KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN
42)
Pháp Sư Tịnh Không
“Dĩ chư pháp dược, cứu liệu tam
khổ”
“Tam khổ” chỉ chúng sanh
sáu đường, mở rộng thêm chút là hữu tình mười pháp giới. “Dĩ chư diệu dược”
là pháp dược. Dược là thí dụ tất cả pháp Phật đã nói. Hiện tại trước mắt chúng
ta, người thế gian khổ cùng cực. Nói cách khác, ngày nay chúng ta đang ở đêm
trước của đại tai nạn. Tỉ mỉ quan sát, đại sư Ấn Quang ở đầu năm Dân quốc. Mọi
người đều biết Ấn tổ là Bồ tát Đại Thế Chí ở thế giới Tây Phương Cực Lạc tái
sanh, một trong hai vị Bồ tát trợ thủ cho Phật A Di Đà. Quan Âm chủ đạo từ bi,
Đại Thế Chí chủ đạo trí tuệ. Đó là một vị Bồ tát có trí tuệ bậc nhất. Ngày
trước tôi từng giới thiệu, trong Phật pháp Đại thừa, thông thường lấy Bồ tát
Văn Thù đại biểu cho trí tuệ, nhưng Bồ tát Văn Thù biểu thị trí tuệ “học
rộng nghe nhiều”, là trí tuệ phổ thông. Còn trí tuệ mà Bồ tát Đại Thế Chí
đại biểu là “một môn thâm nhập”. Hai vị đều rất hay. Trí tuệ của Bồ tát
Văn Thù phải là người thượng căn lợi trí, căn tánh thượng thượng mới có thể
học, người hạ hạ căn thì không thể học được. Còn trí tuệ của Bồ tát Đại Thế Chí
đại biểu “trùm cả ba căn, ngu độn đều thâu”. Người hạ hạ căn cũng có thể
học, một môn thâm nhập. Một môn thông thì mỗi môn đều thông. Thành tựu của họ
không khác gì với Bồ tát Văn Thù, nhưng thủ pháp hoàn toàn không giống nhau,
chúng ta phải hiểu ý này.
Đại sư Ấn Quang thị hiện ở đầu
năm Dân quốc. Ngài biết thế gian này sẽ có tai nạn. Dùng phương pháp gì để cứu?
Phật pháp không được, vì mọi người không tin, cho rằng mê tín. Hơn nữa văn tự
kinh điển trúc trắc, người thông thường không dễ gì hiểu. Dùng những đạo lý của
nhà Nho để cứu thế gian cũng không kịp. Nhà Nho gọi “mười năm trồng cây, trăm
năm trồng người”. Nho Phật tuy tốt nhưng đều không cứu kịp. Đại sư bèn chọn
lấy “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, “Liễu Phàm Tứ Huấn”, “An Sĩ
Toàn Thư”, dùng ba thứ này để cứu vãn xã hội hiện thực của chúng ta. Rất là
đạo lý, trí tuệ chân thật.
Nguyên lý của ba thứ này chính là
nhân quả. Trong kiếp nạn sắp đến, mọi người không tin Nho, không tin Phật,
không tin thánh hiền, tuỳ tiện làm càn. Đối với tình hình như vậy, chỉ duy nhất
một cách là giúp họ thông suốt nhân quả báo ứng. Cả đời đại sư cực lực đề xướng
nhân quả. Ngài chọn lựa ra ba loại sách này. Mở sách ra xem, bản thân mỗi chúng
ta cùng những người xung quanh có ai làm được một trong ba loại? Có câu nào bạn
huỷ phạm? Chúng ta tỉ mỉ quan sát mới phát hiện có rất nhiều người gần như hoàn
toàn phạm phải những tội hành nghiệp nhân đã nêu trong đó. Đa số người đều
phạm, tạo thành cộng nghiệp chiêu cảm.
Ngày nay toàn thế giới tai biến.
Trước khi đại tai biến đến gần, chúng ta muốn tiêu diệt nó cũng không dễ dàng.
Nhưng nếu muốn nó chậm lại hoặc giảm nhẹ một chút vẫn còn có thể làm được. Cách
làm thế nào? Lòng người phải giác ngộ, hồi đầu. Mọi người biết lợi hại được
mất, chân thật xả bỏ lợi ích của riêng mình. Phải quan tâm đến lợi ích của xã
hội đại chúng. Trước tiên phải có ý thức như vậy, có quan niệm lý luận như vậy.
Sau đó giảm nhẹ tham sân si mạn của chính mình, chú trọng luân lý đạo đức. Có
như thế, kiếp nạn liền kéo chậm lại, vấn đề ở chuyển biến của lòng người.
Ấn tổ dùng pháp dược để giúp
chúng ta vượt qua ải quan trước mắt. Tín đồ Cơ Đốc phương tây thường nói “năm
1999 là ngày tàn của thế giới”. Lời nói này đã từ rất lâu. Chúng ta nghe
cảm thấy không quá đáng chút nào. Nhìn vào dấu vết hiện tại, dường như năm tới
không dễ gì vượt qua. Mấy năm gần đây vì sao tai nạn lần sau luôn kéo dài hơn
lần trước, lần sau luôn nghiêm trọng hơn lần trước? Dường như là ý này.
Thế nhưng, người học Phật chúng
ta lại không thừa nhận câu “Ngày tàn thế giới”, vì sao? Thích Ca Mâu Ni
Phật nói, mạt pháp là 9000 năm. Đó là từ nước ngoài mà tính, không tính từ
Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc ghi chép, Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ đến hôm
nay là ba ngàn không trăm hai mươi mấy năm. Về sau còn chín ngàn năm nữa, ngày
tháng còn dài. Cho nên thời nay không phải là “thế giới ngày tàn”, nhưng
một chút tai nạn vẫn có thể có.
Ngày trước tôi thân cận đại sư
Chương Gia. Đại sư từng nói với tôi, thời kỳ mạt pháp 9000 năm, pháp vận của
Phật cùng thế vận đều có cao thấp trồi sụt. Nói cách khác, có khi tốt, có khi
xuống thấp. Như vậy có nghĩa là từ năm tới lùi về sau có thể vận thế xuống thấp,
nhưng không phải ngày tàn. Chúng ta hãy an tâm. Thế nhưng, chúng ta vẫn phải có
sự chuẩn bị, nhất quyết đoạn ác tu thiện. Người khác làm hay không chúng ta
không quan tâm, nhất định phải làm từ bản thân mình, đó là việc vô cùng quan
trọng. Kinh Phật nói rõ ràng, trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Kinh Lăng
Nghiêm nói “có cộng nghiệp, có biệt nghiệp”. Nếu biệt nghiệp của chúng
ta thù thắng, trong cộng nghiệp vẫn có biệt báo, thì khi tai nạn lớn đến, chúng
ta vẫn có thể tránh khỏi. Tránh khỏi không có nghĩa đi tìm nơi tránh nạn, tìm
nơi để di dân, không cần thiết phải làm vậy. Làm vậy là không tin tưởng chính
mình, lại tìm phiền não cho chính mình.
Năm xưa tôi giảng kinh ở
Hongkong. Thời điểm đó gần đến kế hoạch Anh trả lại Hongkong. Một số đồng tu
HongKong nghĩ mọi cách để di dân. Tôi khuyến cáo họ, không cần thiết phải làm
vậy. Tôi nói theo cách nghĩ và cách nhìn của mình, sau khi trở về, Hongkong
nhất định còn tốt hơn so với thời kỳ người Anh thống trị, hà tất phải đi. Một
số đồng tu không nghe lời, cố di dân ra nước ngoài. Họ bán sạch nhà cửa ở
HongKong. Sau khi trở lại, đem tiền về HongKong nhưng không thể mua lại được,
khổ nói không ra lời. Cho nên bất cứ tai nạn sắp đến, người có phước, tức tâm
có định, thì quyết không khiếp sợ, không lo lắng, tâm vẫn định. Có định có huệ
liền có thể khắc phục được khó khăn. Nó biến nhưng ta không biến, nó động nhưng
ta không động, dù ở ải sanh tử chúng ta không thể tránh khỏi. Chúng ta sẽ sanh
đến chỗ thiện, một nơi tốt nhất, không ở thế gian này. Đó chính là di dân.
Chúng ta di dân đến thế giới chư
Phật, phước địa chân thật. Có thời gian thì một ngày niệm thêm một ngày Phật.
Ngay trong cuộc sống thường ngày phải dưỡng thiện tâm, thiện nguyện của chính
mình. Nhất định phải nỗ lực chăm chỉ làm cho được “tâm không ác niệm”.
Tiêu chuẩn thấp nhất mà Phật nói là Thập Thiện Nghiệp Đạo, “thân” không
sát, đạo, dâm; “khẩu” không vọng ngữ, hai lưỡi, thêu dệt, ác khẩu; “ý”
không tham sân si. Phải đoạn dứt. Từ sớm đến tối, từ mùng một đến ba mươi ngày,
trong lòng nhất định không khởi ý niệm này.
“Tâm không ác niệm, ý không tà
tư”, cái gì là tà tư? Nhân ngã phải quấy là tà tư. Phàm hễ trái với lý luận
kinh giáo Phật thì tất cả tư tưởng kiến giải đều là tà tư. Phải lấy tiêu chuẩn
của Phật để nói, nhất định phải viễn ly kiến tư phiền não. Niệm niệm tâm này là
niệm thiện. Ý niệm chí thiện chính là một câu Phật hiệu. Ngoài câu Phật hiệu, ý
niệm gì cũng đều xả bỏ. Có như vậy thì mục tiêu phương hướng của đời sống chúng
ta mới được xác định. Quyết cầu sanh Tịnh Độ, vãng sanh bất thoái thành Phật.
Chúng ta đi trên đại lộ, con đường mà tất cả chư Phật đã đi thì làm sao sai lầm
được.
Tai không nghe lời ác, không nghe
thị phi. Bất luận người nào đến nói chuyện, chúng ta vẫn “A Di Đà Phật”
cắt lời của họ. Tai không nên nghe, miệng không nói lời ác. Tiếp xúc qua lại
với người, ít nói lời thừa, khuyên người niệm Phật. Nếu ghi nhớ những câu trong
kinh văn thì có thể đọc thêm cho người nghe. Họ ưa thích thì sẽ tiếp tục nghe,
còn không ưa thích thì cũng đã nghe rồi.
Người mê học Phật, việc ở thế
gian họ sẽ dần dần không hiểu. Khi việc thế gian không hiểu thì bạn liền rời
khỏi thế gian này. Càng hiểu nhiều việc thế gian, bạn càng không thể rời khỏi,
phiền não của bạn sẽ lớn. Đó là những việc xen tạp của thế gian, chúng ta không
nên biết. Ưa thích biết, đều không rời khỏi luân hồi. Chúng ta phải hạ quyết
tâm, không làm những việc này.
“Thân không tà hạnh”. Tốt
nhất chúng ta nên lợi dụng thân thể khỏe mạnh để lạy Phật nhiều. Công đức lạy
Phật rất lớn, hiệu quả lạy Phật rất thù thắng. Nếu mỗi ngày lạy một trăm lạy,
vĩnh viễn không gián đoạn thì thân thể nhất định khỏe mạnh sống lâu, không bệnh
tật. Dùng tâm thanh tịnh lạy Phật, dùng tâm cung kính lạy Phật; khi lạy Phật,
không hề có bất cứ vọng niệm nào. Cứ như vậy tự nhiên sẽ cảm ứng tương thông, có
cầu ắt có ứng. Đọc thuộc “Liễu Phàm Tứ Huấn”, tin sâu nhân quả, thấu
suốt tường tận đối với sự thật lý luận của nhân duyên quả báo, thì sẽ liền biết
làm thế nào trải qua ngày tháng trong cuộc sống thường ngày, làm thế nào đối
nhân xử thế. Còn hai loại sách “Cảm Ứng Thiên” và “Âm Trắc Văn”,
mỗi ngày đọc một lần. Thời khoá sớm tối của mình cần thêm vào, nỗ lực phản
tỉnh, nỗ lực kiểm điểm, xem mình có phạm phải những điều đã nói trong sách hay
không? Có tu học theo lời khuyên bảo hay không? Mỗi ngày y theo đây mà tu học,
bạn có thể tu được ba trăm việc thiện, liền trở thành địa tiên, đó là tiên nhân
của nhân gian.
Có đồng tu đem điều này đến hỏi
tôi. Tôi trả lời họ, ba trăm việc là ba trăm loại, bạn phải làm cho rõ ràng.
Nếu nói ba trăm việc thiện rất dễ dàng, một ngày làm ba trăm việc thiện liền
trở thành địa tiên? Thực chất là ba trăm loại việc thiện. Mỗi loại khi gặp thì
phải làm được. Nhất định chăm chỉ nỗ lực y giáo phụng hành, đó đều là pháp lạc.
Hiện tiền chúng ta, chúng sanh thời đại này, khu vực này là pháp dược rất hữu
hiệu. Đại sư Ấn Quang khai mở cho chúng ta, càng nghĩ càng có đạo lý. Hy vọng
đồng tu chúng ta đều lưu ý, tỉ mỉ kiểm điểm, y giáo phụng hành, tự nhiên liền
có công đức lợi ích thù thắng.
“THĂNG QUÁN ĐẢNH GIAI, THỌ BỒ ĐỀ
KÝ, VI GIÁO BỒ TÁT, TÁC A XÀ LÊ, THƯỜNG TẬP TƯƠNG ƯNG, VÔ BIÊN CHƯ HẠNH, THÀNH
THỤC BỒ TÁT, VÔ BIÊN THIỆN CĂN, VÔ LƯỢNG CHƯ PHẬT, HÀM CỘNG HỘ NIỆM”
Đoạn kinh văn này tương ưng với
nghi thức của thôn A Di Đà ở đoạn “thọ ký Phật hộ”. Chư Phật hộ niệm tu
học Phật pháp, dạy bảo mục tiêu sau cùng đều không ngoài hy vọng chúng ta thành
Phật ngay đời này, hơn nữa, còn làm Phật cứu cánh viên mãn. Tôi nghĩ các đồng
tu, ngày trước tuy đã từng nghe kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, cho đến các
kinh luận đại thừa khác nhưng vẫn còn nghi hoặc, không tin tưởng, huống hồ tin
sâu. Do nguyên nhân gì? Vì lý quá sâu, sự quá phức tạp, thường thức phàm phu
chúng ta không thể lý giải nên không thể tin sâu. Đó là hiện tượng bình thường.
Lần này ở Singapore, chúng ta hội
hợp tại Cư Sĩ Lâm không giống như ngày của mười năm trước. Ngày nay chúng ta
khởi giảng đại kinh. Chỉ có Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh mới nói một
cách thấu triệt, tường tận. Đó là sự giúp đỡ rất lớn, khiến chúng ta không chỉ
sanh khởi tín tâm mà còn tin sâu không hoài nghi. Đồng thời dành thời gian một
ngày nói với các vị tường tận kinh Vô Lượng Thọ, cũng chính là thâm nhập Tịnh
Độ, giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín ở ngay đời này, đích thực thành tựu Phật
quả cứu cánh viên mãn. Duyên phận hi hữu thù thắng như vậy quả đúng như kệ khai
kinh đã nói “trăm ngàn vạn kiếp khó được gặp”. Cư sĩ Bành Tế Thanh cũng
từng phát biểu, vô lượng kiếp đến nay một ngày hi hữu khó gặp. Hôm nay may mắn
gặp được, hy vọng chúng ta biết trân trọng nhân duyên hy hữu này, cố gắng nắm
giữ nó, thành tựu đạo nghiệp một đời.
“Thăng quán đảnh giai, thọ Bồ Đề
ký”
Đoạn kinh văn rất giống khẩu khí
của mật tông. Không sai, đích thực là mật pháp. Như vậy “hiển, mật, tông,
giáo” viên dung, trong kinh Vô Lượng Thọ, bao gồm giáo nghĩa của các tông
các phái. Kinh văn không dài nhưng rất viên mãn. Vậy chúng ta có phải niệm chú,
học mật hay không? Không cần thiết vì kinh này đều bao gồm hết, không kém
khuyết thứ gì, đích thực là đại viên mãn giáo.
“Quán đảnh” là nghi thức
mật tông thọ ký. Thế nhưng mật tông quán đảnh phân ra rất nhiều giai đoạn. Ban
đầu học Phật thọ tam quy thì thượng sư quán đảnh cho bạn. Bản thân tôi ban đầu
học Phật thọ tam quy là nhờ đại sư Chương Gia truyền thụ, cũng nhận qua nghi
thức quán đảnh, nhưng đó chỉ là hình thức. Rốt cuộc chúng ta không hiểu ý nghĩa
chân thật của quán đảnh. Đại sư cũng không giảng giải tường tận cho chúng ta
nghe. Trong nghi thức tuyệt nhiên không có giải thích rõ ràng, bởi vì người
nhận quy y số lượng rất đông, thời gian rất thúc bách. Tôi thân cận đại sư nên
khi có nghi vấn thì thỉnh giáo với ngài, nhờ ngài khai đạo. Nghi thức quán
đảnh, quan trọng nhất là phải hiểu rõ nội dung của nó. “Mật Tạng ký sao”
của Đại Tạng kinh có giải thích tỉ mỉ. “Quán” thí dụ cho đại bi hộ niệm,
ngày nay chúng ta gọi là đại từ bi gia trì, đại từ bi hộ niệm, hoặc người thế
gian thường nói “đại từ bi bảo hộ”. “Đảnh” là cao nhất, đầu của
người là cao nhất. Đảnh đại biểu pháp môn cao nhất, pháp môn thù thắng nhất,
đỉnh pháp trong tất cả pháp môn.
Chúng ta liên kết hai chữ “quán
đảnh” lại thì liền rõ được ý nghĩa. Phật dùng đại từ đại bi, đem đảnh pháp
viên mãn thù thắng nhất truyền thụ cho chúng ta, đó gọi là quán đảnh. Không
phải dùng một ít nước rảy vài giọt lên đầu của bạn thì gọi là quán đảnh. Quán
đảnh như vậy không ích gì, chỉ là hình thức biểu pháp. Quan trọng là họ truyền
pháp cho bạn, cái pháp này đương nhiên là đảnh pháp chí cao vô thượng. Bạn đạt
pháp môn này nhất định được tất cả chư Phật hộ niệm, gia trì, giúp đỡ, khiến
bạn khế nhập đảnh pháp, khế nhập pháp môn quả địa cứu cánh Như Lai, đó mới gọi
là quán đảnh. Do đây có thể biết, quán đảnh trong hiển giáo của chúng ta quy y
trên hình thức, thọ giới trên hình thức, đều không đủ tin cậy. Phật pháp phải
nói đến thực chất, chân thật chịu làm.
“Quán đảnh giai” thực tế
chính là chỉ bổn kinh. Làm sao biết bổn kinh này là đảnh pháp. Lão cư sĩ Mai
Quang Hy ở phía trước bổn hội tập kinh Vô Lượng Thọ, có một thiên lời tựa rất
hay, viết rất dài. Lời tựa nhắc đến một đoạn, ông vận dụng ghi chép của đại đức
xưa kể rằng, vào thời Tùy Đường, Phật pháp hưng thịnh nhất trong sử Phật giáo
Trung Quốc. Đó là thời đại hoàng kim của Phật giáo, đại tiểu thừa Phật giáo,
mười tông phái gần như đồng thời xuất hiện. Một số người xuất gia ưu tú từ nước
ngoài đến Trung Quốc du học, đạt một số thành tựu đặc biệt như Nhật Bản, Hàn
Quốc. Vào lúc đó Hàn Quốc chưa thống nhất, gọi là Tam Hàn. Phía nam Việt Nam
cũng có rất nhiều cao tăng đại đức đến Trung Quốc du học. Thời điểm đó họ từng
thảo luận tỉ mỉ và nghiên cứu phân tích, Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa giảng
kinh hơn ba trăm hội, nói pháp bốn mươi chín năm, nhưng bộ kinh nào biểu đạt
đầy đủ cả thảy tính chất của Phật pháp?
Những đại đức này gần như công
nhận Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh có thể đại biểu cả thảy Phật pháp,
gọi là pháp luân căn bản. Họ còn dùng thí dụ để nói, tất cả kinh đều là quyến
thuộc của Hoa Nghiêm. Phật pháp giống như một cây to, Hoa Nghiêm là gốc rễ.
Ngoài ra, những điều Thế Tôn nói trong bốn mươi chín năm không ngoài cành lá
trên thân cây đó. Cành lá không rời khỏi cội gốc, nên Hoa Nghiêm được gọi là
pháp luân căn bản. Vậy Hoa Nghiêm chính là đảnh pháp.
Thời đó người tu Tịnh Độ không
ít, triều nhà Đường xuất hiện đại sư Thiện Đạo. Lịch sử Trung Quốc ghi chép,
ngài là hoá thân của Phật A Di Đà. Lịch sử Trung Quốc cũng từng nói, có ba vị
là Phật A Di Đà hoá thân mà chúng ta biết, còn những vị mà chúng ta không biết
thì không thể tính đếm được. Vị thứ nhất là đại sư Thiện Đạo, vị thứ hai là
pháp sư Vĩnh Minh Diên Thọ, vị thứ ba là Hòa Thượng Phong Can ở chùa Quốc
Thanh. Ba vị này đã bộc lộ thân phận. Chúng ta nên biết, chư Phật Bồ tát thị
hiện ở thế gian rất hiếm khi bộc lộ thân phận, còn người không bộc lộ thân phận
thì rất nhiều. Cho nên tôi khuyên các đồng tu phải sanh tâm cung kính đối với
người. Không chừng bạn xem thường một người nào, thì người đó lại là Phật A Di
Đà hoá thân, vậy coi như bạn đắc tội, còn có thể vãng sanh hay sao? Nói là nói
như vậy, nhưng vãng sanh vẫn chiếu theo vãng sanh. Bạn đắc tội, Phật A Di Đà
nhất định sẽ không trách cứ. Điều kiện vãng sanh là đầy đủ tín nguyện hạnh,
chúng ta đối với tất cả mọi người phải bình đẳng cung kính mới là đúng pháp.
Rất nhiều cao tăng đại đức Nhật
Bản đều từng thân cận đại sư Thiện Đạo và đem Tịnh Độ tông truyền đến Nhật Bản,
Hàn Quốc. Một ngôi chùa ở Nhật Bản tên gọi chùa Thiện Đạo ngày hôm nay được rất
nhiều người đến. Thấy chùa, người ta liền biết ở đó tu Tịnh Độ nhờ tên huý của
đại sư đặt cho chùa miếu. Họ rất cung kính đối với ngài. Tượng đắp của đại sư
có khắp nơi trên Nhật Bản. Còn đệ tử Phật tịnh tông Trung Quốc chúng ta lại
quên mất đại sư. Khi tham quan du lịch Nhật Bản, chúng ta gặp quang cảnh này
liền sanh tâm hổ thẹn. Người ta tôn kính tổ sư chúng ta đến như vậy, thế mà
chúng ta quên mất.
Lại tỉ mỉ tìm hiểu Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh đến sau cùng làm thế nào mới có thể viên mãn thành
tựu, đạt đến đảnh pháp chân thật? Thì ra là pháp sau cùng nhất, Bồ tát Phổ Hiền
mười đại nguyện vương cầu sanh Cực Lạc. Những đệ tử Phật liền khẳng định kinh
Vô Lượng Thọ là đảnh pháp, vì kinh Vô Lượng Thọ rút gọn kinh Hoa Nghiêm. Những
cao tăng đại đức lúc đó nói, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa trên thực tế dẫn đạo bạn quay
về Tịnh Độ. Cũng giống như chúng ta mở ra ba phần, Hoa Nghiêm và Pháp Hoa là
phần tựa, kinh vãng sanh Tịnh Độ là phần chính, cụ thể là kinh Vô Lượng Thọ, và
kinh A Di Đà là phần lưu thông. Cho nên trước nhà Thanh, cư sĩ Bành Tế Thanh
mới nói, kinh Vô Lượng Thọ là quyển trung của Hoa Nghiêm. Kinh A Di Đà là tiểu
bổn của Hoa Nghiêm. Ba bộ kinh này kỳ thật là một bộ. Lời nói của Bành Tế Thanh
không đơn giản. Nếu không vào được cảnh giới này thì ông không thể nói ra như
vậy.
Thông thường nói kinh Hoa Nghiêm,
Vô Lượng Thọ, A Di Đà là đảnh pháp. Nguyên bản dịch của bổn kinh này rất nhiều.
Từ Ấn Độ truyền đến Trung Quốc, số lần phiên dịch nhiều nhất là kinh Vô Lượng
Thọ mà hiện tại trong Đại Tạng kinh còn lưu năm loại nguyên bản dịch của các tổ
sư đại đức ngày trước. Các ngài đã tỉ mỉ nghiên cứu, phát hiện văn tự bản dịch
vào ra rất nhiều. Rõ ràng nhất là nguyện văn. Bản dịch nhà Hán thì có 24
nguyện. Đến thời đại Nam Bắc triều, bản dịch của Khang Tăng Khải là 48 nguyện.
Lại xem bản dịch của triều Tống là 36 nguyện. Khác biệt quá lớn. Nếu nguyên bản
là 48 nguyện thì không thể nào biến thành 24 nguyện hay 36 nguyện, lại nghĩ
ngay đến, Thế Tôn năm xưa tuyên giảng kinh Vô Lượng Thọ, giới thiệu Di Đà Tịnh
Độ không chỉ một lần. Không như các kinh điển khác, Thích Ca Mâu Ni Phật cả đời
chỉ giảng một lần, không giảng lần thứ hai, nhưng hiện tại xem qua năm loại
nguyên bản dịch, có thể khẳng định Thích Ca Mâu Ni Phật chí ít đã từng giảng ba
lần. Ngoài ra còn có bảy loại nguyên bản dịch bị thất truyền. Nếu còn những bản
đó thì có thể nhiều hơn. Như vậy Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa ở đời đã dốc hết
sức nhằm giới thiệu pháp môn Tịnh Độ. Vì nhiều lần tuyên giảng, trong mỗi quyển
có nhiều ít không đồng nên mới cần thiết phải hội tập, mang lại sự thuận tiện
cho sơ học chúng ta.
Bổn hội tập sớm nhất là của cư sĩ
Vương Long Thư, hội tập lần thứ hai là của cư sĩ Nguỵ Mặc Thâm, lần thứ ba là
của lão Hạ Liên Cư. Càng về sau càng thù thắng hơn, cho chúng ta nhận biết cái
gì là đảnh pháp. Sau khi nhận biết đảnh pháp, bạn đọc qua một lượt từ đầu đến
cuối kinh này thì chẳng phải mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai quán
đảnh cho bạn hay sao? Đó là thật quán đảnh, thù thắng hơn nhiều so với thượng
sư rẩy nước quán đảnh. Chúng ta phải tường tận, đọc qua một lần là tiếp nhận
một lần quán đảnh của chư Phật Như Lai; đọc hai lần là quán đảnh hai lần. Một
ngày đọc ba lần thì một ngày bạn được chư Phật Như Lai quán đảnh ba lần, phước
báu này còn ai sánh được? Kinh Vô Lượng Thọ quá dài cũng không ngần ngại. Niệm
kinh A Di Đà cũng vậy, mỗi ngày tụng mười biến thì Phật quán đảnh cho bạn mười
lần, bạn còn không thể khai ngộ hay sao?
Cho nên “thăng quán đảnh giai”
thực tế mà nói chính là thọ trì một bộ kinh, y theo phương pháp lý luận của
kinh này mà tu học, bạn liền lên đến quán đảnh giai, ở vào quả vị Bồ tát. Quán
đảnh pháp vương tử, Bồ tát Đẳng Giác xả bỏ pháp môn Tịnh Độ, quán đảnh giai đó
là khả vọng bất khả cập. Chúng ta nghe rồi ngưỡng vọng mà thôi, không thể trong
một đời thành tựu. Bạn ở ngay một đời có thể chứng được biệt giáo sơ địa Bồ tát
là đã không tệ. Biệt Giáo Sơ Địa có nghĩa là đoạn được kiến tư phiền não, trần
sa phiền não, phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, siêu việt mười
pháp giới, chứng phát tâm trụ, ở vào thập trụ, gọi là viên giáo thập trụ “Phát
Tâm Trụ”. Biệt giáo sơ địa “Hoan Hỉ Địa” chính là phát tâm trụ của
viên giáo. Nhưng sau khi chứng được vị thứ này, nếu bạn đoạn tận 41 phẩm vô
minh, đạt đến Quán đảnh giai viên mãn như kinh đã nói thì còn phải trải qua ba
A tăng kỳ kiếp. Cho nên nói ba A Tăng Kỳ kiếp thành Phật, không phải nói chúng
ta, mà đó là nói viên giáo sơ trụ Bồ tát và biệt giáo sơ trụ Bồ tát.
Ngày nay thực tế cho thấy, kinh
Hoa Nghiêm nói vô lượng kiếp không cách gì tính đếm mới có cơ duyên gặp được.
Nếu chúng ta may mắn, có duyên phận tốt gặp được pháp môn Tịnh Độ, pháp môn
vãng sanh thì một đời liền có thể “thăng quán đảnh giai”. Chúng ta ở đạo
tràng này, có thể nói, là một đạo tràng thù thắng nhất thế gian hiện đại. Không
phải chúng ta đang khoa trương, tán thán. Suốt năm ở đây giảng đệ nhất kinh
Tịnh Độ không gián đoạn. Các đạo tràng khác trên thế giới không có. Dù có cũng
không giảng mỗi ngày. Đạo tràng này giảng không gián đoạn, không chỉ giải môn
mà còn đặc biệt chú trọng hành môn. Đại sư Thanh Lương nói “tín giải hành
chứng”. Bốn chữ này chúng ta đều làm được, không nghiêng về giải môn mà
không xem trọng hành môn, cũng không nghiêng về hành môn mà xem thường giải
môn. Giải hành phải tương ưng, đạo tràng như vậy ở thế gian này có lẽ cũng có,
nhưng tôi chưa thấy cũng chưa nghe nói qua. Hiện nay chính mắt thấy được chỉ có
đạo tràng này. Từ đó mới biết, phước báu của chúng sanh khu vực này lớn không
thể nghĩ bàn. Đạo tràng xây dựng liền được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện
thần bảo hộ. Chúng ta ở kinh Hoa Nghiêm đang đọc đến đạo tràng thần, túc hành
thần, kim cang thân, họ không hộ trì nơi đây thì đến nơi nào để hộ trì? Chúng
ta chính là đối tượng hộ trì của họ.
Ngày nay chúng ta khởi tâm động
niệm, tất cả hành trì tương ưng với đại kinh, cho nên phải nhận biết rõ ràng,
đảnh pháp của chư Phật Như Lai không chỉ là pháp môn Tịnh Độ. Đảnh pháp của
Thích Ca Mâu Ni Phật đã truyền là pháp môn chí cao vô thượng, mà mười phương
tất cả chư Phật Như Lai cũng đều đồng truyền thọ. Làm sao biết được? Trong bổn
kinh Thế Tôn tán thán A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn, Phật trung chi
vương”. Các vị phải biết, tán thán của Thích Ca Mâu Ni Phật đại biểu tán
thán của mười phương tất cả chư Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật khẳng định A Di Đà
Phật là “vua trong các Phật” cũng là nói rõ tất cả chư Như Lai đều khẳng
định A Di Đà Phật là vua trong các Phật. Ngày nay chúng ta phát tâm làm đệ tử
Phật A Di Đà, quang vinh vô thượng. Chư Phật xem thấy bạn đều phải tôn kính bạn
ba phần. Họ kính thầy thì cũng tôn kính học trò của thầy, đây là đạo lý nhất
định.
Chúng ta phải làm một đệ tử Di Đà
chân chính, không nên làm đệ tử giả hiệu, vấn đề đó liền nghiêm trọng. Nếu bạn
mạo nhận đệ tử Di Đà, thần hộ pháp sẽ không tha thứ cho bạn. Nhưng nếu bạn chân
thật là đệ tử của Di Đà, thì chư Phật đều cung kính. Đệ tử thật của Di Đà mỗi
ngày phải nhận quán đảnh của Phật A Di Đà, mỗi ngày phải đọc kinh. Đọc kinh
chính là quán đảnh. Ngày ngày phải đọc câu Phật hiệu.
Tôi khuyên đồng tu có thời gian
nên đến niệm Phật đường để niệm Phật. Vì sao, chẳng phải ở nhà niệm Phật cũng
như nhau sao? Xin nói với các vị, ở nhà niệm Phật hoàn toàn không như nhau, vì
niệm Phật đường trong nhà bạn không có chư Phật đang ở đó niệm Phật, còn ở niệm
Phật đường này có Phật đang niệm. Bạn đến nơi đây, được nhờ vào không khí của
Phật Bồ tát thì làm sao như nhau được. Dùng cách nói hiện tại thì từ trường
trong nhà bạn cùng từ trường nơi đây không như nhau. Từ trường ở nơi đây là thế
gian đệ nhất thù thắng không gì bằng. Nơi đây đích thực là không khí chánh pháp
Như Lai. Các vị ở đây niệm Phật, đích thân mình cảm nhận. Hiện tại niệm Phật
đường đã lót lại thảm mới, hiển lộ trang nghiêm không gì bằng. Buổi chiều hôm
qua tôi có đi xem, rất hoan hỉ. Khi bước vào niệm Phật đường này chính là “thăng
quán đảnh giai”. Giảng đường này là Quán Đảnh Giai. Đã thăng quán đảnh giai
thì “thọ bồ đề ký”.
Thọ bồ đề ký là thọ ký thành
Phật. Các vị đến giảng đường và niệm Phật đường này, nhất định vãng sanh bất
thoái thành Phật. Đạo tràng này là đạo tràng thành tựu chư Phật Như Lai, ắt
được chư Phật Như Lai gia trì.
“Vi giáo Bồ tát, tác A Xà Lê”
Giáo là giáo hoá. Mô hình và kiểu
dáng thị hiện giáo hoá chúng sanh là “làm A Xà Lê”. Đó là tổng đề mục mà
hiện tại chúng ta giảng kinh. Chúng ta đã làm tổng đề mục nhưng vẫn chưa treo
lên, tương lai sẽ treo hai bên đối liễn “học vi nhân sư, hành vi thế phạm”.
A Xà Lê là bậc thầy mô phạm với tư tưởng, lời nói có thể làm mô phạm mẫu mực
cho đại chúng xã hội. A Xà Lê có nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ, dịch thành “quỹ
phạm sư”. Quỹ là quỹ đạo. Ý nghĩa câu nói này rất sâu mà tất cả kinh luận
Phật thường hay nói. Phật dạy chúng ta “thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói”,
biểu đạt ý nghĩa này. Chúng ta học Phật đạt công đức lợi ích thù thắng của Phật
pháp, quyết không thể nói mình được lợi ích là đủ, không hề nghĩ đến quần chúng
xã hội, tất cả chúng sanh sáu cõi ba đường. Tư tưởng này cùng nguyện vọng của
Phật, giáo huấn của Phật không hề tương ưng. Phật dạy chúng ta thọ trì, đó là
việc của chính chúng ta. Phật dạy bảo chúng ta tất cả đạo lý, phương pháp lý
luận, chúng ta phải tường tận tiếp nhận. Những cảnh giới mà Phật giảng, chúng
ta phải khế nhập. Như vậy mới có thể được thọ dụng chân thật, đó là thọ trì.
Sau khi thọ trì thì đọc tụng. Vừa
rồi tôi mới nói bạn đọc tụng một biến chính là nhận được chư Phật Như Lai quán
đảnh một lần, đó là tự lợi. Đọc tụng tốt nhất phải ra tiếng. Công đức đọc ra
tiếng lớn hơn nhiều so với đọc không ra tiếng, vì đọc để người khác nghe, nhất
là người chưa tiếp xúc Phật pháp. Đọc kinh phải đọc từng chữ rõ ràng, cường
điệu âm thanh vui tai, phải làm cho người nghe sanh tâm hoan hỉ, nghe rõ ràng
tường tận, thông suốt thấu đáo. Sau khi nghe họ sẽ giác ngộ.
Có một số đồng tu tâm tính nóng
vội, đọc kinh rất nhanh, chỉ cần nửa giờ có thể đọc xong một bộ kinh Vô Lượng
Thọ. Khi tỉ mỉ lắng nghe, chỉ thấy loắng nhoắng, một chữ cũng không thể nghe
được. Đọc kinh từ đầu đến cuối hết nửa giờ đồng hồ, một chữ không nghe được rõ
ràng, thì loại đọc tụng này chỉ là tự lợi, không thể lợi tha. Nên biết đọc kinh
là lợi tha, còn tự lợi là nhắc nhở chính mình không quên giáo huấn của Phật,
phải y giáo phụng hành. Đọc rõ ràng tường tận để người khác nghe. Nếu bạn nói “chung
quanh tôi không có người nào nên không cần đọc to”, tuy không có người
nhưng có quỷ thần, có chúng sanh mà mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy, ngày
nay chúng ta gọi là chúng sanh vô hình, đông hơn rất nhiều lần so với chúng
sanh mà mắt thường chúng ta nhìn thấy. Bạn đọc kinh, họ nghe xong có được thọ
dụng. Quỷ thần học Phật, quỷ thần hộ pháp, thiên hạ liền thái bình. Động loạn
xã hội chúng ta xảy ra là sau khi quỷ thần loạn trước. Khi quỷ thần loạn rồi,
chúng ta muốn xã hội an định cũng là việc vô cùng khó. Nếu muốn xã hội an định,
trước tiên phải làm cho quỷ thần an định. Muốn quỷ thần an định thì phương pháp
tốt nhất chính là đọc kinh.
Cho nên trong đọc tụng, ý nghĩa
quan trọng là phải độ những chúng sanh vô hình này, làm tăng thượng duyên nghe
pháp cho họ. “Vì người diễn nói”, đối tượng này đã rõ ràng, đây là đối
với người, những chúng sanh hữu tình. Còn đọc tụng là đối với chúng sanh vô
tình.
Đối với người thì phải biểu diễn,
tức là y giáo phụng hành. Phải đem tất cả lời giáo huấn trong kinh Phật thực
tiễn ngay cuộc sống, công việc, trong đối nhân xử thế tiếp vật của chúng ta.
Những gì Phật dạy, chúng ta nhất định phải làm, nỗ lực chăm chỉ mà làm. Những
việc nào không được làm thì chúng ta nhất quyết không làm. Như phía sau kinh
văn đã nói, trong hành môn, những thứ khác đã nói đều là mục nhỏ, việc vụn vặt,
còn cương lĩnh quan trọng nhất chỉ gói gọn ba ý: “Thanh tịnh, Bình đẳng,
Giác”.
Điều thứ nhất Phật nói: “Khéo
giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi người”, phải làm cho được. Ba nghiệp thân
khẩu ý, Phật không dùng thứ tự này, mà yếu tố thứ nhất là khẩu. Khẩu tạo nghiệp
rất dễ dàng và đáng sợ nhất. Các vị đọc qua kinh Địa Tạng, khẩu nghiệp tương
lai đọa địa ngục cắt lưỡi, cày lưỡi,… Rất nhiều địa ngục là quả báo do nghiệp
nhân của khẩu mà ra. Vọng ngữ, hai chiều, ác khẩu, thêu dệt rất dễ dàng phạm
phải. Cho nên người chân thật tu hành bước vào niệm Phật đường thì thân tâm thế
giới thảy đều buông bỏ, bao gồm cả ý niệm, chỉ duy trì một niệm “A Di Đà
Phật”, bạn nhất định sẽ thành công, thế mới gọi là chân thật “khéo giữ
khẩu nghiệp, không nói lỗi người”. Chúng ta cũng không cần phải hỏi cách tu
như thế nào mà chỉ một lòng một dạ chuyên niệm A Di Đà Phật, không nên khởi
vọng tưởng tiếp nữa.
Hiện tại có một loại người không
chỉ chính mình khởi vọng tưởng mà còn phái người đi nghe ngóng người khác. Cái
vọng tưởng này sẽ càng lớn càng sai lầm. Bạn học Phật như vậy, đến sau cùng
cũng đọa vào A Tỳ địa ngục. A Tỳ địa ngục có nhiều địa ngục lớn nhỏ, đều do bạn
nhận quả báo.
Đề kinh của bổn kinh hiển thị ba
cương lĩnh lớn để chúng ta tu hành: “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Mỗi
ngày bạn biết nhiều sự việc đến như vậy thì tâm của bạn làm sao thanh tịnh.
Người xưa dạy, “biết nhiều việc thì phiền não nhiều”. Bạn muốn biết
nhiều việc để làm gì? còn phái người đi nghe ngóng, bạn nói xem có đáng lo
không? Thử nghĩ, sau khi nghe ngóng thì phải nghiên cứu làm thế nào đối phó,
phiền não sẽ càng lớn. Đó là giữ tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, hơn nữa tạo
ra địa ngục ba đường, rất đáng sợ. Chúng ta giác ngộ phải từ chỗ này mà tỉnh
ngộ. Việc của người khác không liên quan gì với chúng ta, ta nghe ngóng họ làm
gì, ta quản họ làm gì.
Thiền tông Lục Tổ đại sư Huệ Năng
nói rất hay, “nếu là người chân chính tu hành thì không thấy lỗi thế gian”.
Không phải thế gian không có lỗi lầm, nhưng vì họ quan tâm chính mình còn không
kịp thì làm gì có thời gian đi quản người khác. Vậy phải dùng cách nhìn thế nào
để xem người khác? Vừa rồi tôi đã nói qua, dùng cách nhìn của Phật để xem người
khác. Chúng ta xem người khác thảy đều là chư Phật Như Lai thị hiện. Họ hành
thiện, thị hiện ra dáng vẻ thiện cho ta xem; họ làm ác, thị hiện dáng vẻ ác để
ta xem, đều là chư Phật Như Lai. Họ thảy đều không có lỗi. Lỗi lầm ở đâu? Tôi
đã thấy, khởi tâm động niệm tạo tội nghiệp. Ta thấy cảnh giới tốt thì khởi tâm
tham, cảnh giới ác thì khởi tâm sân hận, vậy là ta tạo nghiệp. Họ không tạo
nghiệp vì họ là chư Phật Như Lai. Chúng ta hoàn toàn dùng loại tâm trạng chân
thành để tu tập thì ngay một đời này nhất định thành Phật.
Trong cái nhìn của Phật xem tất
cả chúng sanh đều là chư Phật Như Lai, chúng ta phải học theo chiêu này, đó là
cao chiêu. Trong cái nhìn của Bồ tát xem thấy tất cả chúng sanh đều là Bồ tát.
Người thiện xem thấy tất cả chúng sanh đều là người thiện. Người ác xem thấy
Phật Bồ tát cũng là người ác. Đạo lý này chính là “cảnh tùy tâm chuyển”.
Vậy vì sao chúng ta không dưỡng tâm Phật của chúng ta? Vì sao không rõ Phật
tánh của chính mình?
“Vì người diễn nói”, cần
diễn điểm này. Ngày nay người thế gian xem cái này không đúng, thấy cái kia
cũng không đúng. Còn chúng ta xem thấy tất cả chúng sanh đều là Phật Bồ tát,
cung kính bình đẳng, đó chính là tu hạnh Phổ Hiền. Quyển kinh vừa mở ra: “Hàm
cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức”, đó là đệ tử Di Đà chân chính. Cho
nên phải vì người diễn nói chính là nói ta phải làm gương cho đại chúng thông
thường, đặc biệt phải làm tấm gương cho người tu hành, phải làm thật, đó mới
gọi là A Xà Lê. Làm A Xà Lê là để dạy Bồ tát, dạy người tu hành, hoặc dạy tất
cả chúng sanh giác ngộ. Bồ tát chính là chúng sanh giác ngộ, giúp đỡ tất cả
chúng sanh phá mê khai ngộ. Giúp đỡ thế nào? Chính mình thật làm tấm gương, làm
mô phạm. Cách làm ra sao? Câu phía sau nói: “Thường tập tương ưng vô biên
chư hạnh”.
“Thường tập tương ưng, vô biên
chư hạnh”
“Hành” là hành vi đời
sống. Vi tế thì khởi tâm động niệm, thô thì lời nói hành động tạo tác. Đó là
hành vi. Hành vi phải tương ưng với tự tánh, tương ưng với tánh đức, có như vậy
tâm hạnh của bạn mới là hạnh Phật, hạnh Bồ tát chân chính.
Đối với các đồng tu sơ học, nếu
nói đến tâm hạnh tương ưng với tự tánh thì rất khó vì chưa kiến tánh. Hạnh tương
ưng với tâm tánh, mức độ thấp nhất phải là Bồ tát Viên giáo sơ trụ. Từ sơ trụ
trở lên, bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ mà kinh Hoa Nghiêm đã nói, có hơn một
trăm bảy mươi đoàn thể. Tâm hạnh của mỗi người đều tương ưng với pháp tánh, cho
nên gọi là pháp thân đại sĩ. Ngày nay chúng ta là phàm phu sanh tử, chưa thể
đoạn dù chỉ một phần phiền não thì làm sao học được hạnh tương ưng. Phật dạy sơ
học, định ra cho chúng ta rất nhiều quy củ. Bạn y theo quy củ này mà làm thì
tương ưng. Những quy củ Phật nói ra đều là tánh đức. “Tập” là học tập, “thường”
là không gián đoạn. Câu này có nghĩa, mãi không ngừng học tập hạnh tương ưng.
Hạnh tương ưng rải đều rất nhiều trong tất cả kinh luận.
Vậy chúng ta phải bắt đầu học từ
chỗ nào? Chúng ta phát tâm chuyên tu tịnh độ, chuyên tu tịnh nghiệp. Như vậy,
phạm vi kinh luận của chúng ta đều được thu nhỏ lại. Chúng ta y cứ theo ba kinh
một luận, hoặc giả cận đại nói “năm kinh một luận”. Trong “năm kinh
một luận” vẫn còn rất phức tạp, không dễ nắm vững.
Khi mới xây dựng Tịnh tông Học
hội, tôi đã viết ra một đoạn duyên khởi, nhắc đến hành môn năm khóa mục giúp
mọi người dễ ghi nhớ. Khóa mục của hành môn phải đơn giản thì bạn mới ghi nhớ
và học tập được, còn quá nhiều và quá phức tạp thì không thể. Hiện tại xuất gia
thọ giới thọ 250 giới, giới điều quá nhiều không thể nhớ nổi. Giới tỳ kheo ni
còn nhiều hơn. Không nhớ hết thì có thể làm được hay sao?. Đối với Bồ tát tại
gia, giới Phạm Võng, 10 giới trọng, 48 giới khinh cũng quá nhiều không thể ghi
nhớ. Không ghi nhớ thì không cách gì làm được. Nhất định phải đơn giản, mỗi giờ
mỗi lúc đều nhớ, có thể đọc thuộc lòng. Có như vậy trong cuộc sống, khởi tâm
động niệm lời nói việc làm mới thức tỉnh chính mình tương ưng với lời giáo huấn
của Phật. Cho nên chân thật tu hành phải nắm được cương lĩnh.
NĂM KHÓA MỤC
Thứ nhất là “tam phước”.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói, tam
phước tổng cộng có ba điều. Phước thứ nhất là trời người. Nói cách khác, trong
sáu cõi, bạn có thể làm chân thật đến được thì bạn không mất thân người, không đọa
vào ba đường ác, đời đời kiếp kiếp ở trời người để hưởng phước.
Câu một, hiếu dưỡng cha mẹ, bạn
làm được chưa?
Câu hai, phụng sự sư trưởng, bạn
làm được chưa?
Câu ba, từ tâm bất sát
Câu bốn, tu thập thiện nghiệp.
Bốn câu này ý nghĩa rất sâu.
Chúng ta cũng đã từng trải qua chuyên đề diễn giảng. Phải ghi nhớ bốn câu này.
Khởi tâm động niệm lời nói việc làm có tương ưng với những điều này không. Nếu
không tương ưng thì sai. Phải thường tập tương ưng chi hạnh.
Phước thứ hai là phước hàng nhị
thừa, thanh văn, duyên giác. Các vị phải biết, phước thứ nhất là phàm phu.
Phước thứ hai mới là học Phật. Phật pháp được xây dựng trên nền tảng của phước
thế gian. Không có phước thế gian thì học Phật làm sao thành tựu. Nói cách
khác, bạn làm người chưa tốt thì làm sao có thể học Phật. Bốn câu trên dạy bạn
làm người. Nếu trái ngược bốn câu thì bạn không phải con người mà là súc sinh,
ngạ quỷ, địa ngục.
Trong “Tả truyện sách xưa”
có câu nói: “Nhân khí thường tất yêu hưng”. “Thường” là ngũ
thường, gồm: nhân nghĩa lễ trí tín. Nếu con người bỏ mất chữ thường, làm những
việc bất nhân bất nghĩa thì đó là yêu ma quỷ quái, không phải người. Cho nên
trời người đều có tiêu chuẩn đạo đức. Các vị thử nghĩ xem. Bốn câu trong phước
thứ nhất này đều bao gồm ý
nghĩa của ngũ thường. Đây là nền tảng để bước vào Phật pháp. Cho nên phước trời
người được xếp ở trên phước nhị thừa.
Mở đầu phước nhị thừa là thọ trì tam quy, cụ túc chúng giới,
bất phạm oai nghi.
Ngày nay chúng ta thọ tam quy chỉ trên hình thức, không phải
thực chất. Thọ giới cũng trên hình thức, vì sao? Vì bên dưới không có gốc. Nếu
nền móng xây vững chắc thì tam quy ngũ giới liền phát sinh tác dụng, có thể
thành tựu đức hạnh. Các vị phải biết, Phật pháp là sư đạo và được xây dựng trên
nền tảng hiếu đạo. Phước thứ nhất là hiếu đạo, phước thứ hai là sư đạo. Hiếu
đạo không có thì sư đạo cũng không còn. Ngày nay chúng ta học Phật đặc biệt đề
xướng hiếu đạo. Bạn về nhà phải hiếu thuận cha mẹ, trở thành tấm gương cho xã
hội đại chúng xem, đó là “vì người diễn nói”. Cho nên “Học vi nhân
sư, hành vi thế phạm”, bạn phải làm được, chứ không thể chỉ nói ngoài
miệng.
Phước nhị thừa tiếp tục nâng cao là Bồ tát. Bồ tát có bốn
câu đều là cương lĩnh nguyên tắc:
– Cương lĩnh thứ nhất: Phát Bồ Đề tâm,
Đại sư Ngẫu Ích trong kinh A Di Đà Yếu Giải nói rất hay,
chân thật phát tâm cầu sanh tịnh độ, quyết không thay đổi, quyết không nghi
hoặc, quyết cầu sanh, thì bạn nhất định sanh. Tâm này chính là tâm vô thượng Bồ
đề. Trong Quán kinh, Thế Tôn giải thích với chúng ta là tâm chí thành, chân tâm
phát nguyện. Một lòng hy vọng cầu sanh tịnh độ, đó là thâm tâm, cũng là hồi
hướng phát nguyện tâm. Một niệm liền đầy đủ, không có niệm thứ hai. Chúng ta
phải phát ra tâm này.
– Cương lĩnh thứ hai: Thâm tín nhân quả
Ngày trước tôi đã từng kể qua với các vị, câu này khiến hai
ba năm tâm tôi không được an, vì không hiểu ý. Bình thường chúng ta nói nhân
quả báo ứng, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả, thiện ác nhân quả không lọt mảy
trần. Chúng ta biết, tin tưởng, không hoài nghi thì chúng ta thuộc thân phận
trời người, nhưng không thể so sánh với hàng nhị thừa. Chỗ hoài nghi của tôi là
tại sao Bồ tát lại không biết nhân quả này?
Nhân quả này tuyệt đối không phải là nhân quả mà chúng ta
nói. Nhân duyên quả báo đó làm gì Bồ tát không biết. Họ tin sâu nhân quả nhất
định phải là nhân quả đặc biệt. Tôi phải mất nhiều năm, cũng gần như được Tam
Bảo gia trì mới hiểu ra nhân quả gì. Thì ra là “niệm Phật thành Phật”.
Chân thật rất nhiều Bồ tát không biết. Niệm Phật là nhân,
thành Phật là quả, không cần ba A Tăng Kỳ kiếp mà chỉ một đời thành tựu. Tận hư
không khắp pháp giới trong các cõi nước chư Phật, có bao nhiêu Bồ tát không
biết nhân quả này. Vậy chúng ta quay đầu nhìn lại xem trong hoàn cảnh sống hiện
tại, ngay trong đồng tu chúng ta có rất nhiều người học Phật, có tham thiền, có
học giáo, trì chú, trì giới, rất nhiều pháp môn, nhưng bạn bảo họ niệm Phật thì
họ không tin. Họ học pháp môn của họ rất chuyên cần, dõng mãnh tinh tấn nhưng
không chịu niệm Phật.
Cho nên, người phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả thật cừ
khôi. Nếu họ tương ưng với hai câu trên, thì đúng như pháp môn tịnh độ đã nói,
thiện căn phước đức nhân duyên ngay trong một đời đầy đủ. Kinh gọi là chúng
sanh căn tánh chín mùi, thành thục; Bồ tát vô biên thiện căn. Chín mùi thì ngay
một đời làm Phật. Ở đời này, mang thân này trong sáu cõi là thân sau cùng, về
sau không còn luân hồi nữa. Lần sau trở lại thành Bồ tát hóa thân, không phải
phàm phu. Sự ứng hiện mang tính chất thừa nguyện tái lai, khác nhau hoàn toàn.
– Cương lĩnh thứ ba: Đọc tụng đại thừa
Đọc tụng đại thừa chính là đọc kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di
Đà. Đọc qua một biến, chư Phật Bồ tát quán đảnh cho bạn một lần. Sau khi đọc,
bạn nhất định phải y giáo phụng hành.
– Cương lĩnh thứ tư: Khuyến tấn hành giả
Phải giới thiệu pháp môn tịnh độ cho quảng đại quần chúng,
cho tất cả chúng sanh, đó là lợi tha. Tự lợi lợi người.
Bạn làm được bốn câu này mới chân thật là Bồ tát. Khởi tâm
động niệm lời nói việc làm phải tương ưng với tam phước. Đó là “thường tập
tương ưng chi hạnh”, có nghĩa chân thật tu tịnh độ.
Thứ hai là “Lục hòa”
Đồng tu cộng tu với nhau nhất định phải tu sáu hòa kính.
– Một, “Kiến hòa đồng giải”. Phải hòa thuận, tôn
trọng lẫn nhau. Xem tất cả đại chúng thành chư Phật Như Lai, thành hóa thân của
Phật A Di Đà. Dùng tâm cung kính nhất để đối nhân xử thế tiếp vật. Người khác
dùng tâm trạng nào để đối xử với chúng ta, chúng ta cũng không quan tâm chú ý,
mà chỉ quan tâm mình dùng tâm trạng gì để đối với họ. Nhất định dùng tâm Phật
đối với người. Mọi người đều là A Di Đà Phật thị hiện cho chúng ta xem, giúp đỡ
chúng ta thành tựu. Mỗi người đều học như vậy thì kiến hòa đồng giải viên mãn,
chân thật nhập Phật tri kiến. Phàm phu nhập Phật tri kiến là không thể nghĩ
bàn. Đó là đại tâm phàm phu mà kinh Hoa Nghiêm đã nói. Ngày nay chúng ta không
làm được A La Hán, Bồ tát, nhưng chúng ta phải làm đại tâm phàm phu. Không khó.
Đích thực mỗi vị đồng tu đều có thể làm được. Tâm hạnh của chúng ta liền có thể
tương ưng với năm khóa mục này.
– Hai, “Giới hòa đồng tu”. Chữ “Giới” mang
nghĩa rất rộng. Ngày nay chúng ta trì giới, hy vọng nỗ lực triệt để làm được
năm giới mười thiện, chưa kể đến Bồ tát giới, hay tỳ kheo giới. Người xuất gia
nên học đại sư Ngẫu Ích, đại sư Hoằng Nhất. Các ngài trì sa di mười giới, năm
giới. Đại sư Ngẫu Ích sau khi thọ giới thì xả giới, cả đời ngài chỉ trì giới sa
di. Cho nên các vị thấy trong rất nhiều văn tự là Sa di Bồ tát giới. Ngài không
dám xưng tỳ kheo. Ngài là Sa di Bồ tát. Thành Thời là học trò của ngài. Thầy đã
xưng Sa di thì học trò không dám xưng Sa di, cho nên pháp sư Thành Thời xưng là
Ưu Bà Tắc, mặc dù là người xuất gia. Thật ra, cách xưng đó mới đúng với thân
phận của chúng ta ngày nay. Thân phận của chúng ta là gì? Xuất gia Ưu Bà Tắc.
Còn các vị là tại gia Ưu Bà Tắc. Tôi là Ưu Bà Tắc thị hiện thân tướng xuất gia.
Thảy đều trì năm giới mười thiện.
Trong kinh Vô Lượng Thọ, năm giới mười thiện có giải thích
tỉ mỉ từ phẩm ba mươi ba đến phẩm ba mươi bảy. Đoạn kinh văn này thuyết minh
tường tận năm giới mười thiện. Chúng ta trì năm giới mười thiện thì thanh tịnh,
đúng với tên thật, là xuất gia Ưu Bà Tắc. Đây là trì giới. Ngoài ra, trì giới
còn một nghĩa nữa là thủ pháp. Đạo tràng thường đông người, nếu không có quy củ
thì nơi đây trở thành một đoàn thể hỗn loạn, không giống đạo tràng. Những quy
củ này cần phải tuân thủ. Bên ngoài xã hội có quốc gia, quốc gia có pháp luật,
rất nhiều quy ước, chúng ta cũng phải tuân thủ. Làm một công dân tốt tuân thủ
pháp luật, làm một người tu hành giữ pháp, làm một đệ tử Phật giữ pháp.
– Ba, “Thân hòa đồng trú”. Tương lai sau khi thôn Di
Đà khánh thành, rất nhiều đồng tu niệm Phật cùng ở với nhau. Đôi bên cùng chăm
sóc, sách tấn lẫn nhau. Hy vọng hiện tại chúng ta cùng đồng trong thôn Di Đà
thì tương lai chúng ta cũng ở chung trong Hải Hội Liên Trì. Như vậy mới chân
thật đạt đến mục tiêu. Tôi kiến nghị, mỗi cửa phòng trong thôn Di Đà đều là cửa
kính trong suốt. Người ở đó không thể giải đãi lười biếng. Hoặc chí ít phải làm
một cửa sổ bằng kính nhỏ, người ngoài đi tới đi lui có thể nhìn thấy được bên
trong. Còn cửa phòng đóng kín thì không thể thanh đạo, người ngoài không biết
được họ đang làm gì, giải đãi lười biếng ra sao. Đồng tu ở thôn Di Đà phải chú
ý, thôn Di Đà hoàn toàn trong suốt hóa, tương lai ngay đến thân thể cũng trong
suốt, không chút ô nhiễm. Chúng ta phải đạt tiêu chuẩn này. Đây cũng là tác sư
tác phạm. Cho nên phải thủ pháp, đó mới chân thật là ý nghĩa của thân hòa đồng
trú.
– Bốn, “Khẩu hòa vô tranh”. Hy vọng sau khi bước vào
thôn Di Đà, cho dù bạn ở một năm, hai năm hoặc cả đời, bạn cũng sẽ không nói
câu nào ngoại trừ câu A Di Đà Phật. Bạn nhất định thành Phật, nhất định thượng
thượng phẩm vãng sanh. Vì sao? Vì không có lời nào đáng nói, nói ra đều thừa.
Bạn nói ra lời nói đều là tiếp nối sáu cõi luân hồi, nên bắt đầu từ hôm nay
không tiếp nối sáu cõi luân hồi nữa. Không nói chuyện. Bạn chào hỏi, tôi đều A
Di Đà Phật. Bạn nói cái gì, nhiều hay ít thì tôi đều A Di Đà Phật, một câu cũng
không cho lọt vào. Làm như vậy tâm bạn mới thanh tịnh, khẩu nghiệp của bạn mới
chân thật tiêu được sạch trơn.
– Năm, “Ý hòa đồng giải”. Cùng ở chung nơi đây nhất
định pháp hỷ sung mãn. Bạn nhất định đạt được cảnh giới này. Hai mươi bốn giờ
niệm Phật sẽ sanh tâm hoan hỷ, không mệt, không chán. Niệm mệt thì nghỉ một
lát. Khi nghỉ ngơi, tôi khuyên đồng tu không cởi áo tràng. Chúng ta mặc áo
tràng niệm Phật, nghỉ ngơi chốc lát vẫn không cởi áo tràng. Điều đó nhắc chúng
ta khỏe rồi phải mau vào niệm Phật đường. Tự động tự phát, không cần có người
đến gõ cửa. Mặc dù mỗi đơn vị chúng ta có một trưởng liêu do các vị chọn lựa.
Họ có nhiệm vụ cứ thấy thời gian đến mà bạn vẫn lười biếng thì sẽ đến gõ cửa
bạn. Niệm Phật đường có pháp sư. Trong các pháp sư cũng có một người chuyên phụ
trách công việc nhắc nhở, gọi là tuần phang.
Khi bạn niệm Phật bị hôn trầm, ngủ gật trong niệm Phật
đường, ngày xưa dùng tuần phang, một cú phang nhẹ lên đầu bạn, làm cho bạn tỉnh
lại. Ở đây không như thiền đường, thiền đường dùng hương bản để đánh. Còn ở đây
chúng ta không đánh mà dùng tuần phang hoặc phất trần để nhắc nhở mọi người. Đó
là sự hợp tác lẫn nhau nhằm chân thật làm đến được pháp hỷ sung mãn.
– Sáu, “Lợi hòa đồng huân”. Mười phương cúng dường
quy về thường trụ. Thường trụ phụ trách cơm áo, đi đứng cho mọi người. Bạn đến
niệm Phật đường này niệm Phật thì không cần mang theo một phân tiền, không cần
lo lắng đời sống, chỉ cần chân thật niệm Phật là được. Tôi nghĩ tin tức này sẽ
truyền đến xã hội, mọi người trong xã hội sẽ không làm việc nữa vì mưu sinh rất
khổ cực, chỉ đến niệm Phật đường để niệm Phật. Tương lai niệm Phật đường của
chúng ta ắt hẳn đầy ắp người. May mà hoằng nguyện của cư sĩ Lý Mộc Nguyên rất
lớn, ông dự định xây dựng thôn hai, thôn ba, thôn bốn, thậm chí xây thành thành
phố Di Đà, nước Di Đà. Thật là khó được duyên phận hy hữu như vậy. Chúng ta
hoan nghênh xã hội an ổn, khiến mọi người chân thật có nơi nương tựa. Nhưng
thôn Di Đà là chỗ nương về chân chính của chúng ta, vô lượng công đức, được chư
Phật tán thán. Đó là tương ưng với lục hòa.
Thứ ba là “Tam học Giới Định Huệ”
Thứ tư là “Lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định và bát nhã”
Thứ năm là “Phổ Hiền Bồ tát thập nguyện”
Các vị có thể không nhớ rõ ràng, nhưng đều hiểu ý nghĩa của
từng khóa mục; khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của chúng ta đều tương ưng
với năm khóa mục này. Sau đó phát tâm thanh tịnh, một lòng chuyên niệm, quyết
thành thục Bồ tát, vô biên thiện căn.
“Thành thục Bồ tát, vô biên thiện căn”
Thiện căn vô biên, đơn giản mà nói là đại từ bi, đại tinh
tấn. Quyết cầu sanh tịnh độ là đại từ bi, bởi vì bạn sanh đến thế giới Tây
Phương Cực Lạc thì bạn liền thành Phật. Hiện tiền niệm Phật đường, giảng đường,
thôn Di Đà là trạm tiếp dẫn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Đến nơi đây cũng là
đến thế giới Tây Phương. Bạn ở đây nếu như đúng lý đúng pháp mà tu học thì nhất
định vãng sanh. Ngày trước tôi giảng giải kinh Vô Lượng Thọ đã nói qua, kinh
này là chứng thư để chúng ta vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, đó là
bảo chứng bạn vãng sanh nếu bạn y giáo phụng hành. Không chịu khó làm là việc
của bạn nhưng khi chân thật làm theo thì không ai không vãng sanh. Vãng sanh
thế giới Tây Phương mới có thể làm Phật Bồ tát, mới có thể giống Bồ tát Quán
Âm, Phổ Hiền, Địa Tạng, phân thân vô lượng vô biên, độ hóa chúng sanh mười
phương thế giới, đó chẳng phải là đại từ bi hay sao? Còn có loại từ bi nào có
thể so với họ?
“Thiện căn” chỉ tinh tấn. Thiện căn của người thế
gian là thế pháp. Thế pháp này gọi là thiện pháp trong mười pháp giới, từ ba
thiện căn vô tham, vô sân, vô si sanh ra. Trong mười pháp giới, bao gồm tất cả
ác pháp từ ba độc tham sân si sanh ra, bao gồm tất cả thiện pháp từ vô tham, vô
sân, vô si sanh ra. Nói đến pháp xuất thế là nói đến siêu việt mười pháp giới,
hay pháp giới nhất chân. Trong pháp giới nhất chân đều là pháp thân đại sĩ,
thiện căn tinh tấn. Thiện căn của pháp thân đại sĩ chỉ có một điều, đại tinh
tấn. Hiện tại chúng ta tuy chưa chứng được pháp thân đại sĩ, nhưng mỗi ngày
niệm Phật hai mươi bốn giờ đồng hồ từ đầu năm đến cuối năm không gián đoạn cũng
coi như đại tinh tấn, có thể so với pháp thân đại sĩ, tuyệt nhiên không kém hơn
họ.
“Thành thục”, chú trọng ở hai chữ này. Nếu không có
duyên phận thù thắng thì làm sao thành tựu? Đúng như đại sư Thiện Đạo đã nói
trong chú giải của Quán kinh: “Tất cả thành thục tổng tại ngộ duyên”.
Duyên rất quan trọng. Duyên là điều kiện. Hiện tại ở đây, điều kiện niệm Phật
đầy đủ, quá thù thắng. Có rất nhiều Bồ tát, rất nhiều người tu hành mong cầu mà
không được. Tôi đã nghĩ đến thôn Di Đà cách đây mười sáu năm, và luôn cho rằng
mình vọng tưởng không thực hiện được. Không ngờ lại có thể thực hiện ở nơi đây,
thật hy hữu. Đến nay tôi vẫn cảm thấy kinh ngạc, hơn nữa sự thành tựu còn viên
mãn đến như vậy. Nếu không được oai thần của Phật gia trì thì không thể. Thành
thật mà nói, Bồ tát gia trì cũng không được, nhất định phải oai thần chư Phật
Như Lai gia trì mới làm được. Chúng sanh ở đây, duyên thành Phật ngay trong một
đời này chín mùi, nên mới có cảm ứng thù thắng đến vậy. Các vị đồng tu phước
báu hy hữu, vô lượng kiếp đến nay vào lúc này hoa khai kết quả. Đó là thành
thục.
“Thành thục Bồ tát, vô biên thiện căn” là nói tương
ưng. Đã tương ưng liền cảm động chư Phật hộ niệm.
“Vô lượng chư Phật, hàm cộng hộ niệm”
Câu nói này cảm xúc rất sâu sắc đặc biệt, gần như chính mắt
chúng ta thấy, chính tai chúng ta nghe, chính thân tiếp xúc, chân thật chư Phật
hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ. Cho nên, thế nhân cầu Phật Bồ tát bảo hộ
rất đông, nhưng họ dùng phương pháp gì để cầu? Hối lộ. Họ đến miếu bái bái lạy
lạy, cầu khẩn với Phật Bồ tát “Tôi cúng dường ngài từng này, ngài bảo hộ tôi
phát tài, sau đó tôi trở lại hoàn nguyện, sẽ cúng dường ngài từng này”. Họ
mặc cả với Phật Bồ tát rồi đưa ra điều kiện. Làm gì có loại đạo lý ấy? Nên
không có cảm ứng. Để được Phật Bồ tát hộ niệm, bạn không cần điều kiện. Các
ngài chỉ xem bạn có thật chịu làm hay không. Làm như thế nào? Y giáo phụng
hành. Phật dạy bảo bạn, bạn chân thật phát tâm, không màng đến hậu quả thì bạn
được vạn chư Phật hộ niệm. Nếu bạn chịu làm, phát tâm nhưng còn lo lắng, nghi
hoặc, chẳng hạn nghĩ xây lầu to tốn rất nhiều tiền nhưng nếu lỡ tín đồ cúng
dường không đủ thì phải làm sao, như vậy Phật Bồ tát sẽ không quản việc của
bạn. Vì bạn không thật lòng, bạn còn xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
thì làm sao có cảm ứng.
Cảm ứng có được duy nhất ở tâm chân thành. Đến lúc đó nếu
thật không ai góp tiền, Phật Bồ tát sẽ cho người mang tiền đến. Không thể nghĩ
bàn. Đó là thật, nhất định không phải giả. Loại thí dụ cảm ứng này, từ xưa đến
nay, chúng ta xem thấy trong truyện ký cảm ứng lục rất nhiều. Chỉ có chí thành
tột đỉnh mới được cảm thông. Còn hơi một chút xen tạp, một chút riêng tư thì
liền phá hoại hết thảy pháp. Người trụ trì lãnh đạo không mang lòng riêng tư, chỉ
có chân thành, thì tôi tin chắc tương lai, người ở trong niệm Phật đường, đồng
tu nghe kinh ở giảng đường chỉ có tâm chân thành. Mọi người đồng một mảng chân
thành thì sức cảm ứng đó sẽ rất to lớn. Cho nên, đạo tràng thù thắng trang
nghiêm có thể xây dựng tại khu vực này không phải là việc ngẫu nhiên.
“CHƯ PHẬT SÁT
TRUNG, GIAI NĂNG THỊ HIỆN. THÍ THIỆN HUYỄN SƯ, HIỆN CHÚNG DỊ TƯỚNG. Ư BỈ TƯỚNG
TRUNG, THẬT VÔ KHẢ ĐẮC. THỬ CHƯ BỒ TÁT, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ.”
Trong tám tướng thành đạo thì
đoạn kinh văn này thuộc tướng thứ bảy “Chuyển pháp luân tướng”. Kinh văn
tương đối dài, bên trên phân thành hai đoạn lớn. Trước nói tổng tướng của
chuyển pháp luân, sau nói biệt tướng của chuyển pháp luân. Gọi là “chuyển
pháp luân”, vì Thế Tôn xuất hiện ở thế gian nhằm làm công tác giáo học.
Thuật ngữ hiện đại gọi là công việc giáo dục xã hội. Trong biệt tướng thì nửa
phần phía trước nói “hạnh Phổ Hiền”, nửa phía sau nói “trí Văn Thù”.
Từ nội dung này mà quan sát, chúng ta rất dễ liên tưởng đến kinh Hoa Nghiêm, từ
đầu đến cuối cũng cách thức tương tự. Đó là chú trọng hành môn và đức hạnh.
Trên kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là thứ nam. Đó là thí dụ nói rõ một sự việc, trong
hai môn giải hành thì hành môn xếp thứ nhất, giải môn xếp hàng kế. Tôi đã giảng
xong hành môn của Bồ tát Phổ Hiền, nay tiếp theo là trí môn của Bồ tát Văn Thù,
còn gọi giải môn. Hành cùng giải phải tương ưng mới có thể đem cảnh giới hướng
lên cao. Nếu hành giải không tương ưng thì hành chỉ mang lại phước báu, không
thể nâng cao cảnh giới, thật đáng tiếc.
“Hành” nhất định phải có
trí tuệ để y cứ, thì cái hành này mới là Bồ tát hạnh, mới là chánh hạnh. Nếu
trái ngược với trí tuệ, thì Phật pháp gọi là hạnh phàm phu, kinh luận gọi là tà
hạnh. Sở dĩ gọi là tà vì lấy chánh hạnh của Phật Bồ tát làm tiêu chuẩn. Điều đó
có nghĩa, không chỉ hạnh của phàm phu sáu cõi không được gọi là chánh hạnh mà
theo kinh Lăng Nghiêm, Bồ tát Quyền Giáo Nhị Thừa còn bị Thế Tôn quở trách. Cho
nên quyển kinh này cùng với kinh Hoa Nghiêm đồng một trình độ, đồng một tiêu chuẩn.
“Chư Phật sát trung, giai năng thị
hiện”
Nhất định phải có trí tuệ cao độ
mới thành tựu thù thắng hành môn. Vừa rồi chúng ta đọc tiêu đề của đoạn thứ
nhất “thị tướng vô đắc”. Hiển thị trong tất cả tướng bất khả đắc, đó là
trí tuệ chân thật. Câu “Chư Phật sát trung, giai năng thị hiện” mang ý
nghĩa của tiêu đề lớn, tương lai kinh Hoa Nghiêm, tôi sẽ tỉ mỉ nói đến. Dù
giảng đến hai ba lần, từ bốn đến sáu giờ đồng hồ cũng chỉ nói được đại ý “ba
hạnh”, thế nên chúng ta để lại trong “Hoa Nghiêm” sẽ nói kỹ hơn.
“Chư Phật sát trung” ý nói
tận hư không khắp pháp giới, bao gồm quá hiện vị lai, gọi là mười phương ba
đời, vô lượng vô biên cõi nước. Chi tiết hơn, đó là không gian sinh hoạt của
chúng ta. Sự thật thì không gian sinh hoạt của chúng ta rất lớn, không chỉ trên
địa cầu này. Phải là người giác ngộ mới hiểu và có thể thọ dụng được, còn người
chưa giác ngộ thì rất phiền phức, vì họ chấp trước kiên cố. Ví dụ kinh Phật đưa
ra một công án. Thế Tôn năm xưa ở đời, từng ở thành Xá Vệ vườn Cấp Cô Độc một
thời gian tương đối dài. Không ít kinh điển quan trọng trong kinh đại thừa đều
được giảng tại vườn Cấp Cô Độc. Một lần, vườn Cấp Cô Độc tu sửa phòng ốc, Phật
cùng các đệ tử xem thấy một ổ kiến. Đức Phật liền mỉm cười. Các đệ tử mới thắc
mắc tại sao Thế tôn nhìn thấy đàn kiến lại mỉm cười? Phật nói: “Đàn kiến này
đã trải qua bảy đời chư Phật xuất thế nhưng vẫn không rời khỏi thân kiến. Vậy
chúng ta không nói nhiều, mà chỉ nên dùng cách nói thông thường thôi”.
Tu hành thành Phật phải trải qua
ba a tăng kỳ kiếp, không thể ít hơn. Theo cách nói bảo thủ nhất, thì bảy vị
Phật là hai mươi mốt a tăng kỳ kiếp, vẫn làm thân kiến. Quá khủng khiếp! Không
phải kiến có tuổi thọ dài đến vậy, mà sau khi chết đầu thai vẫn làm thân kiến,
vẫn trong ổ đó. Thế nên, kinh Đại thừa thường nói “ngu si thật đáng sợ”.
Người ngu si chấp trước kiên cố. Đàn kiến chấp trước cái thân hình đó của nó
chính là thân nó, chấp trước không gian đời sống của nó chỉ lớn như vậy, cho
nên sau khi chết nó vẫn đầu thai làm kiến, vẫn sống trong không gian cũ. Nó không
biết không gian đời sống của mỗi người là vô hạn.
Hiện tại người thế gian tương đối
thông minh, biết lợi dụng khoa học kỹ thuật tạo thành công cụ phi hành, mở rộng
không gian đời sống của chúng ta đến các tinh cầu khác. Mộng tưởng này sớm muộn
gì cũng sẽ thực hiện. Nhiều năm nay, báo chí cho biết có người ngoài hành tinh
từng đến địa cầu của chúng ta nhiều lần nhưng chúng ta chưa thấy. Tôi đã từng
tận mắt nhìn đĩa bay trên không trung, nhưng chưa thấy đĩa bay đáp xuống. Cũng
có rất nhiều người cùng thấy với tôi, bởi vì ngày hôm sau, báo chí đăng tin tức
này. Có phải người ngoài hành tinh đến địa cầu chúng ta để dò xét hay không?
Việc này không thể biết được. Nếu họ có năng lực đến, đương nhiên công cụ phi
hành của họ tốt hơn nhiều so với chúng ta. Đĩa bay của họ có thể dừng bất động
trong không trung, trong khi hiện tại phi cơ của chúng ta không làm được. Chính
mắt tôi nhìn thấy nó bất động khoảng năm phút, sau đó chuyển động với tốc độ
rất nhanh, chỉ mấy giây là mất hút. Trình độ khoa học kỹ thuật hiện tại của
chúng ta tuyệt đối không thể đạt đến. Tuy nhiên khoa học của chúng ta đang tiến
bộ không ngừng. Tôi tin sẽ có ngày chúng ta đạt năng lực này, sử dụng công cụ
kỹ thuật cao để qua lại với các tinh cầu khác. Đó là phương pháp mở rộng không
gian đời sống tương đối vụng về của chúng ta.
Trong thái không, mắt thịt chúng
ta có thể thấy các tinh cầu mà không cần kính viễn vọng. Khi trời quang mây
tạnh, vào đêm tối, chúng ta quan sát có thể thấy hơn 6000 tinh cầu. Nếu dùng
kính viễn vọng cao tần thì không cách gì tính đếm được vô số tinh cầu thậm chí
ở cự ly tương đối xa. Khoa học gia dùng năm ánh sáng để tính. Tốc độ ánh sáng
trong một giây đi gần ba mươi vạn cây số. Cự ly này gọi là đơn vị thiên văn, có
nghĩa tốc độ ánh sáng đi một năm. Các khoa học gia cho biết, cự ly hành tinh
gần chúng ta nhất, nếu dùng tốc độ ánh sáng đại khái phải mất bốn năm rưỡi mới
đến được. Giả sử chúng ta tạo công cụ phi hành, nhất định cũng không thể sánh
với tốc độ ánh sáng.
Lữ hành đến các tinh cầu rất gian
khó và tương đối khổ cực. Dù ở ngoài thái không, ngoài hành tinh đến thế gian
này thăm viếng, dù công cụ giao thông của họ phát triển đến trình độ thế nào,
thì chúng ta vẫn khẳng định họ thuộc cõi người, không phải cõi trời. Họ vẫn
trong sáu cõi. Địa cầu có người, các tinh cầu khác cũng có người. Chỉ cõi người
mới dùng phương pháp này, còn cõi trời thì không cần dùng đến. Người cõi trời
lữ hành không cần dùng công cụ khoa học. Bản thân họ có ngũ thông bao gồm năng
lực “thần túc thông”. Cho nên nghĩ tới nghĩ lui, chúng ta vẫn phải hồi
phục lại bản năng của chính mình, đó mới là cao minh. Hồi phục sáu loại thần
thông không thể nghĩ bàn vốn sẵn có trong chính chúng ta. Khi đã hồi phục lại,
chúng ta du lịch đến thái không sẽ rất thuận tiện, một khảy móng tay hoặc một
sát na có thể đến bất cứ nơi nào. Không những du lịch tinh cầu không gặp chướng
ngại mà còn đến cõi nước chư Phật xa gấp bao nhiêu lần so với du lịch tinh cầu.
Đạo lý này các vị phải biết.
Ngày nay tinh cầu mà chúng ta xem
thấy vẫn chỉ dừng lại ở không gian ba độ, bốn độ, năm độ, thậm chí không gian
duy thứ cao hơn mà khoa học chưa đạt đến. Nói cách khác, giới hạn không gian
không thể đột phá. Nếu đột phá được giới hạn của thời không thì thế giới này
hoàn toàn khác nhau. Bạn có thể thấy được cõi trời, có thể đạt đến trời dục
giới, trời sắc giới, trời vô sắc giới, lại có thể siêu việt sáu cõi. Cái đại
sáu cõi này chính là đại thiên thế giới. Siêu việt đại thiên thế giới, bạn liền
tiếp xúc các cõi nước chư Phật. Nghĩ xem, không gian tương đối phức tạp quyết
không đơn thuần. Chân thật không gian lớn vô hạn so với tưởng tượng của chúng
ta, kinh Phật nói “không thể nghĩ bàn”. Năng lực của Bồ tát ở thế giới
Cực Lạc, chúng ta cũng có phần. Chỉ cần vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực
Lạc, không luận phẩm vị cao thấp, cho dù hạ hạ phẩm vãng sanh cõi phàm thánh
đồng cư, bạn cũng có năng lực này.
Không gian sinh hoạt của những vị pháp thân Bồ tát này rất rộng lớn. Chư
Phật sát là tận hư không khắp pháp giới, không chỉ hiện tại mà bao gồm quá khứ,
hiện tại, vị lai. Chúng ta thường nói mười phương ba đời, vô lượng vô biên cõi
nước chư Phật. Họ đều có thể thị hiện trong đó. “Giai năng thị hiện”, cách thị hiện như thế nào?
Giống như Bồ tát Quán Thế Âm trong Phổ Môn phẩm, đáng dùng thân Phật để độ
thoát, ngài liền hiện thân Phật; đáng dùng thân Bồ tát để độ thoát, ngài liền
hiện thân Bồ tát;.v.v… Đáng dùng thân gì, ngài liền hiện thân đó. Ứng là cảm
ứng. Bồ tát quyết không có ý niệm hiện thân. Nếu có ý hiện thân thì là phàm
phu. Bồ tát hiện thân do ứng cảm của chúng sanh. Chúng sanh có cảm, Phật Bồ tát
liền có ứng. Chỗ này cũng giống như trên kinh Lăng Nghiêm: “tùy chúng sanh
tâm” mà cảm, “ứng sở tri lượng”. Ứng của Bồ tát phù hợp tương thích
với cảm của họ.
Bạn muốn thân Phật đến độ bạn, thì họ liền hiện thân Phật,
bạn muốn thân Bồ tát đến độ bạn, thì họ liền hiện thân Bồ tát. “Tất cả pháp
từ tâm tưởng sanh”, vậy có gì sai. Chúng ta tưởng Phật thì Phật liền xuất
hiện. Trong mười pháp giới, chúng ta biết Phật là thù thắng nhất, Phật viên mãn
nhất, thế thì tại sao không ngày ngày tưởng Phật?
Bên dưới lầu bốn chúng ta mở rộng làm niệm Phật đường. Tôi
liền nghĩ đến, tượng Phật phải cúng ngay giữa niệm Phật đường, bởi vì theo kinh
Hoa Nghiêm, niệm Phật nhất định lấy nhiễu Phật làm chủ đạo. Thiện Tài đồng tử
ra ngoài tham học, vị thiện tri thức thứ nhất là Đức Vân tỳ kheo. Đức Vân tỳ
kheo tu pháp môn niệm Phật. Ngài chọn phương thức niệm Phật Bát chu tam muội.
Bát chu tam muội chính là nhiễu Phật, cũng được gọi là Phật vị tam muội. Trong
kinh Phật nói, một kỳ ba tháng, chín mươi ngày nhiễu Phật, ngày đêm không được
nằm xuống. Tỳ kheo Đức Vân niệm Phật như vậy. Hiện tại chúng sanh mạt pháp, thể
lực không đủ nên không làm được. Nếu nhiễu Phật mệt thì có thể ngồi xuống nghỉ
ngơi một lát, uống nước một lát. Nghiêm trọng hơn, hoặc bất đắc dĩ thì có thể
nằm giường nghỉ một lát. Khỏe rồi phải vào niệm tiếp.
Chúng ta lấy nhiễu Phật làm chủ đạo, cho nên tượng Phật phải
cúng ngay giữa. Tôi vừa nói, thì cư sĩ Lý liền làm. Tốc độ làm của ông khiến
tôi kinh ngạc. Chỉ sau ba ngày, ông cho biết đã đặt tượng Phật bằng gỗ tràm ở
Trung Quốc. Hơn nữa, ông còn khắc ra bốn tôn tượng A Di Đà Phật đứng bốn mặt
trên một tòa sen. Bạn nhiễu Phật đến mặt nào cũng đều thấy A Di Đà Phật. Việc
này tôi không nghĩ đến. Tương lai ngay giữa niệm Phật đường, bốn mặt đều có thể
lạy Phật, chỉ tịnh, nghỉ ngơi điều thân. Nhưng nhiễu Phật là quan trọng nhất.
Nhiễu Phật nhất định phải mở miệng niệm ra tiếng. Chỉ tịnh
thì có thể niệm không ra tiếng hoặc ra tiếng. Lạy Phật cũng không cần niệm ra
tiếng vì sẽ bị tổn thân thể. Chúng ta niệm thầm khi lạy Phật, đồng thời quán
tưởng. Khi chỉ tịnh, nếu không thể niệm Phật thì có thể lắng nghe tiếng niệm
Phật, trong lòng không vọng tưởng, như vậy mới đúng pháp.
Tương lai vào quỹ đạo, niệm Phật đường sẽ phân làm ba khu.
Vòng tròn gần Phật tượng là khu vực lạy Phật, vòng ngoài là khu nhiễu Phật, hai
bên chỉ tịnh đối diện với tượng Phật. Hiện tại hai bên đều treo hình Phật. Đối
diện tượng Phật chúng ta nhiễu Phật, lạy Phật, ngoài ra không xem thấy điều gì,
không ai nhiễu loạn bạn. Bạn ở đây niệm Phật, một chút áp lực cũng không có.
Bạn có thể thoải mái, ưa thích, và hoan hỷ. Chính mình lạy Phật, bốn mặt đều có
thể lạy, lạy nhanh hay chậm tùy thích. Mỗi người cứ lạy theo cách của mình, chỉ
cần một câu Phật hiệu tròn đầy, như vậy mới tốt. Còn nếu lạy Phật cũng phải có
pháp sư đánh khánh dẫn chúng thì áp lực lại lớn, vì người khỏe cảm thấy quá
chậm, người yếu cảm thấy quá nhanh, chịu không nổi, thành ra than khổ. Thân tâm
không an ổn làm sao hành đạo.
Chúng ta đi nhiễu Phật mới cần pháp sư đánh khánh hướng dẫn
đi, còn chỉ tịnh và lạy Phật thì không cần. Khi thấy cơ thể quá mệt có thể nghỉ
ngơi một lát. Nghỉ ngơi khỏe rồi lập tức nhập chúng nhiễu Phật, niệm Phật. Như
vậy, niệm Phật đường này mới trường cửu, mọi người mới sanh tâm hoan hỷ. Tôi
tin tưởng khi niệm khoảng ba tháng, các vị có thể không cần phải ngủ nghỉ. Đó
là sự thật. Nhiều nhất là bạn chỉ ngủ hai ba giờ một ngày mà tinh thần vẫn đầy
đủ, thể lực tròn đầy, do bạn được oai thần Tam bảo gia trì, có thể thoát khỏi hôn
trầm. Ngủ nghỉ là hôn trầm. Bạn bị hôn trầm, trạo cử, hai loại tập khí trong
niệm Phật đường, nay đem nó tẩy sạch, hồi phục thân kim cang bất hoại của bạn.
Quá nhiều lợi ích không thể nói hết.
Thế giới Tây Phương Cực Lạc không
đi không được, nếu không đi thì chẳng phải là đại ngốc hay sao. Vậy thị hiện là
gì? Tuyệt đối không thể nói, tôi muốn thị hiện thân tướng gì thì thị hiện ra
thân tướng đó. Bạn có muốn cũng không thể. Vô số thị hiện không phải do chính
mình muốn, vì sao? Cảm ứng tương thông với mười phương thế giới tất cả chúng
sanh mà thị hiện. Chúng sanh có cảm, bạn liền có ứng. Không chỉ cảm ứng tương
thông với chúng sanh mà cùng với chư Phật Bồ tát cũng là cảm ứng tương thông.
Duyên Phật dạy bảo chúng ta đã chín muồi, đó là cảm của Phật. Chúng ta đến nơi
của Phật để bái Phật, thỉnh pháp, cầu giáo. Đó là ứng. Cho nên cảm ứng đạo giao
mang nghĩa rộng, không chỉ đối với cùng một giai tầng, hoặc đối với một giai
tầng thấp, mà đối với tầng Phật cao nhất cũng như vậy, không hề khác nhau. Phẩm
Phổ Môn, Bồ tát Quan Thế Âm đã nói “đáng dùng thân gì để độ thì liền hiện ra
thân đó; đáng dùng thân gì để tu học thì liền hiện ra thân đó”. Nam nữ già
trẻ, các ngành nghề, mỗi đoàn thể giai tầng trong xã hội, không thứ nào không
thể thị hiện. Không chỉ thị hiện chúng sanh hữu tình mà còn có thể thị hiện
chúng sanh vô tình; thị hiện núi sông đất đai, cây cối hoa cỏ. Cảnh giới của
câu kinh văn này sâu rộng vô hạn, đó là nói sanh đến thế giới Tây Phương Cực
Lạc, chúng ta có năng lực lớn như vậy.
“Thí thiện huyễn sư, hiện chúng
dị tướng”
“Huyễn sư” giống như hiện
tại chúng ta gọi là thầy ma thuật. Họ có phương tiện khéo léo, mặc dù chúng ta
biết họ biến hiện ra đều không phải thật. Thế nhưng bạn quan sát thấy rất giống
thật, gần như không chút hư dối. “Chúng” là nhiều người, “dị” là
khác nhau. Câu này giải thích cho câu “giai năng thị hiện”, có thể tùy
chúng hiện thân. Nếu thực tiễn trong cuộc sống hiện thực, thì Phật Bồ tát có
thể tùy loại hoá thân. Ngày nay chúng ta học tập bằng cách tùy chúng sanh để
hiện thân. Mỗi người trong một đời trải qua ngày tháng tùy hoàn cảnh sinh hoạt
khác nhau mà biến hóa thân phận. Đó là hiện chúng dị tướng.
Ví dụ ở trong nhà, đối với cha
mẹ, bạn hiện thân con cái; đối với con cái, bạn hiện thân cha mẹ,… Bước vào xã
hội, bạn hiện thân giám đốc, đổng sự trưởng, nhân viên, v.v… Thân phận của
chúng ta mỗi giờ mỗi phút thị hiện khác nhau, đối với những việc khác nhau,
những vật khác nhau, như vậy mỗi giờ mỗi phút đang khởi biến hoá. Đây nói rõ
một chân tướng sự thật. Tướng không có định tướng mà tuỳ theo duyên đang thay
đổi. Cho nên “nhập cảnh tùy tục, thung dung tự tại” là trí tuệ, là người
sáng suốt.
“Ư bỉ tướng trung, thật vô khả
đắc”
Cái lý này rất sâu rộng, nói đến
bất sanh bất diệt. Tôi sẽ giảng tỉ mỉ ở kinh Hoa Nghiêm. “Tướng” là hư
vọng, là pháp duyên sanh. Kinh đại thừa Phật dạy “tuỳ duyên chúng sanh mà
hiện tướng”. Nói cách khác, tướng hiện hành đều có nhân duyên rất phức tạp.
Tướng hiện ra nhất định không có tự tánh nên gọi là “duyên khởi tánh không”,
không có một tự thể chân thật nào. Kinh Bát Nhã cũng nêu: “không sở hữu, bất
khả đắc”, thực tế là vô khả đắc. Trong tất cả cảnh giới, tướng thứ nhất là
thân tướng của chính chúng ta, gọi là chánh báo. Còn sắc tướng ngoài thân và
hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta, gọi là y báo. Vì sao nói “tướng là hư
vọng, tánh là không tịch”? Bởi vì trong sự thật này không có năng sở. Nếu
có năng sở thì cái tướng này không hư vọng, cảnh giới cũng sẽ thật có. Cho nên
không có năng sở tuy nói có năng hiện sở hiện.
Kinh Hoa Nghiêm có câu: “duy
tâm sở hiện”. Tâm năng hiện. Tướng là sở hiện. Kinh Phật cũng nói năng sở,
thế nhưng nói đến sau cùng thì năng sở là một, không phải hai. Năng hiện tức là
sở hiện, sở hiện là năng hiện, việc này thật không dễ hiểu. Phật trên kinh luận
thường bảo: “Toàn vọng tức chân”. Vọng là tướng, toàn thể vọng tướng
chính là chân tướng, toàn thể chân tánh chính là vọng tánh. Phật nói rõ ràng
tường tận, nhưng người sơ học chúng ta vẫn rơi vào mù mịt. Cho nên Phật mới
thường lấy giấc mộng làm thí dụ. Ở đây dùng “huyễn sư” để thí dụ.
Khi chúng ta nằm mộng, trong mộng
có cảnh giới. Nếu lúc đó tôi hỏi bạn, tâm bạn chỗ nào? tâm bạn giống cái gì?
Thì cả thảy cảnh mộng chính là hiện tướng của tâm biến hiện. Tâm không có tướng
nhưng có thể hiện tướng. Lúc đó, bạn liền biết tâm của bạn như thế nào. Bạn
liền thấu suốt, năng biến là tâm, sở biến là vọng tướng, “toàn chân tức
vọng, toàn vọng tức chân”. Cả thảy cảnh mộng chính là tâm của bạn. Chúng ta
đều có kinh nghiệm nằm mộng. Từ trong mộng vừa tỉnh dậy mới thấy lời Phật dạy
tràn đầy đạo lý. Có bao nhiêu người thể hội được ý nghĩa này, bao nhiêu người
lấy đây làm thí dụ để quay đầu nhìn lại vào nhân sanh hiện thực của chúng ta.
Nhân sanh hiện thực cùng cảnh mộng không hề khác nhau. Kinh Kim Cang Bát Nhã
nói: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện,
ưng tác như thị quán”. Tất cả pháp hữu vi chỉ cảnh giới lớn đến như vậy.
Mười pháp giới đều là pháp hữu vi, không chỉ sáu cõi. Thanh văn, Duyên giác, Bồ
tát, Phật. Phật của Thông giáo, Phật của Biệt giáo đều thuộc về pháp hữu vi.
Trong pháp hữu vi cũng nói, mười pháp giới y chánh trang nghiêm toàn là mộng
huyễn bào ảnh.
Vì sao người phàm phu xem cảnh
mộng như thật? Đó là bởi vì tất cả chúng sanh biến kế chấp tạo thành. Tướng
phần này y theo nó mà khởi lên, chân thật mộng huyễn bào ảnh, như lộ như điện,
một chút không sai. Bạn đem nó xem thành chân thật rồi khởi lên vô số cảm thọ,
đây thuộc về biến kế sở chấp. Tâm bệnh xảy ra ngay chỗ này. Người ngộ thì biến
kế sở chấp của họ không còn. Xả biến kế sở chấp, họ liền thấy viên thành thật,
thấy được chân tướng của mười pháp giới y chánh trang nghiêm. Nói cách khác,
rời khỏi vọng bạn liền thấy được chân thật. Bạn muốn chấp trước vọng, đích thực
ở ngay trước mắt mà bạn không phát hiện ra. Phật Bồ tát dạy, bạn cũng không thể
tin tưởng, cho nên không luận cảnh giới phàm phu hay cảnh giới của chư Phật Như
Lai thị hiện, tóm lại đều bất khả đắc, đều vô sở hữu.
Câu “Ư bỉ tướng trung, thật vô
khả đắc” là sự thật ngàn vạn lần chính xác. Ngay trong những hư huyễn này,
bạn có thể thọ dụng. Tuy nhiên, bạn không thể có được nó. Khi dùng nó, bạn sẽ
rất tự tại, nhất định bất khả đắc. Kinh Bát Nhã nói: “ba tâm bất khả đắc”,
có nghĩa bạn năng đắc bất khả đắc. Bạn sở đắc là cảnh giới bên ngoài, bao gồm
tất cả người sự vật. Cảnh giới bên ngoài là “nhân duyên sanh pháp, duyên
khởi tánh không”, đương nhiên cũng là bất khả đắc. Tương tự với câu của
Phật: “Duyên sanh chi pháp, một hữu tự tánh, đương thể giai không, liễu bất
khả đắc”. Cho nên năng đắc sở đắc đều bất khả đắc. Nếu các vị chân thật
hiểu chân tướng này thì tâm liền định, vọng niệm không còn. Còn bạn vẫn có vọng
tưởng, vẫn vọng niệm thì bạn không hề biết gì đối với chân tướng sự thật. Tuy
ngày ngày đọc kinh nghe giảng nhưng không hề nghe hiểu, không hề tường tận. Dù
đọc mấy ngàn biến vẫn khởi vọng tưởng; ở trong cảnh giới vẫn có được mất, thị
phi, nhân ngã. Hoặc bạn có đọc nhiều hơn, nghiên cứu sâu hơn, nói được rõ ràng
đạo lý nhưng bạn chưa thể vào cảnh giới này. Điều đó có nghĩa, bạn không cách
nào đạt chánh thọ, tức thọ dụng chân thật của chư Phật Bồ tát. Chúng ta nêu
tiêu đề “tự tại tuỳ duyên”. Tự tại tuỳ duyên là thọ dụng chân thật, tự
tại chân thật, tùy duyên chân thật, một niệm không sanh.
“Thử chư Bồ tát, diệc phục như
thị”
“Thử chư Bồ tát” là những
vị Bồ tát dự hội. Đại chúng tham dự pháp hội này gồm hơn hai vạn người, trong
đó chúng tỳ kheo xuất gia là một vạn hai ngàn người, chúng tỳ kheo ni là năm
trăm người, chúng cư sĩ tại gia bảy ngàn người, nữ chúng tại gia năm trăm
người. Đó là số lượng chúng ta có thể nhìn thấy, còn mắt thịt không nhìn thấy
được thì nhiều vô kể. Trong đạo tràng còn có thiên thần, quỷ thần, rất nhiều Bồ
tát ở thế giới phương khác không hề thị hiện sắc tướng. Thỉnh thoảng có mấy vị
đại biểu thị hiện sắc thân.
Ý nghĩa câu “thử chư Bồ tát”
là bao gồm mỗi vị đồng tu chúng ta. Bạn là chúng xuất gia thì chỗ này nói tỳ
kheo, tỳ kheo ni; bạn là chúng tại gia thì chỗ này gọi là thanh tín sĩ. Do đây
mà biết quan hệ của kinh Vô Lượng Thọ với chúng ta rất mật thiết. Chúng ta gặp
được pháp môn này thật hoan hỉ.
“THÔNG CHƯ PHÁP TÁNH, ĐẠT CHÚNG
SANH TƯỚNG”
Kinh văn tuy không dài nhưng càng
nói càng sâu, càng nói càng diệu. “Thông” là hoàn toàn không chướng
ngại, hợp lại với chữ “đạt” phía sau, phản ánh sự thông suốt triệt để.
Nếu bạn không biết mười pháp giới y chánh trang nghiêm thật vô khả đắc thì bạn
không thể đoạn vọng tưởng, không thể thành nhất tâm. Chúng ta niệm Phật mục
đích phải đạt đến nhất tâm bất loạn, nhưng vì sao bạn không hiểu chân tướng sự
thật, không thể đạt nhất tâm bất loạn? Vì bạn không buông bỏ. Chỉ có người hiểu
tường tận, thông suốt chân tướng sự thật mới buông bỏ. Trong tất cả cảnh giới,
đích thực như kinh Kim Cang đã nói “bất thủ ư tướng, như như bất động”,
không còn dính mắc tướng bên ngoài, vì sao? Thật vô khả đắc, không còn chấp
trước đối với tất cả tướng cảnh giới. Có thể phân biệt nhưng quyết không chấp
trước. Sau khi buông bỏ chấp trước bạn liền định, liền vào tam muội, được chánh
thọ, khai trí tuệ. Cho nên hai câu này là huệ khai.
Câu “thông chư pháp tánh”
ý nghĩa thế nào? Như thiền tông có câu: “Minh tâm kiến tánh”, thì câu
này cũng là kiến tánh. Phật pháp đại thừa nói “đạt căn bản trí”, ở đây:
“đạt chúng sanh tướng”. Vậy “chúng sanh tướng” là gì? Chúng sanh
bao gồm tất cả hiện tượng đều là chúng duyên hoà hợp mà sanh khởi. Vạn nhất
không nên xem thấy đó là người, động vật, nói chung chúng sanh hữu tình chín
pháp giới. Như thế là bạn hoàn toàn sai lầm. Chúng sanh là hiện tượng do các
duyên hợp lại mà sanh khởi. Hiện tượng này không chỉ mười pháp giới y chánh
trang nghiêm mà pháp giới nhất chân cũng bao gồm trong đó. Thế giới Tây Cực Lạc
trong kinh này, thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật trong kinh Hoa Nghiêm
đều gọi là chúng sanh tướng, ý nói những hiện tượng này do đâu mà sanh khởi;
ngõ ngách ngọn nguồn, nhân quả lý sự. Bạn rõ ràng tường tận, thông suốt thấu
đáo gọi là hậu đắc trí.
Hậu đắc trí có nghĩa không gì
không biết. “Thông chư pháp tánh” là Bát Nhã Vô Tri, “đạt chúng sanh
tướng” là vô sở bất tri. Đó là thành tựu trí tuệ viên mãn. Thực tế, trí tuệ
viên mãn là tự tánh vốn đầy đủ, hoàn toàn thoát khỏi chướng ngại, gọi là thành
tựu trí tuệ viên mãn, không phải rời khỏi tự tánh riêng có thành tựu. Cổ đức vì
chúng ta cho biết Phật Đà có ba ý nghĩa, ba loại trí, hay ba loại giác. Ý của
Phật là trí giác. Trí là thể, giác là tác dụng. Ba loại trí này gồm nhất thiết
trí, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí.
“Nhất thiết trí” là thông
chư pháp tánh, hay căn bản trí, biết được vạn pháp giai không, biết tất cả pháp
vô sở hữu bất khả đắc.
“Đạo chủng trí”, “chủng”
là trùng trùng, có nghĩa rất nhiều chúng. “Đạo” là đạo lý. Hiện tượng
chúng nhiều do đạo lý gì sanh khởi. Thông đạt loại trí tuệ này thì gọi là đạo
chủng trí. Cái “chủng” bao gồm pháp giới nhất chân, mười pháp giới, tận
hư không khắp pháp giới, tất cả cõi nước chư Phật y chánh trang nghiêm, chính
là “Đạt chúng sanh bổn”.
“Nhất thiết chủng trí” ý
nói nhất thiết trí cùng đạo chủng trí là một, không phải hai. Bạn đem nó phân
thành hai sự việc thì sai lầm. Nó là một sự việc, như vậy bạn mới vào được pháp
môn không hai, chứng pháp giới nhất chân. Do đây mà biết Phật pháp quyết không
cho phép chúng ta rơi vào bên nào. Căn bản trí, hậu đắc trí là hai bên; nhất
thiết trí, đạo chủng trí cũng là hai bên, không cho phép bạn rơi vào bên nào mà
phải biết nó như một chỉnh thể viên mãn. Đây thực tế là trí tuệ chân thật. Sau
khi trí tuệ khai mở, họ liền được đại thọ dụng. Thọ dụng thế nào? Xem tiếp hai
câu sau
(Còn tiếp
…)
KINH
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC
Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG
Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ
Biên
tập: PT. Giác Minh Duyên
Discussion about this post