casino nữa. Anh phải tranh thủ thời gian từng giây
từng phút để niệm Phật đi, tôi tin tưởng anh được tới chín mươi lăm phần trăm
vãng sanh..
.

Tôi nói vững làm
người đó đành nhận lỗi với ban hộ niệm, và tới trước bàn thờ xin lỗi sám hối.
Trong thâm tâm của Diệu Âm nói nếu người đó thật sự đã sám hối, nếu người đó
quyết lòng đi về Tây-Phương, thì cơ hội này nhất định anh sẽ lấy thiện-căn
phước-đức và nhân-duyên này được đi về Tây-Phương. Giả sử như người đó chưa đủ
thiện-căn, giả sử như người đó chưa đủ phước-báu thì cơ duyên này anh hãy phát
tâm
tin tưởng đi. Niềm tin vững vàng của anh nhất định sẽ đưa anh vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc…

Cũng giống như một
vị ở tại tây Úc suốt cả cuộc đời không biết gì là câu A-Di-Đà Phật, không biết
gì là Phật pháp, chỉ biết đi nhà thờ. Ấy thế mà chỉ cần vài tháng niệm Phật
quyết lòng đi, đã vãng sanh thật sự trước mắt mọi người và làm cho cả cộng đồng
tại đó giật mình ngẫn ngơ vì một người Thiên Chúa giáo vẫn được vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc như thường.

Cho nên xin cầu
khẩn
chư vị, Diệu Âm đi đâu cũng tìm cách làm tăng thêm niềm tin cho mọi người,
thì xin chư vị hãy vững vàng mà đi về Tây-Phương, để chúng ta cùng nhau hội ngộ
trên cảnh Tây-Phương Cực-Lạc, một đời này thành đạo, một đời này đi cứu độ
chúng sanh, đừng để vạn đời sau bị nạn trong những cảnh đọa lạc rồi mới cầu chư
Phật tới cứu, không dễ như vậy đâu!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 22)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Kính thưa Sư Cô!

Cùng Đại chúng!

Đề tài “Thiện-căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
” đã được bàn qua ở bên Âu châu gần cả tháng rồi
mà chưa xong. Từ một điểm này mình thấy hình như cũng bao trùm Pháp giới, không
biết chừng nào mới nói xong? Thật đúng là: “Một là tất cả, tất cả là một”.

Chúng ta là hàng
phàm phu tục tử nên chọn con đường: “Một là tất cả”. Một là một câu
A-Di-Đà Phật thành tâm niệm thì ta sẽ có tất cả. Hư không pháp giới, vạn sự,
vạn vật đều ứng hợp…

Đối với những vị
thượng căn, Bồ-Tát thì “Một là tất cả, tất cả là một”, không còn phân
biệt
nữa. Khi trở về với chân-tâm tự-tánh, thì từ một chân-tâm này các Ngài có
cả hư không pháp giới. Cả hư không pháp giới cũng nằm trong tâm của các Ngài,
cho nên các Ngài không phân biệt.

Còn hàng phàm phu
chúng ta nên đi theo con đườngMột là tất cả” hay hơn là đi con đường
Tất cả để trở về một”. Những người hạ căn mà đi con đường tu hành cho
đầy đủ tất cả để thành tựu, gọi là tìm hiểu để giác ngộ, thì nhiều khi sự giác
ngộ
đó chưa chắc là thật, mà có thể là giác ngộ trong vọng tưởng! Vì vọng tưởng
sai lầm nên mới chê người niệm Phật. Chúng ta đang đi con đường niệm Phật,
thường bị người ta cho là mê muội, nhưng coi chừng người mê muội đó lại là đại
giác
ngộ. Họ giác ngộ con đường vãng sanh về Tây-Phương. Khi vãng sanh về
Tây-Phương thì họ được tất cả.

Chính vì thế mà
chúng ta được cái cơ duyên niệm câu A-Di-Đà Phật, chư Tổ vẫn thường khuyên nhắc
là phải chuyên nhất. Chuyên lòng niệm một câu A-Di-Đà Phật mà đi thì sẽ thành
tựu
tất cả.

Trở lại vấn đềThiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
” trong kinh A-Di-Đà. “Thiện-Căn” là gì? Trong kinh
A-Di-Đà Phật đưa ra danh từ này, thiện-căn chính là những căn thiện lành. Căn
thiện lành có năm thứ:

Một là “Tín-Căn
thiện lành
”. Những người nào tin tưởng vững vàng vào câu A-Di-Đà Phật,
tin vào lời Phật dạy, niềm tin sắc son vững vàng thì biết người đó có
thiện-căn.

Thứ hai là “Tấn-Căn
thiện lành
”. Tấn là tinh tấn. Người nào tinh tấn niệm Phật, ngày ngày
niệm Phật, chuyên lòng niệm Phật thì người đó có thiện-căn. Chúng ta thấy ở tại
Niệm Phật Đường của chúng ta, có những người đã có thiện-căn này.

Căn thiện lành thứ
ba là “Niệm-Căn thiện lành”. Niệm câu A-Di-Đà Phật. Nếu không
căn lành không thể nào niệm câu A-Di-Đà Phật được đâu! Cho nên mong chư vị hãy
trân quý tất cả những căn lành này. Đã đến đây niệm Phật chứng tỏ chúng ta
thiện-căn, đừng bao giờ chạy theo những cái gì hảo huyền xa vời mà coi chừng
mất phần thành tựu!…

Căn lành thứ tư là
Định-Căn thiện lành”. Thường thường chúng ta cứ nghĩ Định là
Thiền-Định… Hòa Thượng Tịnh-Không nói không phải vậy!… Tâm chúng ta đã
định vào câu A-Di-Đà Phật. Tâm chúng ta đã định ngay tại cõi Tây-Phương. Ý
chúng ta định về Tây-Phương Cực-Lạc. Một đường, một hướng, một điểm về là chúng
ta
đã có “Định-Căn thiện lành”.
Khi chúng ta định vào câu A-Di-Đà Phật,
định về Tây-Phương Cực-Lạc thì ta có luôn “Huệ-Căn thiện lành”,
tức là trí huệ phát sinh ra.

Hồi giờ chúng ta
thường nghe nói thiện-căn, thì hôm nay chúng ta khai rõ ra, “Thiện-Căn” chính
là năm điểm này: “Tín-Tấn-Niệm-Định-Huệ”.

Bây giờ chúng ta
trở lại vấn đềTín-Căn”. Người nào không tin vào câu A-Di-Đà Phật,
không chịu quyết lòng niệm Phật, thì dù có hình tướng đẹp như thế nào đi nữa
cũng không dám bảo đảm họ có thiện-căn! Một người dù nghèo nàn, hình tướng xác
sơ, tầm thường, nhưng mà họ tin vào câu A-Di-Đà Phật, quyết lòng đi về
Tây-Phương, không thay đổi chí nguyện, thì chiếu theo trong kinh Phật nói, họ
có thiện-căn. Như vậy hồi giờ chúng ta thường nghe thiện-căn, thiện-căn…
nhưng không biết định nghĩa như thế nào?… Thì “Thiện-Căn” dồn vào chữ “Tín
này. có “Tín” thì tự nhiên tất cả những cái kia đều có hết.

Chính vì vậy, đối
với người quyết lòng niệm Phật, thường thường chư vị Tổ Sư hay nhắc nhở đến tín
tâm
. Nhất định chúng ta phải có tín tâm. Nếu người tuổi già, sắp sửa lìa xả báo
thân
này rồi, khuyên họ niệm Phật mà họ còn chần chừ, còn đợi cái này, còn đợi
cái nọ, thì nhất định tín-căn đã bị yếu! Tín-căn yếu coi chừng nó sẽ dẫn tới
tất cả những căn lành khác bị suy sụp luôn. Không có thiện-căn nên không muốn
vãng sanh, mà thường tham đắm vào thân mệnh. Thân mệnh này vô thường, thời gian
vài ba năm nữa nhanh như bóng câu qua cửa sổ, nhưng người vì quá tham chấp vào
đó mà bị đại nạn! Bị đại nạn rồi lúc đó mới thấy cái giá trị của câu Phật nói: Bất
dĩ thiểu Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên đắc sanh bỉ quốc
.

Không dễ gì có
chút thiện-căn, có chút phước-báu, có chút nhân-duyên mà đi về Tây-Phương
Cực-Lạc được. Cũng có nghĩa là biết được đi về Tây-Phương quý giá vô cùng, thay
vì chịu đọa lạc trong vô lượng vô biên kiếp, nay mình vãng sanh được cực lạc an
vui thành đạo Vô-Thượng, thần thông biến hóa phi thường. Ấy thế, lại tham đắm
làm chi cái thân già còm cõi, tham đắm cái thân ung thư, tham đắm cảnh khổ của
cuộc đời này, mà đành chịu tới vạn kiếp trầm luân về sau. Thật đúng là người
thiếu thiện-căn!

Chính vì vậy:

– Hãy lấy chữ Tín này mà chúng ta tự thấy hướng đi…

Lấy chữ Tín này
quyết lòng trưởng dưỡng thiện-căn.

– Lấy chữ Tín này niệm câu A-Di-Đà lên.

Được như vậy, xin
thưa với chư vị:

– Người không có
thiện-căn, thiện-căn cũng có!…

– Người không có
phước-đức, phước-đức cũng có!…

– Người mà dù
nghèo khổ tới đâu, dốt nát tới đâu nhất định huệ-căn cũng phát triển, nhất định
phước-báu cũng tràn ngập!…

Mong chư vị một
khi đã tu thì phải tìm ra con đường giải thoát, đã tu nhất định phải nghĩ đến
chuyện thành tựu đạo quả. Đừng nên nhắm mắt chạy theo thị hiếu của
thế gian mà tu chơi chơi, tu giỡn giỡn, tu thử, tu đụng!… Tu hành như vậy thà
rằng ở nhà không hay hơn sao?…

Một
người hiểu được đạo rồi, một người đã giác ngộ rồi, thì những chuyện của thế
gian
này nó không có giá trị gì lắm đối với con đường giải thoát của họ đâu.
Mong cho chư vị hiểu được chỗ này, thì rõ ràng chúng ta đang ở trên con đường
về tới Tây-Phương thành đạo.

Nếu đã
tới đây niệm Phật, nếu đã gặp được Phật pháp trong đời này, lại còn gặp được
cái duyên niệm câu A-Di-Đà Phật, thì Phật đã đưa con đường thành tựu tới ngay
trước mũi bàn chân của chúng tachúng ta không chịu đi, lại mê mờ tham chấp
những chuyện thế gian, còn trằn lên trụt xuống chưa muốn vãng sanh. Rõ rệt, cơ
hội chuẩn bị thành đạo mà không chịu đi thành đạo, lại muốn lùi lại, lùi lại
trong bóng tối đen thùi đen thủi để chịu lấy ách nạn kinh khủng của sanh tử
luân
hồi!…

Xin nhớ
cho, đời này là đời mạt pháp rồi, nếu luống qua khỏi cơ hội này thì nhất định
vạn kiếp sau sẽ nằm trong cảnh khổ, muốn khóc nhiều khi khóc không nên lời nữa
là khác! Hiểu được điều này, mong chư vị quyết lòng quyết dạ dùng tín căn, tín
tâm
vững vàng niệm câu A-Di-Đà Phật, nhất định ta sẽ về tới Tây-Phương Cực-Lạc
để thành đạo Vô-Thượng. Quý hóa biết ngần nào mà kể.

Mong
chư vị tự hiểu lấy, thân phận phàm phu tục tử này đang ở sát bờ của đọa lạc,
vậy mà ta về tới Tây-Phương thành đạo. Vậy thì phải trân quý, quyết định một
đời
này về Tây-Phương gặp A-Di-Đà Phật để thành đạo Vô-Thượng.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 23)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Trong ngày hôm nay
chúng ta bàn về Thiện-Căn. Trong ba danh từ Thiện-Căn, Phước-Đức,
Nhân-Duyên
của người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, trong đó
thiện-căn được Phật nói đến đầu tiên. Đây là điểm hết sức quan trọng. Danh từ
thiện-căn hồi giờ mình nghe qua, nhưng nhiều khi mang máng chưa rõ, thì trong
ngày hôm nay mình nói rõ hơn.

Thiện-Căn đầu tiên
chính là ở trong “Tín tâm thanh tịnh”.

– Người có tin vào
kinh Phật là người có thiện-căn…

– Người không tin
lời phật dạy là người không có thiện-căn…

– Người có tin
rằng niệm Phật vãng sanh là người đại thiện-căn chứ không phải là tiểu
thiện-căn…

Cho nên hồi sáng
này mình có nhắc đến là khi đã tin câu A-Di-Đà Phật thì phải tin cho vững, đừng
nên nghi ngờ mà nói lên những lời sơ ý làm cho người khác mất niềm tin.

một lần người
ta hỏi Diệu Âm như thế này, trong một băng giảng, Hòa Thượng Tịnh-Không nói
rằng, tội ngũ nghịch thập ác so với tội không tin vào câu A-Di-Đà Phật, thì Hòa
Thượng
nói là cái tội không tin nặng hơn cái tội ngũ nghịch thập ác. Người ta
hỏi tại sao như vậy?…

Diệu Âm trả lời
rằng tại vì người
không tin vào câu A-Di-Đà Phật là người không niệm Phật. Không niệm Phật thì
nhất định không được vãng sanh. Còn người tội ngũ nghịch thập ác thì lúc người
ta mê mờ mà giết cha hại mẹ, nhưng mà họ vẫn còn một điều hay là họ không có
cái tội không tin kinh Phật. Tức là khi có cơ duyên thì người ta sẽ tin. Khi
tin Phật pháp rồi thì thiện-căn phước-đức sẽ phát khởi, nhờ thế họ có cái
duyên
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Như vậy, so sánh hai tội ngũ nghịch
tội không tin, thì thật ra tội nào cũng lớn cả, nhưng có tội có thể sám hối,
giật mình để niệm Phật vãng sanh, còn có một tội người thế gian không thấy,
nhưng đối với Phật pháp thì rất là tối kỵ, đó là những người không tin! Tại vì
không tin thì không niệm, không niệm thì không đi. Mình đã không được vãng sanh
thì huệ mạng của mình sẽ chìm trong cảnh đọa lạc đã đành, mà thường còn gieo
cái niềm nghi ngờ cho người khác nữa. Đây là đại tội, gọi là phỉ báng Phật
pháp!

Trong kinh
Niết-Bàn Phật gọi những người không tin vào lời Phật là “Nhất-Xiển-Đề”. Trong kinh Thủ-Lăng-Nghiêm Phật cũng nhắc đến những
người không tin Phật pháp, người không tin lời Phật dạy có thể phá tiêu Phật
pháp
. Cái tội phá tiêu Phật pháp dễ sợ hơn những tội khác!…

Chính vì vậy mà có
những người đưa ra những lập luận nhằm để phỉ báng câu A-Di-Đà Phật, phỉ báng
con đường vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Nghĩ đến lời Phật dạy trong kinh
mình phải giựt mình sợ đến dựng tóc gáy! Ấy thế mà người ta vẫn làm được. Những
lời nhắc nhở này mong chư vị nhớ phải tin cho vững, không được sơ ý, không được
chao đảo.

Thiện-căn là niềm
tin
. Như vậy ác-căn chính là niềm nghi ngờ! Chúng ta phải trưởng dưỡng chư
thiện-căn, không được trưởng dưỡng chư ác-căn. Đối nghịch với thiện-căn chính
là ác-căn. Đối nghịch với niềm tin chính là nghi ngờ. Vậy thì, những người nghi
ngờ
nhất định phải mau mau thay đổi. Người khôn ngoan phải thay đổi sớm đi,
đừng nên sơ ý!…

Về thiện-căn chúng
ta
tiến thêm một điểm nữa là “Tấn-căn”, “Tấn thiện-căn”. Tấn là tinh
tấn
. Người tinh tấn niệm Phật là người có thiện-căn. Người giải đãi không niệm
Phật
là người thiếu thiện-căn! Người có niệm Phật thì có thiện-căn, nhưng mà
niệm tà tà thì thiện-căn sẽ bị xoi mòn. Niệm tà-tà là cách tu giải đãi. Nếu đem bệnh giải đãi
đó lây cho người khác nữa, thì coi chừng niệm Phật mà lại truyền ác-căn cho
người khác đó.

Trong kinh
Bảo-Tích Phật mới nói phải ly xa những người giải đãi, gọi là “Viễn ly giải đãi chi nhân“. Giải
đãi
đối với pháp môn niệm Phật chính là người niệm Phật nhưng không muốn đi về
Tây-Phương. Niệm một ngày hai-ba câu rồi tưởng vậy là xong, không thèm niệm
nữa. Người lười biếng niệm Phật, thành ra nhiều khi tu suốt cả cuộc đời mà sau
cùng không được vãng sanh. Không được vãng sanh thì làm chứng nhân cho chuyện niệm Phật không
được vãng sanh! Đây chính là cái tội!… Cho nên giải đãi, không niệm Phật
chính là ác-căn. Xin chư vị phải nhớ, ráng cố gắng niệm Phật, chứ không phải
nghe nói mười niệm tất sanh thì mình cứ giải đãi cũng được. Không phải! Giải
đãi
thì mình đã lâm vào tình trạng gọi là trưởng dưỡng ác căn rồi vậy!…

Tinh-tấn là
thiện-căn. Giải đãi thì đối nghịch với tinh-tấn nên là ác-căn. Chư vị nghĩ coi,
tại sao một người hồi giờ không biết câu A-Di-Đà Phật, ví dụ như một người tu
Thiên-Chúa giáo chẳng hạn, người ta đâu có biết gì về câu A-Di-Đà Phật, người
ta đâu có niệm câu A-D-Đà Phật, như vậy họ có phải là người giải đãi không?…
Không phải. Họ không biết. Nhưng khi biết rồi thì họ niệm ngày niệm đêm, họ
không phải là người giải đãi. Còn ta biết mà ta không chịu niệm, ta ỷ y, ta là
người giải đãi. Khi nãy huynh Minh Tríthông báo rằng, hôm nay mình quỳ
xuống để hồi hướng công đức… Thật ra tờ công đức này chính tại Niệm Phật
Đường A-Di-Đà của mình truyền ra, nhưng mỗi lần hồi hướng thì mình lại đứng.
Mình đứng thì không thành tâm lắm, còn ở đó thì người ta quỳ xuống đọc nghiêm
trang
vô cùng. Như vậy tâm của người ta Thành Tín, còn mình ở đây loan ra tờ
hồi hướng công đức đó, nhưng chưa chắc gì tâm mình thành tín bằng họ. Như vậy
coi chừng thiện-căn của họ lớn hơn mình.

Tôi qua bên Âu
châu, có những người ở xa từ năm-sáu trăm cây số mà họ lái xe tới để cộng tu
với mình, nghe với mình, niệm Phật với mình. Còn ở tại đây chúng taNiệm
Phật
Đường sát bên nhà nhưng nhiều khi chúng ta không muốn đi. Như vậy ta là
người giải đãi. Còn họ thì họ thật sự muốn tu, nhưng nơi đó không có một cái
Niệm Phật Đường để họ tu. Quý vị cũng thấy đó, có những người từ bên Âu châu
hàng năm họ dành một vài ngày nghỉ lễ để bay qua tận bên Úc để niệm Phật. Tại
sao vậy? Tại vì ở bên đó tìm không ra một chỗ để niệm Phật. Ở đây chúng ta
Niệm Phật Đường, chư vị lại nghĩ là bình thường.

Muốn niệm Phật
trong nhà, nào là bàn, nào là ghế, nào là tủ… choáng hết chỗ rồi, không thể
nào đi kinh hành được. Ra ngoài mướn một cái hội trường, thì hội trường đó
người ta để đủ thứ đồ đạc, muốn tu được thì phải dọn dẹp muốn chết luôn, nhưng
cũng không thể nào trang nghiêm bằng cái Niệm Phật Đường được. Ấy thế mà họ
cũng phải lo làm như vậy để mà niệm Phật. Như vậy rõ ràng họ là người không giải
đãi. Còn mình là người giải đãi! Căn cứ vào đó mình có thể hiểu tại sao ở chỗ
đó có người vãng sanh.

Ở tại chỗ này,
mình thấy cái Niệm Phật Đường này vô cùng trang nghiêm, thanh tịnh vô cùng. Có
đi nhiều nơi mình mới thấy điều này, trang nghiêm vô cùng! Nhưng ở đây mình lại
coi thường câu A-Di-Đà Phật, lòng tín tâm của mình chưa đủ, nên mình niệm chơi
chơi vài ba câu Phật hiệu là được! Mình thật sự là “Giải đãi chi nhân”. Giải
đãi
chi nhân bị Phật chỉ đích danh là những người mà chúng ta cần phải xa lánh,
đừng nên tiếp cận họ. Tại vì tiếp cận thì ta bị lây phải cái tội đó.

Xin thưa với chư
vị, khi mình hiểu ra một hoàn cảnh, thì mình mới thấy cũng tại chỗ này, Niệm
Phật
Đường này có thể đưa mình về tới Tây-Phương Cực-Lạc, cũng tại chỗ này bao
nhiêu người rất là hâm mộ muốn tìm đến tu hành. Ở bên Âu Châu người ta muốn qua
đây lắm, nhưng mà xin phép không được. Hầu hết đồng tu ở đó không có hộ chiếu
tại quốc gia đó, còn dùng hộ chiếu Việt-Nam thì qua đây rất khó, nên người ta
đi không được. Nếu có cơ duyên qua được, tình thật người ta muốn ở luôn đây để
niệm Phật. Nhưng sự việc này đâu phải bình thường!…

Chỗ này tu hành
trang nghiêm, nhưng chính ta lại giải đãi, thật uổng phí vô cùng! Nếu sơ ý để
luống qua cơ hội này rồi, chúng ta chắc chắn sẽ ân hận! Ân hận vì không cách
nào có thể tìm được một cơ hội khác để thay thế được. Biết được những chuyện
này chúng ta cần phải giựt mình tỉnh ngộ. Có tỉnh ngộ rồi, thì ngày hôm qua
chúng ta giải đãi, tự nhiên bữa nay nhất định không dám giải đãi nữa…

Ở nhà cũng phải lo
niệm Phật. Tới đây cũng phải lo niệm Phật. Ngày mai chúng ta nói đến Niệm-Căn
mới thấy thế nào là mối nguy hiểm vì sơ suất trong cách tu! Đừng tưởng là tới
đây niệm Phật, ngày nào cũng niệm Phật, thì mình đều được vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc. Không phải!… Niệm Phật là thiện-căn, nhưng mà coi chừng
niệm xen tạp cái gì khác thì trở nên ác-căn!…

Như thế nào là
ác-căn?…

Thị phi ganh
tỵ
Ác-căn nổi lên!

Cống cao ngã
mạn… Ác-căn nổi lên!

Nói xấu người
này, nói xấu người nọ… Ác-căn nổi lên!

Thiện-căn là niệm
Phật
thành Phật. Ác-căn bị đọa địa ngục. Ghê gớm lắm! Ngài Quán-Đảnh Đại Sư đã
nói như vậy đó. Hiểu được chỗ này rồi, đường tu tự nhiên phẳng lặng, an toàn.
Chúng ta kết nhóm với nhau, hộ niệm với nhau, yểm trợ cho nhau, tạo duyên lành
cho nhau… chúng ta sẽ vãng sanh Tây-Phương bất khả tư nghì.

Xin thưa thật ở
đây, ban hộ niệm của mình bắt đầu cũng vững rồi. Nhưng khi đi đây đi đó, chúng
ta
mới thấy tinh thần người tu tại chỗ này chưa chắc gì hơn được những chỗ
khác. Ví dụ như chuyến đi Âu Châu vừa rồi, ngày đầu tiên người ta dẫn thẳng tôi
tới chỗ hộ niệm luôn, để hộ niệm cho một người. Khai thị hộ niệm xong thì tôi
phải đi tới địa điểm người ta tổ chức, nhiều người cùng đi thì chỗ hộ niệm đó
thiếu người. Quý vị biết không, từ những quốc gia khác cách xa năm-sáu trăm cây
số mà nhiều người đã lái xe tới đó để hộ niệm cho người bệnh.

Ở bên Âu châu có
người đã phát tâm nguyện hộ niệm, dù cả hàng ngàn cây số người ta cũng đến hộ
niệm
. Đó chính là những người tinh tấn. Lòng tin vững vàng. nhờ lòng tin vững
vàng
như vậy, nên ở đó có người vãng sanh. Còn ở đây, chúng ta thật ra vừa rồi
chư vị cũng có làm được công đức, đưa cụ Cam-Muội ra đi rất tốt. Đây là cái
điều rất đáng tán thán. Chúng ta hãy cố gắng vững vàng hơn nữa, thành tâm hơn
nữa, tinh tấn hơn nữa để cứu người. Cứu người là cứu ta. Đúng như vậy đó!…

Nguyện mong tất cả
chư vị phát tâm vững vàng, để một đời này vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa
Đàm 24)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Khi đi qua bên Châu Âu
Diệu Âm được cơ duyên hộ niệm cho một vị tuổi đời chưa tới bốn mươi đang nằm trong bệnh viện chờ từng hơi thở ra đi. Anh ta
có một người vợ trẻ và hai đứa con nhỏ. Anh được ban hộ niệm ở đó hộ niệm cũng
được mấy tuần rồi. Anh bị ung thư đến giai đoạn chót. Trong cuộc hộ niệm đó có
một điểm rất hay là người vợ của anh mới ba mươi mấy tuổi, nhưng cô rất thành
tâm
khẩn nguyện A-Di-Đà Phật tiếp độ chồng vãng sanh.

Trong lúc ban hộ niệm hộ
niệm
, suốt mấy tuần lễ ngày nào cũng vậy người vợ lạy Phật liên tục. Cô lạy từ
sáng đến chiều, lạy suốt đêm… Hai đầu gối của cô ta chảy máu ra, hai bàn tay
sưng lên, nhưng cô vẫn quyết lòng lạy Phật để cầu cho chồng được vãng sanh.

Khi Diệu Âm đến đó khai
thị, nói chuyện, thì có mời cô vợ đến nói chuyện với người chồng. Cô đó cầm tay
người chồng và nói:

Anh ơi! Đời của anh
may mắn vô cùng mới được cơ hội này. Anh phải vững lòng vững dạ niệm Phật đi về
Tây-Phương. Nhất định không thể vì vợ conlưu luyến tại đây nhé.

Ông chồng này rất thương
vợ. Suốt cuộc đời không bao giờ cho người vợ ra khỏi nhà! Không bao giờ cho
phép
người vợ đi ra ngoài một mình. Ông ta là người rất quyến luyến vợ con! Tôi
biết được điều này, nên tôi kêu người vợ tới đứng nói chuyện với chồng và người
vợ cũng đã thành khẩn nói:

Em ngày đêm lạy Phật
cầu Phật tiếp độ anh sớm được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, để anh thoát
khỏi
ách nạn này.

Nhờ lòng thành tâm của
người vợ mà ban hộ niệm đã hộ niệm liên tục mấy tuần lễ. Trước những giây phút
ra đi họ kêu gọi những người ở các nước khác đến đó trực tiếp hộ niệm. Sau cùng
anh đó ra đi để lại một thoại tướng rất là đẹp. Thật sự là may mắn!

Trong mấy ngày này mình
nói về “Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên”. Thiện-căn có thể là
thuộc về chính anh ta đã có cái gốc Thiện. Phước-đức có thể là nhờ bà vợ, cùng
hai đứa con. Đứa con hình như là tám tuổi, sáu tuổi… nhỏ lắm. Nhờ cái
phước-đức này mà gặp được ban hộ niệm đã quyết lòng hộ niệm cho anh ta và đưa
đến thành quả khá tốt đẹp.

Giả sử như lúc đó anh ta
còn tiếp tục thương vợ, thương con! Tiếp tục còn sợ chết! Còn tiếp tục bám víu
vào cái mạng sống vô thường đã bị bác sĩ chịu thua… thì ban hộ niệm đó dù có
nhiệt tâm tới đâu, chắc chắn đến giờ này anh cũng bị ngậm đắng nuốt cay rồi,
không còn cách nào cứu vãn nữa!…

Chính vì thế mà cái
duyên
này hiếm vô cùng, quý vô cùng, hy hữu vô cùng, trong vô lượng kiếp qua
không dễ gì gặp được. Xin chư vị đồng tu niệm Phật, một khi đã quyết lòng niệm
Phật
thì phải trân quý tối đa cơ hội này, đừng bỏ qua. Đó là ý nghĩa rất là sâu
sắc của các chữ Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên. Trong đó thiện-căn ví như
cội rễ của một cái cây, phước-đức ví như cái thân cây và nhân-duyên ví như
đơm hoa kết trái.

Như mấy ngày nay chúng ta
nói, thiện-căn nó ở nơi “Tín-Căn”, tức là lòng tin. Lòng tin phải sâu sắc không
được chao đảo. Tất cả đều từ chỗ này mà sanh ra.

Thứ hai là “Tấn-Căn”. Tấn
tinh tấn tu hành. Phải tinh tấn không được tạp tấn. Nếu hôm nay đã được cái
cơ duyên này là cơ duyên thành đạo, là cơ duyên được xả bỏ báo thân để về
Tây-Phương, thì phải trân quý. Một người sinh ra không trước thì sau nhất định
cũng phải đi vào phần mộ. Chỉ có những người mê mờ, không biết đạo mới chấp vào
cái thân này cho đó là quá lớn, là tất cả, thành ra phải chịu nạn vì cái thân
này.

Tạp tấn là niệm Phật
còn tham những chuyện khác. Tham chấp nhất định sẽ trở ngại rất lớn cho con
đường
thành đạo. Người tham chấp dù cho niệm Phật suốt đời đi nữa sau cùng đại
nạn
cũng khó tránh khỏi!…

Đây là những điều mà
chúng ta đã nói ngày hôm qua, hôm kia, nhằm củng cố cái gốc của mình cho vững,
đừng để cái gốc nó lung lay. Hôm nay chúng ta nói thêm một chút nữa về
thiện-căn, đó là “Niệm-Căn”. “Niệm” chính là
niệm câu A-Di-Đà Phật. Niệm câu A-Di -Đà Phật là đại căn lành của người muốn thành
đạo
, của người muốn giải thoát, của người muốn khỏi bị đọa lạc sau khi xả bỏ
báo thân. Ví dụ như cái ông ở bên Đức chưa đầy bốn mươi tuổi đã ra đi. Nếu lúc
lâm chung mà…

– Còn niệm còn nghĩ tới
vợ con…

– Còn niệm còn nghĩ tới
gia đình…

– Còn niệm còn nghĩ tới
tài sản…

– Còn niệm còn nghĩ tới
cái thân sắp chết…

thì nhất định sẽ bị đọa
lạc
, không thể nào cứu chữa được!

Niệm” là “Niệm
Phật
” cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc. Có nhiều người bệnh xuống niệm Phật cầu
cho hết bệnh, thì nhất định cái niệm này nó sẽ làm mất đi cơ hội vãng sanh.

Rất nhiều người vì không
hiểu đạo, rất nhiều người vì không nghe pháp kỹ, rất nhiều người vì còn quá
tham tiếc những cục thịt này, tham tiếc cái túi thịt này… nên cứ
bệnh xuống thì niệm Phật cầu cho hết bệnh. Nhất định đây là đại trở ngại! Cầu
hết bệnh sẽ không tương ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật. Họ vẫn còn
thấy thế gian này là tất cả, vậy thì phải theo cái tất cả đó mà tiếp tục chịu
sanh tử luân hồi… Trong khi cơ hội về Tây-Phương đã có trước mắt, đây thật sự
là trong vô lượng kiếp qua chúng ta không dễ gì gặp qua.

Về Tây-Phương rồi thân
thể
chúng ta không phải èo uột như ở đây, mà gọi là: “Thanh Hư Chi
Thân, Vô Cực Chi Thể
”. “Thanh Hư Chi Thân” là không
cần ăn mà vẫn sống. “Vô Cực Chi Thể” là trên cõi Tây-Phương thọ
thân vô cực, vô lượng, vô biên không thể nào chết được.

Thanh Hư Chi
Thân
” có nghĩa là thân này bao trùm khắp pháp giới. Một bước chân
ở trên cõi Tây-Phương đi khắp các dãy ngân hà chứ không cần gì nói tới một quả
địa
cầu. Còn ở đây cái thân chúng ta không phải là thân thanh hư, mà gọi là
thân Vô-Tịnh, Bất-Tịnh! Bất tịnh nên đau lên đau xuống, ngày nào cũng phải đi
giải, đi bỏ… Bỏ những gì? Toàn là những thứ dơ bẩn!.. Cái lớp da này mình
thấy đẹp đẹp đó! Nhưng mà sau cái lớp da đó rõ ràng toàn là thứ bất tịnh! Phật
dạy: “Quán thân bất tịnh”.

Còn như một vị Thánh
Chúng
ở trên cõi Tây-Phương Cực-lạc nếu ứng hiện xuống đây, xin thưa rằng không
cách nào chúng ta thấy được. Tại vì mắt chúng tamắt thịt, mắt dơ, mắt bệnh!
Trong khi cái thân của họ là thân trong sạch, quá sạch, quá đẹp, gọi là “Thanh
hư chi Thân
”, thành ra chúng ta không thấy được.

Cho nên khi chúng ta đã
gặp được cơ hội này để đi về Tây-Phương, xin chư vị phải trân quý, trân quý tối
đa. Tu phải ngộ đạo, đừng tu mà mê muội! Mê muội thì thôi chịu thua, đời-đời
kiếp-kiếp không biết làm sao có thể tìm được một cơ hội giống như bây giờ để
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Chư vị nhớ là hiện tại
chúng ta biết được phương pháp hộ niệm, nhưng coi chừng mười năm, hai chục năm,
ba chục năm nữa… chưa chắc gì còn những ban hộ niệm này đâu!… Chưa chắc gì
còn pháp hộ niệm này đâu!… Tại sao vậy?… Tại vì thời này mạt pháp rồi, tất
cả những gì thuộc về chánh pháp của Phật đưa ra, khi vừa khởi lên thì tất cả
những chướng nạn, tất cả những thử thách, tất cả những sự dèm pha, đả phá… sẽ
tìm cách hạ bệ cho tiêu tan chánh pháp này. Để chi?… Để cho tất cả chúng sanh
phải tiếp tục chìm trong cảnh khổ! Mạt pháp là vậy đó! Nó mạt luôn cho tới ngày
diệt pháp!

Chính vì vậy chúng ta phải
cố gắng loan truyền, cố gắng giao lưu, cố gắng vận động phương pháp hộ niệm. Để
cho cái phương pháp hộ niệm này càng ngày càng vững, càng ngày cái gốc càng
vững hơn để giúp cho chúng sanh thêm được thiện-căn, giúp cho chúng sanh thêm
được phước-đức và nương theo nhân-duyên này mà có người vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc. Chớ còn lơ là, xin thưa thật coi chừng vài chục năm tới pháp hộ niệm
này sẽ không còn xuất hiện nữa, chính vì thật sự ma chướng trùng trùng đang tìm
cách
phá hoại không cho con người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Trở lại vấn đề: “Thiện-Căn
chính là cái gốc thiện lành. Cái gốc này chính cá nhân mỗi người phải thực hiện
lấy, không nhờ ai thực hiện được. Tin tưởng phải vững, không được chao đảo.
Tinh tấn tu hành. Ở đây niệm Phật về nhà mà niệm một cái gì nữa, thì nhất định
không phải là tinh tấn, mà gọi là tạp tấn. Tạp tấn chỉ vì niềm tin không đủ.
Niềm tin không đủ thì nhất định cái gốc bị lung lay! Một người có niềm tin đủ
rồi, tinh tấn tu hành rồi, thì không bao giờ dám rời câu A-Di-Đà Phật được nữa.

Cách đây khoảng chừng mấy
tháng, tại xứ tây Úc này có một người Thiên Chúa giáo không biết gì về niệm
Phật
cả, nhưng khi nghe được câu A-Di-Đà Phật thì liền chấp trì mà niệm, giữ
gìn
mà niệm, quyết lòng mà đi. Họ đi về Tây-Phương rõ rệt. Tín Nguyện Hạnh đầy
đủ, đến nỗi ban hộ niệm dám tuyên bố người này xác suất chín mươi lăm phần trăm
vãng sanh.

Trong khi có rất nhiều
người tu hành mà không giữ được ba cái điểm này. Ý niệm lung lay! Phép tu hành
xen tạp! Lòng tin tưởng chao đảo!… Nhiều khi muốn đoán mười phần trăm, hai
phần trăm thôi, mà chúng ta không dám đoán!…

Suy nghĩ ra thì chính ta
có phước-báu vì vào được Niệm Phật Đường niệm Phật, ta có phước-báu vì được
những người chuẩn bị hộ niệm cho ta, nhưng coi chừng nếu thiện-căn của mình
chao đảo, cái gốc của mình chao đảochúng ta vẫn có thể mất phần vãng sanh
như thường.

Những lời nói này, hết
sức
là tha thiết… Mong tất cả Chúng ta ai ai cũng phải giữ cho vững để đường
về Tây-Phương chắc chắn có trong một báo thân này. Ta được thành đạo…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 25)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Diệu Âm xin trả lời câu hỏi của Kim Bình. Câu hỏi
là:

– Tại
sao
người có TinNguyệnniệm Phật có dở một chút cũng được vãng sanh.
Còn Người không “Tin” không “Nguyện” niệm Phật đến “Nhất Tâm Bất Loạn” cũng
không được vãng sanh?…

Xin trả lời rằng:

Hai dạng người này người nào cũng khó vãng sanh hết chớ
không phải dễ đâu. Dễ là dễ hơn một chút. Người có tin, có nguyện nhưng mà tu
yếu, niệm Phật ít, khó vãng sanh. Nhưng mà so ra thì dễ hơn người niệm Phật
nhiều, niệm Phật ngày đêm, nhưng không tin, không nguyện.

Trước khi đi vào câu hỏi này thì Diệu Âm trực nhớ lại một
câu hỏi khác có liên quan chút ít tới chỗ này. Là có một Người hỏi rằng: Tại sao những người giết cha hại mẹ, lại có
cái tội nhẹ hơn người không tin vào pháp Phật?

Câu hỏi như vậy và trong câu hỏi đó, người ta nói, Hòa
Thượng
Tịnh-Không nói rằng người không tin vào câu A-Di-Đà Phật thì tội nặng
hơn người giết Cha hại Mẹ!…

Thì Diệu Âm trả lời rằng, hai tội này tội nào cũng nặng
hết! Không có tội nào nhẹ đâu!… Giết cha hại mẹ, cái tội này nặng lắm, phải
xuống địa ngục A-Tỳ vĩnh viễn khỏi lên luôn, chứ không phải nhẹ. Cái tội không
tin pháp Phật, không tin lời Phật dạy thì trong kinh Phật nói là “Nhất-xiển-đề”. Người nhất-xiển-đề tức là
bỏ mất Thiện-Căn của mình, thì người này vĩnh viễn khó có thể thoát được cái
ách nạn tam đồ ác đạo. Nhưng người giết cha hại mẹ là do lúc họ mê mờ, ngu độn,
mà làm những chuyện sai lầm. Nhưng nếu có cơ may có người chỉ điểm, hướng
đạo… người ta có thể phát tâm sám hối, kiệt thành sám hối rồi niệm Phật cầu
sanh Tịnh-Độ thì họ vẫn có thể vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc theo cái diện “Sám Hối Vãng Sanh”. Trong kinh Phật
có đưa ra trường hợp này, đó là ngài A-Xà-Vương-Thế.

Còn người không tin vào câu A-Di-Đà Phật có tội nặng là
tại vì đã không tin thì không bao giờ niệm Phật, không bao giờ nguyện vãng
sanh
, cho nên vĩnh viễn người ta không vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Bên
cạnh đó vì không tin nên thường hay phát ra những lời nói sai lầm, phạm đến cái
tội phỉ báng Phật pháp. Cái tội này rất nặng! Ngài nói nặng hơn là nhắm vào chỗ
này đó.

Bây giờ trở lại cái câu hỏi: Người có tin, có nguyện mà niệm Phật yếu cũng được vãng sanh. Còn người
niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn, niệm Phật cho đến gió thổi không qua, mưa
rơi không lọt nhưng không tin, không nguyện, thì quyết định không được vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc. Tại sao lại như vậy?…

Xin thưa là Tin thuộc
về thiện-căn. Nguyện thuộc về
nhân-duyên, Niệm Phật thuộc về
phước-báu. Vì trong đời này gặp cảnh khó khăn cho nên công phu của họ yếu đi,
nhưng đã có tin có nguyện, nên có thời giờ thì người ta niệm Phật, có cơ hội
thì người ta niệm Phật. Những người này nếu thật sự không có người nào trợ
duyên
trong khi xả bỏ báo thân thì cũng thật là khó đấy. Tại vì nghiệp chướng,
tại vì oan gia trái chủ chướng, tại vì nghịch duyên phá hại. Nếu về cuối đời có
cơ may gặp được ban hộ niệm giúp đỡ. Một người đang nằm trong cảnh chuẩn bị chờ
chết
, do có niềm tin và sức nguyện của họ, gặp trợ duyên làm cho họ vùng lên
quyết lòng niệm Phật, họ niệm trong những giây phút trước khi xả bỏ báo thân,
những ngày nằm trên giường bệnh, nhờ sự trợ niệm của những người bạn đồng tu
nên hóa giải cho họ nhiều ách nạn về nghiệp khổ, về oan gia trái chủ. Chính nhờ
cái cơ may hộ niệm đó mà người ta có thể vãng sanh. Dễ vãng sanhlý do này.

Còn những người gọi là niệm Phật đến “Nhất tâm bất
loạn
” mà không có tin câu A-Di-Đà Phật, không có phát nguyện vãng sanh thì
chư Tổ xác định là người này không thể nào vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
được!… Nói thẳng ra, thứ nhất người không tin, không nguyện mà niệm Phật được
nhất tâm bất loạn, thì điều này khó có lắm! Không có đâu! Làm gì có chuyện
không tin mà niệm Phật tới nhất tâm bất loạn? Nói lời như vậy, có nghĩa chư Tổ
muốn nhấn mạnh đến Tín-Nguyện là điểm rất quan trọng, nhất là đối với hàng phàm
phu
tục tử như chúng ta. Tại vì là hàng phàm phu tục tử tội chướng sâu nặng,
phước báu yếu cho nên công phu khó có thể đến nhất tâm bất loạn. Không nhất tâm
bất loạn
nhưng nhờ tín và nguyện thì với lòng thành này sẽ cảm ứng chư vị
Thiên-Long Hộ-Pháp, chư vị đồng tu đến hỗ trợ cho mình. Mình ra đi trong tư thế
gọi là “Nhất Tâm Niệm PhậtNhất Tâm Hệ Niệm” trong những giờ phút xả bỏ
báo thân, chớ không phải là “Nhất Tâm Bất
Loạn
”.

Điểm thứ hai, người niệm PhậtNhất Tâm Bất Loạn
mà không nguyện vãng sanh, không tin thế giới Tây-Phương Cực-Lạc thì đây là
những người tự tu tự chứng. Có rất nhiều người dùng phương pháp niệm Phật để hỗ
trợ cho con đường tự tu tự chứng của Họ. Muốn tự tu tự chứng thì phải là đại
Bồ-Tát, Đẳng-Giác Bồ-Tát, thượng căn thượng cơ mới có khả năng chứng đắc được.
Còn hạng phàm phu mà muốn cho chứng đắc thì vạn ức người tu nhiều khi tìm không
ra một người chứng đắc.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư xác định rõ ràng, người nào niệm
Phật
mà không chịu nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, thì đó là người tự
tu. Câu A-Di-Đà Phật của họ có giá trị như một câu thoại đầu, chớ không có gì
khác. Tức là người tự tu, thông thường họ dùng một câu nào đó để trói cái tâm
của họ vào đó, câu đó gọi là câu “Thoại đầu”. Khi tâm họ trói vào đó rồi thì
tất cả những vọng tưởng, những ý nghĩ khác sẽ rời ra, sau cùng họ chứng đắc gọi
là “Minh tâm kiến tánh”. Những người niệm Phật mà không tin không nguyện là họ
đang dùng câu “A-Di-Đà Phật” để làm câu thoại đầu. Câu “A-Di-Đà Phật” chỉ là
câu thoại đầu rồi thì tự họ phải chứng đắc lấy. Nếu thật sự họ chứng đắc được,
họ diệt được vọng tưởng, họ diệt được nghiệp hoặc, tức là đoạn hoặc thì chứng chơn.
Chứng chơnthành tựu.

Ngài Vĩnh-Minh có nói những người tu tự lực đoạn hoặc
chứng chơn, trong thời đại của Ngài còn là thời tượng pháp, nhưng Ngài nói là
mười người tu, chín người đã bị lạc đường rồi! Đến khi chết đi, Ngài nói, “Nhược Ấm Cảnh Hiện Tiền, Miết Nhĩ Tùy Tha
Khứ
”. Khi chết xuống rồi vì nghiệp khổ báo hại, định lực yếu đi, chỉ cần
một cái niệm chao đảo, phân vân là tự nhiên ấm cảnh hiện tiền. Ấm cảnh tức là
thân trung ấm ứng hiện ra, mà thân trung ấm ứng hiện ra thì nhất định phải tùng
nghiệp để thọ báo. Đã tùng nghiệp rồi, thì xin thưa với chư vị, tất cả chư Tổ
đều nói rõ rệt rằng, đã là nghiệp thì nghiệp thiện hay nghiệp ác vẫn phải ở
trong lục đạo luân hồi, không thể nào thoát vòng sanh tử được.

Khi ngài Ấn-Quang giải thích câu nói này của ngài
Vĩnh-Minh thì mình thấy còn rõ ràng hơn nữa. Ngài nói nếu những người nào tự
lực
tu chứng thì câu nói “Nhược Ấm Cảnh
Hiện Tiền
” là ngài Vĩnh-Minh nhắc nhở cho những người đã đạt đến trình độ
gọi là “Minh Tâm Kiến Tánh” rồi đó chớ không phải là hạng bình thường như chúng
ta
đâu. Tại vì ngài Vĩnh-Minh là vị đã minh tâm kiến tánh rồi, đã minh tâm kiến
tánh
mà nói lên lời này, với ngụ ý là Ngài nói dù cho quý vị đã có khai ngộ, dù
cho chư vị đã được định, nghĩa là tâm đã khai rồi, nhưng chỉ cần một phút phân
đo mà thôi, nghĩa là lúc lâm chung chỉ cần khởi lên một cái niệm, bất cứ một
niệm gì, thì “Thập Nhơn Cửu Tha Lộ”.
Chữ “Tha Lộ” có nghĩa là cái tâm nó xao xuyến, nó phân vân trong lúc xả bỏ báo
thân
. Chỉ cần một tích tắc như vậy mà một người đã đến cái chỗ “Đại
Định
” đành phải tùng theo cái nghiệp đó để “Thọ nạn”.

Cho nên ngài Ấn-Quang mới nhắc nhở rõ ràngniệm Phật
điểm quan trọng nhất là “Niềm Tin
và “Sức Nguyện”. Ngài nói dù cho
niệm Phật có yếu đi một chút đi nữa cũng có thể vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
được.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói: Tin Tưởng cho vững vàng, phát nguyện cho tha thiết. Gọi là tin sâu
nguyện thiết thì dẫu cho tán tâm, loạn tâm niệm Phật cũng được vãng sanh
.
Ngài nói rõ rệt như vậy. Mình thấy chư Tổ nói giống giống với nhau. Còn nếu tin không vững, nếu nguyện không
thiết, thì dẫu cho niệm Phật đến “Nhất Tâm Bất Loạn” cũng không được vãng sanh!

Rõ ràng là chư Tổ nói giống giống với nhau.

Như vậy, đúc kết lại lời này là chư Tổ luôn luôn khuyến
cáo chúng ta phải tin cho vững, đừng nên xao xuyến. Tại vì niềm tin nó khởi sự
tất cả những hành trình phía sau. Hễ tin vững thì tự nhiên quyết lòng nguyện
vãng sanh, mà quyết lòng nguyện vãng sanh rồi thì không ai rời bỏ câu A-Di-Đà
Phật, không ai dám lơ là câu A-Di-Đà Phật. Như vậy khi mà lơ là câu A-Di-Đà
Phật là bắt nguồn từ niềm tin quá yếu. Mà niềm tin quá yếu rồi thì nguyện chỉ
là nguyện chơi, chớ không bao giờ nguyện thật được. Thành ra dù có niệm Phật
giỏi cho mấy đi nữa, ngày nào cũng đến Niệm Phật Đường niệm Phật đi nữa, sau
cùng mình không được vãng sanh. Ý nghĩa là như vậy.

Mong cho chư vị phải vững vàng, phải củng cốNiềm Tin”. Tất cả những lời tọa đàm của
Diệu Âm đều nhằm củng cố niềm tin. Phải tin vững thì nhất định một đời này sau
khi xả bỏ báo thân ta về tới Tây-Phương Cực-Lạc gặp A-Di-Đà Phật một đời thành
tựu
đạo quả.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 26)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ngày hôm qua chị Diệu Hương
có đến nói rằng, trong đời của Chị lần đầu tiên thấy được một hiện tượng vi
diệu
, đó là bác Cam Muội sau khi xả bỏ báo thân hai mươi mấy tiếng đồng hồ mà thân tướng
đẹp quá, mềm mại, khuôn mặt tươi ra. Chị nói thật sự là bất khả tư nghì!…

Hồi giờ thì
mình nghe nói, hoặc coi trong phim, nhưng chính mình cầm được cái tay của người
ra đi mười mấy giờ rồi mà mềm như vậy, giống như người bình thường thì chưa có.
Chính vì vậy mà Chị hết sức ngạc nhiênvô cùng phấn khởi. Chị nói đây là một
cơ hội làm cho niềm tin của Chị dâng lên rất cao.

Khi Diệu Âm
đi tới chỗ nào, thường thường gặp những gia đình có người thân ra đi với thoại
tướng
tốt như vậy. Họ đến với một tâm trạng rất hân hoan, nhiều khi họ diễn tả
những nỗi niềm vui mừng mà làm cho mình phải cảm động! Chính mình nhiều lúc
cũng phải cảm động, không nói lên lời!… Khi thấy được người thân vãng sanh,
bắt đầu từ đó họ phát tâm rất mạnh. Xin thưa thật, họ phát tâm rất mạnh…

Ví dụ như kỳ
rồi ở bên Âu Châu có một vị đang nằm trong bệnh viện thiếu người hộ niệm, chỉ
cần kêu một cú điện thoại, có vị ở cách xa bốn năm trăm cây số mà người ta vẫn
lấy xe chạy tới để hộ niệm. Có lần anh trưởng ban hộ niệm nói, nhiều lúc cần đi
hộ niệm với đường xa khoảng sáu trăm-bảy trăm cây số mà anh vẫn lái xe để đi.
Anh lái xe với tốc độ một trăm tám chục, một trăm chín chục cây số giờ. Anh nói,
lái vậy là cẩn thận lắm rồi đó!… Có nhiều lúc gấp quá anh đi tới hai trăm cây
số giờ. Ở bên Đức có tốc độ tối đa, không giới hạn. Kỳ lạ lắm!

Mấy ngày hôm
nay chúng ta nói về Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên. Thì “Thiện-Căn” là cái “Gốc”,
“Phước-Đức” là cái “Thân” và “Nhân-Duyên” là cái cơ hội “Đơm bông kết
trái
”. Thì khi nói về thiện-căn chúng ta luôn luôn nhắc nhở đến niềm tin,
củng cố niềm tin. Khi niềm tin vững thì tự nhiên chúng ta sẽ vững vàng đường
đi. Có những người cách xa cả hàng ngàn cây số, khi nghe cần tới hộ niệm vãng
sanh
, nhưng không lái xe được nên họ phải đi xe lửa, đi xe lửa tám chín tiếng
đồng hồ để tới nằm chung với người bệnh mà hộ niệm suốt. Sở dĩ họ phát tâm mạnh
như vậy, vì chính trong đời của họ đã thấy ra những hiện tượng vi diệu bất khả
tư nghì!…

Hôm qua nói
chuyện với chị Diệu Hương, Chị Ngọc Y, mấy chị nói rằng thật sự đây là một điều
quá may mắn. Tuổi đời của mình bây giờ năm mươi, sáu mươi hơn rồi mà chưa từng
trải qua một lần kinh nghiệm thấy một người ra đi mà có thoại tướng tốt như
vậy. Đến khi được cơ duyên biết phương pháp hộ niệm mới xảy ra hiện tượng này.
Lúc đó mình mới thấy rằng, thật sự đây là một điều quá may mắn.

Chư vị nghĩ
thử, thoại tướng ra đi mềm hay cứng đối với thế gian không quan trọng mấy, tại
họ không biết! Nhưng điều này đánh giá một hiện tượng lạ lùng… Một người
ra đi với cái thân tướng mềm mại, điều đầu tiên là bảo đảm cho họ đời sau không
chui vào tam ác đạo trước đã. Có thể họ trở lại làm người, lên những cõi trời.
Nếu thật sự một người mà có lòng tin vững vàng, quyết lòng niệm Phật đi về
Tây-Phương, thêm hiện tượng đỉnh đầu ấm ấm, không lạnh bằng những chỗ khác…
Thật sự cho chúng ta một niềm tin vững vàng rằng, chín mươi chín phần trăm
(99%) họ được về Tây-Phương rồi đó.

Quý Vị cứ tưởng
tượng, nếu hiểu một chút đạo rồi, thì hàng vạn kiếp qua ta không gặp trường hợp
này đâu à!… Ta cứ chết đi, chịu đọa lạc, rồi sinh lại! Chết đi sinh lại…
trải qua hàng vô lượng kiếp như vậy. Trong vô lượng kiếp đó có thể chúng ta bị
đọa lạc nhiều lắm! Ghê sợ lắm mà không hay!…

Bây giờ gặp
cơ may này chúng ta tìm được sự giải thoát thành đạo, ấy thế mà có nhiều người
không trân quý cơ hội này, không thích, không muốn… Có nhiều người nói tới
chuyện hộ niệm thì cảm thấy mệt mỏi! Có người nghe tới chuyện vãng sanh thì mĩm
cười!… Ôi! Mình nghĩ thật là đau đớn cho họ!…

Trong những
khi đi nói chuyện về hộ niệm, có nhiều người cứ nói rằng, tại sao mà vãng sanh
dễ như vậy?… Tôi đã bảy tám mươi tuổi rồi, hồi giờ không nghe tới chuyện này,
tại sao bây giờ lại nói chuyện này nhiều vậy?

Xin thưa thật
với chư vị, vị này nói rằng bảy tám mươi năm không thấy thì quá ngắn! Đúng ra
vị đó phải nói là: Tại sao trong vô lượng kiếp qua tôi không nghe như
vậy…
thì mới đúng hơn. Tại vì thật ra trong vô lượng kiếp qua vị đó
đã tiếp tục trong sanh tử luân hồi, mà tiếp tục chịu đọa lạc trong ba đường ác
đạo nhiều hơn là trong ba đường thiện đạo nữa là khác mà không hay!

Cho nên nói
rằng, Tại sao ta tám-chín chục tuổi, bảy-tám chục tuổi không nghe, mà
bây giờ mới nghe?… Đây cũng là điều quá mê muội! Vì quá mê muội nên không tin
vào chuyện này! Mà không tin vào chuyện này, thì khi xả bỏ báo thân họ sẽ khóc
ròng, không còn cách nào có thể cứu vãn được nữa!…

Nói lên những
lời này để cho chúng ta chú ý mà củng cố niềm tin. Phải tin cho vững vàng. Nếu
không
tin vững vàng, thì coi chừng chính chúng ta thường gặp câu A-Di-Đà Phật
khinh thường, mà không tin tưởng, mà giải đãi, mà tu xen tạp

thì sau cùng chính ta bị ách nạn, cái ách nạn vẫn bị chìm trong những cảnh khổ,
không biết ngày nào mới giải thoát!… Còn những người suốt cả cuộc đời không tu,
nhưng khi gặp câu A-Di-Đà Phật ở trong tư thế sắp chết làm cho họ giật mình
tỉnh ngộ, họ quyết lòng đi, vậy mà họ có khả năng vãng sanh.

Đó là nói qua
ba điểm thuộc về thiện-căn mà mấy ngày nay chúng ta đã nói qua: Một là
“Tín-Căn”, hai là “Tấn-Căn”, ba là “Niệm-Căn”.

Tín-Căn
thiện lành, thì nghi ngờ chính là ác-căn. Nghi ngờ nó phá mất niềm tin của
chúng ta. Mong chư vị, người nào nghi ngờ hãy mau tỉnh ngộ.

Tấn-Căn
là tinh-tấn thiện lành, đối với tinh tấn thiện lành thì cái hại của nó chính là
giải đãi. Hôm nay bác Minh Trí tới nộp tờ công cứ thứ tám và hỏi tới tờ công cứ
thứ chín. Tôi cảm kích vô cùng! Thật sự hay vô cùng! Điều này chứng tỏ rằng bác
Minh Trí ngon hơn bác Minh Trị rồi… Hì hì!… Thật ra ta phải tranh thủ thời
gian
để niệm Phật. Nhất định quý vị phải thấy rằng, khi làm xong tờ công cứ thứ
mười rồi, thì hình như mình có một giấy Visa, giấy hộ chiếu để đi về
Tây-Phương. Phải nắm cho vững cái giấy hộ chiếu này mà đi, xin đừng khinh
thường. Chúng ta là hàng sơ cơ hạ căn, chỉ cần một chút khinh thường liền có
thể bị hại…

Tại sao
vậy?… Tại vì đối nghịch với Tinh-TấnGiải-Đãi. Giải đãi
ác-căn chớ không phải thiện-căn. Nhớ cho kỹ điều này, tất cả các vị Bồ-Tát sợ
nhất là giải đãi. Thường khi chúng ta tu hành cứ sợ đến ma này ma nọ… Chứ thật
ra giải đãi chính là Ma! Mong chư vị, nếu vì phước-đức không có, mình quá bận
bịu, thì thôi cũng đành rằng mình phải lo làm ăn. Chứ nếu không có bận bịu gì,
thì phải cố gắng tu hành, ráng lo tu tối đa, nhất định đừng nên bỏ thời khóa,
nhất định đừng nên chao đảo. Uổng lắm!… Chao đảo nó sẽ kéo luôn chúng ta
trong sáu đường sanh tử đến vô lượng kiếp nữa, chứ đừng nói chi một triệu năm,
hai triệu năm!… Đừng nên nghĩ tới chuyện đó nữa. Sáu trăm triệu năm tới coi
chừng
chúng ta cũng vẫn còn bị nạn đó! Sáu trăm triệu năm tới chưa chắc gì ta
được phước phần nghe được pháp âm của đức Di-Lặc Tôn Phật đâu nhé!… Xin chư
vị nhớ cho kỹ điểm này.

Điểm thứ ba
là “Niệm-Căn”. Mong chư vị hãy nhớ cái điểm này. Pháp môn Niệm Phật tối
kỵ là xen tạp. Nhất định niệm là niệm câu A-Di-Đà Phật.

Tất cả các
pháp môn khác không tối kỵ sự xen tạp, vì họ đi con đường tự lực tu chứng. Đã
tự lực thì phải sẵn sàng tìm những cái xen tạp để thử thách với ý chí, thử
thách
với nghị lực và dùng trí huệ sắc bén để giải thoát. Nói gọn hơn là Diệt-nghiệp,
Đoạn-nghiệp
để cầu chứng đắc. Còn người niệm Phật chúng ta là đi con
đường
gọi là Né Nghiệp, Trốn Nghiệp, không phải
diệt nghiệp. Né nghiệp thì điều quan trọng nhất là đừng để những thứ ngoại
duyên
chen vô trong tâm, làm cho câu A-Di-Đà Phật bị xen tạp bởi những cái ý
niệm
khác, xen tạp bởi những chủng tử khác. Xen tạp là điều hết sức tối kỵ!…

Nhắc đi nhắc
lại cho chư vị nhớ rằng, pháp môn Niệm Phật rất tối kỵ vấn đề xen tạp. Xen Tạp
về kinh điển đã hại như vậy rồi, đừng nói chi là xen tạp về những thứ thị phi,
ganh tị, buồn phiền, khổ não, âu sầu… Những chuyện này mong rằng chư vị hãy
bỏ đi, bỏ đi để quyết lòng đi về Tây-Phương. Nếu không bỏ, lỡ luống qua khỏi cơ
hội này thì khó lắm!… Khó lắm!… Nhất định khó vô cùng!… Nhớ rằng nay đã
rơi vào mạt pháp rồi, mong chư vị hiểu cho…

Hôm nay chúng
ta
tiến tới một điểm nữa gọi là “Định-Căn”, định-căn thiện lành. Cái “Định
đối với pháp môn Niệm Phật của chúng ta chính là người nào ưa thích câu A-Di-Đà
Phật. Ưa thích gọi là “Nhạo”. Chữ nhạo này chính là “Định
đó. Chính là người ưa thích câu A-Di-Đà Phật, ngoài ra không ưa thích cái gì
khác hết. Cái tâm định vào trong câu A-Di-Đà Phật. Hòa Thượng
Tịnh-Không nói:

Định
là tâm có “
Chủ Định”. Tức là tâm ta cứ giữ câu
A-Di-Đà Phật… Ai nói gì nói, ta nhất
định
không thay đổi!…

Chúng ta
quyết lòng đi về Tây-Phương… Ai nói gì
nói, ta nhất định không thay đổi!…

– Ta cứ quyết
định
thành tâm tin tưởng A-Di-Đà Phật sẽ phóng quang cứu độ chúng ta… Ai nói gì nói, ta nhất định không thay
đổi!…

Nhất định
phải “Định” vào danh hiệu A-Di-Đà Phật này.

Chữ “Tín” quan trọng
lắm. Có chữ “Tín” nó mới dẫn tới chữ “Định”.
Không có niềm tin thường thường bị chao đảo! Cho nên, ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói
Tin là gì?… Tin có Phật A-Di-Đà, tin có Thế Giới Tây-Phương Cực-Lạc, tin
Nhân, tin Quả, tin Lý, tin Sự. Nhân là câu A-Di-Đà Phật. Quả là trở thành
A-Di-Đà Phật trên cõi Tây-Phương luôn. Lý là tâm ta là A-Di-Đà Phật. Sự
chính là cõi Tây-Phương, là chỗ mà ta về đó.

Chư vị cứ
vững lòng như vậy mà đi thì nhất định định-căn chúng ta vững vàng. Hễ định-căn
vững vàng thì tự nhiên “Huệ-căn” chúng ta phát sinh ra. Những người thích tìm
hiểu
này nọ, thích chạy lung tung… thì tâm hồn dễ chao đảo, chứng tỏ rằng
định-căn chưa có. Định-căn chưa có chỉ vì niềm tin chưa đủ! Vì niềm tin chưa
đủ, nên dù tu hành ba-bốn chục năm, năm-sáu chục năm nhưng sau cùng rồi vẫn ra
đi với thân tướng cứng ngắt!…

Có nghĩa là
sao?… Đã bị nạn tam ác đạo rồi! Dễ sợ quá!…

Còn nếu một
người nào tin tưởng vững vàng, quyết lòng đi, nhất định đã có chỗ “Định” rồi. Từ chỗ “Định” này nhất định sẽ phát “Huệ”.
Phát huệ ở đâu? Khi gặp một người nào khác nói một chuyện gì, tự nhiên mình
biết rằng họ nói có đúng chánh pháp hay không? Biết liền!…

Ngày hôm nay
chúng ta đang ở trong cảnh giới mạt pháp của đức Thế-Tôn rồi, không phải là
tượng pháp hay là chánh pháp. Trong thời mạt pháp mà chính ta đã thấy được
những người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, xin thưa thật, phải chăng trong
mạt phápchúng ta đã thực hiện được một đại chánh pháp để thành tựu.
duyên
này vô cùng quý giá!…

Nguyện mong
chư vị cố gắng gìn giữ cơ duyên hy hữu này để nhất định ta được phước phần vãng
sanh
thành tựu đạo quả!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 27)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Trong mấy ngày
qua, chúng ta bàn về “Thiện-Căn”. Thiện-căn có liên quan mật thiết đến
việc vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Trong thiện-căn có
năm tiết mục: Tín-Căn, Tấn-Căn, Niệm-Căn, Định-Căn, Huệ-Căn. Bốn
mục trước chúng ta đã bàn sơ qua rồi, hôm nay nói qua phần Huệ-Căn.
Thật ra khi nói về huệ-căn thì quá cao đối với Diệu Âm. Tại vì huệ là trí
huệ
. Khi mình khai mở trí huệ rồi mới nói được về huệ-căn. Cho nên khi nói về
huệ-căn này, mong chư vị hãy dành lại đến khi nào mình vãng sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc rồi mới nói thì chính xác hơn.

Hôm nay chúng ta
chỉ dồn lại bốn căn trước. Nếu thật sự bốn căn trước chúng ta đã có đầy đủ thì
coi như cái nhân giúp cho huệ-căn phát triển đã có. Có nhiều người rất thích
luận
triết lý cao siêu và cho đó là huệ-căn! Nhưng thực tế vô tình
cho mình thấy ra những điều trái ngược, vì người đi về
Tây-Phương hình như là người ta không lý luận gì hết, ấy thế mà đường vãng
sanh
của họ lại chắc chắn. Còn những người cứ đem sở tri kiến của mình ra
diễn giải việc vãng sanh, diễn giải con đường về Tây-Phương, thì càng diễn giải
càng khó được thành tựu! Đây là sự thật đã được chứng minh hết sức cụ thể.

Ví dụ như Niệm
Phật
Đường chúng ta vừa qua mới tiễn đưa được một người, bà cụ Cam Muội vãng
sanh
. Trong những lần tới hộ niệm cho bà Cụ, mình thấy bà Cụ có lý luận
đâu?… Bà Cụ có biết biện bác gì đâu?… Bà Cụ có giảng giải
đâu?… Hỏi bà Cụ:

– Bây giờ Cụ sao rồi?…

Bà Cụ nói:

– Niệm Phật.

– Bà Cụ chân đau
lắm phải không?…

– Bỏ!… Hì hì. 

– Bây giờ Cụ theo
ai?…

– Theo A Di Đà
Phật
.

– Bà Cụ còn muốn
gì nữa?…

– Muốn vãng sanh
Tây-Phương Cực-Lạc.

Bà Cụ nói những
lời hết sức mộc mạc. Chắc chắn những người ưa lý giải không thích
nghe tới những lời nói này đâu. Ấy thế mà bà Cụ lại vãng sanh. Còn rất nhiều
người ưa lý luận dữ lắm, giảng ý nghĩa vãng sanh là như thế nào? Ý nghĩa vãng
sanh
cao tột như thế nào? Huyền nghĩa của Tây-Phương Cực-Lạc như thế nào?
tưởng
 thật là liêu láng, cao siêu!… Nhưng hình như lịch sử lại chứng
minh
một chuyện ngược lại, càng lý luận chừng nào càng khó vãng sanh chừng đó!
Càng lý luận chừng nào thì cuối đời hình như họ bị lạc vào chỗ nào đó, chứ
không có một hiện tượng nào để bảo đảm rằng họ được vãng sanh!…

Chính
vậy
, khi nói đến huệ-căn thì biết chừng đâu chính những người thật thà
nhất lại có huệ-căn trong đó chăng? Mấy ngày qua chúng ta thường khuyến tấn với
nhau
hãy quyết lòng tin tưởngVấn đề tin tưởng đối với những
người thông minh, hiểu rộng, họ ít khi chấp nhận lắm! Như vậy chẳng lẽ
những người có tấm lòng chí thành tin tưởng lại có huệ-căn chăng? Còn
những người không chịu phát tâm tin tưởng, lại cứ lo luận cho ra
cái mối đạo, giải cho ra cái lý diệu, vô tình họ đang bị vướng vào một chỗ, mà
theo như chư Tổ thường hay nói, là Sở-Tri-Chướng chăng?…

Ngài Đại-Thế-Chí
Bồ-Tát nói, đây là những người không chịu đóng ý-căn, không chịu khóa ý-căn
lại. Ngài dạy “Đô nhiếp lục căn”, nhưng không chịu đóng ý-căn lại, mà cứ
mở ý-căn ra. Ý-căn càng mở ra thì thường tâm bị rối giống
như mối tơ quần-quần quần-quần!… Đến sau cùng rồi khi nằm xuống, ý-căn
cứ thế mà ứng hiện ra. Ý-căn ứng hiện ra chính vì vấn đề
tưởng
kiến giải quá mạnh, vô tình đã làm mất đi cái tâm Chí
Thành-Chí Kính-Thành Tín
 niệm câu A-Di-Đà Phật. Tín-Hạnh-Nguyện
quá yếu, nên không hợp với đại nguyện của Đức A-Di-Đà. Không hợp đại
nguyện
của Đức A-Di-Đà thì con đường vãng sanh vô cùng lõng lẻo!… Chính
vì vậy mà họ đành phải đi theo con đường trầm luân trong nhiều số kiếp nữa.
Trong khi đó khi mình đi hộ niệm cho bà cụ Cam Muội. Hỏi cụ:

– Về
Tây-Phương Cụ nhé?

– Nhất định!

– Cụ theo ai?

– A-Di-Đà Phật.

– Quyết vãng sanh
nghen Cụ?

Nhất định vãng
sanh
.

– Còn tiếc cái
thân này không?

– Bỏ… Hì hì…

Cụ nói
những lời hết sức mộc mạc như vậy thôi, ấy thế mà Cụ vãng
sanh
. Chứ giả sử như lúc đó bà Cụ đòi hỏi rằng ta cần hiểu cái lý này,
giảng cho ta hiểu cái đạo nọ, đọc cho ta nghe bài pháp này, tụng
cho ta nghe bộ kinh nọ… Bà Cụ cứ tiếp tục đòi hỏi những cái đó, thì
chưa chắc gì bà Cụ ra đi có thoại tướng tốt như vậy.

Chính vì vậy, thay vì mình nói
về huệ-căn, thì tốt hơn là hãy mau mau làm sao cho con đường vãng
sanh
của mình được bảo đảm trước đã. Đi về Tây-Phương rồi, ngài Vĩnh-Minh
Đại Sư nói rằng, đi về Tây-Phương gặp được A-Di-Đà Phật rồi thì bây giờ không
có huệ-căn cũng có huệ-căn, không có khai ngộ cũng khai ngộ, không có thành đạo
cũng thành đạo, không hiểu lý đạo cũng hiểu lý đạo… Chỉ cần đi về Tây-Phương
được là chúng ta sẽ được tất cả. 

Muốn chắc chắn
được đi về Tây-Phương thì đơn giản vô cùng, hãy lấy hình ảnh của cụ Cam Muội
làm gương là chắc chắn nhất.

Đóng ý-căn lại…
đừng mở ra! Đóng lỗ tai lại… đừng nghe! Đóng cửa khẩu lại… không thèm nói
những gì khác nữa! Đóng con mắt lại… không nhìn cái gì khác nữa! Cứ một câu
A-Di-Đà Phật mà niệm, cứ một hình tượng A-Di-Đà Phật mà nhìn. Tất cả
những thứ tham, sân, si, mạn, thị phi, ganh tỵ… những cái gì của thế
gian
cứ cố gắng giảm đi, giảm đi, giảm tối đa. Tập ăn ở hiền lành. Đem cái lòng
chí thành này mà niệm Phật. Xin bảo đảm với chư vị con đường vãng sanh về
Tây-Phương mình đã chiếm được tới chín mươi phần trăm (90%) rồi chứ không phải
ít đâu.

Cách đây không lâu
có một chị tuổi năm mươi bảy ở tại Úc vãng sanh. Suốt cuộc đời của chị này
không có đi chùa. Hồi nhỏ có đi hay không, không biết. Nhưng khi lập gia
đình
thì người chồng theo Thiên-Chúa giáo. Hiện tượng vãng sanh của chị rõ rệt
là một chứng minh cụ thể cho lời nói trên. Khi theo chồng đạo
Thiên-Chúa giáo chị thường đi nhà thờ. Tất cả bốn người con đều đi nhà thờ.
ràng
là suốt một cuộc đời của chị này hình như một câu kinh Phật cũng
không biết, không biết gì hết. Ấy thế, cuối đời ở tuổi năm mươi bảy chị
gặp phải bệnh ung thư ngặt nghèo, đang nằm để chờ chết, cơ may gặp
được những người hộ niệm bày vẽ đường niệm Phật cầu vãng sanh. Chị
hạ quyết tâm, quyết thề đi về Tây-Phương, không cần lý luận gì hết…

Chính chị đó đã
hỏi Diệu Âm:

– Bây giờ tôi phải
đọc kinh gì để tôi được vãng sanh?…

Diệu Âm nói:

– Bây giờ chị
không cần đọc kinh gì hết. Không có kinh nào giúp cho chị được vãng sanh hết.
Không có Thần-Chú nào giúp cho chị được vãng sanh hết. Chỉ một câu A-Di-Đà
Phật chị niệm tới cùng cho tôi. Bắt đầu từ giờ phút này cho đến ngày chị buông
báo thân ra đi, niệm một câu A-Di-Đà Phật, bốn chữ thôi, không cần gì hơn.

Chị đó tự nhiên
quyết tâm tin tưởng, quyết lòng đi. Chính chị đó đã khuyên giải gia đình,
khuyên giải những người thân cùng yểm trợ cho chị, để chị niệm được câu A-Di-Đà
Phật. Ấy thế, chỉ bốn tháng niệm Phật mà thôi, chị ra đi để lại một thân tướng
bất khả tư nghì.

Chư vị cứ
nghĩ thử coi, bây giờ chúng ta lý luận để làm gì?… Có rất nhiều người
thường đưa ra những sự lý luận quá hay! Vô cùng hay! Nhưng vô
tình, lý luận hay quá nên mới thấy câu A-Di-Đà Phật sao đơn giản quá!
Đơn giản quá thì có cái lý gì hay trong đó đâu để được vãng
sanh?… Vì đơn giản quá nên chê! Không chịu cái đơn giản, chỉ
thích những cái rắc rối mà thôi. Vô tình càng rắc rối chừng nào thì
càng rối rắm chừng đó!… Ích lợi gì đâu!…

Chính vì vậy
muốn có trí huệ không có cái gì khác cả. Một là tin tưởng, phải tin tưởng, tin
cho vững vàng đi. Những người nào hôm nay mà chưa tin câu A-Di-Đà Phật thì mau
mau giật mình tỉnh ngộ tin liền đi. Tin vững vàng!… Gọi là “Thâm Tín”,
đừng có “Sơ Tín” . “Thâm tín nhân quả” thì câu A-Di-Đà Phật chính
là “Nhân”, về Tây-Phương thành Phật là “Quả”. Nếu như người nào
có “Thâm Tín” này nhất định người đó có “Thiện-Căn”. Những người nào
không có cái thâm tín này, nhất định bây giờ dù có hình tướng như thế nào đi
nữa, ta không dám nói có thiện-căn.

Tại vì sao?… Tại
cuối đời họ không được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Đã thâm tín thì cố
gắng
tranh thủ thời giờ niệm Phật, ở đây niệm Phật, về nhà niệm Phật, thời khóa
đừng nên bỏ. Phải cố gắng kiên trì, đừng ỷ lại.

Rồi gì nữa?…
Niệm!… Đừng có nên niệm “Ta-bà”. Những điều gì mà người ta đã làm sai
với mình, thì tha thứ đi. Những người làm cho mình bị thua lỗ, hãy
tha thứ đi…

Ở bên Châu
Âu, có một chị kia sau khi người mẹ của chị vãng sanh rồi, chị nói như thế
này, chị quản lý cả một cái khu chợ, nhưng bây giờ chị không đi đòi tiền
nữa. Những khu chợ người ta mướn sạp hàng của chị, nhưng mà chị không đòi
nữa. Những người nào có tiền thì trả, không có tiền chị cho luôn. Tại vì bây
giờ chị không còn niệm tiền nữa.

Một câu A-Di-Đà
Phật như vậy mà đi. Nhất định! Hãy định vào chỗ này. Nói thẳng thắng chỉ
bốn chữ này thôi, nhất định chúng ta sẽ vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Người nào về
Tây-Phương trước thì phát huệ trước, người nào ở đây thì phát huệ sau.

Mong cho tất cả
chư vị ai ai cũng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. 

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN,
PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 28)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Chúng ta đang nói về Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên.
Mấy ngày qua chúng ta nói nhiều về thiện-căn, hôm nay xin bàn qua phước-đức,
nhân-duyên.

Trong dịp này xin kể một câu chuyện, ở bên Âu Châu có
một vị kia phát một cái tâm nguyện rất là tốt và Diệu Âm rất khen tặng. Vị đó
có một tâm hồn rất là rộng rãi, rất vui vẻ với tất cả mọi người và suốt năm chị
ta rất hoan hỷ, tiếp đón, cúng dường, phụng sự… tất cả các hội cũng như là
Pháp Sư. Diệu Âm thấy vậy rất là vui. Thật sự vị này là một người tu hành khá
tốt. Nhưng khi tiếp xúc với một vài vị khác ở Âu Châu, thì mấy vị đó có nói
rằng nhiều khi tôi muốn đến với chị nhưng tôi không biết là chị đi đường nào,
nên cũng thấy phân vân!

Chị đó phát một cái tâm rất là tốt, cúng dường tứ sự,
lo chỗ ăn chỗ ở cho những vị tu hành, cho đồng tu khắp nơi, nhưng có một cái là
đường đi hình như không được chuyên nhất lắm, vì chị tu nặng về thiện phước, là
một người rất tốt. Có lẽ vì nhiều đời nhiều kiếp tu thiện tích đức, cho nên
trong đời này chị gặp được Phật pháp. Chị cũng rất thích niệm Phật, nhưng vẫn
bị các vị kia thường hỏi rằng:

– Sao chị không đi một đường mà đi lung tung vậy?…

Chị đó nói:

– Mình phải biết tu phước, tạo phước. Nhờ cái phước đó
mình mới có khả năng vượt qua ách nạn của nghiệp chướng chứ.

Đây thật sự là một pháp tu tốt, vì tu tốt trong nhiều
đời nhiều kiếp cho nên trong đời này mới có cơ duyên gặp được Phật pháp. Nhưng
thật sự tu đường này thì theo trong Phật giáo chúng ta gọi là tu thiện-phước.
Mấy vị kia cứ hỏi rằng tại sao chị không đi một đường, là tại vì những vị đó
đang muốn quyết lòng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Có lẽ các vị đó hỏi chị
là vì thấy chị cứ tiếp tụcTu Phước” nhiều hơn là quyết lòngTu
Đắc
”, gọi là đắc vãng sanh? Cái điểm cần chú ý là ở chỗ này…

Trong quá khứ tu phước-thiện, trở về đời này ta làm
người nhưng vẫn còn trong lục đạo. Trong đời trước có thể là chánh pháp, tượng
pháp
ta có quyền rớt lại. Nhưng đến naymạt pháp rồi, nếu ta tiếp tục tu
phước-thiện mà không chú tâm tu đường đắc vãng sanh, thì khi lỡ rớt lại trong
đời
sau, ta liệu có khả năng hưởng được phước-thiện trong cảnh giới mạt pháp
của đức Thế-Tôn hay không? Sau đó ai sẽ hướng dẫn cho ta con đường thoát vòng
sanh tử? Cho nên Diệu Âm khen chị là khen tu phước, còn các vị kia trách chị là
trách tại sao chị không chịu quyết lòng vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc?…

Nên nhớ, nay đã rơi vào mạt pháp rồi, không phải dễ
dàng đâu! Mình nghĩ rằng tu phước để đời sau có phước tu tiếp. Nhưng quên rằng
đời sau Phật pháp sẽ mạt hơn đời này, đời sau cơ duyên khó hơn đời này và cái
vốn phước-thiện mình tu trong đời này chưa chắc sẽ khỏa lấp được những nghiệp
chướng
mà mình tạo ra trong đời này, rồi trong đời sau cơ duyên tạo nghiệp
chướng
cũng sẽ nhiều vô tận

Thiện chính là thiện-căn. Phước là phước-đức. Chính vì
có phước-thiện nên mình mới gặp cơ duyên hôm nay. Nhưng bên cạnh đó chúng ta
cũng phải nhớ rằng, nghiệp chướng của chúng ta luôn luôn phát sinh song song
với phước thiện. Nếu chúng ta sợ thiếu phước lo tạo phước, thì điều này tốt chứ
không xấu, nhưng tu phước để hưởng phước báu nhân thiên trong đời mạt pháp phía
sau, thì cái phước báu này nó kèm bên những nghiệp chướng. Nghiệp chướng mạnh
hơn phước báu – Nghiệp tam ác đạo. Đời trước cái nghiệp tam ác đạo của chúng ta
yếu, đời này bắt đầu mạnh, đời sau cái nghiệp chướng tam đồ mạnh hơn đời này!
Như vậy dù có tu phước đức như thế nào đi nữa, đến đời sau đem so sánh ra giữa
cái nghiệp tam đồ và cái phước-báu nhân thiên, thì cái nghiệp tam đồ của chúng
ta
nó lớn hơn vô cùng!…

Chính vì vậy mà người giác ngộ một chút thì phải quyết
lòng
tu đường vãng sanh. Chị đó nói:

– Bây giờ cái
phước của tôi yếu quá làm sao có thể vãng sanh?

Thật ra nghiệp chướngchúng ta muốn diệt nó để
thoát vòng sanh tử, thì chắc chắn là trong những ngày tháng qua chúng ta đã xác
định rồi, không thể nào diệt được! Chắc chắn là không thể nào diệt được.

Cái phước thiện chúng ta có thể tạo. Nên tạo phước
thiện
. Nhưng thật ra, tu “Phước-Thiện” không khác với tu “Tịnh-Nghiệp”.

Tu phước-thiện là làm phước, còn tu tịnh-nghiệp là đem
cái phước thiện này gởi về Tây-Phương. Tâm-tâm nguyện-nguyện của chúng ta lúc
nào cũng đi về Tây-Phương. Như vậy nói về Sự thì giữa pháp tu phước-thiện và
pháp tu vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc hoàn toàn giống nhau, nhưng tu Tịnh-Nghiệp
chỉ thêm một điểm nữa là tâm-tâm nguyện-nguyện chúng ta đi về Tây-Phương. Như
vậy nếu trong lúc chúng ta tu phước-thiện mà đem tất cả những phước-thiện đó
gởi về Tây-Phương, ngày nào cũng nguyện vãng sanh về Tây-Phương, tâm-tâm
nguyện-nguyện đều hướng về Tây-Phương thì ta biến cái phước-thiện này thành con
đường
tu “Tịnh-Nghiệp”.

Nếu mình nghĩ rằng phước của mình yếu, nghiệp mình
nặng, thì trên con đường đi về Tây-Phương chúng ta đã có chuẩn bị, đó chính là
Hộ Niệm”. Cho nên ta cần tu song
song phước-thiện và đem phước thiện gởi về Tây-Phương. Nếu ta sợ rằng nghiệp
chướng
chúng ta lớn quá, chắc chắn nghiệp chướng luôn đi song song với
thiện-căn phước-đức, thì chúng ta phải nghiên cứu thật kỹ pháp hộ niệm để trợ
duyên
cho nhau.

Khi tâm chúng ta thành, lòng tin vững vàng, chí nguyện
vãng sanh tha thiết, thì niệm câu A-Di-Đà Phật là tất cả thiện-căn, phước-đức,
nhân-duyên của chúng ta đã đầy đủ. Chúng ta cứ tiếp tục tăng phước, tăng thiện
và giữ vững cơ duyên là được. Còn những nghiệp chướngchúng ta phá không
được thì sao?… Nhờ bạn đồng tu chuẩn bị cho chúng ta, hỗ trợ cho chúng ta. Và
còn nhờ gì nữa?… Chính nhờ cái lòng tha thiết muốn vãng sanh về Tây-Phương,
thì chư Thiên-Long Hộ-Pháp gia trì cho chúng ta.

Như vậy nếu chúng ta cải đổi đường tu một chút xíu,
tức là thay vì nhắm vào phần phước-thiện, đời-đời kiếp-kiếp tu phước, đời-đời
kiếp-kiếp phá nghiệp để vượt sanh tử… thì ngày hôm nay chúng ta cứ một lòng
một dạ tu phước-thiện, nhưng quyết lòng đem phước-thiện đó gởi về Tây-Phương
Cực-Lạc. Nghiệp chướng chẳng cần phá nữa, chỉ cần gói nó lại, quên nó đi… Hãy
đem câu A-Di-Đà Phật bao trùm nó lại, thì đây là cơ hội cho chúng ta bao
nghiệp lại, trùm nghiệp lại, phủ nghiệp lại, đè nghiệp xuống
để vượt
qua
cái ách nghiệp này mà đi về Tây-Phương bằng cái sức nguyện vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc. Nguyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc sẽ hợp với đại
nguyện
của đức A-Di-Đà. Nhờ vậy ta về được Tây-Phương Cực-Lạc.

Cho nên Diệu Âm khen chị đó là người biết tu phước,
còn người ta lo cho chị đó là tại sao con đường chưa được chuyên nhất! Thật ra
hai chuyện này điều nào cũng đúng hết.

Xin thưa với chư vị, thiện căn-phước đức-nhân duyên
nằm ngay tại cái thời khoảng mà chúng ta niệm Phật này chứ không đâu cả. Nhờ có
thiện-căn trong quá khứ, ta mới có được cơ duyên tin vào câu A-Di-Đà Phật.
Nhưng mà tin không vững, tin mập mờ, tin mà còn nghi ngại rằng ta không đủ
phước-thiện, nên vô tình trong lúc tu hành này chúng ta lại lơ là đường vãng
sanh
, làm mòn cái phước-thiện của chúng ta đi!… Đáng lẽ nương theo cơ duyên
này chúng ta về được Tây-Phương, nhưng vì sơ ý, chúng ta có thể lại tiếp tục
dập dềnh trong cảnh sanh tử luân hồi… Cũng như trong vô lượng kiếp qua, có lẽ
cũng vì ý niệm sơ ý này mà chúng ta đã dập-dềnh dập-dềnh trong cảnh tử-tử
sanh-sanh không thoát được!..

Chính vì thế, khi hiểu được con đường giải thoát rồi,
xin chư vị hãy nắm cho vững cơ hội này để một đời này ta về Tây-Phương. Nhất
định
cơ hội thành đạo đang ở trong tầm tay của chúng ta chứ không phải ở đâu xa
cả.

Mong cho chư vị cố gắng quyết lòng đi cho vững, đi cho
đúng, đi cho thẳng một đường về tới Tây-Phương để thành đạo.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 29)

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên!
Hôm nay chúng ta nói về “Phước-Đức”. Thật ra thì mỗi
người chúng ta ai cũng có một cái kho phước-báu rất lớn, nhưng nhiều khi chúng
ta
không biết sử dụng hoặc quên nó đi nên mới cảm thấy nghèo nàn, thiếu thốn,
chứ nếu chúng ta biết dùng thì nhiều khi cái phước-báu này vô lượng, vô biên,
giá
chúng ta không hay.

Vì không biết nên
thường khi khinh thường! Vì khinh thường cái phước báu của mình, nên suốt cả
cuộc đời cứ chạy tìm phước báu. Trong khi đó thì cái phước báu vô giá của mình
lại liệng ở chỗ nào đó mà không hay!…

Ví dụ như ở trong
Niệm Phật Đường chúng ta trước đây có mấy cái cây, bỏ rơi rớt khắp nơi nên
không thấy giá trị gì hết, nhưng khi chư vị đồng tu bứng cái cây đó đặt vào cái
chậu thì mình mới thấy đẹp. Khi ra nhà ươm cây, mình thấy ở đó có một cây nhỏ
hơn cây của mình mà người ta để giá bán tới hơn một ngàn đô-la. Như vậy,
ràng
chậu cây của mình thấy vậy chứ giá trị của nó phải trên một ngàn đô-la.
Chỉ vì hồi giờ mình không biết, nên không quý đó thôi!…

Ở phía trước chúng ta trồng hai
cái cây đang lên xanh mướt, lá của nó đẹp lắm, phủ xuống giống như cái dù, cho
nên người ta gọi là cây “Umbrella”, tức là cây lá dù. Có nhiều người chê cái
cây đó! Nhưng nếu mình vào nhà ươm hỏi, thì cái cây lớn cỡ đó họ bán cũng vài
trăm đô-la. Cho nên khi mình tới cái nhà ươm xem qua, rồi về nhà mình mới
thấy… À!… Một cây của mình có thể tới hai ba trăm đô-la chứ không phải
thường!… Nó quý như vậy mà tại mình không biết nên mình không quý.

Chúng ta có một
cái phước-báu, thật sự có! Nhưng có nhiều người không biết, cho nên cứ chạy tìm
phước báu!…

Có nhiều người nói
ráng tu hành lên, ráng niệm Phật để tìm phước báu, có phước báu rồi đời sau tu
tiếp để tô bồi thêm phước báu, chứ không có phước báu thì làm sao về Tây-Phương
được?…

Tu hành như vậy vô
tình cứ dẫn dắt nhau chạy tìm phước báu! Trong khi đó thì ngài Ấn-Quang nói: Niệm
Phật
để cầu phước-báu cho đời sau thì chẳng khác gì đem cái kho báu vô tận của
mình đổi lấy một tán kẹo!…
Con nít thường hay thèm kẹo!… Ngài nói như
vậy.

Hướng dẫn cho
chúng sanh tu hành niệm Phật để cầu phước-báu, thì đúng là dạy cho người ở lại
trong lục đạo luân hồi này để tìm cái phước, gọi là “Phước-Báu Nhân-Thiên”.
Trong khi kinh Hoa-Nghiêm, Phật dạy: “Vong thất Bồ-Đề tâm, tu chư thiện
pháp
, thị danh ma nghiệp
”.

Vong thất
Bồ-Đề tâm
là quên mất cái tâm giác ngộ, quên cái tâm Bồ-Đề, mà
chạy tu những thứ phước thiện, gọi là tu phước-báu, thì cái pháp tu này, hay
hành nghiệp này Phật gọi là “Ma nghiệp”.

Trong kinh
Vô-Lượng-Thọ Phật nói: “Phát Bồ-Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A-Di-Đà Phật,
cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc
”. Chúng ta cứ bình tĩnh nghe những lời Phật dạy
để tìm hiểu ra con đường chánh pháp mà tu.

Một người mà quên
đi con đường giải thoát, lo chạy tu phước thiện để hưởng phước báu nhân thiên
thì kinh Hoa-Nghiêm Phật nói, người quên con đường giải thoát, không tìm con
đường
giải thoát mà chỉ lo tu phước thiện, tức là tu làm người tốt, làm người
thiện để cầu hưởng phước báu trong nhân thiên, thì Phật gọi đây là hành nghiệp
của ma…

Trong khi đó thì
kinh Vô-Lượng-Thọ dạy là phát Bồ-Đề tâm, đừng có quên Bồ-Đề tâm, niệm câu
A-Di-Đà Phật chuyên nhất, cầu sanh Tây-Phương Cực-Lạc. Chứ Phật không dạy phát
Bồ-Đề tâm
làm việc phước thiện để đời sau tu tiếp.

Nghe những lời dạy
này thấm thía vô cùng! Phát Bồ-Đề tâm là sao? Có nhiều người giảng rộng quá,
giảng cao quá, nhiều khi làm cho chúng ta không biết phát Bồ-Đề tâm như thế
nào!… Chứ nói cho đúng nghĩa ra, thì chính trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật
thường thường đưa ra ba điểm “Tín-Nguyện-Hạnh”.

– Tin là tin câu
A-Di-Đà Phật, tin pháp Niệm Phật.

– Nguyện là nguyện
vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

– Niệm tức là nhất
hướng
chuyên niệm A-Di-Đà Phật.

Như vậy rõ ràng
câu: “Phát Bồ-Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” chính là ba điểm Tín-Hạnh-Nguyện
này. Tín và Nguyện vãng sanh chính là phát Bồ-Đề tâm vậy.

Hòa Thượng
Tịnh-Không nói đây là “Vô Thượng Bồ-Đề tâm”, không phải là Bồ-Đề tâm bình
thường
. Ngài Ngẫu-Ích nói rằng, tin tưởng cho vững vàng vào câu A-Di-Đà Phật,
tha thiết nguyện vãng sanh Tây-Phương nhất định một báo thân này vãng sanh về
Tây-Phương, thì đây là phát Vô-Thượng Bồ-Đề tâm. Như vậy thì câu phát Bồ-Đề tâm
nhất hướng chuyên niệm trong kinh Vô-Lượng-Thọ chính là Tín-Nguyện-Hạnh của
người niệm Phật chứ không có gì khác. Đây là con đường thành tựu đạo quả trong
một đời này.

Chư Tổ nói phát
Bồ-Đề tâm
là Tín-Nguyện, Phật cũng nói vậy luôn. Trong kinh
Niệm-Phật-Ba-La-Mật, Phật dạy người nào vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc thì một
đời
thành Phật, nên Phật nói thẳng rằng: Vãng sanh về Tây-Phương tức là
thành Phật
.

Đem tất cả những
lời Phật dạy ra, đem những lời chư Tổ dạy ra, mình thấy rõ rệt rằng hướng dẫn
cho người ta vãng sanh về Tây-Phương, chỉ lối cho chúng sanh vãng sanh về
Tây-Phương chính là giúp cho họ thực hiện “Vô-Thượng Bồ-Đề Tâm”, thực hiện con
đường
thành “Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác”.

Còn nếu mình sơ ý
dạy rằng: “Bà ơi! Bà không có phước-báu đâu! Bà hãy niệm Phật cầu chút phước
báu để đời sau tu tiếp…
”, thì bị Phật nói rằng: “Thị danh ma nghiệp!
(Đây chính là nghiệp của Ma!). Ta đã dẫn dắt người ta đi con đường ma nghiệp
rồi! Không còn là chánh nghiệp nữa! Không còn là Chánh Pháp nữa!

Chính vì thế,
trong thời mạt pháp này chúng ta phải chú ý cho thật kỹ phương pháp tu hành,
nếu không chúng ta sẽ bị sai lạc! Sai lạc dữ lắm!…

Đi ra ngoài mình
nói, tôi đang niệm Phật cầu vãng sanh, thì nhiều người nói rằng, tại sao anh
lại cống cao ngã mạn như vậy?… Tại sao không tìm một chút phước báu để đời
sau
tu tiếp có cụ thể hơn không, mà lại nguyện vãng sanh về Tây-Phương thành
Phật! Đâu mà dễ dàng vậy!…

Rất nhiều người tu
học
Phật mà nghĩ như vậy! Trong khi Phật dạy phải niệm Phật cầu vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc…

A-Di-Đà Phật phát
đại thệ rằng, người nào trước khi xả bỏ báo thân mà niệm mười câu A-Di-Đà Phật
để nguyện vãng sanh Tây-Phương, nếu mà Ngài không tiếp độ về Tây-Phương, thì
Ngài thề không thành Phật. Đây là cái mấu chốt rất là gần gũi, rất là cụ thể,
rất là dễ dàng cho tất cả chúng ta ngồi tại đây đều vãng sanh về Tây-Phương
Cực-Lạc.

Hôm nay mình nói
về phước-báu. Xin hỏi chư vị, có cái phước-báu nào lớn bằng một người đi về
Tây-Phương Cực-Lạc để thành đạo Vô-Thượng đâu? Tất cả chúng ta đã ngồi tại đây
niệm Phật, thì chính trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật nói, sở dĩ được cơ hội này là
vì trong vô lượng kiếp chúng ta đã tu bồi một cái thiện-căn, phước-đức vô lượng
vô biên rồi. Cho nên chúng ta thật sự đã có được những khối phước-báu, cái gia
tài
vô giáchúng ta không biết dùng, lại nghe lời đàm tiếu của thế gian
liệng đi, liệng hết những cái phước-báu này đi, rồi chạy tìm những thứ
phước-báu sanh tử luân hồi để chịu nạn… Nên Phật nói đó là “Ma nghiệp”.

Nguyện mong chư vị
thấy được đạo lý này, hãy quyết lòng một dạ mau mau trở về Tây-Phương hưởng “Đại
Thiện-Căn, Đại Phước-Báu
”, để một đời này thành tựu đạo quả!…

Nam Mô A-Di-Đà
Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 30)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong kinh Vô-Lượng-Thọ Phật có nói: “Vãng
tích nhược bất tu phước huệ, ư thử chánh pháp bất năng văn
”. Nghĩa là
nếu trong quá khứ một người không tu đầy đủ Phước và Huệ, thì trong đời này gặp
phải pháp môn niệm Phật không thể nào có khả năng nghe cho được.

Huệ” thuộc về Thiện-Căn. “Phước
là Phước-Đức. Cho nên tu phước rất là quan trọng. Tuy nhiên khi tu phước chúng
ta
cũng phải cẩn thận, nếu sơ ý thì như trong kinh Hoa-Nghiêm Phật có nói: “Vong
thất Bồ-đề tâm, tu chư thiện pháp thị danh ma nghiệp
”. Nghĩa là nếu một
người quên mất con đường siêu thoát, không nghĩ đến con đường giải thoát lục
đạo luân hồi
, mà cứ lo tu phước thiện, thì Phật nói đó là hành nghiệp của ma.

Nếu có người hỏi ta rằng:


Tại sao tu phước thiện mà Phật lại nói rằng đó là hành nghiệp của ma
?…

Thì ta phải rõ ràng minh bạch nói rằng:

Không
phải!…
Không phải là Phật nói tu phước thiện là hành nghiệp của ma. Mà
Phật nói rằng: “Vong thất Bồ-đề tâm, tu
chư thiện pháp thị danh ma nghiệp
”. Nghĩa
là nguời quên mất Bồ-đề tâm mà lo tu phước thiện thì đó mới là hành nghiệp của
ma.

Năm chữ đầu quan trọng vô cùng! Năm chữ
đầu là “Quên mất Bồ-đề tâm”. Chính vì vậy, hành nghiệp của ma là đối ứng
với câu: “Vong thất Bồ-đề tâm”. Nếu một người không vong thất Bồ-đề tâm
tu thiện pháp, thì Phật không gọi đó là hành nghiệp của ma đâu.

Mình thấy Phật nói người chỉ quên đi, lỡ
quên đi con đường giải thoát để lo làm phước thiện mà Phật còn đánh giá rằng đó
là nghiệp của ma, huống chi là những người lại bỏ đi con đường giải thoát!…

Hiện tại ngày nay trong vấn đề tu học, nếu
lấy lời dạy này của Phật để soi chiếu, thì thật sự ta thấy có rất nhiều người
đã đi lạc đường! Ví dụ Phật nói: “Thời mạt pháp niệm Phật mới thành tựu”,
có nghĩa là trong thời mạt pháp này Phật tuyển chọn một pháp môn có thể đưa
chúng sanh thành tựu đạo quả, đó là pháp môn Niệm Phật cầu vãng sanh. Vậy mà
nhiều người lại nói rằng: Tây-Phương
Cực-Lạc đâu có mà cầu vãng sanh?
Không tin có Tây-Phương Cực-Lạc, nên chủ
trương tu là làm phước để đời sau tu tiếp… Rõ ràng, không phải là không nghe
qua con đường vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, có nghe qua nhưng họ lại bác bỏ con
đường
này. Họ nói rằng: Đừng có nguyện
vãng sanh
. Họ kêu gọi những người tu hành hãy lo tu phước đi để đời sau tu
tiếp!…

Lấy lời của Phật ra ấn chứng vào đây, mới thấy rõ rệt sự hướng dẫn này sai lầm!
Người học Phật mà hướng dẫn như vậy là nói sai kinh Phật. “Vong Thất” là quên đi. Lỡ quên mà lo tu thiện pháp Phật cũng nói “Thị danh ma nghiệp”, huống chi là những
người không phải quên mà còn cố tình nói: Làm
gì có cái chuyện vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc? Lo tu kiếm chút phước đi để
đời sau tu tiếp
. Nói đúng ra, rõ rệt là hướng dẫn cho người ta tiếp tục
trong sáu đường sanh tử luân hồi, không cho người ta giải thoát. Đây là một tệ
trạng của thời mạt pháp này!…

Trong kinh Lăng-Nghiêm Phật nói một câu
như thế này: “Thời mạt pháp tà sư nói pháp như cát sông Hằng”. Bây giờ mình
nghĩ coi có đúng hay không? Chính vì thế, chúng ta đang ở trong thời mạt pháp,
sâu trong thời mạt pháp một ngàn năm rồi, thì phải hết sức cẩn thận!… Hôm nay
chúng ta gặp được pháp môn Niệm Phật, là pháp mà Phật nói “Tam căn phổ bị”.
“Tam Căn” là thượng, trung, hạ căn. Ta là phần hạ căn. “Phổ Bị” là bao đồng gia
bị
, Phật gia bị đại đồng. “Phàm Thánh Tề Thâu”, ta là Phàm, hạ căn
Phàm, thượng căn là Thánh. “Tề” là bằng, là bình đẳng. “Tề Thâu” là Phàm Thánh
đều bình đẳng được gia bị trở về Tây-Phương thành Phật. Đây là lời Phật nói.

Chúng ta phải đem kinh ra nói cho rõ ràng
để xác định đường ta đi về Tây-Phương, nhất định không thể nào sai sót được.

Trở lại câu mình đã nói hôm qua: “Vong thất bồ đề tâm, tu chư thiện pháp thị
danh ma nghiệp
”. Nói theo pháp Niệm Phậtcon đường vãng sanh, nói theo
các pháp môn khác là siêu xuất luân hồi lục đạo, “Minh tâm kiến tánh” thành
đạo… Nếu ta quên mất những con đường này mà lo tu các pháp thiện lành(?), thì
đó là hành nghiệp của ma!…

Tại sao lại có cái chuyện lạ lùng như
vậy?…

Hôm trước bên Âu Châu, Diệu Âm có nêu ra
vấn đề, là muốn phá được người tu hành khó hơn là phá những người không tu
hành
. Tại vì những người không tu hành thì khỏi cần phá, trước sau gì họ cũng
chết, chết xong thì xuống trong tam ác đạo. Vậy phá làm chi nữa?… Đợi cho đến
ngày đó, cho một đạp là xong!…

Còn những người tu hành thấy vậy mà khó
phá lắm! Muốn phá được người tu hành thì phương pháp dễ nhất là làm cho họ tăng
thượng mạn
lên. Một khi tăng thượng mạn lên thì tự họ mở ra cái cửa để cho chư
vị oán thân trái chủ dễ gia nhập vào, đưa họ tới cái chỗ thất bại. Đó là một
cách để hại người tu.

Tuy nhiên nhiều lúc dùng phương pháp này
để hại người tu cũng không phải dễ, tại vì người tu hành đã biết ngừa, đã đề
phòng
rồi.

Còn một cách nữa là làm sao giữ cho được
những người tu hành này ở lại trong sáu đường sanh tử. Không cho họ có cơ hội
vượt qua khỏi sáu đường luân hồi, thì nhất định không trước thì sau cũng sẽ có
cơ hội để trả thù. Rõ rệt! Vì còn trong sanh tử luân hồi tức là chưa thoát nạn,
mà chưa thoát nạn thì giả sử như bạn tu phước nhiều đi. Tu phước nhiều thì đời
sau
hưởng phước. Đúng không?… Hưởng phước thì sao?… Cũng trong kinh Phật có
nói rằng: Một đời làm phước, một đời
hưởng phước, rồi một đời vì cái phước đó mà đại họa. Đây chính là tam thế oán..
.
Cho nên khi nghĩ tới câu này, mình mới thấy rõ rệt có nhiều đường tế vi vô cùng
để hại chúng sanh, để hại những người tu hành!

Tại vì chủ trương một đời tu phước là dụ
cho người ta tu phước. Tu phước để đời sau tu tiếp, thì quên mất đường giải
thoát
. Tu phước thì đời sau hưởng phước. Khi hưởng được phước rồi, thì thường
thường
không tu nữa. Người có phước mà không tu thì phá đạo. Phá đạo thì nương
theo cái nghiệp đó mà bị đại họa! Phật gọi đây là “Tam thế oán!”.

Chính vì vậy Phật nói, người quên mất con
đường
giải thoát, chỉ lo làm phước thiện, thì đó ma nghiệp! Hiểu được chỗ này
rồi, chúng ta hãy đem tất cả phước lành gởi về Tây-Phương để quyết định một đời
này vãng sanh thành đạo, thì chúng ta mới ứng hợp được ba cái điểm Thiện-Căn,
Phước-Đức, Nhân-Duyên
để được sanh về nước đó, như trong kinh A-Di-Đà.

Mong chư vị quyết lòng quyết dạ. Nhất định
chúng ta sẽ được vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc, thành đạo trong một báo thân
này.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

THIỆN-CĂN, PHƯỚC-ĐỨC, NHÂN-DUYÊN

(Tọa Đàm 31)

Nam Mô A-Di-Đà-Phật.

Thiện-Căn, Phước-Đức, Nhân-Duyên vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc.

Ngày hôm nay mình đi vô trong viện dưỡng lão thăm… Khi đi vào trong
viện dưỡng lão rồi mình mới ngộ ra thế nào là thiện-căn, phước-đức,
nhân-duyên?…

Trong nhiều đời, nhiều kiếp mình có thiện-căn, có phước-đức rồi đời này
mới gặp được Phật pháp. Nhưng gặp được Phật pháp rồi tu hành để siêu thoát sanh
tử luân hồi
không phải là đơn giản! Không phải gặp được Phật pháp rồi mình vãng
sanh
về Tây-Phương Cực-Lạc là dễ dàng đâu!… Mà thật sự gặp được Phật pháp rồi
phải gặp được câu A-Di-Đà Phật. Gặp được câu A-Di-Đà Phật rồi cũng chưa chắc gì
mình đã được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc!… Mà gặp được pháp môn Niệm Phật
rồi, cũng còn phải biết làm sao khi mình xả bỏ báo thânan toàn vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc mới được. Đó mới thật sự là Thiện-Căn! Thật sự là Phước-Báu!
Thật sự là Cơ-Duyên này mình giải thoát!

Ngày hôm nay đi vào trong viện dưỡng lão, những người cùng đi chắc chắn
đã ngộ ra điều này, là có những người tu hành đến giờ phút cuối cuộc đời không
biết đường nào đi hết!… Sự kiện rõ ràng trước mắt!

Chúng ta đang ngồi tại đây niệm Phật, cái hình tướng thì không ra gì
hết, trên không ra trên, dưới không ra dưới! Lỡ cỡ! Làng càng!… Ấy thế mà mình thấy có người
vãng sanh, ấy thế mà hình như trong tâm của mình vững vàng là khi nằm xuống…

– Mình biết con đường nào mình đi!…

– Mình biết những gì mình phải làm!…

– Mình biết chuẩn bị tất cả. Chuẩn bị cho chính mình, chuẩn bị cho người
thân của mình và chuẩn bị cho những người có duyên với mình nữa!…

Như vậy rõ ràng hình như mình ngộ ra một chỗ: Tu hành muốn vãng sanh về
Tây-Phương Cực-Lạc, muốn một đời này thoát ly sanh tử luân hồi thì…

– Cái điều mà mình cần phải làm chính là phương pháp hộ niệm.

– Cái điều mà chính mình phải lịch lãm là phương pháp hộ niệm.

Chính mình phải cần biết tất cả những chuyện này. Nếu một người lơ là về
chuyện này, một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng… thời gian ngắn ngủi, mình
tưởng rằng số phần chưa tới!… Nhưng coi chừng, có thể sẽ đón nhận một sự ân
hận
cho vô lượng kiếp sau!…

Hôm nay mình đi thăm một vị đã xuất gia thời gian không phải là ít, lâu
lắm rồi. Ấy thế mà đến giờ phút cuối cùngthực tế mình không biết phải nói
làm sao đây?!… Mình hy vọng làm sao được duyên đến hộ niệm cho vị đó. Nếu giả
sử
như cứ tiếp tục để trong viện dưỡng lão, cho đến khi vị đó ra đi!… Mình
thấy rõ rệt!… Đi đâu đây?… Mờ mờ, mịt mịt!…

Cho nên cái phước-đức và thiện-căn của những người biết được câu A-Di-Đà
Phật, thêm nữa là biết luôn cái phương pháp hộ niệm… Ôi! quý biết chừng nào!
Phải chăng được mấy điểm này đã viên mãn đường tu rồi… Nếu không biết được pháp
này thì chúng ta cũng sẽ mập mờ đường đi, rồi khi nằm xuống ta cũng mơ mơ màng
màng như tất cả mọi người thôi!… Nhưng ở đây, chúng ta thật là may mắn. Khi
gặp được một hiện tượng như trong viện dưỡng lão, mình đành chắt lưỡi than
thầm!… Làm sao có được dịp trợ duyên cho vị này đây?…

Nói như vậy có nghĩa là chúng ta đã biết được cái phương pháp để cứu
người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc. Xin thưa với chư vị, pháp hộ niệm là “Đại
cứu tinh
” cho chúng ta, chứ không phải là tiểu cứu tinh đâu. Xin tất cả
đồng tu trân quý cái cơ hội này.

Trước đây không bao lâu chúng ta đi hộ niệm cho bác Cam Muội, lúc đó
Diệu Âm không có ở đây nên mới nhờ chị Diệu Hương đứng ra đảm trách… Chúng ta
nên nhớ rằng, đối trước một bệnh nhân khi xả bỏ báo thân không phải đơn giản
đâu! Chính vì biết rằng muốn cứu một người vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc
không phải cần đến người nói hay đâu à! Không phải cần đến người ưa khoe tài ăn
nói
thao thao bất tuyệt đâu à! Mà thật sự, muốn cho họ được vãng sanh thì đầu
tiên là người bệnh nhân đó phải biết “Tín-Nguyện-Hạnh”. Người hộ niệm phải biết
“Tín-Nguyện-Hạnh”. Nhưng người hộ niệm phải thêm một yếu tố này nữa mới cứu
người được, đó là lòng “Chí Thành-Chí Kính” của người hộ niệm.
Điểm này rất là quan trọng, chứ không phải là tài ăn nói hay đâu.

Cuộc hộ niệm vãng sanh của bác Cam Muội, khi Diệu Âm về thì có nghe
nhiều vị nói lại rằng, trong cuộc hộ niệm đó có người lại tới niệm Phật
không chịu niệm hòa theo đại chúng. Đây là một điều sơ suất hết sức đáng tiếc!
Tại sao lại không chịu hòa hợp theo đại chúng?… Là tại vì cứ tưởng là ta
ngon! Tại vì cứ tưởng là ta giỏi! Có người thấy vị đang khai thị đó có vẻ yếu
nên la lên, rầy lên!… Những điều này thật sự hoàn toàn không đúng, không hợp
chút nào của một người gọi là “Chí Thành-Chí Kính”.

Xin nhớ rằng, người đứng trước bệnh nhân khai thị, không cần phải khai
thị hay, nhưng mà chỉ cần người đó Chân-Thành, Chí-Thành, Chí-Kính,
Khiêm-Nhường
… Những đức tính này tự nó sẽ có hào quang tủa ra…

Cảm ứng được với A-Di-Dà Phật.

Cảm ứng được với chư vị Bồ-Tát.

Cảm ứng được với chư vị Long-Thiên Hộ-Pháp gia trì cho người đó.

– Và nhờ cái lòng chân thành của họ mà cảm ứng với chư vị oan gia trái
chủ.

Chư vị cứ để ý thì biết, có nhiều người hộ niệm họ nói rất ít, nhưng do
lòng chân thành của họ lại cứu được người bệnh. Thường thường nên nhớ một điểm
này, hết sức là quan trọng, là khi hộ niệm luôn luôn chúng ta chắp tay khẩn
cầu:

Nam Mô A-Di-Đà Phật. Đệ tử chúng con, thành tâm cầu nguyện,
A-Di-Đà Phật, Quán-Âm Thế-Chí, Chư Đại Bồ-Tát, đại từ đại bi, phóng quang tiếp
độ cho… (Tên người bệnh), vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc.

(Đọc
từng bốn chữ một, để mọi người nhắc lại).

Quý vị nên nhớ, đọc câu này là mình đang cầu Phật phóng quang gia trì,
cầu chư đại Bồ-Tát phóng quang gia trì, cầu chư Thiên-Long Hộ-Pháp đến hộ niệm
với ta. Nếu trong lúc hộ niệm ta sơ ý khởi lên cái tâm cống cao ngã mạn, thì dù
cho người bệnh đó được vãng sanh, nhưng coi chừng chính người khởi tâm ngã mạn
này không hưởng được một chút công đức nào hết!…

Tương tự, như ở trong niệm Phật đường này chúng ta thường hay nhắc nhở
với nhau, khi đã vào trong niệm Phật đường rồi chúng ta không được nói chuyện,
chúng ta không được giỡn đùa trong chánh điện này… Tại vì sao vậy? Nên nhớ câu:
Tuy vô tân khách chí, diệc hữu Thánh Nhân hành”. (Nghĩa là, dù lúc đó
không có một người khách nào đến, nhưng coi chừng có những vị Thánh Nhân đang
kinh hành). Luôn luôn quý vị phải nhớ điều này. Trong lúc đi hộ niệm, nếu sơ ý
ta la rầy, ồn ào, gây náo loạn… nhiều lúc:

– Điểm thứ nhất, làm cho người bệnh phiền não mà mất vãng sanh.

– Điểm thứ hai, ta làm cho oan gia trái chủ của vị đó nỗi cơn sân nộ
lên, người ta không còn tha thứ nữa, làm cho người bệnh có thể bị trở ngại.

– Điểm thứ ba, chư Thiên-Long Hộ-Pháp đang ở đó, chư vị Bồ-Tát nhiều khi
đang phóng quang tại đó mà mình không hay! Những lời nói sơ ý, thất kính… làm
cho các vị phải trợn con mắt nhìn mình, chứ không phải giỡn đâu!

Người hộ niệm sơ suất, dù cho người bệnh có được vãng sanh đi nữa, thì
chư vị Thiên-Long Hộ-Pháp đã trừng con mắt nhìn mình rồi!… Đại họa có thể đến
với mình rồi đó!…

Ngày hôm nay mình vào trong viện dưỡng lão, chúng ta thấy được gì?…
Những trường hợp quá ư đau lòng diễn ra trước mắt!… Người gọi là có tu cũng
như không tu… tình trạng giống nhau!… Khi bị đưa vào trong đó rồi thì lơ
lơ, láo láo!… Chỉ biết nằm đó mà chờ chết! Chờ chết mà không một ai biết cất lên
một tiếng niệm Phật để hộ niệm cho người ta!… Thật không phải dễ dàng!…

Chính vì thế, chúng ta gặp được phương pháp hộ niệm, là “Đại cứu tinh”.
Nhưng thật sự chúng ta muốn được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, thì xin nhớ
cho điểm này: Chí Thành-Chí Kính là cái đạo nhiệm mầu. Nhất định phải
nhớ cái điểm này!…

Chư Tổ thường hay nói câu này: “Ninh động thiên giang thủy, bất
động
niệm Phật nhân
”. Chư vị nên nhớ, là thường thường mình ngồi tại
Niệm Phật Đường niệm Phật chưa chắc gì cái tâm mình thành khẩn bằng lúc mình
ngồi trước người bệnh nhân niệm Phật. Tại vì mình niệm Phật trước bệnh nhân tức
là để cứu người bệnh. Trong lúc đó, mình nghĩ coi, luôn luôn có quang minh của
Phật đang chủ chiếu tại đó. Tại vì tâm tâm người niệm Phật đang thành khẩn, cảm
ứng
chư Thiên-Long Hộ-Pháp đang hội tụ tại đó, chư vị trong pháp giới cũng hội
tụ tại đó luôn. Người hộ niệm nhiều khi chỉ có mười mấy người thôi, nhưng biết
đâu chư pháp giới chúng sanh nhiều có hàng ngàn người ở xung quanh mà ta không
hay!… Cho nên, “Ninh động thiên
giang thủy”,
nghĩa là thà rằng mình quậy đục một ngàn dòng sông, tội
đó vẫn còn nhẹ hơ