Đường Về Cực Lạc

ĐƯỜNG
VỀ CỰC LẠC
 

HT
Thích Trí Tịnh

 

PHẬT HUYỀN KÝ

Thời mạt pháp
ức ức người tu hành khó có một người đến giải thoát.

Chỉ nương pháp
môn niệm Phật
mà được thoát khỏi luân hồi

KINH ĐẠI TẬP

 LỜI NÓI ĐẦU

Cũng
là lời tự thuật
 

Thời gian qua, tôi từng tự nghĩ:

Ta cùng thập phương chư Phật đồng một bản chơn giác tánh,
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật há chẳng từng dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều
đầy đủ Như Lai trí huệ đức tướng”([1]) đó ư!

Từ khi sơ thỉ có thân, không phải là ta sau chư Phật. Tại
sao chư Phật, các Ngài đã giải thoát tự tại, đủ vô lượng trí huệ công đức thần
thông
, mà ta hiện vẫn bị buộc ràng trong vòng sanh tử, đầy vô biên phiền não
tội nghiệp khốn khổ? Phải chăng là do vì chư Phật sớm chứng ngộ bản chơn, còn
ta mải mê say trần dục! Thật là đáng hổ thẹn! Thật là đáng thống trách!

Tôi lại tự nghĩ:

Đã tự biết rồi, giờ đây ta phải kíp lo sao cho được giải
thoát
, và phải giải thoát nơi đời hiện tại này. Nếu trong đời hiện tại này mà
chưa được giải thoát, đời sau quyết khó bảo đảm, và có thể vẫn loanh quanh mãi
trong vòng luân hồi như những đời quá khứ thôi! Vì sao vậy? Có nhiều điều rất
chướng ngại con đường giải thoát của ta ở đời sau:

1.- Do phước lực tu hành hiện đời mà ta sẽ sanh lên các
cõi trời ư? Trong Kinh có lời: Chư Thiên cõi Dục, vì cảnh ngũ dục quá thắng
diệu dồi dào làm cho say mê, lại không có sự thống khổ làm cho thức tỉnh, nên
khó phát tâm chịu nhọc chịu khổ mà tu hành đạo hạnh. Hưởng phước vui mãi mà
không tu, tất có ngày hết phước mà phải sa đọa. Còn chư Thiên trong cõi Sắc và
Vô Sắc lại vì mãi an trụ trong cảnh giới thiền định, khó tấn tu đạo giải thoát,
lúc sức thiền định đã mãn vẫn y nhiên làm kẻ luân hồi.

Vĩnh Gia Thiền sư nói: Người tu phước sanh lên các cõi
trời
sẽ chiêu vời quả khổ ở tương lai, như bắn mũi tên lên hư không, khi sức đã
mãn tên lại rơi xuống đất.

Đó là sanh lên cõi trời thời không bảo đảm giải thoát.

2.- Ta sẽ được thân làm người nữa ư? Đui, điếc, câm,
ngọng trên mặt địa cầu rất lắm kẻ; Mán, Mọi, dã man cùng nhiều người; biết bao
xứ không Phật, Pháp, Tăng; nơi nơi đầy ngoại đạo tà giáo. Được thân người mà có
một trong các điều trên đây tất khó mong tu hành chánh đạo, tất sẽ lạc vào tà
ngoại. Ngoài ra nếu ta có phước mà sẽ làm vua, làm quan, làm nhà triệu phú:
“Sang giàu học đạo là khó” lời Phật rành rành trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương.
Hoặc giả đời trước có tu thiền quán mà được thông minh: “Thế trí biện thông” là
một trong bát nạn. Đó là chưa kể đến không biết bao nhiêu người lợi dụng sự
sang giàu tài trí để gây tạo những tội ác tày trời, mà ta thường nghe thường
thấy trong đời…

Dầu cho thân người đời sau của ta do căn lành mà ở ngoài
những chướng nạn ấy, nhưng theo lời Phật, Pháp càng ngày càng đi sâu vào thời
mạt, bậc minh sư thiện hữu chân chính tu hànhđạo lực rất là khó có khó gặp.
Thầy bạn giải thoát đã không, ai là người dẫn đường cho ta đắc đạo. Lại đương
nhằm kiếp giảm, tuổi thọ con người càng lúc càng bớt lần, đời sau tu hành chưa
được gì rồi kế chết, đời thứ ba thứ tư sẽ ra thế nào? Ta sẽ đi vào đâu?

Thế là dầu được sanh làm người trở lại, cũng không thể
bảo đảm là sẽ giải thoát.

3.- Phật nói: “Chúng sanh được thân người như đất dính
móng tay, còn sa vào ác đạo như đất toàn cõi đại địa”. Sau khi bỏ thân này, ta dám cả quyết là không đi xuống ư? Kinh nói:
“Phạm một tội nhỏ (kiết-la) phải đọa địa ngục bằng tuổi thọ của Tứ Thiên
Vương”. Huống là nghiệp chướng từ vô lượng đời đến nay khó có thể lường. E rằng
“Cường giả tiên khiên”, một bước trật chân chắc chắn là lăn xuống đến đáy hố
sâu. Đây là điều lo sợ cho đời sau mãi mãi trầm luân.

Ôi! Thân người khó đặng, Phật pháp khó được nghe. Nay ta
do túc thế thiện căn nên được hưởng ít chút dư âm của Như Lai, võ vẽ biết đôi
đường giải thoát, thật là đại hạnh! Thật là hy hữu! Ta còn chờ gì mà không thẳng bước tấn tu? Ta còn đợi chi mà chẳng kíp đoạn dòng sanh tử?
Và cả nhơn loại kia, cả mọi loài kia cũng đang nổi chìm trong biển khổ không
bờ, ta phải sớm thẳng đến Phật quả, để rồi vận thuyền từ bi nguyện lực cứu vớt
quần sanh, không thể dần dà được.

Rồi tôi tự gẫm:

Y cứ nơi Thánh giáo: Dứt sạch tam giới kiến tư hoặc mới
siêu thoát luân hồi. Nếu phiền não còn mảy may, cội gốc sanh tử vẫn chưa đoạn.
Đây là thông luận của Tiểu thừaĐại thừa.

Riêng phần Đại thừa, được bảo đảm trên con đường giải
thoát
thành Phật, tất phải vào bậc tín tâm bất thoái làm đầu. Chứng bậc này,
theo Khởi Tín Luận, phải là người đủ năng lực thiện căn huân tập, thâm tín nhơn
quả, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, phát Bồ-đề tâm, đặng gặp chư Phật
gần gũi cúng dường, tu Bồ Tát hạnh. Tu tập như vậy mãi đến đủ một vạn đại kiếp
tín tâm mới thành tựu.

Ôi! Như thế thời thế nào? Ta là chúng sanh thời mạt pháp,
tự thấy mình phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn. Chí nguyện được giải
thoát
nội hiện đời của ta, chí nguyện đi thẳng đến viên mãn Phật quả của ta, có
thể thành cảnh mộng ư?

Nhưng tôi tự an ủi:

Đức Phật Như Lai có dạy một phương tiện siêu thắng để bảo
đảm
sự giải thoát mà cũng để bảo đảm vững chắc đường thành Phật cho tất cả
chúng sanh:

Pháp môn Tịnh độ, Niệm Phật cầu sanh Cực Lạc thế giới!

Theo lời Phật, dầu là hạng cực ác mà chịu hồi tâm tu theo
pháp môn này trong một thời gian rất ngắn (10 niệm) cũng được vãng sanh; đã
được vãng sanh thời là siêu phàm nhập Thánh, thoát hẳn sanh tử, bất thoái
thượng Bồ-đề
.

Nương pháp môn này, ắt là ta sẽ được toại bổn nguyện:
giải thoát, thành Phật, độ sanh. Người cực ác tu còn thành tựu thay, huống ta
chưa phải là kẻ ác!

Từ ngày ấy, tôi lập chí kiên quyết nơi Tịnh độcố gắng
thực hành. Tôi giao phó pháp thân huệ mạng mình cho Đức Từ Phụ
A Di Đà Phật, coi cõi Cực Lạc là gia hương của mình, bớt lần sự duyên để chuyên
tâm
niệm Phật…

Dầu rằng sau khi thành Phật, sự độ sanh mới hoàn mãn cứu
cánh
, nhưng lòng lợi tha thúc giục, nên cũng tùy phần, đương lúc cố lo tự độ,
đồng thời khuyến tấn người hữu duyên. Muốn tất cả chúng sanh đều được giải
thoát
như mình, mong mọi người tấn hóa trước mình, đó là thân tâm của bần tăng
này.

Vì thế nên tôi không quản vụng về quê dốt gom góp những
chỗ những nơi chỉ dạy về “Pháp môn Tịnh độ” của Phật, Bồ TátCổ đức,
trong các Kinh các Luận chính thức, cùng diễn thuật các sự tích của Tăng, tục,
tứ chúng vãng sanh ở những bộ sách chánh truyền, mà tổ hợp thành bộ “Đường
về Cực Lạc”
này.

“Đường về Cực Lạc”con đường pháp dẫn ta và tất cả
chúng sanh từ xứ ác trược Ta Bà về đến thế giới thanh tịnh Cực Lạc. Cũng chính
“Pháp môn Tịnh độ” nói bằng một cách khác đấy thôi.

Bộ này chỉ là công trình sưu tập. Vì muốn thủ tín và để
giới thiệu các Kinh sách Tịnh độ với mọi người, nên mỗi bài, mỗi đoạn tôi đều
chua rõ trích ở bộ Kinh nào, bộ Luận nào, hay bộ sách nào. Trong đây dầu cũng
có những chỗ phải sửa đổi đôi chút để chỉnh đốn cho liền đoạn hay đổi lời cho
xuôi câu, nhưng tuyệt hẳn không đổi ý. Có thể tín nhiệm rằng: bộ sách này là
lời của Phật, của chư Bồ Tát, của Cổ đức, mà hoàn toàn không phải là ý riêng
của bần tăng này. Tôi còn muốn đặt gì thêm cho thành thừa, một khi mà lời Phật
ý Tổ đã quá đầy đủ trong muôn kinh vạn luận, vả lại kiến thức của hạng phàm đâu
sánh được với trí huệ của bậc Thánh! Gian hoặc có chỗ tôi chua thêm, như những
đoạn “lời phụ” chẳng hạn, bần tăng chỉ diễn thuật lại lời của bài trước cho rõ
nghĩa, nhấn mạnh điểm quan trọng, ghi nhắc điều khẩn yếu, hay khuyến khích sách
tấn, hầu giúp đôi phần lợi ích cho mọi người trong lúc xem lúc đọc mà thôi.

Về phần lược sử của các nhà tu Tịnh độ được vãng sanh,
tôi chọn lấy những truyện tích có ghi rõ công hạnh tấn tu, hay lời chỉ dạy xác
đáng, để có thể làm quy giám cho những người phát tâm tu hành, cùng giúp thêm hạnh
giải cho người đọc.

Đọc kỹ toàn bộ sách này, ngoài sự lợi ích lớn là được
hiểu rõ Tịnh độPháp môn Tịnh độ; được phát khởi tín, hạnh, nguyện nếu ta đã
phát; thành tựu tín, hạnh, nguyện nếu đã tăng trưởngviên mãn nếu đã thành
tựu
, ta lại có thể dùng đây làm ông bạn tốt chỉ chỗ phải, răn điều quấy trong
khi ta hành đạo, vì những căn trí, tâm tánh, những trường hợp, cảnh duyên,
những sự thuận trơn hay những điều thắc mắc của mỗi người trong chúng ta, không
nhiều thời ít, quyết định là có trúng vào các truyện tích trong bộ này.

Tôi chí thành cầu nguyện bộ sách này sẽ đem kết quả tối
thắng
lại cho tất cả mọi người, cho tất cả chúng sanh đúng như tên của nó:
“Vãng sanh Cực Lạc, trụ bậc bất thoái Vô thượng Bồ-đề”. 

Phật lịch 2497 ngày Phật Đản

Hân Tịnh Sa môn

Thích Trí Tịnh

(1953)

Phật dạy:

“Nếu có người
nào đã phát nguyện, hiện phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh về cõi nước Cực
Lạc
của A Di Đà Phật, thời các người ấy đều được chẳng thoái chuyển nơi
thượng Chánh đẳng Chánh giác
, và hoặc đã sanh về Cực Lạc rồi, hoặc đương sanh,
hoặc sẽ sanh.

Xá Lợi Phất! Vì
thế các thiện nam tín nữ nếu có lòng tin nên phải phát nguyện sanh về cõi đó”.
(KINH A DI ĐÀ)

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT


thắng phương tiện của Như Lai

Tất cả chúng sanh đều sẵn đủ trí huệ đức tướng như Phật
không khác. Chỉ vì trái giác tánh theo trần lao, nên toàn thể trí đức chuyển
thành vô minh phiền não. Rồi thuận theo phiền não gây tạo những nghiệp hữu lậu
kết thành những quả báo sanh tử trong tam giới. Từ quả báo sanh tử sanh phiền
não
rồi lại gây nghiệp hữu lậu… Vì cớ ấy nên chúng sanh từ vô thỉ đến nay,
trải vô lượng vô biên kiếp chịu khổ mãi trong vòng luân hồi sanh tử.

Vì lòng đại bi, Đức Phật xuất thế thuyết pháp độ sanh.
Nguyên bổn tâm của Phật chỉ muốn tất cả chúng sanh đều thoát hẳn sanh tử luân
hồi
chứng viên mãn Phật đạo mà thôi. Song vì chúng sanh căn tánh lợi độn không
đồng, trí ngu sai khác nên Đức Phật phải chiều theo cơ nghigiáo hóa. Do đó
nên pháp môn của Phật nhiều đến vô lượng.

Với chúng sanh hạng lợi căn đại trí, thời Đức Phật dạy
Phật thừa để đặng liền viên Phật quả. Như Thiện Tài trong pháp hội Hoa Nghiêm,
Long Nữ nơi đạo tràng Diệu Pháp

Với chúng sanh hạng căn trí kém, thời Đức Phật giảng Bồ
Tát thừa
, Duyên Giác thừaThanh Văn thừa, để cho hạng ấy lần lượt tu tập, tuần
tự
chứng quả.

Với chúng sanh trình độ quá thấp, thời Đức Phật nói Thập
thiện
Ngũ giới, Thiên thừa và Nhơn thừa, cho hạng ấy nương theo để khỏi sa đọa
vào ác đạo, đặng còn thân nhơn thiên mà vun bồi thiện căn lần lần. Tương lai
nương nơi căn lành ấy mà tấn tu Thánh đạo; hoặc học Bồ Tát thừa tu lục độ vạn
hạnh
chứng pháp thân, hoặc y theo Duyên Giác thừa hay Thanh Văn thừa ngộ
duyên sanh cùng Tứ đế mà đặng đoạn phiền não chứng Niết bàn

Tất cả những pháp môn ấy, bất luận là Đại thừa hay Tiểu
thừa
, Tiệm giáo hay Đốn giáo, nơi hành giả đều phải tự lực tu tập cho đến đoạn
thật hết phiền não mới ra khỏi vòng sanh tử luân hồi. Nếu kiến hoặc tư hoặc
còn chừng mảy tơ thời cội gốc sanh tử vẫn chưa dứt hẳn.
Như tam quả Thánh
nhơn (A-na-hàm) sau khi sanh lên Bất Hoàn Thiên, còn phải trải qua nhiều thời
gian
mới chứng quả A-la-hán. Chứng A-la-hán rồi mới là thật dứt hẳn cội gốc
sanh tử.

Nhưng A-la-hán chỉ là bậc Thánh Tiểu thừa còn cần phải
hồi tâm tu Đại thừa mà cầu Phật đạo: rèn bi nguyện hiện thân trong lục đạo, tu
hành
lục độ vạn hạnh, trên cầu thành Phật, dưới cứu khổ mọi loài, lần lượt
chứng các bậc: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập ĐịaĐẳng Giác Bồ
Tát
. Bậc Đẳng Giác lại phải dùng Kim Cang trí phá một phần sanh tướng vô minh,
mới viên mãn chủng trí mà chứng Phật quả (Diệu giác).

Giáo pháp của Đức Phật chỉ dạy, từng bậc tu chứng từ phàm
lên Thánh, từ Thánh đến Phật, quyết không thể vượt ngoài tuần thứ kể trên.

Đức Bổn Sư của chúng ta biết rằng nếu chúng sanh chỉ
dùng tự lực để liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập Thánh thời rất khó đặng,

nên ngoài vô lượng pháp môn chỉ thuộc tự lực, Ngài dạy một pháp môn tự lực
nương tha lực rất viên đốn, rất huyền diệu, dễ thực hànhthành công cao,
dùng sức ít mà mau có hiệu quả,
tất cả căn cơ đều hạp, tất cả Thánh phàm
đồng tu. Chính là Pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sanh vậy.

Do vì Đức Phật A Di Đà có bổn thệ nguyện lực nhiếp thủ
chúng sanh niệm Phật. Nên người dùng tín nguyệnniệm Phật (tự lực) thời cảm
thông
với nguyện lực của Phật, nương nguyện lực của Phật nhiếp thủ (tha lực)
liền đặng siêu thoát sanh tử luân hồi mà sanh về Cực Lạc Tịnh độ. Đã được vãng
sanh
tức là cao thăng và bậc Thánh lưu bất thoái, nên gọi là rất viên đốn,([2])
rất huyền diệu,([3])
thành công cao.

Nơi pháp môn này, phương pháp thực hành rất giản tiện,
mọi người đều có thể tùy phần tùy sứchành đạo. Chỉ cần chỗ tu cho đúng pháp
thời
chắc chắnthành tựu cả, nên gọi là dùng sức ít, dễ thực hành và mau có
hiệu quả. Tổ Thiện Đạo cho rằng nghìn người tu không sót một. Vĩnh Minh Đại sư
công nhận là mười người tu, được cả mười…

Với Pháp môn Tịnh độ này, không luận là kẻ trí hay ngu,
không luận là Tăng hay Tục, không luận là sang giàu hay nghèo hèn, không luận
là già trẻ nam nữ, không luận là sĩ, nông, công, thương… Tất cả các giới
trong xã hội đều có thể tu tập và đều có thể thành tựu được cả.

Văn Thù Bồ Tát nói: Các môn tu hành không môn nào qua môn
niệm Phật. Niệm Phật là “Vua” trong các pháp môn.

Đức Quan Thế Âm bảo: Tịnh độ pháp môn hơn tất cả hạnh
khác.

Mã Minh Đại sĩ cho rằng: Chuyên tâm niệm Phậtphương
tiện
siêu thắng của Đức Như Lai.

Long Thọ Tôn giả nói: “Niệm Phật Tam muội” có đại trí
huệ
, có đại phước đức, hay đoạn trừ tất cả phiền não, hay độ được tất cả chúng sanh, “Niệm Phật Tam muội” hay sanh
lượng
Tam muội cho đến “Thủ lăng nghiêm Tam
muội”.

Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói: Pháp môn niệm Phậttâm
tông
của chư Phật, là con đường giải thoát tắt nhứt của mọi loài.

Ấn Quang Đại sư từng nói: Vì nương Phật lực nên tất cả
mọi người, không kể là nghiệp hoặc nhiều hay ít, không kể là công phu hành đạo
cạn cùng sâu, miễn tin cho chắc, nguyện cho thiết, thời quyết muôn người
tu muôn người vãng sanh không sót một. Còn nếu là bậc đã đoạn hoặc chứng nhơn
cầu vãng sanh thời đốn siêu Thập Địa. Bậc Thập Địa mà cầu sanh thời mau viên
Phật
quả. Vì thế nên Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ v.v… các đại Bồ Tát
đều nguyện vãng sanh([4]).
Đến như những kẻ tạo ác cả đời sắp đọa địa ngục, hồi tâm niệm Phật cũng được
giải thoát
, như các ông: Trương Thiện Hòa, Trương Chung Húc, Hùng Tuấn, Duy
Cung v.v…([5])

Hạngngười phạm tội ác ấy mà còn được thành
tựu
thay, huống là những người chưa quá ác, huống là những người lành!

Do đây nên thấy rằng Pháp môn Tịnh độ này nhiếp cả Thánh
phàm, nhiếp cả thiện ác, nhiếp cả chúng sanh, như biển lớn gồm thâu muôn dòng
vậy.

Pháp môn Tịnh độ với chúng sanh có sự lợi ích rộng lớn
như thế, nên muôn kinh vạn luận luôn luôn nhắc đến, chư Thánh chư Hiền đồng
nguyện cùng về.

Thật là:

Cửu giới chúng sanh([6])
rời pháp môn này thời chẳng thể viên thành Phật quả.

Thập phương chư Phật bỏ pháp môn này quyết không thể độ
khắp quần sanh.

Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có lời huyền ký: “Thời mạt
pháp
, muôn ức người tu hành, khó có một người được giải thoát, chỉ nương nơi
pháp môn niệm Phật mà được thoát khỏi luân hồi”.

Đó là Phật bảo chúng ta phải tín
hướng
và thật hành
Pháp
môn Tịnh độ này vậy. Chúng ta há chẳng phải là người thời mạt pháp đó ư!

Vì những lẽ như trên mà biết rằng:

Ngoài môn “niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế
giới”,
quyết định chúng ta hiện đời không thể siêu sanh thoát tử được. Còn
đúng theo pháp môn “niệm Phật cầu sanh” này mà tu, chắc chắn một đời
hiện tại này chúng ta đặng vãng sanh Cực Lạc Tịnh độbảo đảm trên đường
thành Phật.

Tổng quát rằng: “Thiệt vì sanh tử phát Bồ-đề tâm, dùng tin sâu và nguyện thiết mà chuyên trì hồng danh A Di Đà Phật”. Đây là tông
thú chủ chánh của Pháp môn Tịnh độ này. Tâm hạnh đúng theo đây gọi là tu đúng
pháp.

Khi chúng ta được nghe giáo pháp của Đức Phật dạy về môn
Tịnh độ, chúng ta tự nghĩ rằng: Cõi Ta Bà là chốn ngũ trược ác thế, tam giới
như nhà lửa, cõi Dục mà chúng ta hiện ở đây khác nào một cái hố sâu đầy sình.
Ta và mọi người cho đến muôn loại, hiện tại cũng như dĩ vãng, nhiều đời nhiều
kiếp mang lấy không biết bao nhiêu là sự thống khổ trong vòng sanh tử luân hồi.
Ngày nay, ta được thân làm người lại được nghe biết pháp môn giải thoát mau tắt
siêu thắng, ta phải kíp quyết chí y pháp tu hành, để mình và mọi người đồng
thoát ly sanh tử khổ, đồng chứng chơn thường lạc”. Đây là “Thiệt vì sanh tử
phát Bồ-đề tâm
vậy.

Rồi ta tự nhận rằng: Thân cùng cảnh ở Ta Bà này đủ điều
chướng đạo: dễ sanh phiền não, dễ đắm nhiễm, dễ gây ác nghiệp; nội những sự
già, bệnh, chết, vô thường thiên biến cũng đủ ngăn trở con đường giải thoát của
ta. Còn thân cùng cảnh ở Cực Lạc rất là lợi đạo: thường được thấy Phật, luôn
nghe pháp âm nên tâm thanh tịnhđịnh huệ thành; ở chung với chư Đại Bồ Tát
thượng thiện nhơn thời Thánh nghiệp ngày tăng, chánh hạnh ngày tấn; không già
không bệnh, thọ mạng vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên nội một đời một thân
thẳng lên đến bậc Đẳng giác bổ xứ thành Phật.

Ta lại nhận định: Nguyện lực của Đức Từ Phụ A Di Đà Phật
rộng lớn bất tư nghị, nay ta đúng theo pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ
tu, quyết đặng Phật nhiếp thọ, quyết đặng vãng sanh, đã đặng vãng sanh tức là
trụ bậc Bất thoái mau thành Phật đạo, chỉ có nguyện lực của Phật là chiếc
thuyền từ có thể đưa ta ra khỏi biển khổ thôi! Chỉ có cõi Cực Lạcđại học
đường có thể đem ta đến bờ Đại Giác thôi!

Tự nhận như thế rồi bền chặt một lòng: nguyện thoát ly Ta
ác trược, như người tù muốn ra khỏi ngục tối không chút quyến luyến; nguyện
về đến Cực Lạc thanh tịnh, dường như trẻ thơ đi lạc mong mỏi được về nhà không
chút dần dà.

Nhận định như vậy, lập nguyện như vậy, đó là “Tin sâu
cùng nguyện thiết”
đấy.

Bắt đầu từ đây cho đến trọn đời, tùy trường hợp, tùy hoàn
cảnh
, tùy sức tùy phần, chí tâm trì niệm sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Đà
Phật”,
coi đó như là một công vụ hết sức khẩn yếu phải tận lực mà làm. Nếu
là người rảnh rang vô sự thì ngày liền đêm, lúc đi đứng cũng như lúc ngồi nằm,
giữ chặt chánh niệm: Phật không rời tâm, tâm không rời Phật; hoặc niệm ra tiếng hoặc niệm thầm, nhiếp cả sáu căn,
Phật hiệu nối luôn: đây là tương tục chấp trì; niệm như vậy lâu lâu sẽ tự chứng
Tam muội: hiện tiền thấy Phật thọ ký, lâm chung cao thăng thượng phẩm. Còn nếu
là người đa đoan công việc: việc nước, việc nhà v.v… không nhiều giờ rảnh,
thời nên tối và sáng sớm, thực hành phương “Thập niệm”, giữ mãi trọn đời không
sót không bỏ cũng được vãng sanh([7]).
Vì Đức Từ Phụ có bổn nguyện: “Chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu Ta rồi
chí tâm tin muốn, nguyện sanh về cõi nước của Ta nhẫn đến mười niệm, nếu chúng
sanh
ấy không được sanh, thời Ta không ở ngôi Chánh giác”.([8])

 Ngoài ra những người nào ở vào trường hợp chặng
giữa, thời châm chước phân thời định khóa mà thọ trì. Tất cả đều phải cung
kính
, chí tâm, kỹ chắc trong lúc trì niệm, là điều kiện khẩn yếu. Hành trì như
vậy gọi là “chuyên trì Hồng danh A Di Đà”, và đây là chánh hạnh.

Người niệm Phật cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới còn
cần phải làm những
điều lành: có lòng từ bi giới sát hộ sanh, bố thí, cứu tế, trì trai, giữ giới,
hiếu thảo cha mẹ, kính thờ Sư trưởng, phò trì Tam bảo, lợi mình lợi người, dẹp
lòng ngã mạn tham sân, thêm lớn hòa vui nhẫn nhục, sâu tin nhơn quả, mở mang
chánh kiến… dùng đây làm trợ hạnh([9]).

Tín nguyện đã có, chánh trợ đã đủ, đến lúc lâm chung, chắc
chắn
được Đức Từ Phụ cùng Thánh chúng thừa bổn nguyện lực đích thân đến tiếp
dẫn
vãng sanh Cực Lạc.

Dầu Tín, Nguyện và Hạnh phải đủ cả ba mới được vãng sanh,
như cái đảnh ba chân, thiếu một thời ngã, nhưng nên hiểu thêm rằng: được vãng
sanh
là do lòng tin sâu chắc, chí nguyện cho tha thiết để cảm thông với
nguyện lực của Phật, còn nơi công hạnh: ít thời quả thấp, nhiều thời phẩm cao.
Do vì công hạnh không hạn cuộc mà chú trọng nơi tín và nguyện như vậy, nên đoạn
trước có nói: “Tất cả người trong tất cả các giới ở xã hội đều có thể thật hành
và đều có thể thành tựu được cả”([10])
tín sâu nguyện thiết hạng người nào cũng có thể lập được, thập
niệm
niệm Phật
trường hợp nào cũng đều thực hành được.

Nội dung của bộ “Đường về Cực Lạc” này cũng không ngoài phạm vi “Tín nguyện hạnh”.

Các chương đầu thuật lại tiền thân của Đức A Di Đà Phật
và tả rõ chánh báo cùng y báo trang nghiêm của Cực Lạc thế giới để mọi
người
đối với Đức PhậtTịnh Độ được sự nhận thật, đã nhận thật tức là tin
chắc
chí nguyện tha thiết sẽ do đó mà lập được. Đến các chương kế thuật lược
sử của chư Bồ Tát, chư đại Tổ sư tự thân tu Tịnh độ mà được thành công, cùng
những lời dạy vẽ khuyên nhắc của các ngài, để mọi người bền vững tín tâm, kiên
quyết
chí nguyện, cùng hiểu rõ phương pháp hành trì để thẳng tấn tinh tu. Nhẫn
đến các chương về Tứ chúng vãng sanh, và cuối cùng, chương thích nghi cũng cùng
một mục đích ấy.

Phật dạy:

“Nếu người nào được nghe lời này nên phải phát nguyện:
nguyện sanh về Cực Lạc thế giới”

KINH A DI ĐÀ

Phật dạy:

Chúng sanh nào được nghe lời ta đã nói, nên phải phát
nguyện
cầu sanh về cõi nước ấy (Cực Lạc).

Vì đặng cùng với các bậc thượng thiện nhơn như thế (Bổ xứ Bồ Tát) câu
hội một chỗ…”

(KINH A DI ĐÀ)


[1] Lời của Phật
trong phẩm “Như Lai xuất hiện” Kinh Hoa Nghiêm

[2] Mau siêu phàm nhập Thánh, liền trụ bậc bất thoái.

[3] Phật lực bất tư nghị

[4] Đều có lược sử ở tập 1 này

[5] Đều có truyện tích ở tập sau

[6] Địa ngục giới, ngạ quỷ giới, súc sanh giới, tu la giới,
nhơn giới, thiên giới: 6 giới phàm; Thanh Văn giới, Duyên Giác giới, Bồ Tát
giới
: 3 giới Thánh. Cả 9 giới đối với Phật đều là chúng sanh.

[7] Phương này là của Từ Vân Sám chủ dạy cho các triều thần
quá nhiều công vụ: Nếu ở chỗ có thờ Phật thời kính lễ 3 lạy, rồi lấy hơi dài
chí tâm niệm Phật không luận là bao nhiêu câu cứ mãn một hơi thời kể một niệm,
mãn mười hơi là đủ mười niệm; kế thiết tha hồi hướng cầu sanh Cực Lạc rồi lễ
Phật
mà lui. Còn nếu chỗ ở khôngthờ Phật xoay mặt về hướng Tây cung kính
chắp tay xá rồi niệm và phát nguyện. Phương này là mượn hơi thởnhiếp tâm
vậy. Nếu ở chỗ không thờ Phật thời cung kính hướng về hướng Tây mà niệm.

[8] Một trong 48 điều nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ Phật.
Điều nguyện thứ 18.

[9] Trong bộ sách này sẵn đủ lời chỉ dạy của chư Thánh chư
Hiền
, nơi đây chỉ nói những điều đại khái thôi.

[10] Nhiều trăm truyện tích vãng sanh của bộ Đ.V.C.L. này đủ
chứng thật.

CHƯƠNG THỨ NHỨT

 

TIỀN
THÂN
CỦA CỰC LẠC GIÁO CHỦ A DI ĐÀ PHẬT

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
đã là một đấng lịch sử trong cõi Ta Bà, ngoài mấy nghìn năm, hình ảnh Ngài vẫn
in sâu nơi ký ức của nhơn loại, do truyện ký cùng di tích, nhứt là nét vàng rực
rỡ
trong Tam tạng. Đức Từ Phụ A Di Đà Phật cũng là một đấng hoàn toàn
lịch sửthế giới Cực Lạc, trên vài mươi thế kỷ, hồng danh mãi vang lên nơi
miệng, nơi tâm của tất cả, y cứ nơi kim ngôn của Đức Bổn Sư, đấng chơn thật
ngữ
.

Đức Bổn Sư trước khi hiện thân thành
đạo
Vô thượng ở cội Bồ-đề, để rồi trở nên vị Giáo chủ cao cả của cõi Ta Bà,
Ngài là Thiện Huệ Bồ Tát dâng hoa trải tóc cúng dường Phật Nhiên Đăng và
Hộ Minh Bồ Tát ngự ở cung trời Đâu Suất, v.v…

Đức Từ Phụ cũng thế, trước khi viên
thành
quả Chánh giác giữ ngôi Pháp VươngCực Lạc thế giới, Ngài cũng có nhơn
địa của Ngài : Vua Vô Tránh Niệm thời kỳ Phật Bảo Tạng, Vương tử
Thắng Công Đức
trong pháp hội của Phật Bảo Công Đức, Bồ Tát Sa Di
con trai của Đức Đại Thông Trí Thắng Phật v.v…

Trước khi nói đến thân và cõi hiện tại
của Đức Từ Phụ, ta cần nên rõ nhơn địa của Ngài, để biết rằng kết quả Vô thượng
đây, tất do nơi nhơn thù thắng thuở trước vậy.

I- BỒ TÁT SA DI

 

Trích thuật theo Kinh Pháp Hoa

phẩm Hóa Thành Dụ thứ 7 

Đức Đại Thông Trí Thắng Phật khi còn ở ngôi Quốc vương,
có 16 người con trai. Lúc Quốc vương bỏ ngai vàng xuất gia thành Phật, thời 16
vị Vương tử đồng vào pháp hội xin xuất gia làm Sa di. Trải qua một thời gian tu
học
, 16 vị Sa di chứng ngộ diệu lý, đều đặng thần thông trí huệ.

Sau khi giảng Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa
cho đại chúng trong pháp hội, Đức Đại Thông Trí Thắng Phật liền nhập
tịnh thất trụ trong đại định.

Thời gian Đức Phật ngồi yên lặng nơi tịnh thất, 16 vị Bồ
Tát
Sa di đều thăng pháp tòa giảng rộng nghĩa lý Kinh Pháp Hoa cho đại chúng.
Mỗi vị Bồ Tát Sa di độ được sáu trăm tám mươi muôn ức na-do-tha hằng hà sa
người.

Mười sáu vị Sa di đó hiện nay đều đã
thành Phật cả, đang ngự trong đạo tràngmười phương thế giới. Vị Sa di thứ 16
thành Phậtcõi Ta Bà hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Và vị thứ 9 hiện tại thành
Phật
Cực Lạc thế giới, tức là Đức Từ Phụ A Di Đà Phật.

II- THÁI TỬ THẮNG CÔNG ĐỨC

 

Trích
thuật theo Kinh

“Nhứt
Hướng Xuất Sanh Bồ Tát”

Về thuở quá khứ có ông Thái tử tên là Bất Tư Nghị Thắng
Công Đức
. Năm 16 tuổi, Thái tử được nghe Kinh “Pháp Bổn Đà-la-ni” nơi Đức Phật Bảo Công Đức Tinh Tú Kiếp Vương Như Lai.

Nghe Kinh xong, Thái tử tinh tấn tu tập
trong bảy muôn năm, không ngủ nghỉ, mà cũng không nằm không dựa. Nhờ sức dũng
mãnh
ấy, nên lần lần Thái tử được gặp chín mươi ức trăm nghìn Đức Phật. Bao
nhiêu Kinh pháp của chư Phật dạy truyền, Thái tử đều có thể thọ trì tu tập cả.
Về sau Thái tử xuất gia làm Sa môn, lại tu tập “Pháp Bổn Đà-la-ni” chín muôn
năm và giảng truyền Chánh pháp cho mọi người.

Tinh tấn tu hànhcần mẫn giáo hóa,
trong một đời hoằng pháp Thái tử độ được tám mươi ức na-do-tha người phát Bồ-đề
tâm
, trụ bậc bất thoái chuyển.

Thái tử Thắng Công Đứctiền thân của
Đức Từ Phụ A Di Đà Phật.

III-
VUA VÔ TRÁNH NIỆM VÀ HAI VƯƠNG TỬ

Trích thuật theo Kinh Bi Hoa

Vô lượng hằng hà sa kiếp về trước, ở thế giới San Đề Lam,
con trai của Phụ tướng Bảo Hải xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai.

Bấy giờ, Quốc vương Vô Tránh Niệm cùng
đi với Phụ tướng Bảo Hải, các vị Vương tử và thần dân, đến đạo tràng cúng dường
Đức Phật Bảo Tạng.

Sau khi nghe Đức Phật giảng dạy, Vua
cùng Phụ tướng đồng phát Bồ-đề tâm. Đức vua thời nguyện trang nghiêm Tịnh độ
để nhiếp thọ chúng sanh. Quan Phụ tướng thời nguyện thành Phậtuế độ hầu ngự
phục mọi loài.(A)

Đức Phật Bảo Tạng phán rằng : “Quá trăm
nghìn muôn ức Phật độ về phương Tây có thế giới của Tôn Âm Vương Như Lai, một
hằng hà sa a-tăng-kỳ kiếp sau, thế giới đó sẽ đổi tên là Cực Lạc; bấy giờ vua
sẽ thành Phật nơi ấy hiệu là Vô Lượng Thọ Như Lai. Và quan Phụ tướng Bảo Hải sẽ
thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu NiTa Bà thế giới”.

Quan Phụ tướng là tiền thân của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật. Đức vua Vô Tránh Niệm là tiền thân của Từ Phụ A Di Đà Phật.

Lúc vua Vô Tránh Niệm phát nguyện và được thọ ký xong,
Thái tử Bất Huyền, trưởng tử của vua, phát nguyện rằng : “Sau này, thời gian
tôi tu Bồ Tát hạnh, có chúng sanh nào gặp phải các sự khổ não khủng bố v.v…
sầu lo cô cùng không ai cứu hộ, không chỗ cậy nương, kẻ ấy nhớ đến tôi, xưng
danh
hiệu của tôi, được thiên nhĩ tôi nghe đến, thiên nhãn tôi thấy đến, nếu
những chúng sanh đó chẳng được thoát khỏi các sự khổ não khủng bố, thời tôi thề
trọn không thành bậc Chánh giác. Và khi vua cha thành PhậtCực Lạc thế giới,
thời tôi thường ở Cực Lạc thực hành Bồ Tát đạohộ trì Chánh pháp”.

Đức Bảo Tạng Như Lai phán với Thái tử : “Ông quan sát tất
cả chúng sanh mà sanh lòng đại bi, muốn dứt tất cả sự khổ não của chúng sanh,
và muốn làm cho chúng sanh đều được an lạc, nay nên đặt hiệu cho ông là Quan
Thế Âm
. Về sau lúc Đức Vô Lượng Thọ Phật nhập Niết-bàn, cõi Cực Lạc đổi tên là
Nhứt Thiết Trân Bửu Thành Tựu thế giới, ông sẽ thành Phật nơi ấy hiệu là Biến
Xuất Nhứt Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai”.

Bấy giờ Vương tử Ni Ma, con thứ của vua, phát nguyện đem
tất cả công đức hồi hướng Vô thượng Bồ-đề, và lúc Thái tử Bất Huyền thành Phật,
người sẽ là vị Bồ Tát thỉnh chuyển pháp luân trước nhứt, cũng thường ở luôn một
bên Sơn Vương Như Lai giúp Phật hoằng hóa.

Đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho Vương tử Ni Ma sẽ
được toại nguyện, lúc Sơn Vương Như Lai nhập Niết-bàn, người sẽ hộ trì Chánh
pháp
và sau cùng sẽ thành Phật nơi thế giới ấy, hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bửu
Vương Như Lai. Quang minh, thọ mạng, quốc độ, cùng tất cả Phật sự đều đồng như
đức Sơn Vương Như Lai.

Thái tử Bất Huyền là tiền thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, và
Vương tử Ni Ma là tiền thân của Đại Thế Chí Bồ Tát.

(A) LỜI PHỤ – Liên Trì Đại sư từng cho rằng giáo pháp của
Đức Phật có hai môn : 1.- Chiết phục. 2.- Nhiếp thọ.

Phật dạy : Đây là tam đồ lục đạo, tam
giới
như : nhà lửa, sanh già bệnh chết vô lượng sự khổ, vô thường sanh diệt
rình rập hại người, dục vọng phiền não trùm
phủ tâm người, cùng những phương pháp diệt khổ, để mọi người sanh lòng
nhàm lìa thân cảnh ô trược khốn khổ này, mà cầu mong được thoát khỏi v.v… Đây
là môn “Chiết phục”.

Đức Phật chỉ cõi Tịnh độ hoàn toàn an
vui cứu cánh thanh tịnh giải thoát, cùng những pháp môn Tịnh độ, để người ham
mộ nguyện về; đây là môn “Nhiếp thọ”.

Lời phê phán của Đại sư rất hiệp với
bổn nguyện của hai Đức Phật : “Thích Ca Mâu Ni Phật nguyệnuế độ để ngự phục
chúng sanh cang cường. A Di Đà Phật nguyện trang nghiêm tịnh độ để nhiếp thọ
chúng sanh thanh tịnh”.

*

Và dưới đây là truyện tích của một nhà
tu Tịnh độ được thân nghe những lời trên của Đức Từ Phụ.

SƯ HUỆ CẢNH

 

Trích ở bộ
:

“Tam
Bảo Cảm Ứng Yếu Lược”

Sư Huệ Cảnh người Lưu Châu, ở chùa Ngộ Chơn. Sư ưa
khổ hạnh, thích Tịnh độ, tự tạo hai tượng Thích CaDi Đà để hằng ngày cúng
dường
lễ bái.

Năm Sư 67 tuổi, đêm Rằm tháng Giêng,
thoạt thấy một thầy Sa môn thân ánh màu huỳnh kim hiện đến bảo rằng : “Ông muốn
thấy Tịnh Độ không ?”. Sư đáp : “Tôi muốn
thấy lắm”. Sa môn thân vàng lại hỏi :
“Ông muốn thấy Phật không ?”. Sư đáp : “Tôi mong được thấy”. Sa môn liền
đưa bát ra bảo nhìn. Sư vừa nhìn vào lòng bát, bỗng thấy hiện ra cảnh giới cực
kỳ trang nghiêm rộng lớn : đất toàn vàng
ròng
, dây vàng giăng phân đường sá, lưới báu phủ cây vàng, cung điện đền
đài trùng trùng điệp điệp đều bằng thất bảo sáng chói rực rỡ, Đức Phật đang thuyết pháp cho vô số Bồ Tát Thánh chúng.

Bấy giờ, Sa môn thân vàng đi trước, Sư
theo sau, bước lần đến trước Phật. Sa môn bỗng biến mất, Sư chắp tay đứng trước
Phật. Đức Phật bảo rằng : “Ông biết vị Sa môn dắt ông đến đây đó là ai không ?
Chính là Thích Ca Mâu Ni Phật đấy ! Còn ta đây là A Di Đà Phật. Thích Ca như
ông cha, ta đây như bà mẹ, chúng sanhTa Bà như con thơ. Ví như con thơ lọt
xuống hố bùn lầy, cha lội xuống lầy đem con lên bờ, mẹ đón bồng lấy con đem về
nuôi nấng dạy dỗ, làm cho con thơ vĩnh viễn không còn lạc lầm sa xuống hố nữa.
Phật Thích Ca đem pháp môn Tịnh độ truyền
dạy cho chúng sanh nơi cõi trược, còn ta thời tiếp dẫn chúng sanh về
Tịnh Độ trụ bậc bất thoái chuyển”.

Sư nghe Đức Phật phán xong, lòng vui
hớn hở, liền rập đầu lễ Phật, bỗng không còn thấy nữa, như người nằm mộng tỉnh
giấc
. Từ đó Sư càng tin hướng Tịnh độ hơn.

Ít lúc sau, Sư lại thấy vị Sa môn thân
vàng khi trước hiện đến bảo rằng : “12 năm sau ông sẽ được sanh về Cực Lạc”.

Quả thiệt đúng 12 năm sau, Sư Huệ Cảnh
viên tịch. Thọ 79 tuổi. Giờ Sư tịch, ông Tăng ở gần thấy vô số Thánh chúng từ
phương Tây bay đến rước Sư, và mọi người đồng nghe tiếng nhạc réo rắt trên
không
.

IV- PHÁP TẠNG BỒ TÁT

 

Trích
thuật theo Kinh

“Phật
Thuyết Vô Lượng Thọ”,

cũng gọi
“Đại Bổn A Di Đà Kinh”

Một hôm, nhơn thấy dung nhan của Đức
Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tươi tắn sáng rỡ khác hẳn ngày thường, Tôn giả A
Nan
bèn ra lễ Phật rồi bạch hỏi duyên cớ.

Đức Bổntán thán lời bạch hỏi đây,
công đức lớn hơn công đức cúng dường vô lượng vị Thanh Văn cùng Duyên Giác, mà
cũng lớn hơn công đức bố thí cho vô lượng hàng chư Thiên, nhân dân cầm súc
trong nhiều kiếp. Vì chư Thiên, nhân dân nhẫn đến các loài cầm súc đều nhờ lời
bạch hỏi này mà được đạo pháp giải thoát.

Rồi Đức Bổncho biết rằng, hôm nay
Ngài đang nghĩ đến bổn sự, bổn nguyện và bổn hạnh của Đấng giáo chủ Cực Lạc
thế giới
, Đức Phật A Di Đà.

Đức Bổn Sư phán tiếp :

Vô lượng vô số kiếp về trước, nhằm lúc
Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai xuất thế giáo hóa chúng sanh, có một Quốc vương
nghe Đức Phật thuyết pháp lòng rất vui thích, liền phát Bồ-đề tâm, từ bỏ ngai
vàng xuất gia làm Sa môn hiệu là Pháp Tạng.

Sa môn Pháp Tạng đến đảnh lễ Phật Thế
Tự Tại Vương, và sau khi thuyết tụng ca ngợi
Đức Phật, người cần cầu Đức Phật truyền dạy công hạnh trang nghiêm Tịnh
độ
nhiếp thủ chúng sanh, để người y theo tu hành.

Rõ biết Sa môn là bậc cao minh, chí
nguyện
sâu rộng, Đức Phật Thế Tự Tại VươngSa môn Pháp Tạng mà giảng nói y
báo
chánh báo của hai trăm mười ức thế giới, đồng thời lại hiện tất cả ra
cho thấy.

Khi nghe và được thấy y báo chánh báo
trang nghiêm của các quốc độ xong, Sa môn Pháp Tạng phát khởi tâm nguyện thù
thắng
vô thượng. Rồi trong thời gian năm kiếp, người suy gẫm chọn lấy công hạnh
trang nghiêm thanh tịnh Phật độ. (Bổn Sư nói với A Nan : Thời kỳ ấy, Đức Phật
thọ mười kiếp).

Khi tu tập xong, Sa môn Pháp Tạng đến
đảnh lễ Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai và cầu Đức Phật chứng giám cho người thuật
48 điều đại nguyện mà người đã lập thệ quyết thực hiện để tiếp độ tất cả chúng
sanh
([1]).

Lúc Pháp Tạng Bồ Tát đối trước Đức Phật
Thế Tự Tại Vương thuật 48 điều đại nguyện xong, thời khắp cõi đất đều rung
động
, hoa báu mưa xuống trên mình người, và giữa hư không tự nhiên tiếng nhạc
vang lừng : “Quyết chắc sẽ thành Phật”.

Sau đó trải qua vô lượng vô số kiếp,
Pháp Tạng Bồ Tát tu hànhthực hiện hoàn toàn các điều nguyện trên, và người
đã thành Phật đến nay được mười kiếp hiệu là A Di Đà, hiện đang ngự thuyết pháp
tại Cực Lạc thế giới, cách đây mười muôn ức cõi về hướng Tây.


[1] Xem 48 điều
nguyện ở chương “Hoằng nguyện” thứ ba

Phạn
ngữ
Buddha (Bụt đa), ta thường gọi là Phật, nghĩa là đấng giác ngộ (Giác
giả
) : nơi đây, sự “tự giác”, “giác tha” và công hạnh giác ngộ đã cứu cánh viên
mãn
. Nói cho rõ hơn, tức là bậc đã giác ngộ ngã chấp chứng lý nhơn không, dứt sạch
kiến tư phiền não, giải thoát phần đoạn sanh tử; khác hẳn với phàm phu ngoại đạo
còn tà kiến mê chấp ngã nhơn, khởi phiền não tạo nghiệp mãi trôi chìm trong biển
khổ sanh tử. Và là bậc đã giác ngộ pháp chấp chứng lý pháp không, phá sạch
minh
, thoát hẳn khổ biến dịch; khác với A-la-hán cùng Duyên Giác còn chấp lấy
pháp, bị vô minh che mờ bản chơn, mãi mắc trong vòng biến dịch khổ. Mà cũng
khác với hàng Bồ Tát, vì Bồ Tát dầu chứng lý mà chưa viên, dầu phá mê mà chưa tận,
còn Phật thời đã cùng tận viên mãn.

Cứ
theo
các nghĩa trên, Đức Phật nên gọi là đấng Vô thượng (đối với Bồ Tát)
Chánh đẳng (đối với Nhị thừa) Chánh giác (đối với phàm phu tà ngoại).
Đây chính là danh từ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Phật Đà mà các Kinh luôn
nói đến. Và còn cần phải hội ý nghĩa của mười hiệu : Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu
, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn
. Như thế mới hiểu rõ hạnh đức và
trí huệ của Đức Phật.

Lòng
kính ngưỡng với Đức Phật là điều quan trọng phải có nơi người niệm Phật. Muốn
có lòng kính ngưỡng chơn chánh phải nhận chơn điểm cao thượng của Phật. Vậy độc
giả
cần nên tham cứu cho tinh tường.

Các
danh từ trên là đức hiệu chung của chư Phật. Giờ đây chúng ta luận đến biệt hiệu
của Đức Từ Phụ.

Phạn
ngữ
Amita. Ta đọc trại A Di Đà, nghĩa là Vô Lượng.

Trong
Kinh Di Đà, Đức Bổn Sư từng vì đại chúng mà định nghĩa hồng danh của Đức Từ Phụ
: “Này Xá Lợi Phất ! Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà ? Này Xá Lợi Phất !
Đức Phật đó quang minh vô lượng, chiếu suốt mười phương không bị chướng ngại,
nên hiệu là A Di Đà. Đức Phật đó và nhân dân trong nước của Ngài, thọ mạng
lượng
vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên gọi là A Di Đà”.


quang minh vô lượngthọ mạng vô lượng nên trong các Kinh gọi Đức Từ Phụ A Di
Đà Phật
Vô Lượng Quang Phật (Kinh Hoa Nghiêm v.v…) mà cũng có nơi gọi
Vô Lượng Thọ Phật (Kinh Vô Lượng Thọ v.v…).

Trong
Kinh “Phật Thuyết Vô Lượng Thọ”, Đức Bổn Sư bảo ngài A Nan : Đức Phật A Di Đà
oai thần quang minh tối tôn đệ nhứt, quang minh của chư Phật không sánh kịp,
vì thế nên Đức Phật A Di Đà có 12 hiệu riêng :

1.
Vô Lượng Quang Như Lai

2
Vô Biên Quang Như Lai

3.
Vô Ngại Quang Như Lai

4.
Vô Đối Quang Như Lai

5.
Diệm Vương Quang Như Lai

6.
Thanh Tịnh Quang Như Lai

7.
Hoan Hỷ Quang Như Lai

8.
Trí Huệ Quang Như Lai

9.
Nan Tư Quang Như Lai

10.
Bất Đoạn Quang Như Lai

11.
Vô Xứng Quang Như Lai

12.
Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai

CHƯƠNG
THỨ BA

HOẰNG NGUYỆN VÀ ĐẠI HẠNH

Thuật theo Kinh
Lượng Thọ
 

Trong
thời kỳ tu nhơn, Đức Từ Phụ ta vì lòng từ bi quá thiết đối với tất cả chúng
sanh
, chẳng những muốn sao cho mọi loài đều khỏi tất cả sự khổ, mà còn nặng
trĩu
lấy quan niệm : Để tất cả chúng sanhvĩnh viễn trong sự an vui hoàn
toàn
bảo đảm chắc chắn trên con đường đi đến quả Phật.


quan niệm đại từ này, nên lúc còn là một vị Bồ Tát, Đức Từ Phụ ta luôn canh
cánh bên lòng một tâm chí bất di dịch : Tạo một thế giới vô cùng trang
nghiêm
thanh tịnh thuần vui, để làm gia hương của muôn loài, của tất cả chúng
sanh
mười phương.

Tâm trí cao
thượng đại từ đại bi ấy đã làm cho vua Vô Tránh Niệm (tiền thân của Từ Phụ) lập nguyện nơi Đức Bảo Tạng Như Lai, và cũng
đã làm cho Sa môn Pháp Tạng tha thiết thỉnh
cầu
Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai hiện hai
trăm mười ức thế giới của thập phương chư
Phật cho người được thấy được nghe, rồi người lọc lựa lấy thuần những sự trang nghiêm thanh tịnh nhứt trong những thế giới ấy, để hiệp thành một
Tịnh Độ của người sau này. Và liền đó trong
thời gian năm kiếp, người đã
chuyên cần suy gẫm những công hạnh phải tu để thực hiện Tịnh Độ ấy.

Việc
lọc lựa và suy gẫm này đã kết thành 48 điều hoằng nguyện, mà người đã trịnh trọng
tuyên ra, dưới sự chứng minh của Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai.

I – HOẰNG NGUYỆN

Do 48 điều nguyện này nên Đức Từ
Phụ
có những thiện duyên với chúng sanh trong mười phương nhứt là cõi trược uế
khổ não. Đọc và suy gẫm kỹ ta sẽ được nhiều lợi ích lớn :

A. Lòng tín nhiệm nơi Đức
Từ Phụ càng sâu.

B. Tăng trưởng Bồ-đề tâm

C. Rõ được cảnh giới trang nghiêm ở cõi Cực Lạc.

D. Hiểu được đặc điểm cao quý của người Cực Lạc.

E. Ham mộ về Cực Lạc và phấn chí tu hành.


có nhiều lợi ích lớn ấy, nên Cổ đức rất trọng 48 đại nguyện này. Người thời thuộc
nằm lòng, vị thời siêng lễ lạy([1]).
Mong chư độc giả cố gắng lướt qua quan niệm nhàm phiền.

Điều
nguyện thứ 1.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu trong cõi nước tôi có địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 2.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi sau khi thọ chung còn lại sa vào
ba ác đạo, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 3.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi thân chẳng màu vàng ròng tất cả,
thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 4.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi thân hình có kẻ tốt người xấu chẳng
đồng nhau, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 5.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng có Túc mạng thông, ít nhứt
là biết rõ những việc trong trăm nghìn ức na-do-tha kiếp, thời tôi không ở ngôi
Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 6.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng được thiên nhãn, ít nhứt là
thấy rõ trăm nghìn ức na-do-tha thế giới của chư Phật, thời tôi không ở ngôi
Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 7.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng được thiên nhĩ, ít nhứt là
nghe và thọ trì tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức na-do-tha Đức Phật, thời
tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 8.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng được tha tâm trí, ít nhứt là
biết rõ những tâm niệm của tất cả chúng sanh trong trăm nghìn ức na-do-tha thế
giới
, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 9.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng được thần túc, khoảng một niệm,
ít nhứt là lướt qua khỏi trăm nghìn ức na-do-tha thế giới, thời tôi không ở
ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 10.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi còn có quan niệm tham chấp lấy
thân, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 11.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi chẳng trụ Chánh định tụ, nhẫn đến
trọn diệt độ, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 12.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu quang minh còn hữu hạn, ít nhứt chẳng chiếu thấu trăm nghìn ức
na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 13.- Lúc tôi thành Phật, nếu thọ mạng còn hữu hạn, ít nhứt chẳng đến trăm nghìn ức
na-do-tha kiếp, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 14.- Lúc tôi thành Phật, chúng Thanh Văn trong cõi nước tôi, nếu có ai tính đếm
biết được số bao nhiêu, dầu đó là vô lượng Bích Chi Phật đồng tính đếm trong
trăm nghìn kiếp, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 15
.- Lúc tôi thành Phật,
nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi thọ mạng còn hữu hạn, trừ người có bổn
nguyện riêng, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 16.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi còn có người nghe danh từ bất thiện,
thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 17.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu vô lượng chư Phật trong thập phương thế giới chẳng đều ngợi khen xưng
danh
hiệu của tôi, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 18.-
Lúc tôi thành
Phật
, thập phương chúng sanh chí tâm tin mộ muốn sanh về cõi nước tôi nhẫn đến
mười niệm, nếu không được sanh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác, trừ kẻ tạo tội
ngũ nghịch cùng hủy báng Chánh pháp.

Điều
nguyện thứ 19.-
Lúc tôi thành
Phật
, thập phương chúng sanh phát Bồ-đề tâm tu các công đức nguyện sanh về cõi
nước tôi, đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người
đó, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 20.-
Lúc tôi thành
Phật
, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi và tu
các công đức chí tâm hồi hướng muốn sanh về cõi nước tôi, nếu chẳng được toại
nguyện
, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 21.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu như hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, tất cả chẳng đều đầy đủ ba
mươi hai đại nhơn tướng, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 22.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tát ở cõi khác sanh về nước tôi, cứu cánh quyết đều đến bậc Nhứt
sanh bổ xứ, trừ người có bổn nguyện riêng tự tại hóa hiện, vì chúng sanh
phát hoằng thệ tu các công đức độ thoát mọi loài, đi khắp các thế giới tu Bồ
Tát hạnh
, cúng dường thập phương chư Phật, khai hóa vô lượng chúng sanh, làm
cho tất cả đều đứng vững nơi đạo Vô thượng Chánh giác, siêu xuất công hạnh của
các bậc thông thường, hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền, nếu chẳng như thế thời
tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 23.-
Lúc tôi thành
Phật
, các Bồ Tát trong cõi nước tôi, thừa thần lực của Phật mà đi cúng dường thập
phương
chư Phật, trong khoảng thời gian một bữa ăn, nếu không đến khắp vô lượng
vô số ức na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 24.- Lúc tôi thành Phật, các Bồ Tát ở trong cõi nước tôi, khi ở trước thập
phương
chư Phật hiện công đức của mình muốn có những vật cúng dường, nếu không
được đúng như ý muốn, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 25.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi không diễn thuyết được Nhứt thiết
trí
, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 26.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu các Bồ Tát trong cõi nước tôi chẳng đều được thân kim cương na la
diên
, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 27.- Lúc tôi thành Phật, trong
cõi nước tôi, tất cả đồ dùng của nhơn thiên, hình sắc đều sáng đẹp sạch sẽ rất
tột vi diệu, không có thể tính biết, dầu là người được thiên nhãn. Nếu có người biện danh số các đồ ấy được rõ ràng, thời tôi không ở ngôi
Chánh giác.

Điều nguyện thứ 28.- Lúc tôi thành Phật, nếu Bồ Tát trong cõi nước tôi, dầu là người ít công đức
nhứt, chẳng thấy biết được cội cây đạo tràng cao bốn trăm muôn do tuần, vô lượng
quang
sắc, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 29.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết Kinh
pháp
, mà chẳng được trí huệ biện tài, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 30.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu có ai hạn lượng được trí huệ biện tài của Bồ Tát trong cõi nước tôi,
thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 31.-
Lúc tôi thành
Phật
, cõi nước tôi thanh tịnh, nơi nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số bất
tư nghị
thế giớimười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng
được như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 32.-
Lúc tôi thành
Phật
, trong cõi nước tôi từ mặt đất vàng lên đến hư không, lầu nhà cung điện,
ao nước hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ
hương hiệp chung lại mà thành. Vạn vật đều xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm xông khắp
thập phương thế giới, Bồ Tát các nơi ngửi đến mùi thơm ấy thời đều tu hạnh của
Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi không ở ngôi
Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 33.-
Lúc tôi thành
Phật
, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giớimười phương, được
quang minh của tôi chạm đến thân, thời thân tâm nhu nhuyến nhẹ nhàng hơn thiên
nhơn. Nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 34.-
Lúc tôi thành
Phật
, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giớimười phương
nghe danh hiệu của tôi mà không được Vô sanh Pháp nhẫn cùng các môn thâm tổng
trì
, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 35.-
Lúc tôi thành
Phật
, các người nữ trong vô lượng bất tư nghịmười phương vui mừng tin mến
phát Bồ-đề tâm, nhàm ghét thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân người
nữ nữa, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 36.- Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong
lượng
bất tư nghị thế giớimười phương nghe danh hiệu tôi, vẫn thường
tu phạm hạnh mãi đến thành Phật. Nếu chẳng đặng
như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 37.- Lúc tôi thành Phật, hàng nhơn thiên trong vô lượng bất tư nghị thế giới
mười phương nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng
tin mến tu Bồ Tát hạnh, thời chư Thiên và người đời đều kính trọng người đó. Nếu
chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 38.-
Lúc tôi thành
Phật
, hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi muốn có y phục, thời y phục tốt đúng
pháp liền theo tâm niệm của người đó mà tự nhiên đến trên thân. Nếu còn phải cắt
may nhuộm giặt, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 39.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi hưởng thọ sự vui sướng không như vị
lậu tận Tỳ kheo, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 40.-
Lúc tôi thành
Phật
, các Bồ Tát trong cõi nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh
của chư Phật ở mười phương, thời liền được thấy rõ cả nơi trong cây báu đúng
theo ý muốn như thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng như vậy, thời tôi
không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 41.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tátthế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó nhẫn đến
lúc thành Phật mà các sắc căn còn thiếu xấu, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 42.- Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tátthế giới phương khác nghe danh hiệu tôi,
thảy đều được giải thoát Tam muội. Trụ Tam muội đó, trong khoảng thời gian một
niệm, cúng dường vô lượng bất tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà vẫn không mất chánh
định
. Nếu chẳng như vậy thời tôi không ở
ngôi Chánh giác.

Điều nguyện thứ 43.- Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát
phương khác nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung thác sanh nhà tôn
quý, nếu chẳng như vậy thời tôi không ở ngôi
Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 44.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở, tu Bồ Tát
hạnh
vẹn đủ công đức, nếu chẳng như vậy thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 45.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi đều đặng Phổ đẳng Tam muội,
trụ Tam muội này mãi đến lúc thành Phật, thường được thấy vô lượng bất tư nghị
tất cả chư Phật. Nếu chẳng như vậy, thời tôi
không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 46.-
Lúc tôi thành
Phật
, chúng Bồ Tát trong cõi nước tôi muốn nghe pháp gì, thời liền tự nhiên đặng
nghe pháp ấy. Nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 47.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu chúng Bồ Tátthế giới phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng được
đến bậc bất thoái chuyển, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.

Điều
nguyện thứ 48.-
Lúc tôi thành
Phật
, nếu chúng Bồ Tátthế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, mà chẳng liền
được đệ nhứt Âm hưởng nhẫn, đệ nhị Nhu thuận nhẫn, đệ tam Vô sanh Pháp nhẫn, ở
nơi Phật pháp chẳng liền được bậc bất thoái chuyển, thời tôi không ở ngôi Chánh
giác
.

II – ĐẠI HẠNH

Trong
Vô Lượng Thọ Kinh, sau lúc tường thuật 48 điều hoằng nguyện của Pháp Tạng Bồ
Tát
xong, Đức Bổn Sư phán tiếp :

Sau
khi lập hoằng nguyện này rồi, Pháp Tạng Bồ Tát chuyên chí trang nghiêm tịnh độ.
Cõi nước của người tu tạo rất rộng lớn tốt đẹp, siêu thắng hơn tất cả, y nhiên
thường lập, không hư, không đổi. Trong thời gian vô lượng bất tư nghị triệu tải
kiếp, người gây trồng vô lượng đức hạnh Đại
thừa
. Không có tưởng niệm : dục, sân, hại. Chẳng hề ham mê cảnh lục trần
: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Người thành tựu nhẫn lực không kể đến sự khổ
nhọc. Lúc nào người cũng thiểu dục tri túc : không tham, không sân, không si.
Tâm người thường yên lặng nơi chánh định, trí huệ vô ngại. Người không bao giờ
có lòng dua dối. Nét mặt người luôn luôn vui vẻ, lời nói dịu dàng, niềm nở hỏi
han. Chí nguyện luôn tinh tấn dũng mãnh không hề nhàm mỏi : người chuyên cần
cầu lấy pháp trọn lành để lợi ích quần sanh.
Với Tam Bảo thời người cung
kính
. Với Sư trưởng thời người phụng thờ. Người dùng công hạnh đại trang nghiêm
hoàn mãn của người mà làm cho chúng sanh thành tựu công đức. Người quan sát các
pháp đều như huyễn, như hóa, không tạo tác, không sanh khởi, luôn trụ trong môn
giải thoát : không, vô tướng, vô nguyện. Người xa hẳn lời nói thô cộc : hại
mình, hại người, mình người đồng hại. Người tu tập trọn nên lời nói hiền lành :
lợi mình, lợi người, mình người đồng lợi. Người vất bỏ sự giàu sang, xa tránh
những tài sắc. Người thực hành sáu pháp Ba-la-mật : bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí huệ, và dạy mọi người cùng thực hành. Người giáo hóa
an lập vô số chúng sanh làm cho đều đứng vững nơi đạo Vô thượng Chánh giác. Vì
độ chúng sanh mà người hiện thân trong mọi loài, cùng đồng hình thể, cùng đồng
ngôn ngữ, để tùy cơ tùy thờidìu dắt

Pháp
Tạng
Bồ Tátvô lượng công đức như vậy không thể kể hết. Người thực hiện hoàn
thành
những hoằng nguyện của người đã lập : Người đã thành Phật hiệu là A Di
Đà
tại Cực Lạc thế giới, cách đây mười muôn ức cõi về hướng Tây, và hiện tại
đang thuyết pháp nơi ấy…

 

LỜI
PHỤ.-
Trong 48 điều hoằng
nguyện, nguyện nào cũng đồng một mục đích đại từ bi :

Làm
cho chúng sanhvĩnh viễn trong cảnh an vui hoàn toànbảo đảm chắc chắn
trên con đường thành Phật.

Đến
đại hạnh độ mình độ người để thực hiện bốn nguyện trên, trong ấy, bao nhiêu là
sự dũng mãnh tinh tấn, bao nhiêu là sự kiên nhẫn cần lao. Kể sao xiết nơi hạnh
thanh tịnh ! Kể sao xiết nơi trí cao thượng
! Không nệ khó, không nệ nhọc. Thật
là làm những điều khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn.


ai mà trong lúc tu nhơn, Đức Từ Phụ ta phải trải qua thời gian vô lượng số kiếp
cần khổ thực hành Bồ Tát hạnh như thế ? Chỉ vì chúng sanh ! Vì để cứu khổ
ban vui cho mọi loài, cho chúng ta thôi !

Nhơn
hạnh của Đức Từ Phụ chúng ta đã được biết. Giờ đây chúng ta nên đọc đến những
trang Kinh, mà nơi ấy, Đức Bổn Sư của chúng ta giảng về quả địa của Từ Phụ.

A.
Thân tướng thù thắng của A Di Đà Phật và hai vị Bồ Tát phụ bật.

B.
Cảnh Tịnh Độ trang nghiêm : “Cực Lạc thế giới”.


[1] Đại đức Tuyệt Tướng và Giác
Nguyên Đại sư, người đời nhà Thanh (Xem lược sử ở quyển chư Tăng vãng sanh
sau).

 

Dưới
đây là thuật theo lời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trong Kinh Vô Lượng
Thọ
, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Phật Thuyết A Di Đà.

Thân
của Đức A Di Đà Phật như trăm nghìn muôn ức lần sắc vàng diêm phù đàn của trời
Dạ Ma, cao sáu mươi muôn ức na-do-tha hằng hà sa do tuần([1]).
Lông trắng giữa đôi mày uyển chuyển xoáy tròn về phía hữu như năm trái núi Tu
Di
. Đôi mắt trắng và xanh biếc phân minh như bốn đại hải. Các lỗ chân lông nơi
thân đều phóng ánh sáng như núi Tu Di. Viên quang của Phật như trăm ức cõi Đại
thiên
. Trong viên quang có trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa vị Hóa Phật. Mỗi
Hóa Phật lại có vô số hóa Bồ Tát theo hầu.

Thân
mình của Đức Phật có tám muôn bốn nghìn tướng tốt, mỗi tướng có tám muôn bốn
nghìn tùy hình hảo. Mỗi hình hảo có tám muôn bốn nghìn tia sáng. Mỗi tia sáng
chiếu khắp thập phương thế giới, nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật không bỏ rời.

Sắc
đẹp của những tia sáng, cùng với Hóa Phật, không thể dùng lời mà tả xiết…

Muốn
quán tướng hảo của Phật, thời nên quán tưởng lông trắng giữa đôi mày trước. Nếu
tướng lông trắng hiện rõ, thời bao nhiêu tướng hảo khác, tự lần lượt hiển hiện.

Đức
Quan Thế Âm là vị đại Bồ Tát thường hầu cận phía tả của Đức Từ Phụ, và Đại Thế
Chí Bồ Tát
, vị hữu dực. Hai vị Đại sĩ giúp Đức Từ Phụ những việc giáo hóa trong cõi, cùng phân thân khắp mười
phương
để cứu khổ mọi loài, và rước người
có tịnh duyên về Cực Lạc Tịnh Độ.
Dưới đây là thân tướng thật của Bồ
Tát
, thuật theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ. Ngoài ra những hình khác như người đời
thường nhận thấy, đều là thân ứng hiện theo cơ cảm của chúng sanh thôi.

Thân
của Quan Thế Âm Bồ Tát cao tám mươi muôn ức na-do-tha do tuần, da màu vàng tử
kim. Trên đỉnh đầu có nhục kế. Có vầng sáng tròn mỗi phía rộng trăm nghìn do tuần.
Trong vầng sáng tròn ấy có năm trăm vị Hóa Phật, mỗi vị Hóa Phật tướng tốt như
Phật Thích Ca Mâu Ni và có năm trăm vị Hóa Bồ
Tát
chầu chực.

Toàn
thân
ánh sáng chiếu suốt mười phương, hình tướng của tất cả chúng sanh trong lục
đạo
đều hiện rõ bóng trong ánh sáng ấy.

Trên
đầu Bồ Tátthiên quan. Trong thiên quan có một vị Hóa Phật cao hai mươi lăm
do tuần.

Mặt
Bồ Tát sắc vàng diêm phù đàn.

Lông
trắng giữa đôi mày đủ bảy màu báu đẹp, chiếu ra tám muôn bốn nghìn thứ tia sáng
thấu khắp mười phương. Trong mỗi tia sángvô số vị Hóa Phậtvô số Hóa Bồ
Tát
.

Cánh
tay của Bồ Tát màu như hoa sen hồng, tám mươi ức tia sáng đẹp kết thành chuỗi
ngọc
. Bàn tay năm trăm ức màu hoa sen hồng. Đầu ngón tay có tám muôn bốn nghìn
lằn chỉ. Mỗi lằn chỉ, có tám muôn bốn nghìn tia sáng. Tia sáng ấy dịu dàng chiếu
sáng mười phương.

Quan
Thế Âm
Bồ Tát dùng bàn tay báu này tiếp dẫn chúng sanh về Cực Lạc.

Lúc
Bồ Tát cất chân lên, từ nơi nghìn xoáy chỉ ở lòng bàn chân tự nhiên hóa thành
năm trăm ức quang minh đài. Lúc Bồ Tát để chân xuống thời tự nhiên bông kim
cương
như ý rưới khắp mọi nơi.

Muốn
quán tướng hảo của Bồ Tát, thời nên bắt đầu quán thiên quan trước, rồi sẽ tuần
tự
quán các tướng khác…

Thân
lượng của Đại Thế Chí Bồ Tát đồng như thân lượng của đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Viên quang nơi cổ mỗi phía rộng 125 do tuần, chiếu xa 250 do tuần. Ánh sáng của
toàn thân màu vàng tử kim chiếu thấu thập phương thế giới, người có duyên liền
được thấy. Chỉ thấy được ánh sáng nơi một lỗ chân lông của Bồ Tát, thời liền được
thấy quang minh tịnh diệu của vô lượng chư Phật ở mười phương. Vì thế nên Bồ
Tát
có hiệu là Vô Biên Quang.

Bồ
Tát
dùng ánh sáng trí huệ chiếu khắp mọi loài, làm cho chúng sanh thoát khỏi
tam đồ đặng thành vô thượng lực nên lại hiệu là Đại Thế Chí.

Thiên
quan
của Bồ Tát có năm trăm bảo hoa. Mỗi bảo hoa có năm trăm bảo đài. Hình tướng
những thế giới tịnh diệu của chư Phật ở mười phương đều hiện rõ bóng trong mỗi
bảo đài.

Trên
đỉnh đầu, nhục kế hình như hoa sen hồng. Trên nhục kế có một chiếc bình báu đầy
ánh sáng. Ánh sáng trong bình chiếu ra thành những Phật sự. Ngoài ra những tướng
hảo
khác đều giống như đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Lúc
Đại Thế Chí Bồ Tát đi thời chấn động cả thập phương thế giới([2]).
Chính chỗ đất động đó có năm trăm ức bảo hoa. Mỗi bảo hoa cao đẹp trang nghiêm
như Cực Lạc thế giới.

Lúc
Bồ Tát ngồi, toàn cõi Cực Lạc đồng thời lay động. Từ thế giới của Đức Kim Cương
Phật
ở Hạ phương đến thế giới của Đức Quang Minh Vương Phật ở Thượng phương,
trong đó vô lượng trần số phân thân của Vô Lượng Thọ Phật, phân thân của Quan
Thế Âm
cùng của Đại Thế Chí tất cả đều vân tập nơi Cực Lạc thế giới, đông chật
cả hư không. Mỗi phân thân đều ngồi tòa sen báu, đồng diễn nói diệu pháp, cứu
khổ
chúng sanh


Triệu Đải người Ung Châu, ông rất tin tưởng đức Đại Thế Chí Bồ Tát và siêng niệm
Phật
.

Thân
phụ
của ông không tin Phật pháp, hay bài bác. Ít lâu, thân phụ ông bỗng mang bệnh
thổ huyết chết.

Ông
Đải lên cốt tượng đức Đại Thế Chí bằng vàng cao ba thước (thước tàu) để hồi hướng
cầu vong linh thân phụ được siêu độ. Ngày khởi sự trổ tượng, khắp mặt đất bỗng
rung động.

Hai
tháng sau, cốt tượng hoàn thành. Đêm ấy, trong khi ngủ, ông Đải thấy một người
thân ánh sắc vàng, đầu đội thiên quan bảo rằng : “Ngươi biết đất rung động hôm
trước đó là cớ chi không ? Ta chính là Đại Thế Chí Bồ Tát đây. Ngươi lên cốt tượng
nên ta đến chứng minh. Lúc ta bước chân đi thời cả đại thiên đều chấn động. Nhiều
chúng sanh trong ác đạo được thoát khổ. Ta nương pháp môn niệm Phật mà chứng
sanh nhẫn
, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phậtmười phương. Nhờ ngươi lên cốt tượng
và siêng niệm Phật, nên thân phụ ngươi được ra khỏi địa ngục, ta đưa tay dắt về
Tịnh Độ.”.

Nghe Bồ Tát dạy xong, ông Đải vội cúi đầu đảnh lễ. Chợt tỉnh giấc. Trong
lòng vui mừng cảm động vô ngần. Từ đó sự tu niệm của ông càng tinh cần hơn.


[1] Na-do-tha : Đồng với số ức của ta.

 Hằng hà sa :
một số lớn, nhiều như toàn số cát trong lòng sông Hằng.

 Do tuần, có
ba hạng : 40 dặm tàu, 60 dặm, 80 dặm.

[2] Dưới đây là một truyện tích trích trong bộ “Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược” để
chứng thật lúc Bồ Tát đi thời chấn động cả thế giới.

 

Trích thuật theo các Kinh “Vô Lượng Thọ”,

“Quán Vô Lượng Thọ”, “A Di Đà”

CỰC LẠC THẾ GIỚI

Định
danh
: Trong hội Kỳ
Viên
, Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật bảo ngài Xá Lợi Phất : “Cõi đó vì sao gọi
Cực Lạc ?”. Rồi Đức Bổn Sư tự giải thích : “Vì chúng sanh trong cõi đó
không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui, nên gọi là Cực Lạc”.

A – CẢNH VẬT

1. BẢO ĐỊA

Toàn
cõi Cực Lạc, đất lưu ly trong suốt. Phía dưới có tràng kim cương nâng đỡ. Tràng
kim cương ấy tám gốc đều đặn, mỗi mặt có trăm
thứ bảo châu. Mỗi bảo châu phóng nghìn tia sáng. Mỗi tia sáng có 84.000
màu, chói đất lưu ly sáng như nghìn ức mặt trời. Mặt lưu ly bằng phẳng, có dây
vàng ròng cùng thất bảo giăng phân khu vực và đường sá. Mỗi dây báu phóng tia
sáng
trăm màu. Tia sáng ấy hình như hoa, như sao, như trăng, chiếu lên kết
thành đài sáng chói ở giữa chừng không. Bên những đài sáng ấy có trăm ức tràng
hoa
, cùng vô số nhạc khí. Từ trong đài sáng thổi ra tám thứ gió nhẹ mát, làm
rung động những nhạc khí ấy reo lên tiếng diễn nói pháp “Khổ, Không, Vô thường,
Vô ngã, Từ bi, Hỷ xả, các môn Ba-la-mật”.

2. BẢO THỌ

Trên Bảo địa
vô số cây Chiên đàn hương, vô số cây Kiết tường quả, ngay hàng thẳng lối, nhánh,
lá, bông, trái đều đặn chỉnh tề. Mỗi cây cao 8.000 do tuần. Thân, lá, bông,
trái đều là chất thất bảo. Hoặc thứ cây thuần vàng, thuần bạc, thuần lưu ly,
thuần pha lê, thuần xa cừ, thuần mã não, thuần chơn châu. Hoặc thứ cây gốc vàng
thân bạc, nhánh lá bông trái cũng phân vàng bạc, đây là cây hai chất báu. Có
thứ cây gốc vàng, thân bạc, nhánh lưu ly, lá bông trái cũng phân vàng, bạc, lưu
ly
, đây là cây ba chất báu. Hoặc thứ cây thời bốn chất báu, thứ thời năm chất
báu, thứ thời sáu chất báu, thứ thời bảy
chất báu, cũng xen lẫn nhau hiệp thành.

Tất
cả Phật sự trong cõi Cực Lạc đều hiện rõ bóng trong cây, và cả thập phương thế
giới
cũng hiện bóng rõ trong cây, như trong gương sáng.

Mỗi
lá rộng 25 do tuần, một nghìn màu, đồng phóng ánh sáng đẹp, làm gân lá như chuỗi
ngọc
.

Những
bông xinh đẹp sắc vàng diêm phù đàn xen
trong kẽ lá, sáng rỡ như những vòng lửa. Trên bông tự nhiên có trái thất
bảo
hình như chiếc bình quý của Thiên Đế.
Nơi trái phóng ra ánh sáng lớn tụ
thành vô lượng tràng phan cùng bảo
cái
. Trong bảo cái ấy chói hiện tất cả Phật sự trong nước Cực Lạc cùng cả thập phương thế giới.

Bảy
lớp lưới kết bằng diệu chơn châu giăng trên mỗi bảo thọ. Mỗi khoảng lưới có
cung điện xinh đẹp như cung trời Phạm Vương. Trong cung điện tự nhiên có các
Thiên đồng. Mỗi Thiên đồng đeo chuỗi năm trăm hột ngọc Ma ni. Mỗi hột Ma ni chiếu
sáng trăm do tuần, làm cho trên cây chiếu sáng như trăm ức mặt trời mặt trăng
hiệp lại.

3. BẢO TRÌ

Cực
Lạc thế giới
nơi nơi đều có ao tắm. Thành ao bằng thất bảo. Đáy ao trải cát kim
cương
nhiều màu. Ao rộng trăm nghìn do tuần xem như biển cả.

Mỗi
ao có sáu mươi ức hoa sen thất bảo. Mỗi bông tròn lớn 12 do tuần, đủ các màu đẹp,
màu nào chiếu ánh sáng màu nấy. Trong ao, nước bát công đức từ như ý châu vương
sanh, màu thất bảo, lên xuống theo cọng sen chảy lòn vào cánh bông. Tiếng nước
chảy thanh tao diễn nói pháp mầu : Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, các môn
Ba-la-mật.

Nơi
như ý châu vương phóng ánh sáng sắc vàng ròng. Trong ánh sáng hóa thành các thứ
chim đẹp đủ màu, bay lượn, kêu hót hòa nhã diễn nói pháp : Ngũ căn, Ngũ lực, Thất
Bồ-đề, Bát chánh đạo, cùng ca ngợi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Mặt
nước, làn sóng gợn lăn tăn, nổi lên nhiều tiếng dịu dàng : tiếng Phật, Pháp,
Tăng; tiếng Không, Vô ngã, Đại từ bi; tiếng Ba-la-mật; tiếng Thập lực, Vô úy, Bất
cộng
; tiếng thần thông, trí huệ; tiếng vô tạo tác, bất sanh diệt, Vô sanh nhẫn;
nhẫn đến tiếng cam lồ quán đảnh, cùng vô biên diệu pháp. Người nghe đến những
tiếng này, tâm liền thanh tịnh, thiện căn thành thục, hẳn không thoái chuyển
nơi đạo Vô thượng Bồ-đề.

Các
thượng thiện nhơn, người Cực Lạc, lúc vào ao để tắm, nếu ý muốn ngập chân, thời
nước chỉ ngập chân, nếu ý muốn nước đến bụng thời nước liền ngang bụng, cho đến
ý muốn nước đến cổ thời mặt nước liền lên cao đến cổ. Nước ao tùy theo ý muốn của
mỗi người mà sâu cạn, ấm mát điều hòa rất thuận thích. Người tắm, thân thể nhẹ
nhàng khoan khoái, tâm thần vui vẻ tịch tịnh sáng suốt.

4. BẢO LÂU

Bốn
phía ao báu, những thềm bậc đường sá do vàng, bạc, lưu ly, pha lê v.v… hiệp
thành. Trên có vô số cung điện nhiều từng.

Những
tòa lâu đài này đều bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê v.v… nhẫn đến vô lượng chất
báu xây thành.

Giảng
đường
, tịnh xá, lâu các cung điện của A Di Đà Phật, của chúng Bồ Tát, nhân dân,
trăm nghìn muôn lần quý hơn cung điện của Tự Tại Thiên Vương nơi cõi Ta Bà này.

Những
đền đài ấy, có thứ nổi lên ở giữa chừng không như mây, cao lớn tùy theo ý muốn
của người ở. Có hạng không theo ý muốn mà trụ trên bảo địa. Đó là công hạnh tu
hành sâu dày hay kém ít nên chỗ ở khác nhau như thế. Nhưng những sự hưởng dụng
như ăn mặc v.v… đều bình đẳng.

Bốn
phía đền đài đều trang nghiêm với những hoa tràng cùng vô lượng nhạc khí. Gió
mát nhẹ rung những nhạc khí ấy hòa reo thành tiếng pháp : Khổ, Không, Vô thường,
Vô ngã, Từ bi, Hỷ xả, các môn Ba-la-mật.

5. BẢO TỌA

Cực
Lạc thế giới
, Đức Phật, chư Bồ Tát, cùng nhân dân đều ngồi trên tòa sen báu. Những
tòa sen ấy, từ một chất báu, hai chất báu, nhẫn đến vô lượng chất báu hiệp
thành, màu sắc đẹp lạ, quang minh sáng chói, lớn nhỏ xứng theo thân người ngồi.

Dưới
đây là tòa sen báu của Đức Phật ngự.

Tòa sen này có
84.000 cánh. Mỗi cánh rộng 250 do tuần, 100 màu. Trên mỗi cánh sen có 84.000 lằn
gân phóng ra 84.000 tia sáng. Xen vào mỗi cánh sen có trăm ức hột châu Ma ni. Mỗi
hột châu Ma ni phóng nghìn tia sáng. Các tia sáng này kết tụ nhau lại như hình
cây lọng.

Đài
sen
bằng chất Thích-ca Tỳ-lăng-già bảo. Trang nghiêm với tám muôn thứ ngọc kim
cương
, ngọc Ma ni, cùng mành lưới kết bằng chơn châu.

Trên
đài sen, tự nhiên có bốn trụ báu. Mỗi trụ báu cao đẹp như trăm nghìn muôn ức
núi Tu Di. Trên đầu bốn trụ báu, mành lưới báu trùm giăng rộng lớn như cõi trời
Dạ Ma. Mành lưới báu ấy có năm trăm ức hột bảo châu. Mỗi bảo châu chiếu ra
84.000 tia sáng. Mỗi tia sáng ấy có 84.000 thứ kim sắc. Các sắc vàng ấy chói khắp
mặt bảo địa, nơi nơi biến hóa thành những tướng trạng khác nhau : hoặc hóa ra
đài kim cương, hoặc hóa ra lưới chơn châu, hoặc hóa làm những lùm mây hoa đẹp
sáng v.v… hiện thành Phật sự ở khắp các nơi trong cõi Cực Lạc

Khi
giảng xong sự lớn đẹp vi diệu của tòa sen báu, Đức Bổn Sư kết rằng : tòa sen
báu ấy có ra đó, là do nguyện lực thuở tiền thân của Phật A Di Đà, ngài Pháp Tạng
Bồ Tát.

B – NHÂN DÂN

1. LIÊN HOA HÓA SANH

Phàm
thân
hình có ra, ban sơ đều do thần thức gá vào một nơi để thành. Khác hẳn với
người cõi Ta Bà gá vào nơi bụng bà mẹ, người tu tịnh nghiệp lúc vãng sanh Cực Lạc
thế giới
, thời thân thể gá trong hoa sen báu nơi bảo trìhóa sanh. Tịnh Độ
Luận
nói : “Nhân dân thanh tịnh của Đức Phật A Di Đà từ hoa báu trí giác hóa
sanh”.

Lúc
thần thức được Phật và Bồ Tát rước về Cực Lạc liền gá vào hoa sen, khi hoa còn
búp thời gọi là ở thai sen. Dầu thân hình chưa ra khỏi búp hoa, nhưng cảnh tượng
và những sự hưởng thọ ở trong hoa đã vui đẹp hơn các cõi trờiTa Bà.

Những
hoa báu để thác sanh, sự quý đẹp có khác nhau, và thời gian hoa nở cũng chậm
mau không đồng. Đó là vì công đứctrí huệ của mỗi thần thức thác sanh có hậu
bạc cùng sâu cạn không đồng nhau.

Do
sự không đồng này nên Cực Lạc thế giới có chín phẩm liên hoa : ba phẩm Thượng,
ba phẩm Trung, ba phẩm Hạ.

Ba
phẩm bậc Thượng thời liên hoa bằng chất kim cương, bằng vàng tử kim, hay huỳnh
kim. Thời gian hoa nở vừa thác sanh liền nở, hay cách đêm, hoặc một ngày đêm.
Đây là phần của những vị trước khi vãng sanh, tu hạnh Đại thừa, phát Bồ-đề tâm, thâm ngộ diệu lý
sanh
, tự hành hóa tha, công đức dày, trí huệ sâu mà hồi hướng nguyện sanh về Cực Lạc thế giới.

Sáu phẩm dưới thời liên
hoa
bằng chất thất bảo. Thời gian hoa nở : hoặc nở liền, hoặc bảy ngày đêm,
hoặc hai mươi mốt ngày hoặc bốn mươi chín ngày v.v…

Ba
phẩm liên hoa bậc Trung, là phần của những người trai giới tinh nghiêm, cùng
người hiếu thảo, những nhà từ thiện, mà dốc lòng cầu về Cực Lạc thế giới.

Ba
phẩm bậc Hạ là phần của những người không biết tu tập, không biết làm lành, cho
đến
những kẻ ở đời gian ác, đến khi sắp chết, lúc hấp hối, mà biết ăn năn tội lỗi
rồi chí tâm xưng niệm “Nam mô A Di Đà Phật” thiết tha cầu sanh Cực Lạc thế
giới
.

Cứ
nơi chín phẩm liên hoa đây, thời thấy rằng Cực Lạc thế giới là chỗ đồng về của
tất cả Thánh và phàm ở mười phương.
Chẳng những là đạo tràng của các vị Đại
thừa
Bồ Tát, của những bậc đại tâm Thanh Văn, Duyên Giác, của những người tinh
tấn
tu trì, của các nhà từ thiện làm lành tránh dữ, mà Cực Lạc thế giới cũng là
gia hương của những kẻ tội ác; nhẫn đến mọi loài. Nếu ai tin chắc chí tâm niệm
Phật
rồi hồi hướng cầu sanh thời đều được về cả, vì nhờ sức nhiếp thọ tiếp dẫn
của Đức Từ Phụ và chư Bồ Tát. Chỉ trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch([1])
và hủy báng Chánh pháp. Sau khi được vãng sanh Cực Lạc thời thành bậc thượng
thiện, trụ bậc bất thoái, đồng dự hải hội.

Nơi
Cực Lạc, người từ liên hoa hóa sanh. Phật Bồ Tátnhân dân đều ngồi tòa sen
báu. Vì thế nên Cổ đức kêu Cực Lạc thế giới“Liên Ban” (cõi sen), gọi
Thánh chúng“Liên Trì Hải Hội” đặt tông Tịnh độ“Liên Tông”,
gọi hội niệm Phật“Liên Xã”, kêu bạn niệm Phật“Liên Hữu”
(bạn sen)

2. THÂN THỂ

Nhân
dân
nơi Cực Lạc thế giới, thân kim cương từ hoa sen báu sanh ra, da màu huỳnh
kim. Tất cả mọi người đều đủ 32 tướng hảo đại nhơn, đồng xinh đẹp như nhau.

Đức Bổn Sư từng hỏi Tôn
giả A Nan
: “Như gã ăn mày đứng bên vị Đế vương, thời hình dung của hai người
có giống nhau không ?”

Tôn
giả
đáp : “Bạch Thế Tôn ! Gã ăn mày hình dung xấu xí nhớp nhúa, đâu sánh với vị
Đế vương được”.

Đức
Bổn
Sư phán : “Vị Đế vương dầu là sang đẹp, nhưng sánh với Chuyển luân Thánh
vương
thời cũng như gã ăn mày. Trăm nghìn muôn
lần quý đẹp của Chuyển luân Thánh vương cũng không bằng Thiên Đế Thích([2]).
Trăm nghìn muôn lần quý đẹp của Thiên Đế Thích cũng không bằng Tự Tại
Thiên Vương
. Trăm nghìn muôn lần quý đẹp của Tự Tại Thiên Vương sánh không bằng
các vị Thượng thiện nhơn nơi Cực Lạc thế giới, nhân dân của Đức Phật A Di Đà”.

3. THUẦN VUI KHÔNG KHỔ

Nhân
dân
nơi Cực Lạc thế giới không có tất cả sự khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui
thanh tịnh.

Phàm
những sự thống khổ của muôn loài nhiều đến vô lượng. Tóm lại thời có tám điều :

1.-
Khổ khi sanh ra. 2.- Khổ khi già yếu. 3.- Khổ lúc bệnh. 4.- Khổ về sự chết. 5.-
Khổ vì phải ly biệt người thân mến. 6.- Khổ vì gặp phải kẻ oán thù. 7.- Khổ vì
không được toại vọng. 8.- Khổ vì thân tâm đòi hỏi phóng túng.

Nơi
Cực Lạc thế giới, người từ hoa sen báu sanh ra, thời là không “sanh khổ”. Thân
kim cương luôn khương kiện trẻ đẹp, thời là không “lão khổ”, và không “bệnh khổ”.
Thọ mạng vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp mãi đến bổ xứ thành Phật, thời là
không “tử khổ”. Không cha mẹ vợ con, thời là không “ái biệt ly khổ”. Chư thượng
thiện nhơn thường chung cùng hội hiệp, thời là không “oán tắng hội khổ”. Cầu muốn
điều chi hay vật chi đều liền được toại ý, thời là không “cầu bất đắc khổ”.
Không thân kiến mà tâm luôn thanh tịnh, thời không “ngũ ấm xí thạnh khổ”.

Khổ
gì có được ở thế giới, mà nơi ấy sự trang nghiêm thanh tịnh đã đến tuyệt đích !

Cực
Lạc thế giới
, ngoài các sự vui đẹp về vật chất như ăn mặc, ao tắm, nhà ở v.v…
người Cực Lạc đồng được hưởng những điều vui cao quý hy hữu :

1.-
Thường được thấy Phật gần Phật. 2.- Chư đại Bồ Tát là thầy là bạn cùng chung hội
hiệp. 3.- Luôn được nghe tiếng diễn nói pháp mầu, không luận chỗ nào và lúc
nào, nếu muốn nghe. 4.- Thường được chư Phật hộ niệm. 5.- Sống lâu vô lượng kiếp
đồng với Phật. 6.- Không còn lo bị đọa vào ác đạo. Ở Cực Lạc, danh từ ác đạo
còn không có thay huống là sự thật ! 7.- Vĩnh viễn thoát ly luân hồi. 8.- Thọ dụng
tự nhiên, khỏi bận rộn bê trễ công phu hành đạo. 9.- Được vào bậc chánh định
không còn thoái thất đạo Vô thượng. 10.- Hiện một đời thành Phật.

4. THỌ DỤNG TỰ NHIÊN

Cực
Lạc thế giới
từ cung điện đền đài, bảo trì, bảo thọ cho đến tất cả vật dụng, đều
bằng thất bảo tự nhiên hiện thành, không phải xây dựng tạo tác.

Người
Cực Lạc lúc muốn mặc thời y phục đúng pháp tự nhiên ở trên thân.

Đến giờ ăn, nếu người muốn bát
đĩa vàng, thời bát đĩa vàng liền hiện ra trước mặt. Người muốn bát đĩa bạc, hay
bát đĩa lưu ly, thủy tinh, minh nguyệt châu, như ý châu v.v… thời bát đĩa
đúng như ý muốn hiện ra trước mặt. Thức ăn thức uống thơm ngon đựng sẵn trong đĩa
bát, vừa theo lượng người ăn không dư không thiếu. Ăn xong, bát dĩa tự ẩn đi,
đến giờ ăn lại hiện đến, khỏi dọn khỏi cất. Vật thực vào thân tự nhiên tiêu tan
lần, hóa thành hơi thơm theo lỗ chân lông tiết ra ngoài, không có cặn bã, tẩm
bổ thân thể thêm sự khỏe mạnh, tâm được an vui như bậc vô lậu.

5. TÂM TÁNHTHẦN THÔNG

Cực
Lạc thế giới
, người đều trí huệ sáng suốt, biện tài vô ngại. Không một ai dung
ngu. Lúc nghĩ tưởng, thời đều thuần là quan niệm đạo đức. Vì thế nên lời nói ra
thuần là đúng Chánh pháp. Mọi người đều yêu kính nhau. Không tham, không sân,
không si, không thân kiến. Các căn tịch tịnh, không phóng dật, không vọng
duyên
.

Người
người đều đủ năm thứ thần thông :

1.-
Thiên nhãn thông, thấy suốt mười phương, người kém nhứt cũng thấy được trăm
nghìn ức na-do-tha thế giới.

2.-
Thiên nhĩ thông, nghe thấu mười phương. Người kém nhứt cũng nghe được tiếng
thuyết pháp của trăm nghìn ức na-do-tha Đức Phật. Nghe rồi đều nhớ hiểu được cả.

3.- Tha tâm thông, rõ biết tâm
niệm
của người khác, người kém nhứt cũng biết được những tâm niệm của các loài
chúng sanh trong trăm nghìn ức na-do-tha thế giới.

4.-
Túc mạng thông, nhớ rõ những đời trước. Người kém nhứt cũng biết rõ những việc
trong trăm nghìn ức na-do-tha kiếp về quá khứvị lai.

5.- Thần túc thông, trong khoảng thời gian một niệm đi khắp
mười phương, người kém nhứt cũng đi được trăm nghìn ức na-do-tha thế giới.

6. CÔNG VIỆC THƯỜNG NGÀY

Nhân
dân
Cực Lạc, mỗi sáng sớm, đem bông báu tươi đẹp cúng dường Bổn Phật (A Di Đà)
vô lượng chư Phật ở thế giới khác, nếu muốn cúng dường hoa hương, kỹ nhạc,
hoặc muốn cúng dường y phục, bảo cái, tràng phan v.v… đương lúc ở trước chư
Phật nơi thế giới khác, do oai thần nguyện lực của Bổn Phật A Di Đà, đồ cúng dường
quý đẹp đúng theo ý muốn, liền hiện trên không nhóm lại như mây, rồi uyển chuyển
nhẹ nhàng rơi xuống đạo tràng thành cúng dường. Lại còn dùng âm thanh vi diệu
ca tụng công đức của chư Phật, kính nghe Kinh pháp của chư Phật dạy. Cúng dường
nghe pháp xong, bỗng nhiên nhẹ nhàng bay về, đến bổn quốc (Cực Lạc) vẫn còn trước
giờ ăn.

Người
Cực Lạc, sau khi dùng bữa xong đi kinh hành tư duy diệu pháp, hoặc niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng.

Người
Cực Lạc, sau khi tắm nơi bảo trì, rồi ngồi trên hoa sen báu tu tập Đạo pháp.

Nơi
Cực Lạc thế giới, người thời ở trên hư khônggiảng Kinh, người thời tụng
Kinh
, người thời tự thuyết Kinh, người thời dạy Kinh, người thời nghe Kinh, người
thời tư duy diệu nghĩa, người thời tọa thiền nhập định, người thời đi kinh hành
v.v…

Hoặc
có những người ở trên bảo địagiảng Kinh, tụng Kinh, thuyết Kinh, dạy Kinh,
nghe Kinh hay là tư duy diệu pháp, tọa thiền nhập định cùng đi kinh hành v.v…

Do
sự hành đạo này, người chưa chứng tứ quả thời chứng tứ quả, người chưa nhập bất
thoái địa
thời chứng nhập bậc bất thoái

7. ĐỨC VỊ

Cực Lạc thế giới, mọi người đều
trụ bậc bất thoái chuyển, nghĩa là sau khi đã được sanh về cõi Cực Lạc, thời
tất cả đều đứng vững nơi đạo Vô thượng Chánh giác không còn bị thoái chuyển lui
sụt, tiến mãi đến bậc Nhứt sanh bổ xứ (Đẳng giác) và thành Phật.

Được
như trên, là vì ở Cực Lạc cảnh duyên trang nghiêm thanh tịnh, thuần một mặt
giúp thêm sự tăng tấn cho đạo hạnh : (Bảy duyên lành dưới đây trích ở tập “Thập
Nghi Luận” của Trí Giả Đại sư).

1.-
Thường được thấy Phật, được nguyện lực của Phật nhiếp trì. Như ở trên tàu to,
không bị sóng nhồi nước đắm,

2.-
Quang minh của Phật thường chiếu đến thân, làm cho Bồ-đề tâm tăng tấn. Như được
ánh sáng mặt trời, khỏi sa hầm sụp hố.

3.- Thường gần gũi Quan Thế Âm,
Đại Thế Chí, chư đại Bồ Tát, được Bồ Tát dắt dìu gia hộ, mọi người ở quanh mình
đều thuần là bậc thượng thiện không tà sư ác hữu. Như gần đèn được sáng.

4.- Nước, chim, cây, lưới, gió,
nhạc, quang minh v.v… đều luôn diễn nói pháp mầu. Tai nghe tiếng pháp thời
tâm liền thanh tịnh.

5.-
Đồ ăn thức uống, nước tắm rửa đều làm thêm lớn thiện căn.

6.-
Tâm ý trọn không kiến chấp vọng duyên, không ác niệm phiền não, chánh niệm thường
hiện tiền.

7.-
Thân thể lại là kim cương bất hoại. Không già yếu, không tật bệnh, sống lâu
lượng
vô biên a-tăng-kỳ kiếp. Không bị già bệnh làm trở ngại công phu. Khỏi phải
vô thường làm gián đoạn đạo hạnh.

Đủ
các thắng duyên như trên thời có thể nào thoái thất đạo tâm mà không quyết định
thành Phật.

Như
trong Kinh Di Đà nói : “Chúng sanh sanh về Cực Lạc thế giới đều là bậc bất
thoái
chuyển”.
Lại nói : “Những người nguyện về Cực Lạc thế giới, đều được
bất thoái chuyển nơi đạo Vô thượng Bồ-đề”.

Trong
Khởi Tín Luận có lời : “Người sanh về Cực Lạc vì thường được thấy Phật, nên
trọn không thoái chuyển”.

LỜI PHỤ Pháp môn Tịnh độ
ngoài công hạnh chuyên niệm Phật rất trọng nơi “Tín”“Nguyện”.


biết nhơn địa cùng quả địa của Đức Phật và hai vị Đại sĩ, đấng Cha lành cùng những
bậc Thầy sáng suốt của ta sau này, ta đã nhận chắc rằng : Từ bi nguyện lực của
các Ngài đương ôm trùm lấy ta, quang minh của các Ngài đương soi phủ lấy ta
cùng tất cả những người niệm Phật, do đó lòng tin tưởng của ta sẽ nồng hậu
sâu chắc.

Hiểu
rành cảnh Cực Lạc vi diệu trang nghiêm là gia hương vĩnh viễn của ta sau này,
biết rõ thân tâm của người Cực Lạc thanh tịnh siêu thoát, mà cũng sẽ là báo
thân
trường tồn của ta, do đó nguyện vọng của ta sẽ tha thiết mãnh liệt.

“Tín
tâm”
đã sâu, “chí
nguyện”
đã thiết, tất công hạnh của ta cũng tự chuyên cần. Như thế
chín phẩm sen vàng ta đã nắm phần chắc trong tay rồi.

Huống
nữa nếu ai được xem nghe y báochánh báoCực Lạc thế giới rồi thiết tha
ham mộ muốn về, luôn luôn khắn nhớ rành rẽ nơi lòng không một giây xao lãng, tất
sẽ được thành tựu quán hạnh. Hiện tiền được thấy cõi Tịnh Độ cùng Phật và Bồ
Tát
, lâm chung sẽ vãng sanh Thượng phẩm.


có những lợi ích lớn như vậy, nên Đức Bổn Sư ta nhiều lần thuật đi nhắc lại
trong các pháp hội như khi thuyết Kinh : Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Bảo Tích, Bi
Hoa, Tiểu bổn Di Đà v.v… Đầy đủ nhứt là những pháp hội thuyết Quán Kinh
Lượng Thọ Kinh
.

Nơi
các quyển sau của bộ “Đường về Cực Lạc” này, chúng ta sẽ được đọc những truyện
tích của những người trước ta đã được các sự kết quả tốt đẹp như vừa kể ở trên.

Mong mọi người đều trân trọng chú tâm nơi các chương “Thân tướng”, “Quốc
độ”.


[1] Ngũ nghịch tội : 1-Giết cha, 2- Giết mẹ, 3- Hại Phật, 4- Giết Thánh nhơn,
5- Phá Tăng.

[2] Nói đủ là Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn, vua cõi trời Đao Lợi. Tục gọi là
Ngọc Hoàng Thượng Đế.

I – ĐẠI THẾ CHÍ

Đức Đại Thế Chí Bồ Tát do niệm
Phật
mà chứng viên thông, nhẫn đến tu Bồ Tát đạo giáo hóa chúng sanh đều không
rời pháp môn niệm Phật. Chúng ta nên cố gắng noi theo người.

Trong
pháp hội Thủ Lăng Nghiêm, lúc Đức Bổn Sư hỏi về nguyên do chứng nhập viên thông
của Thánh chúng, đức Đại Thế Chí Bồ Tát bạch rằng : “Tôi nhớ lại hằng hà sa số
kiếp về trước Đức Siêu Nguyệt Quang Như Lai dạy cho tôi pháp “Niệm Phật Tam
muội”.


như
có hai người : “A thời nhớ B mãi, còn B thời quên A mãi. Hai người như vậy,
dầu gặp nhau cũng thành không gặp, dầu thấy nhau cũng như không thấy. Nếu hai người tha thiết nhớ nhau, thời đời đời
gần nhau như hình với bóng.

Chư
Phật thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con cứ trốn lánh, thời mẹ dầu có
nhớ cũng không làm sao được. Nếu con cũng nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thời mẹ con đời
đời
không xa nhau.

Nếu
tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật thời hiện tiền cùng đương lai quyết định thấy
Phật, gần kề bên Phật, không cần tu trì phương pháp chi khác mà tự đặng minh
tâm
kiến tánh.
Như người ướp
hương
, thời thân có mùi hương, đây gọi là “Hương quang trang nghiêm”.

Ngày
trước lúc tôi tu nhơn, do tâm niệm Phật mà được chứng nhập Vô sanh nhẫn. Nay ở thế giới này, nhiếp người niệm Phật về Tịnh Độ.

Đức
Thế Tôn
gạn viên thông, cứ nơi tôi, thời đều nhiếp cả sáu căn tịnh niệm nối
luôn,
đặng thành chánh định đây là đệ nhứt”.

Thuật
theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm

LỜI
PHỤ
. – Kinh Hoa Nghiêm
nói : “Do lòng đại bi muốn cứu vớt tất cả chúng sanh mà có Bồ-đề tâm, do Bồ-đề
tâm
mà thành Chánh giác”.

Gốc
từ lòng “Đại bi” mà thành Phật, nên lòng của
Phật, hay Đức Từ Phụ ta, không bao giờ rời ta và tất cả chúng sanh. Nếu
ta chuyên chí muốn được gặp Phật mà tưởng Phật
niệm Phật luôn, tất sẽ được
thấy Phật, sẽ được gần Phật.

Như
lời Bồ Tát dạy : Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật, thời hiện tiền
cùng đương lai quyết định thấy Phật gần Phật.
“Hiện tiền”… là hiện tại do
tâm niệm Phật thuần thục mà được tương ứng với Phật, nên trong lúc tâm tịnh được
thấy Phật hiện đến, hoặc thần du Tịnh Độ lễ Phật.

“Đương
lai”… là đời sau sanh về Tịnh Độ ở gần bên Phật. Thấy Phật, nghe lời Phật dạy,
tự nhiên trí huệ sáng thông, thấu suốt bổn tâm, chứng nhập Vô sanh nhẫn.

Người chí tâm niệm Phật, dầu chưa
thành Phật mà đã có công đức của Phật. Như ta ướp hương, thân ta chưa phải là
hương mà đã có mùi thơm của hương.


các lẽ trên, nên các Thánh hiền đều tán thán Pháp môn niệm Phật là giản dị siêu
thắng trong tất cả pháp môn. “Giản dị”, vì hạng nào cũng có thể thực hành được,
“siêu thắng”, vì mau siêu phàm nhập Thánh, công ít mà quả cao, lại chắc chắn sẽ
thành Phật.

Bồ
Tát
dạy : “Phật thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con”. Cảm động thay !

Chúng
ta
nên thiết tha nhớ Phậtchí tâm niệm Phật, chớ nỡ phụ lòng
nhớ thương của Phật !

II – PHỔ HIỀN

Giữa
pháp hội Hoa Nghiêm, trước vi trần số đại Bồ Tát cùng chúng đại Thanh Văn và
lượng
nhơn, thiên, bát bộ, dưới sự chủ tọa chứng minh của Đức BổnThế Tôn.
Phổ Hiền Bồ Tát khi ca tụng công đức của Phật xong, ngài nói với đại chúng
Thiện Tài đồng tử rằng : “Này các Ngài ! Nếu người nào muốn thành tựu công đức
của Phật, phải tu mười môn hạnh nguyện rộng lớn : một là “lễ kính chư Phật”,
hai là “xưng tán Như Lai”, ba là “quảng tu cúng dường”, bốn là “sám hối nghiệp
chướng”, năm là “tùy hỷ công đức”, sáu là “thỉnh chuyển pháp luân”, bảy là “thỉnh
Phật trụ thế”. Tám là “thường tùy Phật học”, chín là “hằng thuận chúng sanh”,
mười là “phổ giai hồi hướng”.

Nếu
các vị Bồ Tát tùy thuận vào nơi mười đại nguyện này, thời có thể thành thục tất
cả chúng sanh, thời có thể tùy thuận Vô thượng Chánh giác và có thể thành tựu
hoàn mãn các hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.

Hoặc
lại có người thâm tín mười đại nguyện này, rồi thọ trì đọc tụng, nhẫn đến biên
chép cùng giảng nói cho mọi người, người này sẽ được vãng sanh Cực Lạc. Đến giờ
lâm chung căn thân đều hư hoại; thân thuộc, danh vị, quyền thế, tiền tài v.v…
tất cả đều bỏ lìa, duy có đại nguyện này không rời người. Trong một sát na, nó
dẫn đạo cho người sanh về Cực Lạc thế giới, liền được thấy Đức A Di Đà Phật,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát
v.v… Người ấy tự thấy mình sanh trong hoa sen báu, được Đức Phật thọ ký. Được
thọ ký rồi, từ đó đến vô số trăm nghìn muôn ức na-do-tha kiếp, người dùng trí
huệ
tùy thuận tâm tánh của chúng sanh trong vô lượng vô số thế giới của mười
phương
mà làm cho được lợi ích. Không bao lâu người ấy sẽ ngồi đạo tràng Bồ-đề,
hàng phục quân ma thành bậc Vô thượng Chánh giác, chuyển đại pháp luân, nhẫn đến
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh cùng tận thuở vị lai

Kế
đó ngài xướng kệ rằng :

Nguyện tôi đến lúc mạng sắp chết

Trừ hết tất cả những chướng ngại

Diện kiến Đức Phật A Di Đà

Liền được vãng sanh nước Cực Lạc

Tôi đã vãng sanh Cực Lạc rồi

Hiện tiền thành tựu đại nguyện này

Viên mãn tất cả không còn thừa

Lợi lạc hết thảy chúng sanh giới

Chúng hội của Phật đều thanh tịnh

Tôi liền thác sanh trong hoa sen

Nhìn thấy Như Lai Vô Lượng Quang

Hiện tiền thọ ký tôi thành Phật

Được đức Như Lai thọ ký rồi

Hóa vô số trăm câu chi thân

Trí lực rộng lớn khắp mười phương

Lợi khắp tất cả chúng sanh giới.

Và sau cùng, Phổ Hiền Bồ Tát kết thời thuyết pháp ấy bằng
bài kệ hồi hướng công đức, nguyện cho mọi loài đồng về Cực Lạc.

Thắng hạnh Phổ Hiền của tôi đây

Thắng phước vô biên đều hồi hướng

Nguyện cho những chúng sanh trôi chìm

Mau sanh cõi Vô Lượng Quang Phật.

Bồ Tát dứt lời Đức Bổn Sư liền khen rằng : “Thiện tai ! Thiện tai !”

Trích
Hoa Nghiêm Kinh

Hạnh
Nguyện
phẩm

LỜI
PHỤ
Pháp hội Hoa
Nghiêm
, một pháp hội lớn nhứt và viên mãn nhứt trong một đời ứng thế của Đức Bổn
Sư. Phổ Hiền, vị đại Bồ Tát thượng thủ của pháp hội này. Chúng hội là những bậc
Đại thừa viên giáo, trụ bất tư nghị giải thoát cảnh giới.

Đức
Phổ
Hiền tự nguyện, và dẫn đạo toàn thể chúng hội đồng nguyện cùng về Cực Lạc
thế giới
để mau viên mãn phước huệ, chóng chứng quả Vô thượng Bồ-đề, và chỉ có
cứu cánh Phật quả mới độ sanh được viên mãn rốt ráo.

Do đây thấy rằng, Cực
Lạc thế giới
là một đại học đường bảo đảm mau thành Phật, nên chư vị đại Bồ Tát
mới đồng nguyện cùng về như vậy.

IIB
ĐỨC PHỔ HIỀN DẠY TU NIỆM PHẬT TAM MUỘI

Thuật
theo Kinh :

“Như
Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới”


Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập vào chánh định “Như Lai bất tư nghị cảnh giới”. Phổ Hiền Bồ Tát nói với Đức Tạng Bồ Tát rằng
: “Nếu ai phát Bồ-đề tâm muốn chứng chánh định này, trước phải tu trí huệ. Vì
chánh định này do trí huệ mà đặng.

Đây là tu trí huệ : Phải xa lìa vọng ngôn ỷ ngữ và những sự tán loạn vô ích. Rồi đến Phật điện,
xem tượng Phật thuần vàng, hay tượng Phật thếp
vàng, đủ các tướng tốt cùng viên quang hóa Phật. Liền cúi đầu đảnh lễ
suy nghĩ như vầy : “Tôi nghe Đức A Di Đà hiện tại đương thuyết phápTây
phương Cực Lạc
thế giới”. Rồi lòng tôn kính tin mến, tưởng hình tượng ấy là
thân thiệt của Đức Phật. Hết lòng kính ngưỡng như Đức Phật hiện đến. Rồi nhứt
tâm
nhìn kỹ từ trên đảnh tướng đến dưới bàn chân.

Nhìn
xong, đi qua chỗ vắng vẻ ngồi ngay thẳng, quán tưởng Đức Phật hiện ra cao lớn
chừng một tay. Trong tâm phải khắn nhớ luôn chớ để quên mất. Nếu tạm quên, thời
đến Phật điện mà chăm nhìn lại. Lúc nhìn xem như
vậy, lòng phải hết sức cung kính như đối Phật thiệt, không để có quan niệm
hình tượng.
Rồi sắm hoa đẹp, hương thơm dâng cúng. Nhứt tâm tưởng là Đức Phật ở trước mình.
Và nghĩ rằng : Đức Phật Thế Tôn là bậc Nhứt thiết trí, ngài thấy tất cả, nghe tất
cả, chắc ngài biết rõ tâm mình.

Khi
quán tưởng thành, liền trở về chỗ vắng, ngồi tưởng nhớ mãi không quên. Nhứt tâm
siêng tu đủ 21 ngày, nếu là người phước đức thời bèn thấy Đức Như Lai hiện ra.

Hoặc
là người đời trước có gây tạo ác nghiệp mà chẳng đặng thấy Phật nếu có thể
chuyên cần tu tập không thoái tâm và không móng tưởng việc khác, thời rồi lại
mau được thấy Phật.


rằng nếu ai cầu Vô thượng Bồ-đềchuyên tu một pháp thời đều thành tựu
cả. Như người uống một ngụm nước biển, tức là đã được nếm nước của tất cả con
sông trong đại địa. Bồ Tát nếu có thể tu tập pháp môn này, thời là đã tu tất cả
Tam muội, các nhẫn, các địa, các môn đà-la-ni. Vì thế, phải nên thường siêng tu
tập
, chớ có biếng trễ, chớ nên phóng dật, nhứt tâm tưởng niệm cho được hiện tiền
thấy Phật.

Lúc
được thấy Phật, lại nên nhận biếttâm tưởng sanh, là duy tâm hiện, bình đẳng
không sai khác. Tâm mình làm tâm Phật, rời tâm không Phật. Nhẫn đến thập phương
chư Phật cũng vậy, đều chỉ y tự tâm. Bồ Tát nếu có thể thấu rõ chư Phật và tất
cả pháp đều là duy tâm, thời đặng chứng tùy thuận nhẫn hoặc nhập sơ địa. Lúc
lâm chung được sanh về Cực Lạc Tịnh Độ, thường được thấy Phật, gần Phật, nghe
pháp
cúng dường Phật.

LỜI PHỤ. – Pháp môn niệm Phật có bốn : A.- Thật tướng niệm Phật; B.- Quán tưởng niệm Phật;
C.- Quán tượng niệm Phật; D.- Trì danh niệm Phật.

Một
môn A thuộc về lý niệm. Ba môn dưới thuộc về sự niệm gồm cả lý niệm.

Bài
trên, Phổ Hiền Bồ Tát dạy quán tượng trước, kế tưởng niệm. Và sau cùng, khi
quán hạnh đã thành, tấn niệm thật tướng, tức là duy tâm bình đẳng. Đây là trước
thành tựu sự Tam muội, sau chứng lý niệm Phật Tam muội.


Tiểu Bổn Kinh, Đức Bổn Sư dạy môn Trì danh niệm Phật. Chấp trì danh hiệu
đến nhứt tâm bất loạn là được sự niệm Phật Tam muội, đạt “niệm tức vô niệm” là
chứng lý Tam muội. Kết quả đồng bậc với môn quán hạnh trên. Nhưng nơi dụng công
tu tập thời môn trì danh có phần giản tiện hơn. “Giản”, là vì hồng danh
có sáu chữ hay bốn chữ dễ nhớ rõ không phải nhiều như các tướng hảo khó nhớ. “Tiện”
là vì có thể được nghe hồng danh bất cứ ở chỗ nào và lúc nào, không phải cứ nơi
Phật điện
và phải thật sáng như quán tượng. Vả lại trì danh, niệm thầm cũng được, niệm ra
tiếng cũng được. Nhờ niệm ra tiếng, nên có thể thực hành ở nơi ồn ào. Chớ quán
tưởng
quyết phải ở nơi vắng lặng.


các lẽ trên, nên môn quán hạnh phải là bậc thượng trí mới chắc thành tựu. Còn
môn trì danh có thể thích hợp với tất cả mọi hạng người, và bất cứ ai, nếu
chuyên tâm thiết thiệt thực hành đều thành tựu được cả. Chúng ta sẽ được thấy sự
chứng nghiệm trong những tiểu sử của các nhà niệm Phật ở quyển sau.

Như
lời Bồ Tát dạy : “Nếu ai cầu Vô thượng Bồ-đề,
chuyên tu một pháp thời đều thành tựu cả”.
Thế là vì muốn thành
Phật
để độ sanhchuyên niệm Phật vậy.

Nếu
ta muốn thành công nơi Pháp môn niệm Phật, nghĩa là muốn chứng Tam muội vãng
sanh
Cực Lạc, tất phải tuân theo lời dạy của Bồ Tát : A- “Lập chí cầu thành
Phật
”. B- “Chuyên cần tu niệm Phật”.

III-
VĂN THÙ SƯ LỢI

Đức
Văn Thù Sư Lợi là một vị Bồ Tát. Trong thời kỳ Đức Bổn Sư ứng thế, ngài là vị
thượng thủ trong hàng Bồ Tát chúng, mà cũng là thượng thủ cả chúng hội. ngài
thường vì chúng hộikhải thỉnh nơi Đức Bổn Sư. Ngài cũng là người thường
thay mặt Đức Bổn Sư mà khai thị diệu pháp cho chúng hội.

Dưới
đây là lời của ngài khuyến tấn chúng hội nên thường niệm Phật, trích trong Kinh
“Quán Phật Tam Muội Hải”

Lúc
Đức Thế Tôn giảng pháp “Quán Phật Tam Muội” xong. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo đại
chúng
rằng :

Về
thuở quá khứ, thời kỳ Phật Đức Như Lai, đồng tử Giới Hộ, con trai của một ông
trưởng giả, từng thọ pháp Tam quy khi còn ở trong thai mẹ. Năm lên tám, một hôm
cha mẹ thỉnh Đức Bửu Oai Đức Phật về nhà cúng dường. Đồng tử Giới Hộ thấy Đức
Phật
cử chỉ đoan trang đi chậm rãi, dưới chân Phật, mỗi bước mọc hoa sen, thân
Phật tỏa ánh sáng rực rỡ, thời mừng rỡ cung kính, liền cúi đầu đảnh lễ. Lễ Phật
rồi, đồng tử chí thành chăm nhìn Phật không rời.

Đồng
tử
Giới Hộ nhơn vì một lần được thấy Phật và nhìn Phật đó mà tiêu trừ được tội
sanh tử của trăm nghìn ức na-do-tha kiếp. Từ đó về sau, đời đời luôn được gặp
chư Phật, nhiều đến số trăm ức na-do-tha hằng hà sa Đức Phật. Các Đức Thế Tôn ấy
đều giảng dạy pháp “Quán Phật Tam Muội” đúng như lời của Đức Bổn Sư vừa giảng
hôm nay.

Sau
đó, có trăm vạn Đức Phật ra đời đồng một hiệu Chiên Đàn Hải. Đồng tử chầu chực
khắp tất cả chư Phật, thường lễ Phật, cúng dường, chắp tay nhìn Phật. Do công đức
quán Phật, nên rồi lại được gặp trăm vạn a-tăng-kỳ Đức Phật liền chứng được
trăm vạn ức “niệm Phật Tam muội”, chứng được trăm vạn a-tăng-kỳ “triền đà-la-ni
môn”. Khi đồng tử đã chứng các môn Tam muội và đà-la-ni, chư Phật liền hiện
thân
thuyết vô tướng pháp cho. Khi đồng tử được nghe vô tướng pháp, trong giây
lát bèn chứng đặng “Thủ Lăng Nghiêm Tam muội”.

Thuật
xong, đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát kết luận : “Đồng tử Giới Hộ tối sơ do nhờ thọ
pháp
Tam quy, một lần chí thành lễ Phật, quán Phật, tâm không mỏi nhàm, nên rồi
được gặp vô số chư Phật. Huống là người chuyên lòng luôn tưởng nơi Phật !

 Đồng
tử
Giới Hộ đó không phải ai đâu lạ, chính là tiền thân của tôi đấy !”.

Văn
Thù Bồ Tát
nói dứt lời, Đức Bổn Sư phán với ngài A Nan : “Ông nên đem lời của
Văn Thù Sư Lợi nói lại cho khắp cả đại chúng và tất cả vô số đời sau.

Nếu ai có thể lễ Phật, ai có thể
niệm Phật, ai có thể quán Phật, thời người ấy sẽ đồng với Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát”.

 Cũng như Phổ Hiền, Văn Thù
Bồ Tát
từng có lời tự nguyện về Cực Lạc thế giới, chép trong Kinh “Văn Thù Phát
Nguyện”.

Nguyện
ngã mạng chung thời

Diệt
trừ
chư chướng ngại

Diện
kiến
A Di Đà

Vãng
sanh
Cực Lạc quốc

Sanh
bỉ Phật quốc

Thành
mãn chư đại nguyện

A
Di Đà
Như Lai

Hiện
tiền thọ
ngã ký

Nghiêm
tịnh
Phổ Hiền hạnh

Mãn
túc
Văn Thù nguyện

Tận
vị lai tế
kiếp

Cứu
cánh
Bồ Tát hạnh.

IV
– HAI ĐẠI THÁNH ỨNG TÍCH

Trích ở bộ “Tống Cao Tăng”

“Lạc Ban Văn Loại”

Đời
Đường, ngài Thích Pháp Chiếu trụ trì chùa Vân Phong ở Hoành Châu, hàng ngày
tinh tấn tu hành không bê trễ.

Năm
Đại Lịch thứ hai, một buổi sáng nọ, ngài thấy trong bát cháo nơi nhà Tăng hiện
bóng mây lành năm màu. Trong mây hiện ra một cảnh chùa, hướng Đông Bắc ngõ chùa
dãy núi, chân núi có khe nước, phía Bắc của khe có một cửa ngõ bằng đá,
trong ngõ đá lại có một ngôi chùa to để hiệu “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”.

Ít
hôm sau, ngài lại thấy trong bát cháo hiện cảnh chùa, vườn, ao, lầu đài đồ sộ,
và một vạn vị Bồ Tát ở trong đó.

Ngài
mới đem cảnh tượng đã thấy mà hỏi cùng các bậc trí thức.

Một Đại đức bảo : “Việc biến hiện
của chư Thánh khó nghĩ bàn được. Nhưng nếu luận về thế diện phương hướng núi
sông, thời đó là cảnh Ngũ Đài Sơn”.

Nghe
Đại đức nói, ngài có ý muốn viếng cảnh Ngũ Đài Sơn.

Năm Đại Lịch thứ tư, ngài Pháp
Chiếu
gặp một cụ già bảo : “Ông từng có ý muốn đến Kim Sắc thế giới (Ngũ Đài)
để kính lễ Đại Thánh (Văn Thù), sao đến nay vẫn chưa đi ?”. Ngài bèn cùng với
các pháp hữu đi Ngũ Đài.

Năm
Đại Lịch thứ năm, ngày mùng sáu tháng Tư thời đến chùa Phật Quang ở huyện Ngũ
Đài
. Đêm ấy, vào lối canh tư, ngài bỗng thấy ánh sáng lạ từ xa xẹt đến chiếu
mình ngài. Ngài liền nhắm theo tia sáng mà đi. Đi được năm mươi dặm thời đến một
dãy núi, dưới chân núi có khe, phía Bắc của khe có ngõ đá. Nơi ngõ có hai đồng
tử
đứng chực sẵn xưng tên là Thiện TàiNan Đà. Hai đồng tử dắt ngài đến một
ngôi chùa to, trên bảng đề hiệu “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”, đất vàng, cây
báu rất trang nghiêm. Giống hệt như cảnh đã thấy trong bát cháo lúc trước.

Ngài
vào chùa, lên giảng đường, thấy phía Tây thời
đức Văn Thù, phía Đông thời đức Phổ Hiền, hai vị đại Bồ
Tát
đều ngự trên tòa cao lớn, đương thuyết pháp cho một vạn vị Bồ Tát.

Ngài
Pháp Chiếu cung kính đến trước tòa đảnh lễ rồi bạch rằng : “Phàm phu thời mạt
pháp
, cách Phật đã xa, chướng sâu nghiệp nặng, phước mỏng trí cạn. Dầu sẵn đủ
Phật tánh, nhưng không sao phát hiện được. Phật pháp quá mênh mông, chưa rõ nên
tu pháp môn nào cho thích hợp ?”.

Đức
Văn Thù dạy : “Nay ông niệm Phật chính là phải lúc. Các môn tu hành không
môn
nào qua môn niệm Phật cả.
Rồi thêm cúng dường Tam Bảo, gồm tu cả
phước và huệ([1]).
Hai môn này rất là thiết yếu.

Về
thuở quá khứ, nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Phật, mà ta chứng đặng Nhứt
thiết chủng trí.


thế nên tất cả các pháp môn : Bát nhã Ba-la-mật, thậm thâm thiền định, đến như
Phật cũng đều từ niệm Phật mà sanh. Do đây nên biết, “niệm Phật là vua trong
các pháp môn”.

Ngài
Pháp Chiếu bạch : “Nên niệm Phật như thế nào ?”.

Đức
Văn Thù dạy : “Hướng Tây của thế giới này có Đức Phật A Di Đà, giáo chủ cõi Cực
Lạc
. Nguyện lực của Đức Phật ấy không thể nghĩ bàn. Ông nên chuyên niệm Đức
Phật
A Di Đà cho được không gián đoạn
, đến lúc lâm chung quyết định vãng
sanh
, vĩnh viễn không thoái chuyển đạo Vô thượng”.

Dứt
lời, hai vị Đại Thánh đồng đưa tay vàng xoa đầu ngài Pháp Chiếu mà phán rằng :
“Nhơn vì ông niệm Phật, không bao lâu ông sẽ chứng quả Vô thượng Bồ-đề. Nếu thiện
nam tín nữ
nào nguyện mau thành Phật, không gì qua niệm Phật. Niệm Phật quyết
mau chứng quả Vô thượng Bồ-đề”.

Hai Đại Thánh thọ ký xong, ngài
Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ, rồi từ tạ lui ra.

Hai
đồng tử đưa ngài ra khỏi ngõ chùa, ngài ngước đầu ngó lại, bỗng người, cảnh đều
biến mất. Ngài bèn dựng đá đánh dấu chỗ ấy rồi trở về chùa Phật Quang.

Đến
ngày 13 tháng Tư, ngài đi cùng năm mươi vị Tăng, đồng đến hang Kim Cương thành
tâm
đảnh lễ danh hiệu của 35 Đức Phật. Ngài Pháp Chiếu lễ vừa được 10 bận, bỗng
tự thấy hang Kim Cương rộng lớn trang nghiêm thanh tịnh, có cung điện bằng lưu
ly
, thấy đức Văn Thù cùng đức Phổ Hiền đồng ngự trong ấy.

Hôm
khác, ngài Pháp Chiếu đi riêng một mình đến hang Kim Cương cầu nguyện cho thấy
Đại Thánh, rồi gieo mình rập lạy. Ngài bỗng thấy Thánh Tăng tự giới thiệuPhật
Đà Ba Lợi
dắt ngài vào một viện, bảng đề “Kim Cương Bát Nhã Tự”. Toàn viện báu
đẹp trang nghiêm ánh sáng chiếu lấp lánh.

Dầu
đã nhiều lần thấy sự linh dị, nhưng ngài vẫn chưa thuật với ai cả.

Tháng
Chạp năm ấy, ngài nhập đạo tràng niệm Phật nơi chùa Hoa Nghiêm. Ngài tuyệt thực
nguyện vãng sanh Tịnh Độ. Đến ngày thứ bảy, đầu hôm, đương lúc niệm Phật, ngài
thấy một Thánh Tăng vào bảo rằng : “Ông đã được thấy cảnh giớiNgũ Đài Sơn,
sao ông không truyền cho đời được cùng biết !”. Nói xong, Thánh Tăng liền ẩn.

Rạng
đông, ngài lại thấy Thánh Tăng vào bảo như hồi
đầu hôm. Ngài mới đáp : “Chẳng phải
là tôi có lòng dấu kín Thánh đạo, chỉ sợ rằng nói ra người đời không tin mà sanh sự chê bai thôi !”.

Thánh Tăng bảo : “Đức Đại Thánh
Văn Thù
hiện tạiNgũ Đài mà còn không khỏi có người hủy báng. Ông nên đem các
căn giới mà ông được thân thấy ở Ngũ giới, truyền khắp với mọi người, làm cho
mọi người được nghe biết mà phát Bồ-đề tâm”.

Ngài Pháp Chiếu tuân lời, nhớ kỹ lại những sự đã thấy,
rồi chép ra truyền cho mọi người.

Năm
sau, ông Thích Huệ Tùng với chư Tăng chùa Hoa Nghiêm đi cùng ngài Pháp Chiếu đến
hang Kim Cương lễ Phật, rồi đến chỗ dựng đá lúc trước để chiêm ngưỡng cựu tích.
Mọi người đương ngưỡng vọng ngậm ngùi, bỗng đồng nghe tiếng hồng chung từ vách
đá vang ra, tiếng chuông ngân nga, nhặt khoan rành rẽ. Ai nấy đều lấy làm lạ và
đồng công nhận những lời thuật của ngài Pháp Chiếu là thật.

Nhơn
vì muốn người đời phát đạo tâm, nên Tăng chúng khắc sự tích của ngài Pháp Chiếu
được thấy vào vách đá.

Ít
năm sau, chư Tăng lại dựng một kiểng chùa ngay nơi chỗ ngài Pháp Chiếu đánh dấu,
để hiệu là “Trúc Lâm tự”, nơi mà ngài Pháp Chiếu được đức Văn Thù cùng đức Phổ
Hiền giảng dạy và thọ ký lúc trước.

(Về
sự tu trì và hoằng hóa của ngài xem nơi chương “Liên Tông chư Tổ”).

LỜI
PHỤ
. – Đức Văn Thù Bồ
Tát
dạy : “Các môn tu hành, không môn nào qua môn niệm Phật cả”. Và ngài
lại dạy : “Niệm Phật là vua trong các pháp môn”.

Ngẫm
lời Bồ Tát, nếu chúng ta, người thời mạt pháp, ai là người phát Bồ-đề tâm : “Cầu
thành Phật nguyện độ sanh”,
đều phải tuân lời Bồ Tát mà tu niệm Phật. Vì “niệm
Phật thời mau thành Phật”.
Lời của hai Đại Thánh phán khi xoa đầu ngài Pháp
Chiếu
.

Nên
niệm như thế nào ? Bồ Tát dạy : “Chuyên niệm Đức Phật A Di Đà cho được không
gián đoạn”.

Ta
nên chú trọng nơi “chuyên niệm”“không gián đoạn”, vì đó là
công phu phải có nơi người niệm Phật.

“Chuyên
niệm”
tức là chỉ thuần
niệm Phật không xen tạp việc khác, mà cũng không cho tâm móng tưởng sự khác.

“Không
gián đoạn”
danh hiệu của
Phật, luôn luôn tiếp tục nơi tâm, Tổ Thiện ĐạoLiên Trì Đại sư gọi là “tương
tục”
cũng gọi là “bất niệm tự niệm”. Đây là kết quả của “chuyên
niệm”
và là khởi điểm của “nhứt tâm bất loạn” hay “niệm Phật Tam
muội”.
Niệm Phật được “không gián đoạn” thời đã được bảo đảm vãng sanh
chứng bậc bất thoái
. Nếu được “nhứt tâm” hay chứng “Tam muội” thời phẩm vị
cao hơn.

V
QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT HIỂN THÁNH

Trích ở “Tống Cao Tăng truyện”

“Phật Tổ Thống Ký”

Đời Đường, thời vua Trung Tôn,
ngài Thích Huệ Nhựt thấy Pháp sư Nghĩa Tịnh sang Tây Vực cầu pháp, lòng mộ lắm.

Ngài
bèn ngồi thuyền vượt biển, ba năm sau mới đến Thiên Trúc (Ấn Độ), rồi lần lượt
đi lễ ở các nơi di tích của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, và thỉnh Kinh chữ
Phạn.

Ngài
Huệ Nhựt từ lúc ở xứ nhà đến khi sang Thiên Trúc mục kích nhiều cảnh đau khổ của
loài người, mà chính ngài cũng tự trải lắm sự gian lao.


thế, ngài mới suy nghĩ : nước nào, cõi nào
chỉ thuần vui mà không khổ ? Pháp nào hạnh
nào đặng mau thấy Phật ? Rồi ngài đem vấn đề ấy thỉnh hỏi gần khắp các bậc
danh đứcThiên Trúc. Các bậc danh đức đồng
chỉ cõi Tây phương Cực Lạc thế
giới
, và đồng khuyên nên tu Pháp môn Tịnh độ.
ngài Huệ Nhựt liền kính vâng lời các
danh đức khuyên dạy mà chuyên niệm Phật.

Sau
đó ít lâu, ngài đi đến nước Kiền Đà La ở Bắc Ấn. Phía Đông Bắc thành vua có dãy
núi
lớn. Trên núi có tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát, hễ ai chí thành cầu nguyện
thời thường được thấy Bồ Tát hiện thân. Ngài bèn lên núi kính lạy bảy ngày đêm, rồi tuyệt thực, thệ :
Nếu không được thấy Bồ Tát thời thà chết tại
chỗ ấy.

Đến
đêm thứ bảy, trên hư không đức Quan Thế Âm Bồ Tát hiện thân vàng tử kim, cao
hơn một trượng, ngự trên tòa sen báu, quang minh sáng chói. Bồ Tát thòng tay xuống
xoa đầu ngài Huệ Nhựt mà bảo rằng :

“Ông muốn truyền pháp để độ mình
độ người, thời nên chuyên niệm Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phậtphát
nguyện
vãng sanh. Lúc về Cực Lạc thấy Phật và ta thời được lợi ích lớn. Ông nên
biết rằng Tịnh độ pháp môn hơn tất cả hạnh khác”.

Bồ
Tát
phán dạy xong liền ẩn.

Ngài
Huệ Nhựttuyệt thực đã bảy ngày, nên đêm đó khí lực đã mòn, nhưng sau khi được
Bồ Tát xoa đầu và nghe lời dạy bảo, thân thể
ngài bỗng trở nên cường tráng, tinh
thần
minh mẫn.

Sau rồi ngài chở Kinh tượng đã thỉnh được đem về bổn quốc. Bận về này, ngài đi đường núi.
Tính ra từ ngày đi đến khi về đến nước, mất hết 18 năm, đi được hơn bảy mươi nước.

Năm Khai Nguyên thứ 7, về đến Trường An, ngài vào triều
dâng tượng Phật và kinh chữ Phạn.

Từ
đó, ngài chuyên cần tu tịnh nghiệp, truyền hóa hưng thạnh một thời. Triều đình
phụng hiệu là Từ Mẫn Tam Tạng Pháp Sư.

Nhờ ngài dẫn đạo, người niệm Phật
được chứng Tam muội và được vãng sanh rất đông.

Ngài
biên tập bộ “Vãng sanh Tịnh độ” khắc truyền trong đời.

Năm Triều Hữu thứ 7, giờ ngài
viên tịch, đại chúng đồng thấy hoa sen sáng rỡ như mặt trời hiện ra trước chỗ
ngài ngồi.

VI- MÃ MINH ĐẠI

Trích ở bộ : “Truyền Đăng Lục”

“Đại Thừa Khởi Tín Luận”

Đại sĩ, người nước Tang Kỳ Đa
thuộc Đông Thiên Trúc. Có bầy ngựa nghe tiếng Đại sĩ thuyết pháp là buồn cảm hí
kêu, nên người thời ấy gọi Đại sĩMã Minh Tôn giả.

Về
dòng Tổ chánh truyền, bắt đầu từ ngài Ma Ha Ca Diếp là Tổ thứ nhứt, ngài A Nan
Đà
là Tổ thứ hai… thời Đại sĩ là Tổ thứ 12, đắc pháp nơi Tổ thứ 11, ngài Phú Na Dạ Xà Tôn giả.

Đại sĩ từng trứ tác bộ “Đại thừa
Khởi Tín Luận”, y cứ nơi “chúng sanh tâm” mà hiển thị “Đại thừa nghĩa”. Tất cả
pháp nhiễm ô sanh tử của phàm, và tất cả pháp thanh tịnh giải thoát của Thánh
đều duy “tâm” tùy duyên tịnh hay nhiễm mà tạo thành. Mê “tâm”, thời khởi
minh
, phân biệt chấp kiến, rồi gây nghiệp mà chác lấy quả sanh tử khổ lụy. Ngộ
“tâm”, thời dứt nghiệp phá chấp kiến, hết vô minh mà chứng đặng quả giải thoát
an vui.

Chứng
ngộ
tự tâm, tín thật đó là tâm tánh của mình, vĩnh viễn không mê mờ quên lãng tự
tâm
bổn tánh ấy, đây gọi là bậc “tín tâm bất thoái” của Đại thừa. Đưa người đến
bậc Đại thừa, tín tâm bất thoáimục đích chủ chính của bộ “Đại thừa Khởi Tín
Luận”.

Đến bậc “bất thoái” này, theo
trong luận, phải là người đủ năng lực thiện căn huân tập, thâm tín nhơn quả,
chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, phát Bồ-đề tâm, đặng gặp chư Phật gần
gũi cúng dường, tu Bồ Tát hạnh. Tu tập các hạnh như vậy đủ một vạn đại kiếp,
tín tâm thành tựu chứng bậc bất thoái.

Nếu là người chưa đủ tất cả các
điều kiện trên đây, thời là còn có thể bị thoái chuyển, nơi đạo Vô thượng chưa
được bảo đảm.

Rốt
sau, Đại sĩlời khuyên người nên cầu sanh Tịnh độ để được mau thành tựu tín
tâm
, chắc chắn trụ bậc “bất thoái”.

Đây
là lời Đại sĩ khuyên :

“Chúng
sanh vì ở Ta Bà thế giới này, tự sợ chẳng được thường gặp chư Phật để gần gũi
cúng dường, e rằng tín tâm khó thành tựu được. Phải biết rằng Đức Thích Ca Như
Lai
của chúng ta có chỉ dạy một phương tiện siêu thắng để nhiếp hộ tín tâm. Tức là Đức Bổn Sư dạy
chuyên tâm niệm Phật. Do vì chuyên tâm niệm
Phật
, nên tùy nguyện được sanh
về Tịnh độ, thường gần bên Phật, vĩnh ly ác đạo. Như trong Kinh : Nếu người chuyên niệm Tây phương Cực Lạc thế
giới
A Di Đà Phật, bao nhiêu thiện căn công đức của mình tu tập đều hồi hướng
nguyện cầu về thế giới ấy, thời bèn đặng vãng sanh. Khi được sanh về Cực Lạc Tịnh Độ rồi, vì thường được thấy Phật nên
vĩnh viễn không còn bị thoái chuyển”.


nhân duyên như vậy nên Đức Bổn Sư ta, nơi pháp hội Kỳ Viên thuyết Kinh A Di Đà,
ba bốn phen cặn kẽ khuyên bảo mọi người nên đồng phát nguyện cầu sanh về Cực Lạc
thế giới
. Bổn Sư lại nói chúng sanh nào sanh về Cực Lạc thế giới đều là bậc “bất
thoái chuyển”. “Cực Lạc thế giới, chúng sanh sanh giả giai thị A bệ bạt trí”([2]).

Về
sau, Đại sĩ phó pháp cho Tổ thứ 13, Ca Tỳ Ma La Tôn giả, rồi nhập chánh định
“Long phấn tấn Tam muội”, thân vọt bay lên hư không tròn sáng như mặt trời,
giây lát trở về pháp tòa ngồi kiết giànhập diệt.

Theo lời người xưa, Đại sĩ là bậc
Pháp thân địa thượng Bồ Tát.

VII
LONG THỌ BỒ TÁT

Trích ở những bộ :

“Truyền Đăng Lục”, “Tỳ Bà Sa Luận”

“Đại Trí Độ Luận”, “Nhập Lăng Già Kinh”

Bồ
Tát
người Nam Ấn từng ở núi tu tập thiền định. Trên núi ấy có một cội cổ thụ rất
cao lớn, dưới tàng cây có 500 con rồng ở. Bồ Tát hiện thần lực thâu phục bầy rồng,
và thường ngày thuyết pháp giảng đạo cho. Vì thế, người đời gọi ngài là Long Thọ
Tôn giả.

Ngài đắc pháp với Tổ thứ 13, đức
Ca Tỳ Ma La Tôn giả, rồi kế vị làm Tổ thứ 14. Ngài có ý muốn rộng truyền Kinh
giáo.

Bấy giờ, Đại Long Bồ Tát rước
ngài vào Long cung trong đại hải, mở kho thất bảo, cho ngài tự tiện đọc xem Kinh
tạng
. Ngài chuyên tâm xem trong 90 ngày đêm, thông thuộc được rất nhiều. Sau 90
ngày, Đại Long Bồ Tát đưa ngài về Thiên Trúc
để hoằng thuyết Chánh pháp.

Bộ Kinh “Đại Phương Quảng Phật
Hoa
Nghiêm” (Phạn văn) chính tự tay ngài chép ra sau khi ở Long cung về([3]).

Ngài có trứ tác bộ “Tỳ Bà Sa
Luận”. Trong luận đó có lời xưng tán Đức Phật A Di Đà, đại lược như vầy :

Nếu ai nguyện làm Phật

Tâm niệm A Di Đà

Phật liền hiện thân đến

Cho nên tôi quy mạng

Do bổn nguyện của Phật

Nên thập phương Bồ Tát

Đến cúng dường nghe
pháp

Vì thế tôi cúi đầu

Bồ TátCực Lạc

Thân xinh đẹp trang
nghiêm

Đủ cả các tướng hảo

Nay tôi quy mạng lễ

Bồ TátCực Lạc

Ngày ngày trong ba thời

Cúng dường thập phương
Phật

Nên tôi cúi đầu lạy

Nếu người trồng căn
lành

Nghi thời hoa không nở

Người tín tâm thanh tịnh

Thời hoa nở thấy Phật

Hiện tại thập phương Phật

Vì muốn độ chúng sanh

ca tụng Di Đà

Nên tôi quy mạng lễ

Cõi đó rất trang nghiêm

Thanh tịnh hơn thiên
cung

Công đức rất sâu dày

Nên tôi lạy chân Phật.

Ngài lại tạo bộ “Trí Độ Luận”.
Trong luận ấy, nơi chương dạy về Pháp môn niệm Phật, có lời như vầy :

“Niệm Phật Tam muội” trừ được các
thứ phiền nãotội nghiệp của đời trước.

Các môn Tam muội khác, có môn trừ
được dâm tâm mà không thể trừ sân; có môn trừ được sân mà không thể trừ dâm
tâm
; có môn trừ được si mà không trừ được dâm và sân; có môn trừ được tham sân
si
mà không trừ được tội nghiệp đời trước.

“Niệm Phật Tam muội” này trừ được
các thứ phiền não và các thứ tội nghiệp.

Lại nữa, “Niệm Phật Tam muội” có
đại phước đức có thể độ chúng sanh.

Các vị Bồ Tát muốn độ chúng sanh,
các Tam muội khác phước đức không bằng “Niệm Phật Tam muội”; Tam muội này mau
trừ diệt được các tội chướng.

Lại nữa, Phật là đấng Pháp Vương,
còn chư Bồ Tát như Pháp tướng, chỗ tôn trọng của Bồ Tát chỉ là Phật Thế Tôn, vì
thế nên phải thường niệm Phật.

Ví như quan đại thần được đức vua
yêu chuộng, nên thường nhớ tưởng đến vua mình. Bồ Tát cũng vậy, biết rằng những
công đức
cùng vô lượng trí huệ của mình đều từ nơi Đức Phật mà đặng, vì ơn Phật rất nặng
nên thường niệm Phật.

Lại do vì niệm Phật luôn, tâm
không
rời Phật, nên Bồ Tát thường được gặp chư Phật.

Hỏi : Bồ Tát phải hóa độ chúng
sanh
, sao lại muốn thường gặp chư Phật ?

Đáp : Những người chưa nhập “Bồ
Tát chánh vị”, chưa chứng đặng bậc “bất thoái chuyển”, chưa được “Phật thọ ký”,
nếu rời chư Phật thì hư hoại các thiện căn, chìm trong vực phiền não. Tự độ lấy
mình còn chưa được, đâu có thể độ người. Như người đi thuyền, giữa dòng thuyền
hư bể, muốn vớt chở người khác, mà mình đã bị chìm. Nơi tâm thời muốn được,
nhưng nơi sự thời không thành mà lại thêm hại. Lại như đem một ít nước sôi đổ
vào ao lớn đông giá, dầu tan một ít chỗ nhưng rồi nước sôi ấy trái lại bị đông
thành giá !

Bồ Tát chưa nhập pháp vị nếu xa
rời chư Phật, không phương tiện lực mà dùng một ít công đức đi hóa độ chúng
sanh
, dầu cũng có thể được chút ít kết quả, nhưng trái lại tự bị đọa lạc. Vì
thế nên các bậc Bồ Tát này phải thường gần Phật, không được rời !

Các vị A-la-hán cùng Bích Chi
Phật
, dầu có kết quả chứng Niết-bàn, nhưng vì chưa có Nhứt thiết chủng trí
không thể dìu dắt các Bồ Tát. Duy chư Phật đã thành tựu Nhứt thiết chủng trí
nên có thể chỉ dạy dắt dìu chư Bồ Tát. Như voi sa lầy thời chỉ có dùng voi mới
cứu được. Bồ Tát nếu sa vào phi đạo thời chỉ có Phật mới cứu được, vì đồng một
đạo Đại thừa vậy. Vì những lẽ trên, Bồ Tát phải gần Phật !

Lại nữa, Bồ Tát tự nghĩ rằng ta
chưa có Phật nhãn không khác kẻ mù lòa, nếu không được Đức Phật dẫn đạo thời vì
không thấy đường mà sẽ bị lạc vào nẻo khác. Giả sử được nghe Phật pháp, nhưng
vì ở khác chỗ của Phật mà thực hành, thời sẽ có sự hại là chưa rõ thời tiết
giáo hóa, nơi pháp nên thực hành nhiều hay
ít. Vì thế nên Bồ Tát phải thường gần Phật.

Lại nữa, Bồ Tát gần Phật, hoặc
mắt thấy Phật mà tâm thanh tịnh, hoặc nghe Phật dạy tâm liền vui thích pháp vị
mà được đại trí huệ, rồi tu hành theo pháp mà được đại giải thoát.

Gần Phật được vô lượng lợi ích
lớn như vậy, há lại chẳng nên nhứt tâm cầu muốn thấy Phật, gần Phật ư ?

Như trẻ thơ chẳng nên rời mẹ;
người đi đường xa vắng chẳng nên rời lương thực; mùa nóng bức chẳng nên rời gió
mát nước lạnh; mùa quá rét chẳng nên rời lửa; qua dòng sâu rộng chẳng nên rời
thuyền; người bệnh chẳng nên rời lương y.

Bồ Tát chẳng nên rời chư Phật,
lại là vấn đề thiết yếu hơn các việc trên.

Những sự lợi ích đem lại do nơi
cha mẹ, thân thuộc, các trí thức, cùng nhơn vương, thiên vương, nhẫn đến tất
cả, đều không bằng sự lợi ích được nơi Đức Phật. Đức Phật làm cho các vị Bồ Tát
được sự lợi ích lớn : khỏi các nẻo khổ, an ở nơi Phật địa.

Hỏi : Làm thế nào để đặng không
rời chư Phật ?

Đáp : Chúng sanh đều có tội
nghiệp
nhân duyên trong vô lượng kiếp, dầu thực hành phước đứctrí huệ cạn
cợt, dầu tu hành trí huệphước đức kém mỏng. Bồ Tát cầu Phật đạo phải thực
hành
Sanh nhẫnPháp nhẫn. Vì thực hành Sanh nhẫn mà đối với tất cả chúng
sanh
phát tâm từ bi, nên diệt được vô lượng
tội chướng, tăng trưởng vô lượng phước đức. Vì thực hành Pháp nhẫn phá
vô minh, nên đặng vô lượng trí huệ. Đủ cả hai hạnh Sanh nhẫnPháp nhẫn thời
được đời đời không rời chư Phật.

Lại nữa, vì Bồ Tát thường thích
niệm Phật nên đời đời luôn luôn gặp chư Phật.

Ví như chúng
sanh
nào lòng dâm quá nặng thời sẽ thọ thân dâm điểu (se sẻ, vịt, v.v…). Chúng sanh nào tâm
sân hận quá trọng thời sẽ sanh vào các loại độc trùng (rắn, rết, v.v…)

Cũng vậy, Bồ Tát không màng sự
giàu sang phước báu của người của trời, chỉ thích thường niệm Phật, vì thường
niệm Phật
nên tùy tâm nguyện được sanh về Tịnh Độ.

Lại nữa, do
Bồ Tát thường khéo tu “niệm Phật Tam muội”, nên sanh vào đâu cũng thường gặp
chư Phật. Kinh “Bát Chu Tam Muội” có nói : “Bồ Tát nhập Tam muội này, thời hiện
đời sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà…”

Về sau nhân duyên giáo hóa đã
mãn, Long Thọ Bồ Tát phó pháp cho ngài Ca Na Đề Bà Tôn giả rồi nhập Tam muội
thị tịch.

Trong pháp hội Lăng Già, Đức Bổn
Sư từng nói với Đại Huệ Bồ Tát rằng : “Ông Đại Huệ nên biết : Sau khi Phật diệt
độ, tương lai sẽ có người hộ trì chánh pháp Phật, là người Nam Thiên Trúc đại
danh
đức Tỳ kheo tôn hiệuLong Thọ. Tỳ kheo đó phá được các hữu tông, vô
tông, để hiển pháp Vô thượng Đại thừa của Phật dạy. Long Thọ đó chứng bậc Hoan
Hỷ địa Bồ Tát
, vãng sanh Cực Lạc quốc”. Đây là lời huyền ký của Đức Bổn Sư, mà
cũng là lời thọ ký cho Long Thọ Bồ Tát vậy.

VIII-
GIÁC MINH DIỆU HẠNH BỒ TÁT

Trích ở bộ : “Tây Phương
Xát Chỉ”

Nhà Minh, năm Sùng Trinh thứ 16,
Bồ Tát giáng thần ở Ngô Môn. Nhà Thanh, năm Thuận Trị thứ tư, Bồ Tát ứng cơ
thuyết pháp dạy truyền Pháp môn Tịnh độ.

Ngài dạy rằng : Pháp yếu của chư
Phật rất vi diệu bí mật không thể nghĩ bàn.
Vì không thể nghĩ bàn nên không ai diễn nói hết cả được.

Đức BổnMâu Ni Phật thương xót
chúng sanh mà nói chỗ chẳng có thể nói, để dạy dỗ dắt dìu trong đời nay và đời
sau
.

Đức Phật lại
dùng phương tiện đặc biệt hiển bày cõi Cực Lạc,
bảo người phát nguyện vãng sanh hầu thoát khỏi luân hồi một cách mau
tắt.

Do đại nguyện lực của Đức Phật A
Di Đà
nhiếp thọ mọi loài, nên hễ ai nghe danh hiệu A Di Đà Phật mà siêng thọ
trì
thời quyết định được vãng sanh Tịnh Độ.

Nếu người nào dũng mãnh tinh tấn
chuyên niệm tâm thường nhứt, thời thành tựu “Niệm Phật Tam muội” hiện tiền cũng
được thấy Đức Phật A Di Đà.

Ngày nay ta theo đúng như lời Đức
Phật
đã dạy mà giảng dạy môn Tịnh độ. Ta nghĩ vì các người mê mờ nên chỉ thiệt
con đường chơn chánh. Đây chẳng phải là nhân duyên nhỏ, các người phải gắng
trân trọng. Cực Lạc đường xa mười muôn ức, một niệm tin chắc thời chính là đấy.

Ngài lại dạy : Pháp môn Tịnh độ
đây thật là tâm tông của chư Phật. Là con đường đi đến quả vị giải thoát tắt
nhứt của mọi loài.

 Nay các người dầu cũng cầu
vãng sanh
mà tâm lại không thiết, thời cũng như người vào biển mà không được
bảo châu, luống nhọc vô ích. Để ta thuật việc đời trước của ta cho các người rõ
:

Nhà Tấn, thời vua Minh Đế, ta là
một gã nghèo cùng. Vì thiếu hụt khốn khổ quá, nên sau khi ta được biết Pháp môn
Tịnh độ, ta bèn lập nguyện lớn như vầy : “Vì đời trước tôi gây tạo nghiệp ác
nên nay mang lấy quả báo khổ sở này. Nếu bây giờ tôi không được thấy Đức Phật A
Di Đà
sanh về Cực Lạc hầu thành tựu tất cả công đức, thời dầu cho thân này chết
rã tôi cũng quyết không ngơi nghỉ”. Thề nguyện xong, ta chuyên cần nhớ Phật
niệm Phật luôn đêm ngày. Đến ngày thứ bảy, tâm trí ta bỗng khai thông, thấy Đức
Phật
A Di Đà tướng hảo quang minh chiếu sáng mười phương, Đức Phật đưa tay vàng
xoa đầu ta mà thọ ký. Năm 75 tuổi, ta ngồi kiết già niệm Phật mà bỏ thân. Được
Phật và Thánh chúng rước về Cực Lạc. Nhưng vì bổn nguyện độ sanh nặng nơi lòng,
nên ta trở lại cõi trược này, tùy thời theo cơ mà hiện thân giáo hóa. Có lúc ta
làm thầy Tỳ kheo, nhà cư sĩ. Có khi ta làm vua, làm quan. Lắm lúc ta làm người
nữ hay gã ăn mày, v.v… Dùng các phương tiện hoặc ẩn hoặc hiển, hoặc thuận
hoặc nghịch mà dìu dắt mọi người vào Chánh pháp.

Đến nay, ta lại vì các người mà chỉ
dạy môn Tịnh độ. Các người phải nhứt ý nhứt tâm bền tu pháp môn này quyết sẽ
được lợi ích lớn. Nếu các người tinh tấn bền chí nhứt tâm, thời không đợi gì
đời sau mới được gần Phật, mà hiện tiền đây cũng được thấy Phật.

Ngài nói kệ :

Ít nói một câu chuyện

Nhiều niệm một câu Phật

Đánh chết được vọng niệm

Pháp thân người hiển lộ.

Có người bạch hỏi : Niệm Phật
không được nhứt tâm thời làm thế nào ?

Ngài dạy : Ông phải dứt tưởng
dừng lo, rồi chậm chậm mà niệm. Phải làm sao
cho tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng. Niệm như vậy lâu lâu thời các vọng niệm tự đứng lặng, tâm cảnh tuyệt chiếu chứng nhập
“niệm Phật Tam muội”. Nhưng hằng ngày cần phải niệm cho thường, từ nghìn đến
muôn, tâm đừng gián đoạn thời rất dễ thuần thục. Nếu cố ép tâm cho nhứt, thời
trọn không thể nhứt được.

Rồi ngài lại dạy : Vọng niệm diệt
dứt, đó là chơn tâm thường trụ của chư Phật. Vọng niệm mà còn đó là nghiệp tâm
sanh tử của chúng sanh. Nếu các người có thể miên mật gia công, tâm không một
mảy hở trống thời mới đặng tương ưng đôi phần.

Phải dè dặt đừng có vừa thực hành
đặng nửa năm hay mười tháng, rồi tự cho là mình đã có công tu hành. Phải biết rằng quan niệm tự đắc ấy, chính là chỗ chướng đạo. Rất phải cẩn thận
! Mặc dầugắng sức công phu, nhưng nếu niệm lực chưa vững như núi đồng, chắc
như vách sắt, xô không ngã, lay không động, thời vẫn chưa phải đã thành nhứt
phiến đâu. Chớ có mới vừa được đôi chút đắc lực bèn dừng tay, mà thành lỗi “bán đồ nhi phế”, có khi rồi phải hỏng cả
công phu trước, đây là chứng bệnh lớn của các nhà tu hành, cần phải biết. Nên
hiểu rằng : Phật pháp như biển cả càng vào càng sâu, không phải đôi chút tri
kiến
mà thấu hết được. Phải gia công tu tập trọn đời, đi mãi đến nguồn đến đáy
làm mục đích, không nên có quan niệm xem thường.

Có ông Cố Định Thành thỉnh giáo.

Bồ Tát dạy : Tâm vốn vô niệm.
Niệm theo tư tưởng mà sanh. Vì tư tưởng là thứ hư vọng nên lưu chuyển sanh tử.

Ông nên nhận biết : một câu A Di
Đà Phật
đây, chẳng phải từ tư tưởng sanh, chẳng phải do ức niệm mà có, không
phải ở trong, không phải ở ngoài, không có tướng mạo. Đó chính là bặt hết các
vọng tưởng, cùng với chân thân vi diệu thanh
tịnh
của Như Lai không phải đồng, không phải khác, không thể phân biệt
là đồng là khác. Niệm Phật như vậy, thời phiền
não
trần lao không đoạn dứt mà cũng không
hệ phược, duy là nhứt tâm thôi. Được nhứt tâm rồi mới phải là “chấp trì
danh
hiệu”, mới được gọi là “nhứt tâm bất
loạn”. Đến đây thời tịnh nghiệp thành công, thẳng lên bậc “Thượng phẩm”.

Trước hết ông nên phát đại nguyện
: “Nguyện sanh Cực Lạc thế giới”. Rồi chí thành tha thiết xưng niệm A Di Đà
Phật
. Tiếng niệm phải duyên theo tâm, tâm niệm phải duyên theo tiếng. Tiếng và
tâm phải khắn chặt vào nhau, như mèo vồ chuột. Niệm Phật như vậy được lâu lâu
không xao lãng, thời sẽ chứng nhập “Chánh ức niệm Tam muội”. Chứng Tam muội
rồi, nếu muốn tiến thêm lên, thời nên tham phỏng với các bậc cao minh đại tri
thức
để được tự ngộ diệu lý “Tức Tâm Thị Phật”.

Ngài có lời bảo ông Vô Hủ rằng :
Người tu tịnh nghiệp đại để lúc đi đứng ngồi nằm, lúc ở lúc ăn, đều nên xoay
mặt về hướng Tây, thời cơ cảm dễ thành, thiện căn mau thục. Trong thất chỉ cúng
một tượng Phật, một bộ Kinh, một bàn thờ, một lư hương, một giường, một ghế.
Chẳng nên để nhiều đồ vật khác. Ngoài sân lại nên quét dọn trống trải sạch sẽ
để kinh hành cho tiện. Cần phải làm sao cho tâm mình không còn phải bận rộn một
việc gì khác, trừ ngoài việc chuyên niệm Phật, cũng không lo tính một sự gì,
rảnh rang vô sự. Không nhớ thân, không duyên cảnh. Cho đến hiện tại đương niệm
Phật
hành đạo đây, cũng không có quan niệm là mình tu hành. Được như vậy, thời
ngày càng gần với đạo mà việc đời ngày xa, có thể thành tựu tịnh nghiệp. Lúc
hiện sống đây mà ông dũ sạch việc trần trong tâm niệm không có mảy may vướng
víu thời lúc mạng số đến ông sẽ thanh thoát vui vẻ mà đi. Như thế há chẳng phải
tư cách của bậc đại trượng phu đấy ư !

Ta bảo như vậy là muốn ông không
còn rộn ràng với những sự vặt vãnh, để nhứt tâm tu hành. Vì chính đó là điều
kiện
quan trọng.

Đến như phương pháp tu Tịnh độ
không ngoài hai chữ “chuyên” và “cần”.

“Chuyên” thời không quản đến một
việc nào khác.

“Cần” thời không bỏ phí một phút
một giây.

Từ nay, mỗi sáng sớm, sau khi
thức dậy, ông tụng một quyển Kinh A Di Đà, niệm hiệu Phật một nghìn câu, rồi
lạy Phật hồi hướng với bài văn “Nhứt tâm quy mạng”, vì bài văn này lời gọn mà
đủ ý. Nếu lạy Phật được một trăm lạy càng tốt. Đây là khóa tụng niệm một thời.

Ban đầu chưa quen, nên ngày đêm
bốn thời. Khi đã quen thì tăng lên sáu thời, lần
đến mười hai thời. Thành mỗi ngày thêm được mười hai quyển Kinh, một muôn hai nghìn
câu Phật, dùng số này làm thường khóa mỗi ngày. Cũng có thể hiệp lại chia thành
bốn thời. Ngoài số này ra, những công phu khác thời không kể.

Về việc niệm tụng, hoặc ra tiếng,
hoặc tưởng thầm, đều được cả. Chỉ cần phải nhiếp tâm niệm cho chắc mà thôi.

Lại, phép trì danh cần phải mỗi
chữ mỗi câu rõ ràng rành rẽ, tiếng và tâm hiệp nhau, không cho xen lộn một mảy
tưởng niệm thế sự. Lâu lâu tự thành thục, quyết định đặng sanh Cực Lạc, ngồi
tòa sen báu trụ bậc “bất thoái chuyển”. Ông phải cố gắng lấy !”.

Bồ Tát thuyết pháp kể được 24
hội, đệ tử của ngài là ông Thường Nhiếp chép lời dạy của ngài thành bộ “Tây
Phương Xát Chỉ”, khắc bản lưu truyền.

LỜI PHỤ.- Về sự hạ thủ công phu
nơi Pháp môn Tịnh độ, lời dạy của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát rất rõ và rất
thiết. Ta có thể nắm lấy đại cương như thế này :

Tông chỉ của pháp môn Tịnh độ
“tín”, “hạnh” và “nguyện”. Tín và nguyện làm cơ bản cho hạnh.

1. Về “Tín”, ngài dạy :

Cực Lạc đường xa muôn ức, một
niệm tin chắc thời chính là đấy !

Trong lời dạy trên đây, ta nên chú
ý nơi hai chữ “tin chắc”. Tin chắc cõi Tây phương Cực Lạc thanh tịnh trang
nghiêm
. Tin chắc nguyện lực của Đức Từ Phụ A Di Đà Phật nhiếp thọ mọi loài. Tin
chắc
ta y pháp tu hành quyết được vãng sanh trụ bậc “bất thoái chuyển”. Với ba
điều trên, không một mảy may nghi ngờ, không một niệm dụ dự, đó gọi là “tin
chắc”.

2. Về “Nguyện”, ngài dạy :

Nên phát đại nguyện “Nguyện sanh
Cực Lạc”.

Nguyện sanh Cực Lạc là một đại
sự
. Vì chúng ta, hay chúng sanh trong cõi Ta Bà ngũ trược ác thế, từ vô lượng
đời, vô lượng kiếp, lăn mình trong vũng lầy ngũ dục, mê say nơi cảnh lục trần,
dục vọng tràn ngập tâm thần, phiền não chứa đầy cả bụng, tình ái khó dứt, tham
nhiễm
khó rời. Nếu chẳng phải là người thống niệm trược ác, lòng quyết thoát
ly
, thời chí nguyện quyết sanh Cực Lạc khó thể lập vững được. Đây là điều khó
phát nguyện thứ nhứt. Muốn về Cực Lạc phải có Đại thừa tâm : thượng cầu hạ hóa.
Mà nơi chúng ta ngã chấp quá dày, tư kỷ đã quen. Nay phải dẹp ngã nhơn để cầu
Phật quả, bỏ tư kỷ để thành chí độ sanh, nếu không phải là hạng đại trượng phu,
chơn liệt nữ, thời chí nguyện quyết về Cực Lạc khó lập vững được. Đây là điều
khó phát nguyện thứ hai. Vì vậy nên Bồ Tát gọi nguyện sanh Cực Lạc là phát đại
nguyện
. Nơi đây ta nên chú ý “lập nguyện cho vững”, nghĩa là không một hoàn
cảnh
nào có thể làm dời đổi chí nguyện vãng sanh của ta, dầu đó là sự khổ như
tròng vòng lửa đỏ vào đầu, hay sự vui như ngôi Luân Vương cùng Thiên Đế, Bồ Tát
có lời răn : “Các người dầu cùng cầu vãng sanh mà tâm lại không thiết”. Và
chính tự ngài đã nêu gương : “Nếu ngày nay tôi không được thấy Phật A Di Đà,
không được sanh về Cực Lạc hầu thành tựu tất cả công đức, thời dầu thân này có
chết rã, tôi cũng không thôi nghỉ”. Nhờ lập nguyện vững, mà Bồ Tát đã được
thành tựu !

3. Về “Hạnh”, ngài dạy :

A- Nơi cảnh : Phải xa tránh tất cả
cảnh duyên có thể rộn tâm chướng đạo. Chỗ ở phải đơn giản, để khỏi bận rộn.
Hằng ngày phải rảnh rang vô sự, để khỏi lo tính.

B- Nơi tâm : Phải không lo phiền,
dứt tưởng vọng, dừng tư lự.

C- Về sự tu : Phải định thời khóa
trong mỗi ngày. Theo ngài dạy, mỗi ngày đêm ít nhứt bốn thời. Mỗi thời ít nhứt
là một biến Kinh A Di Đà và một nghìn câu hiệu Phật. Thế là mỗi ngày đêm ít
nhứt bốn biến Kinh A Di Đà và 4.000 câu hiệu Phật. Rồi tăng lần lần lên đến mỗi
ngày đêm 12 biến Kinh và 12.000 câu hiệu Phật. Lại phải lạy Phật hoặc 100 lạy
hay ít hơn trong mỗi thời. Và sau mỗi thời đều phải hồi hướng công đức nguyện
sanh Cực Lạc với bài văn “Nhứt tâm quy mạng”.

Nhưng nơi đây ta có thể châm
chước mà dùng nếu là người vì hoàn cảnh không được thuận tiện hay yếu kém, cũng
có thể mỗi ngày đêm ít thời hơn và tụng niệm ít hơn, đó là sự bất đắc dĩ chớ
không phải giải đãi. Còn nếu là người có đại lực và được hoàn cảnh thuận tiện
cũng có thể tăng nhiều hơn, đó là tinh tấn chớ không phải vội gấp. Điều cốt yếu
là sau khi đã ấn định rồi, phải giữ cho thường, không nên nay vầy mai khác. Thà
lúc đầu ít sau tăng lần thêm chớ không nên vội ham nhiều mà rồi sụt ít. Cũng
không nên để gián đoạn, nghĩa là không được bữa có bữa không. Hồi hướng cũng có
thể đọc văn “Thập phương tam thế Phật” hoặc các văn nguyện về Cực Lạc khác,
theo sở thích đều được. Nếu khỏe và nhiều giờ, nên đọc bài “Khể thủ Tây phương
An Lạc quốc”. Vì bài này, lời cùng nghĩa rất đầy đủ thiết tha.

Điều kiện thứ nhứt, trong lúc
tụng niệm, phải rành rẽ rõ ràng.

Rành rẽ là chữ câu rành rẽ không
lộn lạo mù mờ. Rõ ràng, là tiếng nói rõ ràng, không trại tiếng.

Điều kiện thứ hai, tiếng phải
hiệp với tâm, tâm phải duyên theo tiếng, tâm và tiếng hiệp khắn với nhau.

Điều kiện thứ ba, phải chí thành
tha thiết, với Đức Từ Phụ, lòng ta như con thơ nhớ mẹ, với cõi Cực Lạc lòng ta
như viễn khách tưởng cố hương.

Điều kiện thứ tư, không cho xen
lộn một mảy tưởng niệm thế sự, nghĩa là phải luôn nhiếp tâm trụ nơi tiếng niệm
Phật
, không xao lãng. Nếu lỡ xao lãng phải liền nhiếp thâu lại. Với trường hợp
đây, chú tâm nhận chắc lấy tiếng của mình niệm là công hiệu nhứt.

Bồ Tát lại bảo ta lúc đi đứng nằm
ngồi, khi ăn khi uống, v.v… đều nên xoay mặt về hướng Tây, để tâm ta lúc nào
cũng tưởng nhớ Cực Lạc thế giới, hầu giúp cho công phu tịnh nghiệp chóng thành.
Về điều này ta có thể trừ lúc khạc nhổ, đi đại tiểu tiện, còn tất cả thời đều
nên hướng về Tây phương.

Nếu theo đúng các điều kiện đã
dạy trên đây mà gia công thực hành, trong một thời gian tiếp tục luôn không gián đoạn sẽ được “bất niệm tự niệm”. Tổ
Thiện Đạo và Tổ Vân Thê gọi là được niệm lực tương tục. Được niệm lực tương tục
này mà giữ vững trọn đời thời sự vãng sanh đã bảo đảm. Tiến thêm, nếu càng gia
công
chí thành khẩn thiết chuyên niệm không hở, trong quên thân ngoài quên
cảnh, thời chứng nhập “Chánh ức niệm Tam muội” cũng gọi “Sự niệm Phật Tam muội”
mà cũng chính là “Sự nhứt tâm bất loạn”. Được Tam muội này, thời ở trong Tam
muội
được hiện diện thấy Đức Từ Phụ cùng chư Bồ Tát Thánh chúng và cõi Cực Lạc.
Tức là “Hiện tiền được thấy Phật” lời của ngài đã dạy ở trên, mà cũng là lời
của đức Đại Thế Chí Bồ Tát trong pháp hội Lăng Nghiêm.

D- Về lý quán : ngài dạy “Tâm vốn vô
niệm”. Niệm không ngoài tâm, nên chính niệm tức vô niệm. Niệm đã tức vô niệm,
nên câu A Di Đà Phật hiện tiền đây, chẳng phải từ tư tưởng, chẳng phải do ức
niệm
, không phải trong, không phải ngoài, không có tướng mạo, ba thuở suy cùng,
bốn vô sở đắc, rời tất cả hư vọng, toàn thểchơn tâm. Đã toàn thểchơn
tâm
nên cùng với chơn thân vi diệu của chư Phật không đồng không khác, không
thể phân biệt. Được chứng ngộ toàn niệm tức là tâm, toàn tâm tức là Phật, tâm
và Phật không hai, thời vô minh diệt, pháp thân hiển lộ, trần lao sanh tử
chuyển thành Niết-bàn, phiền não vọng hoặc chuyển thành Bồ-đề. Đây chính là “Lý
niệm Phật nhứt tâm bất loạn”, mà cũng là “Lý
niệm Phật Tam muội”. Người thành tựu “lý Tam muội” này thời sẽ vãng sanh
Thượng phẩm, trụ “Thường tịch quang Tịnh Độ”.

E.- Sau khi chỉ dạy công hạnh “sự
tu” và “lý quán” xong, ngài dùng hai chữ “chuyên cần” để tổng kết.

“Chuyên cần”
tức là tinh tấn. “Chuyên” thời ròng rặt chuyên tu một môn niệm Phật, không xen tạp việc
khác. “Cần” thời siêng năng thắng tấn, không bỏ một thời nào, nhẫn đến một phút
một giây cũng không bỏ phí. Thực hành đúng pháp mà tinh tấn chuyên cần thời
công hạnh chắc chắn thành tựu.

Ta có thể đem bài kệ của ngài để
phối hiệp với lời dạy về phần công hạnh này.

Ít nói một câu chuyện : Chính là không xen tạp
chuyện khác để một mặt chuyên tu niệm Phật.

Nhiều niệm một câu Phật : Niệm Phật nhiều, chính
siêng cần, mà cũng là chuyên ròng niệm Phật.

Như thế hai câu đầu của bài kệ
tổng quát về phần “sự tu”, tức là ngài dạy phải chuyên cần niệm Phật. Y theo
đây mà thực hành sẽ thành tựu niệm lực tương tục và nhẫn đến chứng nhập “Sự
niệm Phật Tam muội”, mà phiền não vọng hoặc đã bị ngăn đè vậy :

Đánh chết được vọng niệm

Pháp thân người hiển lộ.

Hai câu sau cùng của bài kệ
chỉ về phần chứng “Lý niệm Phật Tam muội”. Đạt diệu lý “Toàn niệm tức tâm, toàn
tâm thị Phật”, thời là chứng ngộ pháp thân, mà phiền não vọng hoặc đã bị dứt
trừ vậy.

Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát dạy về Pháp môn niệm Phật bao
quát cả tín, hạnh, nguyện. Nhứt là công hạnh, từ cảnh duyên đến tâm niệm, cả sự
tu cùng lý quan rất rành rẽ xác đáng và rất đầy đủ. Chúng ta nên thường ngày
đọc đi đọc lại, kiểm điểm công hạnh niệm Phật của mình, cho được hoàn toàn đúng
theo lời Bồ Tát đã dạy : Nếu dụng công hoàn toàn đúng theo lời Bồ Tát đã dạy
thời quyết định sẽ thành tựu tịnh nghiệp, chín phẩm sen vàng sẽ nắm chắc trong
tay vậy.


[1]Tu
“Phước” là cúng dường. Tu “Huệ” là niệm Phật.

[2]“A
bệ bạt trí” là Phạn âm. Hán dịch “bất thoái chuyển” nghĩa là “bậc không còn lui
sụt nơi Phật thừa”.

[3] Trong Hoa Nghiêm Đại Sớ nói : Kinh Hoa Nghiêm văn Phạn
gồm có 40 vạn Kệ. Bộ Hán dịch 80 quyển chỉ là 10 vạn Kệ. Còn 30 vạn Kệ chưa
truyền.

CHƯƠNG THỨ BẢY

LIÊN TÔNG
CHƯ TỔ

Trong chương này, lược
thuật tiểu sử cùng lời dạy của chư vị Tổ sư chánh truyền giữ gìn và rộng truyền
Pháp
môn Tịnh độ của Đức Bổn Sư nơi miền Đông châu Á này. Bắt đầu từ Tổ Huệ
Viễn
đến Tổ Triệt Ngộ lưu truyền cộng là 11 vị. Trước Tổ Huệ Viễn, Pháp môn
Tịnh độ đã lưu truyền phương Đông này rồi và cũng đã có nhiều người thực hành,
nhưng sự tổ chức cho có hệ thốngchấn chỉnh cho có quy củ, thời Tổ Huệ Viễn
là sơ thỉ. Vì thế nên ngài là Sơ Tổ của tông Tịnh độ ở miền Đông.

Sau Tổ Triệt Ngộ, tất
cũng còn nhiều vị Tổ kế truyền, vì Tổ thị tịch năm Gia Khánh thứ 15 triều
Thanh, từ ấy đến nay tính thời gian cũng hơn thế kỷ; vả lại vào thời Dân Quốc,
pháp môn này rất phổ cập và hàng tứ chúng được thành công có đủ chứng nghiệm
không thể kể xiết (Xem tập Tứ chúng vãng sanh, tức là tập sau của bộ này).
Nhưng vì tài liệucứu chỉ được đến Tổ Triệt Ngộ thôi, nên đành tạm ngưng nơi
đệ thập nhứt Tổ.
 

I
.SƠ TỔ HUỆ VIỄN ĐẠI SƯ

Huệ
Viễn
Đại sư họ Cổ, người Nhạn Môn. Lúc thơ ấu, bẩm tính ngài rất hiếu học, đã
thông Nho điển lại rất giỏi về học thuyết Lão, Trang.

Bấy
giờ, Đạo An Pháp sư lập chùa Hằng Sơn, vân tập Tăng chúng thuyết pháp. Ngài
nghe tiếng mến đức, bèn đến Hằng Sơn quy y với Pháp sư.

Khi
nghe Đạo An Pháp sư giảng Kinh Bát Nhã, tâm trí ngài mở thông tỏ ngộ diệu lý.
Ngài bèn than rằng: “Nào ngờ Phật thừa thâm diệu! Bấy lâu nay uổng công ta đeo
đuổi theo bã rác Khổng, Mạnh, Lão, Trang!”

Rồi ngài xin xuất gia, pháp hiệu Huệ Viễn.

Từ
đó trở đi, ngài liền đêm ngày chuyên tâm đọc tụng, tư duy, tu tập. Đạo An Pháp
thấy ngài chuyên cần nên khen rằng: “Phật pháp sẽ được lưu hành ở Trung
Đông, tất do nơi Huệ Viễn này vậy”.

Năm
Thái Ngươn thứ 6, nhà Tấn, đến Tầm Dương thấy cảnh núi Lô Sơn rộng rãi tĩnh mịch,
phải nơi hành đạo, ngài bèn lập tịnh xá ở đó, hiệu là Long Tuyền([1]).

Lúc
đó, Pháp sư Huệ Vĩnh bạn đồng sư của ngài, đã lập chùa Tây Lâm ở phía Tây
Sơn
mời ngài cùng về Tây Lâm tự.

Được
ít lâu, học chúng theo ngài quá đông, chùa Tây Lâm không đủ chỗ, ý ngài muốn lập
cảnh khác ở phía Đông Lô Sơn. Sơn thần đến xin cúng cây gỗ. Rồi sau một đêm mưa
to gió lớn, cây gỗ chồng chất ngổn ngang. Quan Thứ Sử Hoàn Y phát tâm dựng tòng
lâm
cho ngài. Vì Sơn thần dâng gỗ và đối với Tây Lâm tự, nên để hiệu là “Đông
Lâm Thần Vận tự”.

Khi
nơi chốn đã yên, ngài liền đốc suất đại chúng hành đạo, đào ao trồng sen. Trên
mặt nước thả bông sen gỗ 12 cánh. Cứ mỗi giờ là nước ngập một cánh, dùng định
giờ hành đạo. Gọi là Liên lậu.

Lần lần những nhà đại
trí
thức mộ đạo ở bốn phương, như Giác Hiền, Phật Đà Gia Xá, Lưu Di Dân, Vương
Kiều Chi v.v… nghe tiếng ngài nên đến xin dự chúng tu tập được 123 người,
ngài bảo: “Quý vị đến chốn này phải chăng là người quyết chí nơi Tịnh Độ ư?”.
Ngài bèn tạo tượng Di Đà, Quan Âm, Thế Chí. Lập hội Liên Xã, bảo ông Lưu Di Dân
làm bài văn phát nguyện khắc vào bia đá. Người dự hội đều tinh tấn hành đạo,
ngày đêm sáu thời không trễ, lần lượt đều chứng Tam muội, đều được vãng sanh.
Lúc lâm chung đều có thoại ứng cả.

Ngài
từng có lời phát huy ý nghĩa Tam muội:


Gọi Tam muội đó là chi? Tức là “chuyên tư tịch tưởng” vậy.

“Chuyên
tư”
thời tâm trụ nơi nhứt.
“Tưởng tịch” thời khí rỗng thần sáng. Khí rỗng thời trí ngộ nơi
lý. Thần sáng thời không chỗ kín nào mà chẳng thấu.

Lại
các môn Tam muội rất nhiều, nhưng dễ được mà công lại cao, thời duy có niệm
Phật Tam muội
là hơn hết. Vì cùng nơi huyễn, tột nơi tịch
tôn hiệu “Như Lai”. “Thể hiệp”, “Thần biến” không chi sánh bằng. Vì thế
nên người nhập Tam muội này, tâm thần vắng bặt vong sở tri. Chính nơi cảnh
sở duyên
đó mà thành trí huệ. Trí huệ sáng thời chiếu suốt nơi trong mà
vạn tượng hiện bày rõ ràng vậy. Chỗ tai mắt không đến được mà vẫn thấy vẫn nghe.
Vẫn thấy vẫn nghe mà tâm thần vẫn vắng bặt, vắng bặt mà tự nhiên trong sáng. Do
trong sáng nên khi tham cứu bổn tâm, tình trệ liền dung lãng…

Ngài
thấy ở Giang Đông Kinh tạng thiếu nhiều, nên sai các đệ tử băng núi vượt rừng,
đến Tây Thiên thỉnh Kinh. Các Kinh luật lưu hành từ Lô Sơn gần đến trăm thứ.

Ngài có trứ tác bộ “Pháp Tánh
Luận” phát minh chỉ thú Niết-bàn thường trụ. Bộ luận này truyền đến Quan Trung.
Pháp sư Cưu Ma La Thập được xem, liền khen rằng: “Ông Viễn ở biên phương chưa
đọc “Đại Niết Bàn Kinh”, mà lời luận lại hiệp với lý”.

Ngài
trụ Lô Sơn hơn 30 năm, mà trọn không bước chân xuống núi lần nào. Ngày như đêm,
ngài chuyên để tâm nơi Tịnh độ, lặng lòng quán tưởng.

Đã
ba phen thấy Phật và Thánh chúng hiện thân, mà ngài trầm hậu không nói ra.

Năm
Nghĩa Hy thứ 12, đêm 30 tháng Bảy, ngài ngồi nhập định nơi Bát Nhã đài. Lúc vừa
xuất định mở mắt ra, thấy Đức A Di Đà hiện thân nơi hư không với vô lượng Thánh
chúng
. Trong viên quangvô số Hóa Phật. Quan Thế Âm Bồ Tát hầu bên tả, Đại
Thế Chí Bồ Tát
hầu bên hữu. Phật và Bồ Tát đều ngự trên tòa sen báu đẹp sáng.
Mười bốn tia sáng quanh lộn lên xuống như vòi nước, vang ra tiếng diễn nói những
pháp: Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, các môn Ba-la-mật…”

Đức
Phật
bảo ngài rằng: “Vì bổn nguyện lực nên nay Ta đến an ủi ông, sau bảy ngày
ông sẽ sanh về nước của Ta”.

Ngài lại thấy những hội
hữu trong Liên Xã đã tịch trước, như các ông Phật Đà Gia Xá, Huệ Trì, Huệ Vĩnh,
Lưu Di Dân v.v… đều đứng phía sau Phật. Các ông ấy bước đến trước chắp tay
chào ngài mà nói với ngài rằng: “Đại sư sớm phát tâm về Tịnh độ, sao lại muộn
đến ngày nay?”.

Hôm sau, ngài thuật lại với các
đệ tử: Pháp Tịnh, Huệ Bửu v.v… và bảo rằng: “Ta ở Lô Sơn này, trong 11 năm
đầu, ba lần thấy Phật và Thánh chúng hiện thân. Nay lại thấy Phật thọ ký. Chắc
chắn
ta sẽ được sanh về Tịnh Độ”.

Rồi ngài tự soạn quy chế để cho
đại chúng y theo mà cùng ở cùng tu.

Đến ngày mùng 6 tháng Tám, ngài
cáo biệt đại chúng, rồi đoan tọaviên tịch, thọ 83 tuổi.

Trích
ở các bộ:

“Đông
Lâm truyện”, “Lô Sơn tập”

II.
NHỊ TỔ THIỆN ĐẠO ĐẠI SƯ

 Thiện Đạo Đại sư
người thời nhà Đường. Trong năm Trinh Quán, ngài thấy văn “Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo
Tràng” của Đạo Xước Thiền sư([2]),
mừng lắm nói: “Đây mới thiệt là con đường mau thành Phật. Tu các hạnh môn khác
quanh quất khó thành. Duy pháp môn này chóng thoát sanh tử”.

Từ đó, ngài dốc lòng tinh tấn đêm
ngày lễ tụng. Ít lâu ngài đến Trường An khuyến khích tứ chúng niệm Phật.

Mỗi khi ngài
vào thất quỳ niệm Phật, nếu chưa thiệt đuối sức thời chưa chịu nghỉ. Lúc ra thời vì chúng mà diễn
nói Pháp môn Tịnh độ.

Cần khổ tự tu và siêng dạy người,
trải ba mươi năm tròn, ngài không ngủ nghỉ.

Ngài lại được giới hạnh tinh
nghiêm
, không hề sai phạm, dầu là lỗi nhỏ.

Khi
được dâng cúng thực phẩm, món ngon tốt thời ngài bảo đem dọn cho chúng dùng,
còn phần ngài chỉ dùng thứ xấu dở mà thôi.

Bao
nhiêu tài vật của đàn tín thí cho, ngài dùng tả được hơn mười vạn bổn Kinh Di
Đà
, họa cảnh Tịnh Độ được ba trăm bức. Ngoài ra thời dùng vào việc sửa sang
chùa tháp, thắp đèn nối sáng, không để dư một mảy.

Kẻ
Tăng người tục đến quy đầu với ngài rất đông, lấy số vạn mà tính. Mọi người cảm
đức giáo hóa của ngài, nên ai ai cũng đều tinh tấn tu trì cả. Người thời tụng
Kinh
Di Đà từ mười vạn biến đến năm chục vạn biến. Kẻ thời mỗi ngày đêm niệm Phật
từ một vạn đến mười vạn câu. Những người hiện tiền chứng Tam muội, lúc lâm
chung
được vãng sanhthoại ứng, đông không thể kể xiết.


người hỏi: “Niệm Phật chắc được vãng sanh ư?”

Ngài
đáp: “Ông gắng niệm Phật thời sẽ được toại nguyện”.

Đáp
xong, ngài tự niệm “A Di Đà Phật”, liền có một tia sáng từ trong miệng ngài
theo tiếng niệm mà xẹt ra. Ngài niệm mười câu đến trăm câu, cứ mỗi câu là xẹt
ra một tia sáng dài nối tiếp nhau làm sáng rực cả chùa.

Sự
thần dị này truyền đến triều đình, vua Cao Tông phụng một tấm biển đề hiệu chùa
là “Quang Minh tự”.

Ngài
bài kệ khuyên đời như vầy:

Lần lần tóc bạc da mồi

Thấm thoát bước đi lụm cụm

Dẫu rằng: vàng ngọc đầy nhà

Đâu khỏi: già suy bệnh khổ

Mặc ông sung sướng đủ điều

Cái chết nó rồi cũng đến

Duy có đường tắt tu hành

Chỉ niệm “A Di Đà Phật”


người gạn: “Sao Hòa thượng không dạy người quán tưởng Phật, mà chỉ bảo người
trì danh hiệu Phật thôi?”.

Ngài
đáp: “Chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, tâm thời thô phù mà cảnh Thánh rất tế
diệu. Tình thức rộn ràng khó thành tựu quán trí được. Vì lẽ đó nên Đức Phật xót
thương
khuyên người chuyên xưng danh hiệu.

Chính
xưng danh hiệu là hạnh dễ làm nên nơi tâm mau được tương tục. Nếu có thể niệm
niệm tương tục
mãi đến trọn đời, thời mười người niệm, mười người vãng sanh,
trăm người niệm trăm người vãng sanh.

Tại
sao mà được như vậy?


không có tạp duyên nên được chánh niệm. Vì tương ưng với bổn nguyện của Phật A
Di Đà
([3]).
Vì không trái Kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật dạy.

Nếu
bỏ hạnh chuyên niệm Phật, mà tu nhiều hạnh nghiệp xen tạp khác, thời trăm nghìn
người tu khó có được ba bốn người giải thoát.

Tại
sao vậy?


tạp duyên loạn động nên mất chánh niệm. Vì không tương ưng với bổn nguyện của
Phật. Vì trái với Kinh giáo. Vì không thuận theo lời Phật dạy. Vì nhiếp niệm
không được tương tục. Vì tâm không thường nhớ ơn Phật. Vì dầu thực hành Phật sự
mà thường tương ưng với danh lợi. Vì thích đeo theo việc tạp làm chướng ngại
chánh hạnh vãng sanh của tự mình và của người.

Ngày
gần đây, thấy những hàng Tăng tục các nơi giải hạnh không đồng nhau: người thường
chuyên tu, kẻ thích tạp hạnh.

Nếu
chuyên tâm niệm Phật thời quyết định mười người vãng sanh cả mười. Còn tạp hạnh
mà không chí tâm, thời ngàn người tu khó được một giải thoát.

Trông mong mọi người nên suy xét
cho chín chắn, đi đứng nằm ngồi, đều nên kềm tâm nhiếp niệm khắn chặt nơi Phật,
ngày đêm chớ để hở, thệ quyết đến hơi thở cuối cùng. Nếu niệm trước mạng chung,
niệm sau liền sanh Cực Lạc. Từ đây vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp thọ hưởng
pháp lạc vô vi nhẫn đến thành Phật, như thế há lại không đặng sướng thích lắm
ư!”

Ngài
từng dạy phương pháp trợ chánh niệm cho người lúc lâm chung:

Phàm
người lúc lâm chung muốn sanh về Tịnh độ, cần nhứt chẳng đặng sợ chết. Nên tự
suy nghĩ như vầy: báo thân này là gốc khổ. Nó là đãy da đựng đầy đồ nhơ nhớp.
Nó là gốc của tất cả sự khổ lụy. Nếu ta rời được đống thịt hôi thúi này mà siêu
sanh Tịnh độ, thọ thân vàng kim cương, hưởng vô lượng sự vui thanh tịnh, giải
thoát
hẳn sanh tử luân hồi. Như cởi áo rách mà đổi lấy trân phục, còn gì thích
ý
bằng.

Suy
nghĩ
như thế rồi liền phóng hạ thân tâm, đừng có quan niệm tham luyến. Vừa mang
phải bệnh, bèn quán vô thường nhứt tâm niệm Phật chờ chết.

Lại
cần phải dặn người nhà và người đến thăm, hễ khi đến gần mình thời vì mình mà
niệm Phật. Nhứt quyết không được nói chuyện đời nọ kia, cùng việc nhà việc cửa.
Cũng chẳng cần cầu chúc an vui, vì đều là sự hư hoa vô ích cả.

Nếu bệnh ngặt sắp chết, quyến
thuộc
chẳng được khóc than, không được mắt mũi sụt sùi, làm loạn động tâm thần,
hư mất chánh niệm của người bệnh. Chỉ nên nhắc nhở nhớ Phật, niệm Phật, tưởng
Phật, cùng rập nhau to tiếng niệm Phật, để giúp chánh niệm cho người bệnh. Như
vậy luôn đến lúc người bệnh dứt hơi thở. Nhưng cũng chẳng nên vội động đến
thây, phải luân phiên niệm tụng càng lâu càng tốt.

Lúc
bệnh cho đến lúc chết, nếu được có người hiểu rành Pháp môn Tịnh độ thường đến
nhắc nhở chỉ bảo thời may mắn lắm.

Dùng
phương pháp trợ niệm ấy thời quyết được vãng sanh không còn nghi ngờ gì nữa.

Việc
chết là sự rất lớn, cần phải tự mình gia công, gắng sức mới đặng. Một niệm sai
lầm
ắt phải chịu khổ nhiều đời nhiều kiếp, ai thay thế cho mình được! Nên tự
xét lấy! Nên tự nghĩ lấy!

Một
hôm, Ngài vội bảo mọi người rằng: “Thân này đáng nhàøm, ta sắp sửa về Cực Lạc”.

Rồi
ngài tự leo lên ngọn cây dương liễu trước chùa, chắp tay hướng về Tây phương
nguyện rằng: “Xin Phật tiếp dẫn tôi, Bồ Tát giúp tôi chẳng mất chánh niệm được
sanh về Cực Lạc”.

Nguyện
xong, ngài tự gieo mình xuống. Thân nhẹ nhàng rơi và tự nhiên ngồi kiết già
ngay thẳng trên mặt đất.

Đại
chúng
vội chạy đến, thời ngài đã tịch rồi.

Trích
ở những bộ:

“Phật
Tổ Thống Kỷ” “Lạc Ban Văn Loại”

Một truyện vãng sanh do
sức trợ niệm, chứng thật lời Tổ.

DƯƠNG LIÊN HÀNG

Trích
ở bộ: “Cận Đại Vãng Sanh Truyện”

Ông
Dương Liên Hàng người Triết Giang. Nhà nghèo, thuở trẻ làm nghề buôn bán.

Năm Dân Quốc thứ 2, ông thường
tới lui nghiên cứu Phật lý với Giác Hàng cư sĩ, dầu văn học của ông cạn ít,
những chỗ giải ngộ thời hơn người.

Tháng
Chín năm Quý Hợi, các đạo hữu trong hội Niệm Phật tại làng đồng nhau làm lễ
tuyên thệ
“Phát Bồ-đề tâm”. Ông Liên Hàng liền xin dự hội và đồng tuyên thệ.

Năm
Giáp Tý, cuối mùa Xuân, nhơn bệnh, ông bèn lén phá giới bất sát, từ đó xa lần
các đạo hữu.

Đêm tháng Bảy, bệnh ông thêm nặng. Các đạo hữu đến thăm và có lời răn nhắc ông. Riêng phần
ông cũng tự biết không thể mạnh được, nên ông hết sức ăn năn. Ngày mùng 8 tháng
Bảy, ông gượng bệnh đến trước Phật chí thành phát lộ. Gieo mình sám hối, thệ chẳng
lại dám phạm giới nữa. Từ giờ đó trở đi bỏ hết các việc, dứt trừ ái dục, chí
tâm niệm Phật
chờ chết.

Các
đạo hữu biết ông công phu niệm Phật kém, nên đến ngày 11, thỉnh người đến nhà
trợ niệm cho ông. Ngày Rằm, các đạo hữu tự luân phiên đến trợ niệm; cũng từ
ngày Rằm này, tinh thần của ông lần lần thanh sáng, thân thể khỏe khoắn.

Đến
ngày 17, ông bảo mọi người rằng trong giấc mộng ông thấy quang minh như năm sáu
ngọn đèn điện. Chiều tối, thấy ông vẫn tươi tỉnh như thường, các đạo hữu cho rằng
ông chưa sao. Nên sau một thời to tiếng niệm Phật, các đạo hữu sắp sửa về nhà
nghỉ. Nào ngờ lúc ấy trợ niệm đã đắc lực.
Ông nghe yên lặng, bèn kêu nói: “Tôi còn chưa được đến Tây phương, cần
phải
nhờ chư đạo hữu trợ niệm suốt đêm nay”.

Mọi
người
nghe ông nói có ý lạ, nên cùng nhau to tiếng niệm Phật. Được nửa giờ, ông
bỗng cười và nói rằng: “Tôi đã đến Cực Lạc. Ôi! Hoa sen đẹp quá! Ôi! Ao báu rộng
lớn quá! Quang minh sáng đẹp quá!”. Rồi ông lại căn dặn mọi người gắng trợ niệm
cho ông. Từ giờ này trở đi, ông nằm yên không cựa động, hai mắt chăm nhìn tượng
Phật
cúng trên bàn trước giường nằm. Đến sáng sớm ngày 18, hai mắt ông mới nhắm
lần, hơi thở cũng mãn. Các đạo hữu chỉ có 4 người, mà trọn đêm trợ niệm không dứt
tiếng, niệm đến sau khi ông hết thở một giờ rưỡi, mới gọi người khác niệm thay
và không cho thân quyến than khóc. Đến mười giờ trưa, mọi người cùng khám thây
ông, tất cả chỗ đều lạnh. Chỉ trên đỉnh đầu còn ấm nóng.

Ông
Dương Liên Hàng được vãng sanh, toàn nhờ sức trợ niệm của các đạo hữu. Năm đó
ông được 30 tuổi.

LỜI
PHỤ
.- Ông Liên Hàng
công phu niệm Phật kém mà lại phá giới “bất sát”, nhờ các đạo hữu tận lực trợ
niệm
nên được chánh niệm hiện tiềnvãng sanh. Ông vãng sanh có hai điều chứng
nghiệm
: 1.- Mãi đến dứt thở mà chánh niệm vẫn vững. 2.- Cả thân đều lạnh, chỉ đỉnh
đầu còn nóng. Phàm người sau khi chết mà đỉnh đầu nóng sau cùng đó là triệu chứng
được siêu phàm nhập Thánh. Người vãng sanh Cực Lạc liền dự hàng Thánh, trụ bậc
“bất thoái chuyển”, thoát hẳn vòng sanh tử luân hồi, nên đỉnh đầu nóng sau
cùng.

Tại
sao sự trợ niệmđại lực như thế?


mọi người, ngoài xác thân tứ đại, ai cũng có một thức thần, tức là tánh hiểu biết.
Tánh hiểu biết ấy là công dụng của tự tâm thể (đệ bát thức). Tâm thể này gồm đủ
cả năng lực của mọi công dụng, và nó tùy theo duyên nhiễm tịnh, thiện áchiện
ra
thân và cảnh của tất cả Thánh phàm. Lúc sắp chết, là lúc công dụng hiện ra,
thân hiện tại đây sắp mãn, và cũng là lúc một năng lực khác sẽ theo trợ duyên để
trở nên công dụng kết thành một thân tương lai.

Nhờ
sức trợ niệm mạnh, nên mặc dầu người sắp chết, sanh bình Thánh nghiệp chưa
thành, mà năng lực siêu phàm sẵn có, nơi tự tâm liền theo duyên chánh niệm
thành công dụng kết nên thân cảnh thanh tịnh: chánh báoy báoCực Lạc.

Kết
quả tốt đẹp này do hai điều: A.- Trợ duyên. B.- Chánh nhơn.

 

Trợ duyên

1. Dứt bặt tất cả sự bận lòng như việc gia đình sự nghiệp,
quyến thuộc khóc than v.v…

2. Người trợ niệm phải chí thành tận tâm đúng pháp.

Chánh nhơn

1. Người sắp chết phải quên tất cả việc đời.

2. Phải nhứt tâm tha thiết nhớ Phật, niệm Phật, như trẻ thơ rớt hố sâu, mong mẹ đến cứu.

Phần
trợ duyên thứ nhứt để giúp nên chánh nhơn thứ nhứt, vì có dứt tất cả sự bận
lòng thời nơi người sắp chết mới có thể quên tất cả sự đời được.

Phần
trợ duyên thứ hai để giúp nên chánh nhơn thứ hai, vì người trợ niệm có tận
thành đúng pháp, thời nơi người sắp chết mới có thể phát khởi chánh niệm được.

Người
sắp chết, nếu được đầy đủ trợ duyên và chánh nhơn, đây thời quyết định vãng
sanh
, không luận là người tu lâu hay kẻ mới quy tín, cũng không luận người lành
hay kẻ dữ. Ở tập sau của bộ này, ta sẽ được thấy nhiều chứng nghiệm nơi lược sử
của tứ chúng vãng sanh.

III.
TAM TỔ THỪA VIỄN ĐẠI SƯ

Trích ở bộ:

“Liễu Tử Hậu Văn
Tập”

Đại sư ban đầu học đạo với Đường Thiền sư tại Thành Đô,
kế theo học với Tân Thiền sưTứ Xuyên, sau đến Kinh Châu tham học với Chơn
Thiền sư ở Ngọc Tuyền.

Sau khi đã đại ngộ, đạo lực đã thành, Chơn Thiền sư bảo
ngài đến Hoành Sơn ở, để hóa độ người.

Lúc đầu, ngài đến ở dưới gộp đá phía Tây Nam của non
Hoành. Có ai thí cho cơm cháo thời ăn, hôm nào không thí chủ thời ngài ăn bùn,
không hề đi quyên xin, đến nỗi mình gầy mặt nám, trên thân chỉ một cái y rách.

Về phần truyền giáo, thời ngài đứng nơi trung đạo mà dạy
người pháp môn chuyên niệm Phật để mau được thành công.

Ngài
viết lời Phật dạy ra nơi bên đường, bên khe. Khắc giáo pháp lên trên đá, trên
vách. Tận tụy khuyên bảo người không nệ mệt nhọc.

Không
bao lâu người tin hướng theo ngài, lấy số vạn mà kể. Rồi kẻ mang tiền mang gạo,
kẻ đốn cây đắn gỗ, mọi người đồng tâm xây
chùa dựng điện. Ngài vẫn thản nhiên, không khước từ, cũng không bảo làm. Chẳng
mấy lúc mà cụm rừng hoang đổi thành cảnh “Di Đà Tự” đồ sộ.

Phần
riêng ngài, vẫn y rách cơm thô. Có ai cúng thí dư ra thời bảo đem cứu giúp kẻ
nghèo đói tật nguyền.

Năm
Trinh Ngươn thứ 18, nhà Đường, ngày mười chín tháng Bảy, ngài thị tịch nơi chùa
Di Đà, thọ 91 tuổi.

Trước
đây có ông Thích Pháp ChiếuLô Sơn, một hôm nhập định, thần du Cực Lạc. Thấy
có ông Tăng đắp y rách đứng hầu bên Đức Phật. Đức Phật chỉ ông Tăng ấy mà bảo
ông Pháp Chiếu rằng: “Đây là ông Thừa ViễnHoành Sơn đấy!”.

Sau
khi xuất định, ông Pháp Chiếu đến Hoành Sơn tìm, khi gặp ngài thời rõ ràng
ông Tăng y rách đã thấy trong định, ông bèn xin theo hầu.

Sau
khi ngài tịch, ông Pháp Chiếu đi truyền giáo các nơi, triều vua Đại Tông nhà Đường
phong vị Quốc sư. Pháp Chiếu thuật đạo hạnh của thầy mình với vua. Nhà vua liền
xoay về phía Hoành Sơnđảnh lễ. Rồi nhà vua truyền chỉ đặt hiệu chỗ ở ngài
là “Bác Chu Đạo Tràng”, và truyền ông Liễu Tôn Ngươn soạn bài văn ký sự khắc
vào bia đá dựng bên chùa Di Đà.

IV.
TỨ TỔ PHÁP CHIẾU ĐẠI SƯ

Trích ở những bộ: “Tống Cao Tăng Truyện”,

 “Lạc Ban Văn Loại”

Pháp
Chiếu Đại sư
ban đầu ngài ở chùa Vân Phong tại Hoành Châu chuyên cần tu tập.

Năm
Đại Lịch thứ tư nhà Đường, ngài mở đạo tràng niệm Phật tại chùa Hồ Đông. Ngày
khai hội, cảm đến mây lành giăng che, trong mây hiện cung điện, Đức A Di Đà Phật
Quan Thế Âm, Đại Thế Chí hiện thân vàng sáng chói cả hư không. Khắp thành
Hoành Châu, nam nữ già trẻ đều đặt bàn thắp hương đảnh lễ.

Do
Phật và Bồ Tát hiện thân như thế, nên mọi người đều phát tâm tinh tấn hành đạo.
Đạo tràng này, ngài khai được năm hội.

Năm
Đại Lịch thứ năm, ngài được gặp Văn ThùPhổ Hiền hai vị đại Bồ Tát tại chùa
“Đại Thánh Trúc Lâm tự” ở Ngũ Đài Sơn. Hai vị Bồ Tát khuyên ngài gắng chuyên
chí nơi Pháp môn niệm Phật để giáo hóa mọi người, đồng thọ ký cho ngài sẽ được
vãng sanh Cực Lạc và mau chứng quả Vô thượng Bồ-đề([4]).

Triều
vua Đức Tông, ngài mở đạo tràng niệm Phật ở Tinh Châu cũng được năm hội.

Mỗi
đêm khuya, vua và người trong cung thường nghe vẳng tiếng niệm Phật rất thanh.
Nhà vua bèn sai người theo tiếng mà tìm và sau khi biết đó là tiếng niệm Phật
đạo tràng tại Tinh Châu. Nhà vua bèn phái sứ giả mang lễ thỉnh ngài vào triều.

Ngài
mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung cũng được năm hội. Vì thế nên người đời gọi
là “Ngũ Hội Pháp sư”.

Một
hôm, đang lúc định tâm niệm Phật, bỗng có một vị Thánh Tăng hiện đến bảo ngài rằng:
“Tòa sen báu của Pháp sư đã hoàn thành. Ba năm sau thời hoa nở”. Dứt lời, Thánh
Tăng
liền ẩn.

Đúng
ba năm sau, ngài hội đại chúng lại mà dặn rằng: “Ta về Cực Lạc, mọi người phải
gắng tinh tu”.

Dặn
bảo
xong, ngài ngồi ngay mà tịch.

 V. NGŨ TỔ THIẾU KHƯƠNG ĐẠI SƯ

Trích ở những bộ: “Tống Cao Tăng Truyện”

 “Lạc Ban Văn Loại”

Thiếu Khương Đại sư, họ Châu, người Tiên Đô. Lúc bé, câm từ khi sanh. Năm bảy tuổi, ngài
theo mẹ vào chùa Linh Sơn lễ Phật. Mẹ chỉ Phật mà hỏi đùa: “Con biết ai đó
không?”.

Ngài
bỗng đáp rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Biết
là có duyên lành với Phật pháp, cha mẹ ngài bèn cho ngài xuất gia.

Năm
15 tuổi, ngài thông suốt được năm bộ Kinh.

Nhà
Đường, năm Trinh Nguyên thứ nhứt, ngài viếng
chùa Bạch MãLạc Dương. Thấy chỗ cất Kinh sách trong điện có ánh sáng
xẹt ra, ngài tìm xem, thời ánh sáng ấy phát ra từ tập văn “Tây phương hóa đạo”
của Nhị Tổ Thiện Đạo Đại sư. Ngài vái rằng:
“Nếu tôi có duyên với Tịnh độ, nguyện tập văn này lại phóng quang minh”.
Ngài vừa nguyện dứt lời, tập văn ấy liền chiếu sáng; trong ánh sáng dạn dạn có
Hóa Bồ Tát. Ngài nói: “Kiếp thạch có thể mòn, chớ chí nguyện tôi quyết không dời
đổi”.

Rồi
ngài đến Trường An lễ di tượng của Nhị Tổ Thiện Đạo Đại sư. Khi đương lễ, tượng
của Tổ bỗng bay lên hư không lại có tiếng bảo ngài rằng: “Ông y theo lời dạy của
ta mà phổ độ chúng sanh, ngày sau công đức thành tựu sẽ sanh về Cực Lạc”.

Ngài
đến Giang Lăng, gặp một sư cụ bảo: “Ông muốn truyền đạo thời nên đến Tân Định,
cơ duyên ở đó”. Dứt lời, sư cụ bỗng biến mất.

Ngài
đến Tân Định thấy người xứ ấy chưa ai biết niệm Phật là gì. Ngài quyên tiền rồi
dụ các trẻ nhỏ niệm Phật. Lúc đầu các trẻ niệm một câu Phật thời ngài thưởng một
tiền. Sau lần lần mười câu thưởng một tiền. Ít lâu không cần thưởng tiền chúng
cũng niệm. Trước thời có mặt ngài chúng mới niệm. Sau rồi chỗ nào và lúc nào
chúng nó cũng vẫn niệm. Chúng niệm Phật nơi đường, chúng niệm Phật trong nhà.
Hơn một năm sau, cả xứ Tân Định, mọi người đều biết niệm Phật, và phàm nam nữ
già trẻ hễ thấy ngài liền niệm “A Di Đà Phật”. Người người tay lần chuỗi miệng
lẩm nhẩm, tiếng niệm Phật vang khắp các nơi.

Ngài
bèn lập Tịnh độ đạo tràng ở Ô Long Sơn, xây đàn tam cấp. Cứ đến ngày trai, các
thiện tín nam nữ đều họp nơi đó để cùng nhau niệm Phậtnghe pháp. Thường số
người họp trên ba nghìn. Ngài ngồi trên tòa cao, to tiếng xướng hiệu Phật rồi đại
chúng
đồng hòa theo. Ngài xướng một câu, thời
đại
chúng thấy một Đức Phật nhỏ từ trong miệng ngài mà ra, mười câu là
mười Phật, nối liền nhau như xâu chuỗi. Ngài bảo đại chúng: “Quý vị đã được thấy
Phật, chắc sẽ được vãng sanh”. Mọi người đều mừng lắm.

Năm
Trinh Nguyên thứ 21, tháng Mười, ngài họp hết
kẻ Tăng người tục lại rồi dặn rằng: “Với thế giới ác trược này, mọi
người
nên nhàm chán; với Cực Lạc Tịnh Độ kia, nên hết lòng tăng tấn.
Giờ
này ai thấy được quang minh của ta, thời thiệt là đệ tử của ta”.

Nói
xong, ngài xòe tay phóng ra vài tia sáng dẹp dài, rồi ngồi yên mà tịch.

Đại
chúng
xây tháp ngài ở Đài Nham, hiệu là Đài Nham Pháp sư.

 

VI.
LỤC TỔ DIÊN THỌ ĐẠI SƯ

Trích ở những bộ: “Lạc
Ban Văn Loại”

“Vạn Thiện Đồng
Quy
Tập”

 

Diên
Thọ Đại sư
, người Tiền Đường, họ Vương, tự Xung Huyền. Thuở thiếu niên thường
trì tụng Kinh Pháp Hoa, cảm bầy dê quỳ mọp nghe Kinh.

Lớn
lên, ngài làm quan coi về việc thuế vụ cho Văn Mục Vương. Nhiều lần ngài lấy tiền
công đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh. Việc lấy tiền công bị phát giác. Hình
quan thẩm định tội của ngài đáng xử tử.

Lúc dẫn ngài đem đi chém, Văn Mục
Vương bí mật sai người theo rình xem gương mặt, nếu có vẻ lo sợ buồn thảm thời
cứ chém, còn nếu ngài vẫn vui vẻ thản nhiên thời phải đem ngài về trình lại.
Thấy từ lúc dẫn đi cho đến lúc sắp sửa chém, nét mặt của ngài vẫn không có lộ
vẻ sợ buồn mà lại có vẻ hân hoan là khác. Sứ giả liền truyền lịnh của Văn Mục
Vương cho quan giám trảm rồi đem ngài về ra mắt Vương.

Vương
hỏi: “Ông không sợ chết chém ư?”

Ngài
đáp: “Tôi tư dụng của công khố một số tiền lớn, tội đáng chết, nhưng toàn bộ số
tiền đó tôi dùng mua chuộc muôn ức sanh mạng. Tôi tin rằng do công đức phóng
sanh
ấy, dầu thân này có chết, tôi sẽ được vãng sanh Cực Lạc Tịnh Độ. Vì thế
nên tôi không lo sợ”.

Văn
Mục Vương cảm động bèn ra lịnh tha bổng. Ngài xin xuất gia, Vương bằng lòng.

Ngài
đến Tứ Minh thọ pháp với Túy Nham Thiền sư. Sau ngài tham học với Thiều Quốc sư
Thiên Thai phát minh tâm yếu, được Thiều Quốc sư ấn khả.

Ngài
từng tu “Pháp Hoa sám” ở chùa Quốc Thanh. Trong lúc thiền quán, thấy đức Quan
Thế Âm
Bồ Tát rưới nước cam lộ vào miệng, từ đó ngài đặng biện tài vô ngại.

Ngài
dầu tu “Thiền”, song lòng rất mộ “Tịnh”. Vì muốn có chỗ chuyên chú, ngài bèn đến
thiền viện của Trí Giả Đại sư làm hai lá thăm, một lá đề “Nhứt tâm thiền định”,
một lá đề “Trang nghiêm Tịnh độ”. Rồi ngài chí thành hướng Tam Bảo mà rút thăm.
Luôn bảy lần đều rút nhằm lá “Trang nghiêm Tịnh độ”. Từ đây ngài nhứt tâm tu tịnh
nghiệp
.

Năm
Kiến Long thứ hai, nhà Tống, Trung Ý Vương thỉnh ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh([5]),
tôn hiệu là Trí Giác Thiền sư. Ngài ở Vĩnh Minh 15 năm, độ được 1.700 vị Tăng.

Mỗi
ngày đêm, Đại sư công khóa 108 việc. Đại sư thường truyền Bồ Tát giới, mua thả
sanh mạng, thí thực quỷ thần, tất cả công đức đều hồi hướng Tịnh Độ. Ban đêm
ngài qua gộp núi khác niệm Phật, lấy số mười vạn câu làm chừng. Những người ở gần
chỗ ngài niệm Phật, có lúc nghe tiếng loa bối thiên nhạc du dương. Về phần Kinh
Pháp Hoa
, trọn đời ngài tụng được một muôn ba nghìn bộ. Ngài có trứ tác
bộ “Tông Cảnh Lục” 100 quyển, hội chỉ thú đồng dị của ba tông: Hoa Nghiêm, Pháp
Hoa
Duy Thức.

Ngài
có viết tập “Vạn Thiện Đồng Quy”, trong tập này, về đoạn chỉ quy Tịnh độ, lời lẽ
thiết yếu, đại lược như dưới.

Hỏi: Duy tâm Tịnh độ cùng khắp mười phương, sao lại móng tâm
thủ xả, mà cầu thác sanh liên đài, gửi thân Cực Lạc. Như thế đâu hiệp môn
sanh
, và đã có tâm nhàm uế thích tịnh thời đâu thành bình đẳng?

Đáp: Sanh về duy tâm Tịnh độ là phần của bậc liễu đạt tự
tâm
. Kinh “Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới” nói: “Tất cả tam thế chư Phật đều duy
tâm
lượng, đặng tùy thuận nhẫn, hoặc nhập sơ địa, xả thân tùy thuận nhẫn, hoặc
nhập sơ địa, xả thân mau sanh Cực Lạc quốc độ”. Do đây mà biết rằng người đạt tự
tâm
mới sanh duy tâm Tịnh độ, còn hàng chấp cảnh chỉ cuộc trong cảnh sở duyên.
Đã có nhơn quả không sai, mới rõ ngoài tâm không thật pháp.

Lại
môn bình đẳng cũng chỉ thú vô sanh, dầu tin theo lời Phật, nhưng ngặt vì lực lượng
chưa đủ, quán trí cạn, tâm tưởng thô, trần cảnh mạnh, tập khí nặng, cần phải
sanh Tịnh độ, để được nương nơi duyên thù thắng, nhẫn lực mới dễ thành, mau
viên mãn Bồ Tát đạo.

Thập
Nghi Luận
nói: Người trí dầu mạnh mẽ cầu sanh Tịnh độ, nhưng đạt đượcsanh
thể
bất khả đắc, tức là chơn vô sanh. Đây là nghĩa “vì tâm tịnh mà Phật độ tịnh”.
Người ngu bị “sanh” nó trói buộc: nghe “sanh” liền cho là “sanh”, nghe “vô
sanh” liền cho là “vô sanh” mà chẳng hiểu lý: “Sanh là vô sanh, vô sanh
sanh” nên rồi thị phi với nhau. Đây là kẻ tà kiến báng pháp.

Hỏi: Ngoài tâm không pháp, Phật không khứ lai, sao lại có việc
thấy Phật và Phật đến rước?

Đáp: Duy tâm niệm Phật, dùng duy tâm quán khắp cả vạn pháp.
Đã rõ cảnh là tâm, biết tâm là Phật, cho nên niệm đâu cũng là Phật cả.

Kinh
Bát Chu Tam Muội nói: “Như người nằm mộng thấy thất bảo, và quyến thuộc vui vầy.
Thức dậy nhớ nghĩ lại, chẳng biết cảnh sang giàu vừa thấy đó ở đâu. Niệm Phật
cũng như vậy”.

Đây
là dụ cho “cảnh” do “tâm” làm ra, chính có mà là không, cho nên không Phật,
cũng không lai, khứ. Lại “như huyễn không thật, thời tâm và Phật đều bặt”. Mà
“chẳng phải là không huyễn tướng, thời tâm và Phật rõ ràng”. “Không” và “có” đã
vô ngại, nên chính không khứ lai nhưng chẳng ngại gì thấy Phật đến. Đương thấy
chính là không thấy, thường hiệp với trung đạo. Vì thế nên Phật thiệt không đến,
tâm cũng chẳng đi, nhưng cảm ứng đạo giao duy tâm tự thấy. Như người gây tội nặng,
cảm tưởng địa ngục. Duy Thức Luận nói:

“Tất
cả như người địa ngục đồng thấy ngục tốt v.v… làm những sự khổ hại cho mình”.
Vì lẽ đó, nên đều là do tâm ác nghiệp của kẻ gây tội hiện ra, trọn không có chó
đồng rắn sắt thiệt ở ngoài tâm. Tất cả sự, tất cả pháp trong đời cũng đều như
thế cả.

Hỏi: Quán Kinh dạy 16 pháp quán, đều là nhiếp tâm tu định,
quán tướng hảo của Phật cho đặng thấy rõ ràng đều đủ mới bước đến cõi tịnh. Người
tán tâm làm sao vãng sanh được?

Đáp: Cực Lạc chín phẩm có cao và thấp, nhiếp cả các hạng thượng,
trung và hạ, nhưng không ngoài hai tâm này:

A.-
“Định tâm”, tu tập định quán thời Thượng phẩm vãng sanh.

B.-
“Chuyên tâm”, chỉ chuyên niệm danh hiệu cùng thực hành các điều thiện, rồi
hồi hướng phát nguyện thời đặng thành phẩm dưới. Nhưng cần phải trọn đời
chuyên cần.
Lúc ngồi nằm đều phải xoay mặt về hướng Tây. Trong những
lúc hành đạo, lễ kính, hồi hướng, phát nguyện, phải thiết tha cầu khẩn, lòng
không xao lãng.
Như đương bị ngục tù, như đương bị giặc bắt, như đương bị
trôi, bị cháy, nhứt tâm cầu Phật cứu, nguyện thoát khỏi biển khổ sanh tử sanh về
Tịnh độ, mau chứng vô sanh độ khắp mọi loài, để nối thạnh ngôi Tam Bảo, đền đáp
bốn ơn. Nếu ai chí thành được như vậy thời quyết đặng kết quả.

Như
hoặc ngôn hạnh không xứng đáng, tín nguyện yếu kém, tâm không chuyên nhứt,
không nối luôn mà thường có ý xao lãng. Giải đãi như vậy, đến lúc lâm chung cầu
sanh, e rằng nghiệp chướng trở ngăn khó gặp thiện hữu. Thân bị bức rứt đau khổ
khó giữ vững chánh niệm. Vì hiện tại đây là “nhơn”, lúc lâm chung là “quả”. Nếu
lo “nhơn cho chắc thiệt” thời “quả quyết không hư luống”. Như tiếng
hòa nhã thời vang dịu dàng. Như hình ngay thời bóng thẳng.

Như
muốn đến lúc lâm chung thập niệm thành tựu, thời hiện tại phải lo sắm sửa trước
chuyên tâm niệm Phật, chứa nhóm công đức, hồi hướng cầu vãng sanh, niệm niệm
không quên Phật, không rời Cực Lạc.
Như thế mới chắc chắn mà khỏi lo ngại.

Vả,
hai đường “thiện” và “ác”, hai báo “khổ” và “vui” đều là do ba nghiệp (thân, khẩu,
ý) gây nên.

Nếu
tâm sân hận, tà dâm: đó là nghiệp Địa ngục.

Bỏn
sẻn tham lam không xả thí: đó là nghiệp Ngạ quỷ.

Đần
độn
ngu si: là nghiệp Súc sanh.

Ngã
mạn cống cao
: là nghiệp Tu la.

Kiên
trì
ngũ giới: là nghiệp Người.

Ròng
tu thập thiện: là nghiệp Trời.

Chứng
ngộ
nhơn không: là nghiệp Thanh Văn.

Thấu
duyên sanh vô tánh: là nghiệp Duyên Giác.

Tu
trọn lục độ: là nghiệp Bồ Tát.

Chơn
từ bình đẳng: là nghiệp Phật.

Nếu
tâm niệm thanh tịnh thời đài vàng hoa báu, hóa sanh nơi Tịnh độ. Còn tâm niệm
nhơ đục thời gò nổng hầm hố, thọ thai nơi cõi uế. Đây đều là “quả đẳng luân”, cảm
lấy “duyên tăng thượng”. Cho nên nhơn cùng quả, rời ngoài tâm nguyên, không có
tự thể riêng khác. Muốn đặng quả báo thanh tịnh thời phải thực hành nhơn hạnh
thanh tịnh. Như nước thời tánh chảy xuống, lửa thời tánh bốc lên, thế tất nhiên
như vậy, có gì mà nghi ngờ.

Lại
vì người học đạo thời bấy giờ, phân vân nơi
“Thiền” và “Tịnh”, chưa biết nên tu theo môn nào là hơn và chắc chắn,
nên ngài có bốn bài kệ để so sánh sự lợi sự hại của hai môn:

I. Có Thiền mà không Tịnh độ

 Mười tu, chín kẻ dần dà

 Ấm cảnh nếu hiện tiền

 Thoạt theo nó mà đi.

II. Không Thiền mà có Tịnh độ

 Mười người tu, mười vãng sanh

 Đặng gần Phật Di Đà

 Lo gì không khai ngộ.

III. Có Thiền lại có Tịnh độ

 Như cọp mạnh lại thêm sừng

 Hiện đời làm thầy người

 Đời sau làm Phật, Tổ.

IV. Không Thiền cũng không Tịnh độ

 Giường sắt cột đồng đang chờ

 Muôn kiếp cùng nghìn đời

 Không chỗ nương tựa được.([6])

Nhà
Tống, năm Khai Bửu thứ tám, ngày 26 tháng Hai, sáng sớm dậy, ngài thắp hương lễ
Phật
. Lễ xong, ngài nhóm đại chúng lại dặn dò răn dạy, rồi ngồi kiết già trên
pháp tọa mà thị tịch, thọ 72 tuổi.

Ít
lúc sau có ông Tăng từ Lâm Xuyên đến chùa, trọn năm lễ tháp của Đại sư. Người gạn
hỏi. Ông Tăng ấy đáp: “Năm trước tôi có bệnh, thần thức vào u minh, thấy phía
bên điện có thờ tượng một vị Hòa thượng. Minh Vương cung kính lễ lạy. Tôi hỏi
nguyên do, mới biết đó là tượng của Diên Thọ Thiền sư ở chùa Vĩnh Minh tại Hàng
Châu
, ngài đã vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới bậc Thượng thượng phẩm.
Minh Vương trọng đức, nên thờ kính ngài”.

VII.
THẤT TỔ TỈNH THƯỜNG ĐẠI SƯ

Trích ở bộ “Phật
Tổ Thống Kỷ”

Tỉnh Thường Đại sư, người Tiền Đường, họ Nhan, tự Thứu Vi,
xuất gia hồi thuở mới lên bảy.

Trong
khoảng
niên hiệu Thuần Hóa nhà Tống, ngài trụ chùa Nam Chiêu Khánh. Vì mộ Tịnh
độ đạo
tràng ở Lô Sơn, ngài lập Liên Xã, khắc tượng A Di Đà Phật. Ngài tự chích
lấy máu chép phẩm “Tịnh Hạnh” trong Kinh Hoa Nghiêm. Nhơn đó bèn đổi tên Liên
làm Tịnh Hạnh Xã. Hàng sĩ phu trí thức thời bấy giờ dự hội được 120 người.
Tướng quốc Vương Văn Đán làm hội thủ. Mọi người đều tự xưng là Tịnh Hạnh đệ tử.
Về phần Tỳ kheo Tăng, Đại sư độ được trên nghìn người.

Năm
Thiên Hy thứ 4, ngày mười hai tháng Giêng, Đại sư đoan tọa niệm Phật, giây lát
bỗng nói to rằng: “Phật đã đến!”. Rồi yên lặng mà tịch, thọ 62 tuổi.

Giờ
ngài tịch, cả đại chúng đều thấy mặt đất biến thành sắc huỳnh kim, rất lâu mới
trở lại màu cũ.

LỜI
PHỤ
.- Kinh dạy: “Tất
cả do tâm tạo”. “Tâm tịnh thì Phật độ tịnh”.
Luận nói “Vạn pháp duy thức
biến”
. Vĩnh Minh Đại sư bảo: “Nếu tâm niệm thanh tịnh thời đài vàng hoa
báo
hiện”.
Tâm niệm của Tịnh Hạnh Đại sư đã thuần tịnh, đây là “Tịnh nhơn”.
Tất hiện thành Phật độ thanh tịnh, đây là “Tịnh quả”. Vì “Tịnh quả” quá mãnh liệt
nên đất uế này bị ảnh hưởng mà tạm biến ra sắc huỳnh kim, cả đại chúng cũng được
nhờ lây nên tự thấy đất vàng hiện.

Quả
vị
của Đại sư tất ở bậc Thượng thượng phẩm.

VIII . BÁT TỔ CHÂU HOẰNG
ĐẠI SƯ

Trích ở bộ “Vân
Thê Pháp Vị”

 

Châu
Hoằng Đại sư
, người Hàng Châu, họ Trầm, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì([7]).
Năm 17 tuổi đã được bổ làm Giáo thọ, có tiếng là người học hạnh gồm đủ. Bên nhà
ngụ có mụ già, mỗi tối niệm Phật vài nghìn câu làm thường khóa. Đại sư hỏi. Mụ
đáp: “Chồng tôi lúc sanh tiền chuyên trì niệm Phật. Đến ngày lâm chung không bệnh,
vui vẻ vòng tay cáo từ mọi người mà đi. Do đó, nên tôi biết công đức niệm Phật
không thể nghĩ bàn”
.

Từ
khi nghe lời mụ già láng giềng nói, Đại sư để tâm nơi pháp môn Tịnh độ. Ngài viết
bốn chữ lớn “Sanh tử sự đại” treo trước bàn để tự răn nhắc.

Năm
32 tuổi xuất gia, ngài đến học với Biện Dung Thiền sư, Tiếu Nham Thiền sư, tham
cứu
câu “Niệm Phật đó là ai?” được tỉnh ngộ.

Năm
Long Khánh thứ năm, nhà Minh, Đại sư khất thực ở Vân Thê, thấy cảnh núi u nhã
bèn cất am ở, trong núi có nhiều cọp dữ. Đại sư hành Du Già Diệm Khẩu, cọp
không khuấy hại người.

Năm
đó trời nắng hạn. Người xứ ấy cầu Đại sư đảo võ. Ngài nói: “Tôi chỉ biết niệm
Phật
, không tài nghề gì khác”. Mọi người cố thỉnh, Đại sư cảm lòng thành khẩn của
dân chúng, bèn tay cầm mõ, đi bộ theo bờ ruộng mà niệm Phật. Mưa to liền xối xuống.
Dân chúng vui mừng kính đức, cùng nhau hiệp sức cất chùa xây điện. Tăng chúng
quy tụ, không mấy lúc mà thành cảnh tòng lâm lớn.

Đại
chủ trương Tịnh độ Cực Lạc bác bỏ cuồng thiền. Ngài trứ tác bộ “Phật Thuyết
A Di Đà Kinh Sớ Sao”, dung hội cả sự lẫn lý, lợi khắp ba căn rất là uyên áo.

Đại
một mặt chuyên tu Tịnh độgiáo hóa người, một mặt thường thực hành các điều
thiện để tư trợ tịnh nghiệp: thẩm định nghi “Thủy Lục” và văn “Du Già Diệm Khẩu”
để cứu khổ u minh, khai ao phóng sanh, và làm văn giới sát. Năm Vạn Lịch thứ
40, cuối tháng Sáu, Đại sư đi vào thành từ biệt các đệ tử và những người cố cựu
rằng: “Tôi sắp đi nơi khác”. Rồi ngài trở về đãi trà từ biệt đại chúng. Mọi người
không hiểu là cớ gì.

Chiều
mùng một tháng Bảy, Đại sư vào nhà Tăng nói: “Ngày mai tôi đi”.

Qua
chiều hôm sau, Đại sư kêu mệt rồi vào tư thất đoan tọa nhắm mắt. Tăng chúng
các đệ tử, các người cố cựu trong thành đều hội đến. Đại sư mở mắt ra nhìn mà bảo
rằng: “Đại chúng phải niệm Phật cho chín chắn, chớ nghi ngờ cũng đừng phá hoại
quy củ của tôi”. Dặn xong, Đại sư chắp tay hướng về Tây phương, xướng hồng danh
của Phật mà tịch, thọ 81 tuổi.

PHỤ
VẤN ĐÁP

Trích “Vân Thê Pháp Vị”

Ông
Tào Lỗ Xuyên hai phen gửi thơ đến Vân Thê gạn hỏi, Đại sư hai phen phúc đáp.
Nay trích vài đoạn đối đápliên quan với tông chỉ Tịnh độ:

Lỗ
Xuyên
.- Kinh Hoa Nghiêm
thuộc Vô thượng Nhứt thừa Viên giáo, ngài cho Kinh Di Đà cùng đồng hàng, in tuồng
như không được đúng. Và do đây nên có người làm luận, gác Tịnh độ trên Hoa
Nghiêm
. Xin ngài, với cơ Tịnh độ dạy Tịnh độ còn với cơ Hoa Nghiêm dạy Hoa
Nghiêm
. Như thế Phật pháp mới được lưu thông, truyền đủ ngũ giáo nhiếp cả ba
căn.

Đại
.- Hoa Nghiêm đủ vô lượng môn,
cầu sanh Tịnh Độ là một môn trong vô lượng môn, trong bộ sớ sao, tôi cho rằng
“Hoa Nghiêm cực Viên, Kinh Di Đà đặng ít phần Viên”, chính là tôi nói Kinh Di
Đà
quyến thuộc của Hoa Nghiêm thôi, Hoa Nghiêm như vua, ai dám đem Thượng
thơ Bộ trưởng gác trên Quốc vương? Người nào làm luận ấy? Ông bảo tôi nên tùy
, ý đó rất hay, nhưng có hai nghĩa:

A.-
Nghìn cơ đều chiều dạy, đó là việc của Đức Như Lai xuất thế, sức tôi chưa làm
được. Vì thế nên Tổ Tào Khê chỉ chuyên truyền môn Trực chỉ thiền, chẳng lẽ Tổ
không thông giáo pháp khác. Nhẫn đến Vân Môn, Tào Động v.v… các Tổ đều lập
môn đình riêng, chỗ dạy người đều riêng biệt. Chư Tổ còn như thế, huống tôi là
hạng phàm ư! Nếu vọng bắt chước Phật, e rằng muốn lợi cho người mà trở thành hại
người, chỉ có Phật mới là đấng Pháp Vương, với tất cả pháp được tự tại. Bình
dân
muốn mạo hiệu Quốc vương tất khó khỏi tai vạ.

B.-
Giảng Hoa Nghiêm tất gồm Tịnh độ. Giảng Tịnh độ cũng thông Hoa Nghiêm. Vì thế
nên người giảng Hoa Nghiêm thời cứ tự giảng Hoa Nghiêm, còn người giảng Tịnh độ
thời cũng cứ giảng Tịnh độ, vẫn không có gì trái ngại nhau cả. Vả lại Kinh Hoa
Nghiêm
do Long Thọ Bồ Tát chép ra mà ngài vãng sanh Tịnh độ. Văn ThùPhổ Hiền
là hai vị Đại Thánh trong pháp hội Hoa Nghiêm, mà hai ngài đều có lời nguyện về
Cực Lạc và cũng khuyên cả pháp chúng đồng nguyện. Ông tôn sùng Hoa Nghiêm
chê Tịnh độ, há lại không trái với hạnh nguyện của ba vị Hoa Nghiêm đại Bồ Tát ấy
ư! Thiệt tôi không thể hiểu được…

Lỗ
Xuyên
.- Tề Kỷ Thiền sư bảo:
“Người cầu về Tây phương là bỏ cha trốn chạy, dụng Đông chạm Tây, lưu lạc xứ
người, khổ thay A Di Đà Phật!”. Lời ấy há không ý nghĩa?

Đại
.- Ông nên đáp lại với Thiền sư
như vầy: “Chính nay bèn là như con nhớ mẹ trở về gia hương, bỏ Đông đặng Tây,
vui thay A Di Đà Phật!”.

Lỗ
Xuyên
.- Người đại ngộ
nói: “Nhiều kiếp tu hành khổ sở chẳng bằng trong một niệm chứng Vô sanh Pháp nhẫn.
Một niệm duyên khởi vô sanh vượt hơn bậc quyền học trong Tam thừa”. Huống là
không luận Tam thừa hay Nhứt thừa đều vô ngã, vô ngã sở. Nay người sanh Tịnh Độ
thời mình là năng sanh, độ là sở sanh, năng sở rõ ràng tất thành diệt. Nếu đợi
“Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh” thời thành lâu chậm.

Đại
.- Ông đã chứng Vô sanh Pháp nhẫn
chưa? Nếu đã chứng thời tất không nên cho rằng: mình là năng sanh, Tịnh Độ là sở
sanh. Vì tâm tức là độ thời ai là năng sanh? Còn độ chính là tâm thời gì là sở
sanh? Vãng sanh mà không thấy năng sanh sở sanh, dầu sanh mà vẫn vô sanh đây mới
là chơn vô sanh. Còn bỏ sanh mà nói vô sanh thời là đoạn diệt không, chớ chẳng
phải chánh lý vô sanh vậy. Ông đã thấu Thiền tông há chẳng hiểu rằng: “Từ mê đặng
giác ngộ, như nằm mê chợt tỉnh, như hoa sen nở” ư? Người niệm Phật, có người hiện
đời này thấy Phật kiến tánh đó là hoa nở hiện tiền. Có người sau khi sanh về Cực
Lạc
mới thấy Phật kiến tánh, đó là hoa nở về sau. Do công tu có siêng cùng trễ,
căn cơ có lợi cùng độn, nên hoa nở có sớm và muộn. Đâu nên cho là chậm lâu cả.

Lỗ
Xuyên
.- Vừa rồi có đồ đệ
của ngài từ Vân Thê qua Tô Châu, tôi luận đến thiền cơ thượng thừa thời ông ta mắt sửng lòng kinh hoặc và không tin mà
cười. Đó là lỗi của trò hay là lỗi nơi thầy
ư? Phàm bậc trượng phu khí vũ xung thiên lấy độ sanh làm phận sự gấp.
Ngài đã xuất thế đã khai đường, đã phu tọa, mà chẳng đủ quyền năng của bậc đại
nhơn, chỉ có cử chỉ của ông lão mụ già ăn chay. Một mai bị người thông minh gạn
hỏi, hay bị nhà trí thức bẻ bác, chừng ấy toan trốn lên mây ẩn vào núi ư?…

Đại
.- Ở trước ông dạy tôi với cơ
Hoa Nghiêm thời truyền Hoa Nghiêm, với cơ Tịnh độ thời truyền Tịnh độ. Nay sao
đối với ông Tăng ở núi hoang nào đó, vốn là kẻ ở vào hạng độn căn hạp với môn Tịnh
độ
, mà ông lại đem thiền cơ thượng thừa gạn ông ta, làm cho ông ta mắt sửng
lòng kinh trở lại cười ông, đó có phải là ông tự phạm vào lỗi “cho thuốc không
trúng bệnh” ư!

Lão
Tăng này từ nào chẳng dám tự xưng xuất thế độ đời, lẽ tất nhiên là chưa đủ quyền
năng
của bậc đại nhơn. Ông lại chê người tu Tịnh độ là “ông lão mụ già ăn
chay”. Cổ đức từng nói: như thế chẳng phải là chê hạng ngu phu ngu phụ mà chính
là chê đại Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, nhẫn đến Thiên Thai,
Viễn Công, Thiện Đạo, Vĩnh Minh v.v… chư đại Tổ sư. Các bậc ấy là ông già ăn
chay
cùng là mụ già ăn chay đấy ư? Các ông Lưu Di Dân, Bạch Thiếu Phó, Liễu Liễu
Châu, Tô Trường Công v.v… chư đại cư sĩ ấy là ông lão mụ già ăn chay đấy ư?

Dầu
là ông lão mụ già ăn chay, nhưng niệm Phật được vãng sanh liền đặng trụ bậc bất
thoái chuyển
, liền đặng ngự tòa sen dự hàng Thánh, đâu nên khinh bỉ! Vả ông lão
mụ già chỉ biết ăn chay niệm Phật giữ kỹ tâm hạnh mà cho là hạng ngu cũng được.
Còn như người thông minh trí thức mà luận suông Bát nhã, ăn cá thịt cho no rồi
đi tìm các ông Tăng để nói thiền nói lý, đó chính là ma vậy. Người ngu quý nơi
an phận ngu, chúng ta thà làm ông lão ăn chay
niệm Phật hay là bà già ăn chay niệm Phật, chớ chẳng nên làm ma dân cùng
ma nữ vậy.

Đến
như nếu có kẻ thông minh hay nhà trí thức nào đến bẻ bác, thời không cần phải
lên mây vào núi, ông lão mụ già ấy cứ đặt giường ngay họng kẻ thông minh, cùng
trải chiếu nơi tròng mắt nhà trí thức đó là xong. Để chi vậy? Để bảo va tạm bỏ
nói lý luận thiền suông mà tự phản chiếu hồi quang thiệt tu thiệt hành vậy.

LỜI
PHỤ
.- Trước Bát Tổ,
các Tổ sư dầu hoằng truyền Tịnh độ nhưng một mặt vẫn không bỏ Thiền tông. Chỉ
Bát Tổ là một Thiền sư được chính thức ấn khả nơi Tiếu Nham Thiền sư, Tổ dòng
chính của Lâm Tế tông, trở lại chủ trương Tịnh độ, mà cực lực bài xích cuồng
thiền
. Vì thế nên các nhà thiền học đương thời rất không bằng lòng mới thành có
những sự tranh biện như thế.

IX.
CỬU TỔ TRI HÚC ĐẠI SƯ

Trích ở bộ “Linh Phong Tông Luận”

Tri
Húc Đại sư, người Ngô Huyện, họ Chung tự Ngẫu Ích.

Thân
phụ
thọ trì chú Đại Bi, nằm mộng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát trao cho một đứa trẻ
trai, mà sanh ra ngài.

Thuở
thiếu niên ngài học Nho, từng viết sách bác Phật. Sau khi được đọc bộ “Trúc
Song Tùy Bút” của Liên Trì Đại sư, ngài liền đốt quyển sách bác Phật. Năm 20 tuổi,
ngài đọc Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, phát tâm xuất thế, mỗi ngày niệm Phật.

Năm
Thiên Khải thứ nhứt, tuổi hai mươi bốn, sau khi nghe một Pháp sư giảng Kinh,
ngài sanh nghi tình, mới dụng tâm tham cứu. Ít lúc sau, được tỏ ngộ, ngài bèn
đóng cửa thất ở Ngô Giang. Xảy mang bệnh nặng, khi ngọa bệnh, ngài nhứt tâm cầu
sanh Tịnh Độ. Bệnh bớt, ngài kết đàn trì chú vãng sanh.

Ngài
làm kệ phát nguyện:

Cúi lạy A Di Đà

Thần chú dứt gốc nghiệp

Cùng Quan Âm, Thế Chí

Hải chúng Bồ Tát Tăng

Con mê bổn trí quang

Vọng đọa luân hồi khổ

Nhiều kiếp không tạm ngừng

Không được cứu được nương

Nay được thân là người

Vẫn nhằm đời trược loạn

Dầu lại dự Tăng luân

Mà chưa nhận pháp lưu

Mục kích chánh pháp suy

Muốn chống, sức chưa đủ

Chỉ vì từ đời trước

Chẳng tu thắng thiện căn

Nay tâm con quyết định

Cầu sanh Cực Lạc quốc

Rồi ngồi thuyền bổn nguyện

Nếu con không vãng sanh

Thật khó toại bổn nguyện

Vì vậy với Ta Bà

Quyết định phải thoát lìa

Cũng như người bị trôi

Trước cầu mau đến bờ

Sau rồi tìm phương thế

Ra vớt người giữa dòng

Nay con chí thành tâm

Thâm tâm, hồi hướng tâm

Đốt cánh tay ba liều

Kết tịnh đàn một thất

Chuyên trì chú vãng sanh

Chỉ trừ giờ ăn ngủ

Đem công đức tu này

Cầu quyết sanh Cực Lạc

Nếu con thoái bổn nguyện

Quên tưởng về Tây phương

Thì liền đọa địa ngục

Để mau biết ăn năn

Thề chẳng luyến nhơn, thiên

Cùng vô vi Niết-bàn

Ngưỡng nguyện Phật oai thần

Lực, vô úy, bất cộng

Tam bảo đức vô biên

Gia bị Tri Húc này

Chiết phục khiến bất thoái

Nhiếp thọ cho tăng trưởng.

Về
sau, Đại sư rộng truyền giáo pháp Thiên Thai ở các nơi: Ôn Lăng, Chương Châu,
Thạch Thành, Thành Khê, Trường Thủy và Tân An, rồi về dưỡng lão ở Linh Phong.

Đương
thời, những nhà tu Thiền các nơi, phần đông cho pháp môn Tịnh độquyền giáo,
phàm gặp người niệm Phật, ắt bảo tham cứu chữ “Thùy (ai)?”. Riêng mình Đại sư
cho rằng: Trì hồng danh chính là “tâm tông viên đốn”.

Ông
Trác Tả Xa, một nhà tu thiền, gạn: “Thế nào
là “hướng thượng nhứt lộ” của môn niệm
Phật? Thế nào là rời tứ cú, tuyệt bách phi? Cực tắc rốt sau cả của người niệm
Phật
là gì? Gì là một dùi sau ót của kẻ hào hoa hư ngụy?

Trông
mong Hòa thượng dẹp duy tâm Tịnh độ, tự tánh Di Đà qua một bên. Thân kiến Như
Lai
cảnh giới nói mau một phen, để chấn động Đại thiên thế giới”.

Đại
đáp: “Hướng thượng nhứt trước” chẳng phải là Thiền chẳng phải Tịnh. Vừa nói
đến tham cứu, đã là quyền tạm vì kẻ hạ căn rồi. Nếu quả thiệt bậc đại trượng
phu
tự nên tin chắc “thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”. Nếu có một niệm
cách với Phật thời chẳng đặng gọi là “niệm Phật Tam muội”. Nếu niệm niệm
không trở cách với Phật, thời cần gì gạn hỏi là “ai?”.

Còn
Cực tắc của môn Tịnh độ là: không có Phật ngoài niệm làm sở niệm của niệm,
cũng không có niệm ngoài Phật năng niệm nơi Phật.
Chính lúc hạ thủ, toàn
thân
lấn vào rời tứ cú tuyệt bách phi.

Chỉ
thấy được quang minh của Đức A Di Đà Phật, chính là thấy thập phương vô lượng
chư Phật. Chỉ sanh về Cực Lạc Tây phương, chính là sanh khắp vô lượng Tịnh Độ,
đây là “hướng thượng nhứt lộ” của môn niệm Phật.

Nếu
bỏ A Di Đà hiện tiền mà đi nói tự tánh Di Đà, bỏ Tây phương Cực Lạc mà đi nói
duy tâm Tịnh độ, đó là “hào hoa hư ngụy”.

Kinh
dạy: “Tam Hiền, Thập Thánh còn ở quả báo, chỉ một mình Phật là thật ở Tịnh độ”,
lời này là “một dùi sau ót đấy”.

Chỉ
tin chắc được môn niệm Phật này, rồi nương tín khởi nguyện, nương nguyện khởi
hạnh,
thời niệm niệm lưu xuất vô lượng Như Lai, ngồi khắp vô lượng thế giới
mười phươngchuyển đại pháp luân, chiếu xưa suốt nay, chẳng phải là việc
ngoài phần mình, há lại chỉ chấn động Đại thiên thế giới
thôi ư?”

Đại
từng dạy rằng: “Pháp môn niệm Phật không có gì lạ lùng cả, chỉ tin chắc rồi
cố sức thực hành thôi”.

Phật
dạy: “Nếu người nào niệm một Đức Phật A Di Đà, đây gọi là “Vô Thượng Thâm Diệu
Thiền”.
Tổ Thiên Thai bảo: “Bốn môn Tam muội đồng tên niệm Phật. Niệm Phật
Tam muội
là vua trong các môn Tam muội”.

Tổ Vân Thê nói: “Một câu A Di Đà Phật gồm hết tám giáo, nhiếp cả năm tông”.

Đáng
tiếc người thời nay xem niệm Phật là việc tầm thường cho là công phu của hàng
ngu phu ngu phụ. Do đó mà lòng tin không chắc, không cố sức thực hành, trọn ngày
lơ lơ nên rồi tịnh nghiệp không thành.

Phải
biết rằng một niệm hiện tiền đây vốn tự rời tứ cú tuyệt bách phi, chẳng cần tác
ý
rời tuyệt. Chính hiện tiền một câu Phật đương niệm đó cũng vốn siêu tình ly
kiến, nhọc gì nói diệu nói huyền. Chỉ quý là tin cho chắc, giữ cho vững, rồi niệm
đi. Hoặc ngày đêm mười vạn câu, bảy vạn câu, hoặc năm vạn, ba vạn, phải quyết định
chẳng cho thiếu, thề trọn đời không biến đổi. Đúng như vậy mà không được vãng
sanh Tịnh độ
thời tam thế chư Phậtvọng ngữ. Được vãng sanh rồi thời trụ bậc
bất thoái, tất cả pháp môn đều lần lượt hiện tiền.

Rất
kỵ này vầy mai khác. Gặp người nghĩa học thời muốn học văn luận, gặp nhà tu thiền
lại mong tham mong cứu, gặp người trì luật thời mộ khất thực trì bát… Như vậy
thì
ắt không rồi việc gì, trong tâm lăng xăng đủ sự.

Chẳng
ngờ: niệm A Di Đà Phật đặng thành thục, thời Tam tạng giáo lý gồm trong đó; một
nghìn bảy trăm công án cơ quan hướng thượng cũng ở trong đó; ba nghìn oai nghi,
tám vạn tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng không ra ngoài câu Phật.

Người
chơn thật niệm Phật:

trong thì quên thân, ngoài quên cảnh, đó là “đại bố thí”; không sanh
lòng tham, sân, si là “đại trì giới”; chẳng chấp thị phi nhơn ngã là “đại
nhẫn nhục
”; niệm Phật không gián đoạn là “đại tinh tấn”; vọng tưởng
không móng khởi là “đại thiền định”; không bị sự khác và pháp khác làm
mê lầm là “đại trí huệ”.

Thử
kiểm điểm lấy mình, nếu chưa quên được thân tâm thế giới, còn tham, sân, si,
còn thị phi nhơn ngã, còn gián đoạn, còn vọng tưởng tạp niệm, còn bị việc khác
môn khác lôi kéo, thời chưa phải là “chơn thật niệm Phật”.

Muốn
đến cảnh giới nhứt tâm bất loạn cũng không phải là có phương cách gì khác lạ,
lúc mới tập niệm phải dùng xâu chuỗi ghi số rành rẽ định chắc thời khóa quyết định
không thiếu.

Lâu
lâu thuần thục, không niệm mà vẫn tự niệm, bấy giờ ghi số hay không ghi số, đều
đặng. Nếu ban đầu vội muốn viên dung tự tại, muốn vô tướng, thời ắt niệm lực
khó thành; đây là vì tin không chắc nên thực hành không cố gắng.

Tha
hồ
cho ai giảng suốt mười hai phần giáo, Tam tạng Kinh điển, cùng thấu cả nghìn
trăm công án cũng chỉ là việc bên bờ sanh tử mà thôi. Đến phút lâm chung quyết
định
dùng không đặng ([8]).

Năm Thuận Trị thứ 11, nhà Thanh,
mùa Đông, Đại sư có bệnh. Ngài dặn các đệ tử: sau khi trà tỳ, tán xương trộn
bột chia thí cho cá chim để kết duyên Tịnh độ với chúng nó.

Sang
năm, ngày 21 tháng Giêng, Đại sư sáng sớm dậy, khỏe khoắn tươi tỉnh như không bệnh.
Đến giờ ngọ, Đại sư ngồi kiết già trên giường, xoay mặt về hướng Tây chắp tay
mà tịch, thọ 57 tuổi.

Sau
khi Đại sư tịch ba năm, các môn nhơn hội lại định y pháp trà tỳ. Lúc mở nắp
khánh, thời thấy toàn thân của Đại sư vẫn nguyên vẹn, tóc ra dài phủ mép tai, sắc
mặt như sống.

Đại
chúng
không nỡ tuân lời của Đại sư dặn, mới xây tháp thờ ở Linh Phong.

 

Dưới đây là một nhà Sư cận đại sa vào chỗ hại của các Tổ đã răn
dạy, trích ở “Ấn Quang Văn Sao”

NGỘ KHAI


Ngộ Khai, một pháp hữu của Ấn Quang Đại sư, vốn là người có căn trí, song tánh
Sư cao vọng và háo thắng. Ban sơ, Sư tham cứu Thiền tông, khinh thường Tịnh độ.
Ít lúc sau, nhờ Thông Trí Pháp sư khai thị, Sư lần để tâm nơi Tịnh độ. Dầu Sư
đã có lòng tin Pháp môn Tịnh độ, song hành trì không chuyên, tâm cao vọng không
bớt, Ấn Quang Đại sư từng khuyên nhắc: nên thấp mình chuyên tu. Nhưng vẫn không
thể vãn hồi tâm chấp định của Sư.

Sau
một thời gian đó đây giảng diễn, Sư mang bệnh bèn trở về Phổ Đà. Vừa về đến
núi, cùng sư huynh là Sư Nguyên Thông chuyện vãn thăm nom. Hàn huyên chưa dứt,
Sư đã mệt mỏi chẳng nói ra lời. Sau giờ ngọ ngày kế thì Sư mất. Trọn không có
chút điềm lành, cũng không một điểm tốt nào đủ chứng nghiệmvãng sanh hay giải
thoát
cả.

Ôi!
Câu: “Nghìn người khó có một giải thoát”, lời của Nhị Tổ và câu: “Chỉ là việc
sanh tử, đến lúc lâm chung trọn dùng không được”, lời của Cửu Tổ, phải chăng
những nhát búa cho hạng tạp hạnh, phải chăng là những tiếng sấm bên tai các bậc
tài trí!

Mặc
Am Đại sư, một đại Thiền sư và cũng là một đại Giảng sư triều Thanh, lúc lâm
chung
hỏi đại chúng rằng: “Thế nào gọi là giải
thoát?”. Không ai đáp được, Đại sư cười bảo: “Chẳng chi bằng bắt chước
ông lão mụ già ăn chay, niệm Phật già dặn là được”.

X. THẬP TỔ THIỆT HIỀN ĐẠI

Trích ở các bộ: “Tư Tề Đại Sư Di Cảo”

“Tăng Tổ Phong Thuật” 

Thiệt
Hiền Đại sư
, người Thường Thục, triều Thanh, tự Tư Tề hiệu Tỉnh Am.

Đại sư từ bé đã không ăn thịt. Sau khi xuất gia, ngài tham cứu câu: “Niệm Phật đó là ai?” được
tỉnh ngộ, bèn nói: “Tôi đã tỉnh giấc mơ!”.

Ngài
đóng cửa thất ba năm ở chùa Chơn Tịch ngày
thì xem Kinh tạng, đêm lại niệm Phật.

Sau
Đại sư đến Mậu Sơn lễ tháp thờ xá lợi của Phật. Nhằm ngày kỷ niệm Phật nhập Niết-bàn,
Đại sư hội hiệp Tăng tục sắm sửa lễ cúng dường rồi ở trước Phật, ngài tự đốt
ngón tay và phát 48 đại nguyện. Lúc Đại sư phát nguyện, cảm xá lợi phóng quang.

Đại
có soạn văn “Phát Bồ-đề tâm” để khuyến khích tứ chúng. Nhiều người tụng đến
văn này mà rơi nước mắt.

Văn
rằng:

Trong
Kinh dạy: “Yếu môn nhập đạo, phát tâm làm trước. Yếu vụ tu hành, lập nguyện
làm đầu”

Phát tâm thời Phật đạo có thể thành. Lập nguyện
thời chúng sanh có thể độ. Nếu chẳng phát tâm rộng lớn cũng không lập
nguyện kiên cố, thời dầu trải qua vô lượng kiếp, cũng vẫn y nhiên ở trong vòng
luân hồi. Dầu có tu hành cũng đều luống khổ nhọc thôi.

Kinh
Hoa Nghiêm
nói: “Quên mất Bồ-đề tâm mà tu các pháp lành đó gọi là nghiệp
ma”.

Quên
mất còn là nghiệp ma, huống là chưa từng phát ư! Do đó mà biết rằng: Phàm muốn
học Phật đạo, quyết phải phát Bồ-đề tâm, không được trì hoãn.

Nhưng tâm nguyện có nhiều
tánh khác nhau, nay tôi vì đạo chúng mà lược giải tám cách: “Tà, chánh, chơn, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên”.

1.-
Trong đời có người tu hành chẳng tham cứu tự tâm, chỉ biết việc ngoài, hoặc cầu
tài
lợi hoặc ưa danh tiếng, hoặc ham vui sướng hiện đời, hoặc trông quả báo
tương lai. Phát tâm như thế gọi là “tà”.

2.-
Còn người tu hành mà chẳng cầu danh lợi, chẳng tham sung sướng, chẳng trông quả
báo
, chỉ vì thoát ly sanh tử, chỉ vì thành đạo Bồ-đề, đây gọi là “chánh”.

3.-
Niệm niệm trên cầu Phật đạo, tâm tâm dưới độ quần sanh, xem Phật đạo dài lâu mà
lòng không khiếp, thấy chúng sanh khó độ mà chí chẳng sờn, như lên núi quyết đến
đỉnh, như trèo tháp quyết đến chót. Phát tâm như đây gọi là “chơn”.

4.-
Có tội không sám hối, có lỗi chẳng chịu chừa, ngoài thời coi như trong sạch
trong tâm nhớp nhúa, trước tinh tấn sau biếng lười, dầu cũng có tâm tốt, nhưng
xen lộn danh cùng lợi, dầu có pháp lành song bị tội nghiệp làm nhiễm ô, đó gọi
“ngụy” (dối).

5.-
Chúng sanh giới tận, nguyện của tôi mới tận, đạo Bồ-đề thành, nguyện của tôi mới
thành. Phát tâm như vậy gọi là “đại”.

6.-
Xem tam giới như ngục tù, coi sanh tử như oan gia, chỉ mong riêng mình mau giải
thoát
mà chẳng muốn độ người, đây gọi là “tiểu”.

7.-
Nếu có quan niệm rằng chúng sanhPhật đạo ở ngoài tự tâm, rồi nguyện độ nguyện
thành, chẳng quên công huân, chẳng dứt tri kiến. Phát tâm như thế gọi là “thiên”
(lệch).

8.-
Biết tự tánhchúng sanh nên nguyện độ, rõ tự tánhPhật đạo nên nguyện
thành. Chẳng thấy có một pháp nào ở ngoài tự tâm, rồi dùng tâm rỗng trống phát
nguyện
rỗng trống, thực hành hạnh rỗng rang chứng quả rỗng rang, cũng không còn
thấy tướng rỗng rang([9]),
đây gọi là “viên”.

Tám
cách phát tâm đã rành rẽ, thời nên tự xét kỹ coi mình phát tâm thuộc tính cách
nào: là hay ngụy ư? Là chánhchơn ư? Là đại
tiểu ư? Là thiênviên ư?

Nếu
nhận thấyngụytiểuthiên, thời lập
tức
sửa đổi. Nếu xét mìnhchánhchơnđạiviên,
thời bền chắc thêm lên. Được như vậy mới là “chơn chánh phát Bồ-đề tâm”.

Bồ-đề
tâm
này là vua trong các pháp lành, nhờ mười nhân duyênphát khởi.

1.- Vì nghĩ đến ơn Phật.-
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của ta, từ lúc tối sơ phát tâm, vì chúng ta
hành Bồ Tát đạo, trong vô lượng kiếp chịu đủ sự khốn khổ. Như Kinh Pháp Hoa
nói: “Khắp cõi Đại thiên không có chỗ nào chừng bằng hột cải mà chẳng phải là
chỗ Đức Phật xả thân mạng vì chúng sanh”.

Lúc
ta tạo nghiệp, Phật xót thương dạy dỗ, ngặt vì ta quá ngu si không biết nghe
theo. Rồi ta đọa ác đạo, Phật càng xót thương muốn chịu khổ thay ta, nhưng ta
vì nghiệp quá nặng không cứu vớt được.

Ta
sanh làm người, Phật tìm cách cho ta trồng căn lành, kiếp kiếp đời đời lòng Phật
theo dõi ta không lúc nào rời.

Khi
Phật xuất thế ta còn trầm luân, nay đặng làm người Phật đã diệt độ.

Tội
chi mà sanh nhằm thời mạt pháp! Phước gì mà đặng xen dự chúng Tăng! Chướng chi
mà chẳng thấy thân vàng! May gì mà đặng gặp cốt tượng!

Rồi
tự nghĩ như vầy: Nếu đời trước ta không từng trồng căn lành, thời do đâu mà nay
được nghe Phật pháp, thời đâu biết là thường thọ ơn của Phật. Ơn đức ấy, núi
cao khó sánh. Nếu ta không phát tâm hành Bồ Tát đạo, giữ vững Phật pháp, cứu độ
chúng sanh, thời dầu có tan xương nát thịt cũng không đền đặng.

2.- Vì nhớ ơn cha mẹ.-
Than ôi cha mẹ sanh ta khó nhọc! Mười tháng mang nặng, ba năm bú mớm, ta mới
nên người. Ngỡ là ta nối nắm dòng họ, thừa tự tổ tiên. Dè đâu ta đã xuất gia lấy
danh Thích tử. Không dâng cơm nước, chẳng đỡ tay chân.

Cha
mẹ
còn, ta không nuôi dưỡng thân người. Cha mẹ mất, ta không dắt dìu thần thức.
Như vậy, với đời là sự tổn lớn, với đạo lại
không thiệt ích. Phải chăng đó là một tội nặng!

Rồi
tự nghĩ như vầy: Từ đây trăm kiếp nghìn đời ta phải thực hành Phật đạo. Thập
phương
tam thế ta luôn cứu khắp chúng sanh. Thế thời chẳng phải chỉ cha mẹ
trong đời hiện tại của riêng ta, mà đa sanh phụ mẫu của ta và của mọi người đều
do ta mà đặng siêu thăng. Như vậy mới đền ơn
sanh thành dưỡng dục được.

3.- Vì tưởng ơn Sư trưởng.- Không thế gian Sư trưởng thời ta không biết lễ nghĩa. Không xuất thế
trưởng
thời ta không hiểu Phật pháp. Không biết lễ nghĩa thời khác gì cầm thú.
Không hiểu Phật pháp thời nào khác kẻ tục. Nay ta biết chút ít lễ nghĩa, hiểu
đôi phần Phật pháp, ca sa che vóc, giới phẩm nhuận thân, đây là do Sư trưởng
đặng.

Rồi
tự nghĩ: Nay ta thực hành Đại thừa, nguyện đem sự lợi ích lớn lại cho tất cả, nối
chí Sư trưởng, mà cũng là thêm lớn công đức của Sư trưởng. Như thế, mới gọi là
biết ơn Sư trưởng.

4.- Vì nghĩ ơn thí chủ.-
Đồ dùng hằng ngày đều không phải của mình: hai bữa cháo cơm, bốn mùa y áo, thuốc
men khi bệnh, giường ghế khi mỏi… đều của người sắm cho.

Người
thời hết sức cày bừa còn khó đủ ăn, ta thời ngồi an thọ thực vẫn chưa vừa lòng!
Người thời dệt may chẳng nghỉ còn phải thiếu rách, ta thời y áo có thừa mà không
biết giữ
gìn! Người thời nhà lá vách phên, bận rộn trọn đời, ta thời đền rộng nóc cao
thong thả mãn năm. Dùng sự khổ nhọc của người để cung cấp sự an nhàn cho ta,
như vậy, nơi lòng chừng có an được chăng? Dùng tài lợi của người để nuôi thân
mình, như vậy có thuận lẽ phải cùng chăng?

Rồi
tự nghĩ: Nếu ta không lo song vận bi trí, gồm tu phước huệ, để đàn tín được nhờ,
chúng sanh được độ, thời tấc vải hột cơm có ngày phải trả, địa ngục ngạ quỷ
lúc phải sa. Ta phải kiên cố Bồ-đề tâm mới đặng.

5.- Vì biết ơn chúng sanh.- Ta cùng chúng sanh từ vô thỉ đến nay làm quyến thuộc lẫn nhau, đây kia đều
ơn nghĩa với nhau. Nay dầu cách đời đổi thân, hôn mê không nhớ biết, song cứ
lý mà xét thời không thể không đền đáp.

Hiện
tại
con vật mang lông đội sừng kia, biết đâu rằng từ trước ta đã từng làm con của
nó. Loài giun, dế, bướm, ong đó, biết đâu rằng là thân sanh đời trước của ta. Đến
những ai rên siết trong địa ngục, kêu gào nơi ngạ quỷ. Ta dầu không thấy không
nghe, mà họ tất cầu cứu tế. Ngoài Kinh thời không đâu bày rõ việc này được,
ngoài Phật thời không ai nói rành việc đó được. Vì thế nên Bồ Tát xem kiến rận
đều là quá khứ phụ mẫu, thú cầm đều là chư Phật vị lai, nên thường lo cứu độ,
luôn nghĩ báo ơn.

6.- Vì tưởng khổ sanh tử.– Ta cùng mọi người từ nhiều kiếp đến ngày nay luôn ở trong biển sanh tử:
lúc làm trời, lúc làm người, hoặc cõi này hay thế giới khác, chết đây sanh kia,
thoạt lên thoạt xuống. Ngạ quỷ sớm đi mà chiều lại, địa ngục nay ra mai vào.
Đao sơn kiếm thọ đứt nát thân hình; đồng sôi sắt đỏ cháy rã tâm can; khóc la
trong lửa, rên rỉ trong băng. Muôn lần sống chết nội ngày đêm, giây lát khổ đau
bằng thế kỷ. Đương lúc đó dầu biết khổ nhưng ăn năn sao kịp, sau khi thoát khỏi
liền quên vẫn tạo tội như thường. Tâm không hằng, như lữ khách ruổi dong, thân
không định, dường như cửa nhà thay đổi. Cát bụi cũng không tính được số thân đã
thọ, nước biển vẫn không nhiều bằng giọt lệ chia ly. Nếu không lời Phật, việc
này ai thấy ai nghe. Nếu chẳng xem Kinh, lý đó đâu hay đâu biết. Nhược bằng đời
này cứ tham ái như cũ, vẫn si mê như trước, e rằng muôn kiếp nghìn đời lạc lầm
mãi mãi. Thân người khó được mà dễ chết mất, giờ tốt dễ qua mà khó trở lại, chẳng
may
, sau này phải sa vào ác đạo lại tự mang lấy khổ, bấy giờ ai thế được cho!
Nên ta phải dứt lòng sanh tử, diệt biển dục tình, độ mình độ người đồng lên bờ
giác, quan hệ tại một đời này, không thể bê trễ được.

7.- Vì tôn trọng tánh linh.- Tâm tánh của ta cùng Thích Ca Như Lai không hai không khác. Tại sao Đức
Bổn
Sư đã thành Phật sáng suốt tự tại, mà ta vẫn còn là phàm phu hôn mê điên đảo?
Đức Bổn Sư đủ vô lượng thần thông trí huệ, vô lượng công đức trang nghiêm tự tại
giải thoát, mà ta chỉ có vô lượng nghiệp hệ vô minh, vô lượng phiền não ô trược sanh tử khổ sở!

Tâm
tánh
đồng một, mà vì si mê với ngộ nên khác nhau như trời với vực. Ví như
giá
bửu châu vùi dưới sình lầy, xem như đất đá. Nay ta phải dùng vô lượng thiện
pháp
để đối trị phiền não, tu đức công thành thời tánh đức mới hiển bày. Như bửu
châu được rửa sạch lau khô để trên tràng cao liền phóng quang chiếu sáng. Như vậy
mới là không uổng công giáo hóa của Phật và chẳng phụ tánh linh của mình.

8.- Vì sám hối nghiệp chướng.- Kinh nói: “Phạm một tội kiết-la, phải đọa địa ngục bằng tuổi thọ của Tứ
Thiên Vương”.

Tội
nhỏ còn bị báo khổ như vậy, huống là tội trọng ư?

Nay
ta mỗi ngày, một cử một động thường trái giới luật, lúc ăn lúc uống luôn phạm
thi-la. Tính kỹ trong một ngày cũng đã nhiều tội, huống là trọn đời cho đến nhiều
kiếp về trước kể sao cho xiết. Cứ lấy Ngũ giới mà thẩm xét cũng chưa chắc tròn
vẹn, huống là Mười giới, Cụ túc giới, Bồ Tát vô lượng giới ư!

Nay
ta phải hết lòng cầu ai sám hối, thương mình thương người, thân khẩu tha thiết,
nước mắt theo lời mà tuôn ra mới mong tội được tiêu, khổ được thoát.

9.- Vì cầu sanh Tịnh độ.-
cõi ác trược này tấn tu rất khó. Vãng sanh Cực Lạc thời thành Phật rất dễ. Vì
khó nên nhiều kiếp chưa nên, vì dễ mà một đời đắc quả. Do cớ ấy, nên từ xưa chư
Thánh chư Hiền đều xu hướng Cực Lạc, muôn Kinh nghìn Luận đều chỉ quy Tịnh độ.
Đời nay tu hành, không pháp môn nào hơn pháp môn này.

Trong
Kinh Di Đà nói: “Ít thiện căn ít phước đức không vãng sanh được”. Thế là nhiều thiện căn nhiều phước đức mới được sanh.
Nhiều phước đức không chi bằng chấp trì danh hiệu, nhiều thiện căn chẳng
chi qua phát Bồ-đề tâm.
Niệm Phật giây lát hơn bố thí cả năm, phát Bồ-đề
tâm
hơn tu hành nhiều kiếp.

Vả
lại, niệm Phật cốt mong làm Phật, nếu không phát Bồ-đề tâm thời niệm để làm gì?
Còn phát Bồ-đề tâm để được tấn tu, nhưng không sanh Tịnh độ thời dễ thoái, dễ
thất. Nên trong Kinh có lời dụ:

“Bồ
Tát sơ phát tâm, với trứng cá cùng bông yêm la, nhơn nhiều mà quả ít”.

Gieo giống Bồ-đề, vun
quén bằng niệm Phật, thời đạo quả tự nhiên tăng trưởng, rồi nương thuyền đại
nguyện
của Phật chắc chắn vãng sanh Tịnh độ. Đã được ở Cực Lạc tức là trụ bậc bất
thoái
; từ đây phước trí nhị
nghiêm
, nhiệm vận mà tăng trưởng, viên mãn. Vì thế nên ta phải nhứt tâm cầu
sanh Tịnh Độ mới được.

10.- Vì hộ trì chánh pháp.- Đức Bổn Sư vì ta và tất cả mà tu Bồ Tát đạo trong vô lượng kiếp, làm những
việc khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn. Sau khi nhơn viên quả mãn thành Phật, một
đời
tận tụy dìu dắt mọi người, cặn kẽ chỉ dạy muôn loại. Khi cơ duyên giáo hóa
đã xong, Đức Phật nhập Niết-bàn!

Chánh
pháp
đã qua, tượng pháp đã hết, nay chỉ còn mạt pháp: có giáo pháp mà không người
đắc pháp. Tà chánh không phân, phải quấy lẫn lộn. Cùng nhau cạnh tranh nhơn
ngã, chẳng vì lợi thời cầu danh, Tam bảo không còn thiệt nghĩa, suy tàn tồi tệ
không nỡ thốt lời. Nghĩ đến đây khó cầm giọt lụy.

Ta
Phật tử mà không báo được ơn Phật, trong thời tự mình chẳng được lợi ích,
ngoài thời vô ích với người. Sống không lợi ích cho đương thời, chết vẫn vô ích nơi tương lai. Suy nghĩ như vậy
nên đau lòng xót dạ vội phát đại tâm, cùng với thiện lữ đồng đến đạo tràng tụng
lời sám hối, lập thành pháp hội. Phát 48 điều nguyện, nguyện quyết độ sanh,
nguyện được thành Phật. Mãn báo thân này thệ về Cực Lạc, để được lên chín phẩm,
để được dự Thánh lưu, để được chứng Vô sanh, để được trụ bất thoái.

Rồi
nương thuyền bổn nguyện trở lại Ta Bà làm cho Phật nhật trùng huy, pháp luân
thường chuyển…

Tám
cách và mười duyên đã biết đủ, thời chỗ phát tâm xu hướng, đã có nẻo có đường.
Trông mong đại chúng lân mẫn lòng chân thành tha thiết của tôi, mà cùng tôi đồng
lập đại nguyện, đồng phát đại tâm. Nếu chưa phát thời nay phát, nếu phát rồi thời
nay tăng trưởng, nếu đã tăng trưởng thời làm cho tương tục. Chớ thấy khó mà khiếp
sợ, chớ thấy dễ mà xem thường. Chớ dục tốc mà không bền, chớ giải đãi mà không
được. Cũng đừng vì dốt tối mà trọn không phát tâm, cũng đừng vì trí cạn chướng dày
mà tự hèn tự bỏ. Ví như trồng cây, trồng lâu ngày thời rễ cạn lần sâu. Lại như
mài dao, mài bền thời lưỡi lụt lần bén. Đâu có lẽ vì rễ cạn nông mà bỏ khô
không trồng, dao lụt để vậy cho thành đồ vô dụng!

Còn
nếu cho tu hành cực khổ, thời chưa biết rằng biếng lười càng khổ cực hơn. Vì tu
hành
, dầu tạm thời cần lao nơi hiện tại, nhưng rồi được vĩnh kiếp an lạc
tương lai. Còn biếng lười trộm an nhàn một đời nay, song rồi phải nhiều đời khổ
lụy.

Huống
là dùng Tịnh độ làm châu hàng thời lo gì thoái chuyển, lại đặng Vô sanh làm nhẫn
lực
thời sợ gì gian nan.

Chớ
nói tâm niệm vô thường rồi không phát, cũng đừng cho luống nguyện vô ích
không nguyện.

Phải
biết hễ tâm chơn thời quả thiệt, nguyện lớn thời hạnh sâu. Hư không kia không rộng
lớn bằng tự tâm, kim cương nọ không bền bằng nguyện lực.

Đại
chúng
nếu không chê bỏ lời tôi, thời từ nay chúng taquyến thuộc Bồ-đề, làm
bạn lành Tịnh độ. Nguyện cùng nhau đồng sanh Cực Lạc đồng hầu Di Đà, đồng độ
chúng sanh đồng thành Chánh giác.

Ít
lúc sau, Đại sư trụ chùa Tiên Lâm ở Hàng Châu.

Năm
Ung Chính thứ 7, Đại sư lập Liên Xã làm văn thệ giữ chúng, lấy trọn đời làm hẹn.
Chia ngày đêm làm 20 phần: 10 trì danh, 9 phần quán tưởng, 1 phần lễ sám.


nhà tu thiền đến hỏi về chỉ thú niệm Phật.

Đại
khai thị: “Một câu A Di Đà Phật là đầu tắc công án, không thương lượng
khác, thắng liền quyết phán. Như đống lửa lớn, nhảy vào liền cháy. Như gươm
Thái A, xuống đến thì đứt rời. Tám muôn bốn nghìn pháp môn, không ngoài sáu chữ.
Một nghìn bảy trăm công án, một câu đủ đoán. Mặc ai không ưa nghe Phật, ta tự
niệm niệm nhớ Phật. Xin ông bất tất nhiều lời, chỉ nên nhứt tâm bất loạn”.

Năm
Ung Chính thứ 11, ngày mùng 8 tháng Chạp. Đại
bảo đại chúng rằng: “Tháng Tư sang năm thời ta đi”. Rồi Đại sư đóng cửa
thất mỗi ngày niệm Phật mười vạn câu.

Sang
năm, ngày 12 tháng Tư, Đại sư nói với các đệ tử rằng: “Từ đầu tháng tới nay,
tôi hai lần thấy Cực Lạc Tam Thánh. Tôi sẽ vãng sanh!”. Rồi Đại sư viết bài kệ
để từ biệt chúng.

Qua
ngày kế, Đại sư không ăn uống, cứ nhắm mắt ngồi ngay thẳng. Đến canh năm, Đại
tắm rửa thay y áo. Qua ngày sau tức là ngày 14, gần giờ ngọ, Đại sư xoay mặt
về hướng Tây nhắm mắt yên lặng. Đại chúng Tăng tục các nơi hội về đông như chợ.
Đại sư bỗng mở mắt nhìn mọi người mà bảo rằng: “Tôi về Cực Lạc không bao lâu
tôi sẽ trở lại. Thoát ly sanh tử là việc lớn, mọi người nên tự giữ lòng thanh tịnh
siêng niệm Phật là được”.

Dặn
xong, Đại sư chắp tay xướng to hồng danh của Phật rồi tịch. Thọ bốn mươi chín
tuổi.

XI.
THẬP NHỨT TỔ TẾ TỈNH ĐẠI SƯ

Trích ở bộ “Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục”

Tế
Tỉnh Đại sư
, người Phong Nhuận, triều Thanh, họ Mã, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường.

Thuở
thơ ấu ngài học thông kinh sử. Sau khi xuất gia ngài đi học các nơi, rộng suốt
cả hai tông “Tánh”, “Tướng”, tâm đắc nhứt là “Chỉ thú Pháp Hoa tam quán”. Kế
tham học với Túy Như Thuần Thiền sư ở chùa Quảng Thông, phát minh tâm yếu được ấn
khả
. Về sau Thuần Thiền sư qua ở Vạn Thọ tự, Đại sư kế vị ở Quảng Thông, sách tấn
kẻ hậu học. Tông phong rất thạnh.

Đại
nói: “Vĩnh Minh Thọ Thiền sư là bậc long tượng của Thiền môn mà còn quy tâm
Tịnh độ thay, huống nay là thời kỳ mạt pháp càng phải tuân theo!”.

Đại
chuyên tu Tịnh độ chủ trương Liên Tông. Mỗi ngày, hạn thời giờ dạy chúng
cùng tiếp khách nội một cây hương. Ngoài ra nhứt quyết lo lễ Phật niệm Phật
thôi.

Ít
lâu sau, Đại sư sang trụ chùa Giác Sanh, không bao lâu lại lui về ngụ chùa
Phước
ở Hồng Loa Sơn. Tăng chúng bốn phương mến đức Đại sư nên hội về Tư Phước
mỗi ngày thêm đông, bèn thành tòng lâm.

Đại
vì pháp vì người lòng không chút mỏi nhàm, tất cả đều dùng Tịnh độ làm quy
thú. Mỗi khi giảng đến ơn cứu khổ ban vui của Như Lai thường nước mắt theo lời
mà tuôn ra. Thính chúng đều cảm động, phần đông nước mắt nước mũi ướt cả vạt
áo.

Đại
từng dạy: “Đầu mối quan hệ trong vòng sanh tử của chúng ta có hai năng lực:
A.- “Tâm chữ đa đoan trọng xứ thiên trụy([10])”,
đây là tâm lực. B.- “Như nhơn phụ trái cường giá tiên khiên(1)”,
đây là nghiệp lực.

Nghiệp lực rất lớn nhưng tâm lực
lại lớn hơn. Vì nghiệp không tự tánh, toàn nương nơi tâm, vì thế nên tâm chú
trọng thời làm cho nghiệp mạnh.

Nếu dùng tâm chú
trọng
mà tu tịnh nghiệp thời tịnh nghiệp mạnh, ngày sau báo tận mạng chung,
quyết định sanh Tây phương Cực Lạc, không sanh ở cõi nào khác. Như cây to, vách
cao xiên hướng về Tây phương, khi trốc gốc lỏng chân, quyết định ngã úp về hướng
Tây
vậy.

Thế
nào là tâm chú trọng?

Chúng
ta
tu tịnh nghiệp: tín tâm phải sâu chắc, chí nguyện phải tha thiết. Do
tín tâm sâu cùng chí nguyện thiết, nên tất cả tà thuyết không lay động được, tất
cả cảnh duyên không lôi kéo được.

Giả
sử
lúc ta tu tịnh nghiệp mà có Đạt Ma Tổ Sư hiện ra bảo ta bỏ Tịnh tu Thiền
thể liền thành Phật, thời ta cũng từ tạ Tổ mà không dám tuân lời. Dầu Đức Thích
Ca Như Lai
bỗng hiện thân bảo rằng có pháp môn khác hơn Tịnh độ, rồi bảo ta bỏ
Tịnh để tu pháp môn đó, ta cũng lạy Phật mà từ. Vững được như vậy mới gọi là lòng
tin
sâu chắc.

Giả
sử
vòng lửa đỏ tròng vào đầu, ta cũng không vì sự thống khổ này mà quên nguyện
vãng sanh. Dầu cho sự giàu sang vui sướng nhứt trong đời như ngôi Luân Vương đến
cho ta, ta cũng không vì sự vui sướng ấy mà quên nguyện vãng sanh. Gặp những cảnh
duyên
nghịch thuận tột bậc như vậy mà vẫn không đổi lòng, đây gọi là chí
nguyện
tha thiết.

Lòng
tin
chắc, chí nguyện thiết, đó là tâm chú trọng. Dùng tâm này mà tu tịnh
nghiệp
, thời tịnh nghiệp được mạnh, nghiệp mạnh thời mau thành thục. Tịnh nghiệp
Cực Lạc thành thục thời nhiễm duyên Ta Bà dứt. Như thế, đến lúc lâm chung, dầu
có muốn cảnh giới luân hồi hiện ra cũng không thể được, dầu có muốn rời Di Đà
cùng cảnh Tịnh Độ đừng hiện ra cũng không thể được.

Nhưng
lòng tin chắc và chí nguyện thiết ấy, lúc bình thời phải rèn luyện cho thành, đến
lúc lâm chung mới khỏi sa lạc vào lối khác. Như Cổ đức lúc lâm chung, chư thiên
trỗi nhạc cầm phan đến rước ở ngôi Đâu Suất Thiên Vương mà các ngài cố từ, cứ
chuyên tâm niệm Phật tưởng Phật đến khi Phật và Thánh chúng đến mới chịu theo([11]). Vả sắp
chết là lúc tứ đại phân trương, chư Thiên đến rước là cảnh tuyệt cực. Nếu bình
thời lòng tin cùng chí nguyện không phải mười phần vững chắc cả mười, thời lúc
lâm chung gặp phải cảnh ấy tất khó có thể tự chủ được”.


nhà tu thiền đến gạn: “Tất cả các pháp đều huyễn mộng, Ta Bà vốn là huyễn mộng,
Cực Lạc cũng là huyễn mộng. Đồng là huyễn mộng, tu có ích gì?”.

Đại
nói: “Không phải thế! Từ Thất địa Bồ Tát trở xuống, đều là trong huyễn mộng
tu hành. Đến như Đẳng giác vẫn còn đương ngủ vì còn vô minh. Chỉ bậc Phật mới
Đại giác.

Đương
lúc ở trong cảnh mộng thời khổ cùng vui rõ ràng. Cảnh mộng chịu khổ ở Ta Bà,
sao bằng cảnh mộng an vui nơi Cực Lạc. Huống lại cảnh mộng Ta Bà là từ mộng vào
mộng càng lúc càng đi sâu vào chốn mê say. Còn cảnh mộng Cực Lạc là từ mộng ra
khỏi mộng thành bậc Đại giác. Cõi uế cùng cõi tịnh dầu đồng cảnh huyễn mộng,
nhưng ảnh hưởng cùng kết quả khác xa nhau, vì thế nên cần phải sớm tu Tịnh độ”.

Năm
Gia Khánh thứ 15, tháng Hai. Đại sư biết trước ngày vãng sanh, bèn đi từ biệt
các nơi và dặn rằng: “Thân hư huyễn này không bền lâu, ai nấy đều nên nỗ lực niệm
Phật
, chúng ta sẽ gặp nhau ở Tịnh độ”.

Đến
tháng Chạp, ngày mùng 2, thoạt thấy trên hư không vô số tràng phan bửu cái từ
hướng Tây đến. Đại sư nói với đại chúng rằng: “Cảnh
Tịnh độ đã hiện, ta sắp sửa về Cực Lạc!”. Rồi Đại sư bảo đại chúng luân
phiên
niệm Phật. Ngày 17, giờ Thân, Đại sư nói với đại chúng rằng: “Hôm qua tôi
thấy Văn Thù, Quan ÂmThế Chí ba vị Bồ Tát, bây giờ lại được Đức Phật tự
thân đến tiếp dẫn. Tôi đi đây!”. Nói xong, Đại sư đoan tọa xoay mặt về hướng
Tây
nói: “Xưng một câu hồng danh thời thấy đặng một phần tướng hảo!”. Dứt lời,
Đại sư kiết ấn mà tịch. Thọ 70 tuổi, Tăng lạp 49. Giờ Đại sư viên tịch, cả
chúng đồng nghe mùi hương lạ ngào ngạt. Để lộ khánh 7 ngày, thi thể Đại sư sắc
mặt tươi như sống, tóc bạc biến thành đen. Lúc trà tỳ, đặng hơn trăm hột xá lợi.

LỜI
PHỤ
.- Trong các tông về
Đại thừa, Thiền tông xưng là “Trực chỉ chơn tâm, kiến tánh thành Phật” cũng tự
gọi là “giáo ngoại biệt truyền”. Trong 11 vị Tổ Sư của Tịnh độ tông, hết 6 vị
nguyên là Thiền sư chánh truyền: Tam Tổ Thừa Viễn Thiền sư, Lục Tổ Vĩnh Minh Thọ
Thiền sư, Bát Tổ Phật Huệ Thiền sư, Cửu Tổ Ngẫu Ích Thiền sư, Thập Tổ Tỉnh Am
Thiền
sư, Thập Nhứt Tổ Triệt Ngộ Thiền sư. Các ngài ấy từ Thiền qua tu Tịnh, hoằng
dương pháp môn Tịnh độ. Tại sao các ngài không hoằng thiền mà trở lại hoằng tịnh?
Có hai nguyên nhân([12]):

1.-
Trực chỉ thiền chỉ lợi cho bậc Thượng thượng căn, còn bậc Trung và Hạ khó đại
triệt đại ngộ được. Không bằng Pháp môn niệm Phật phổ lợi ba căn: bậc Thượng
căn
chứng lý nhứt tâm cao siêu Thượng phẩm, bậc tối Hạ căn chuyên niệm cũng được
đới nghiệp vãng sanh. Đã được vãng sanh liền dự Thánh chúng, liền thấy Di Đà,
liền gần Bồ Tát, lo gì không đại ngộ đại triệt. Vì sự lợi ích hẹp (thiền) và rộng
(tịnh) như thế, nên các ngài mới cực lực dạy người khuyên người đồng tu Tịnh độ,
để ai ai cũng đều được lợi ích một cách chắc chắn.

2.-
Minh tâm kiến tánh phải là bậc Thượng căn đại trí. Dầu đã được ngộ triệt, nhưng
vô minh phiền não cùng nghiệp tập từ vô lượng kiếp đến nay, không phải nhứt đán
mà sạch được. Nếu hoặc nghiệp còn chừng mảy tơ, vẫn y nhiên ở vòng sanh tử, một
mai cách ấm (bỏ thân này thọ thân khác) khó bảo đảm không mê. Nếu được ngộ triệt
mà được vãng sanh thời thẳng đường thành Phật. Vì muốn bảo đảm cho sự giác ngộ
nên các ngài đã ngộ thiền bèn gồm tu tịnh, cầu sanh Cực Lạc.

Không
phải riêng gì các vị Thiền sư trên đây, còn nhiều vị Thiền sư khác, và nhiều Tổ
trong các tông khác: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Thức v.v… đồng hồi hướng Tịnh
độ
, đồng dẫn người về Tịnh độ, mà chúng ta sẽ được xem lược sử của các ngài ở tập
sau.

Ôi!
Cực Lạc Tịnh Độ khác nào biển cả: nghìn muôn sông lạch đều chảy dồn về, thượng
Thánh hạ phàm một lòng xu hướng.

Chúng
ta
, những người lập chí “thượng cầu hạ hóa”, những người có nguyện “độ mình độ
người” phải nên sớm dùng “tín sâu”, “nguyện thiết”, “chuyên trì Phật hiệu” để
được vãng sanh, để dự Thánh chủng, để trụ bất thoái, để thành Bồ-đề, để độ
chúng sanh, đồng thành Phật đạo. 

Nguyện đem công đức này

Trang nghiêm tịnh Phật độ

Cùng pháp giới chúng sanh

Đồng sanh Cực Lạc quốc

 

HÂN TỊNH

Ngày Phật Đản PL. 2497 (1953)


[1] Vì nơi ấy không có mạch nước, Ngài cầm tích trượng dộng
xuống đất, bỗng có rắn vàng nhỏ từ chỗ dộng trồi lên, nước ngọt từ đất theo dấu
rắn mà vọt ra, bèn thành suối tốt. Vì nhân duyên ấy nên đặt hiệu tịnh xá
“Long Tuyền” (suối rồng).

[2] Xem lược sử ở tập sau

[3] Xem 48 điều nguyện ở chương Hoằng Nguyện

[4] Xem bài “Hai Đại Thánh ứng tích” ở chương thứ sáu

[5] Người đời trọng đức, kiêng danh hiệu, nên quen gọi là
“Vĩnh Minh Đại sư”

[6] Lời phê phán trong bốn bài kệ này là cốt tủy của tam
tạng
. Cổ đức cho là nghìn Phật ra đời cũng không dời đổi. Ý nghĩa rất xác đáng.
Xem lời giải thích của Ấn Quang Đại sư ở tập Thiền Tịnh quyết nghi.

[7] Ta quen gọi Tổ là Liên Trì Đại sư

[8] Lời răn của Đại sư rất hiệp với
lời dạy của Nhị Tổ: “Chuyên tu thời mười người vãng sanh
cả mười. Còn tạp hạnh, nghìn khó được một giải thoát”.

Ôi! Tông thời thấu nghìn trăm công án. Giáo thời suốt tam tạng kinh điển,
người như thế rất hy hữu, mà Đại sư còn cho là việc nơi bờ sanh tử, đến lúc lâm
chung
trọn dùng không được thay, huống là kẻ kinh giáo qua loa, tông chỉ chẳng
thấu ư! Huống là kẻ cả năm lăng xăng tạp hạnh ư! Cổ đức nói: “Sở vị tu hành,
nguyện lai kết nghiệp”. Chúng ta nên tự tỉnh tự xét, phải sớm chuyên tu mới
được.

[9] Rỗng rang, rỗng trống: hoàn toàn không có một niệm, một
tưởng gì xen vào.

[10]Hai
câu này Đại sư trích lấy trong “Quy Sơn Cảnh Sách” để dẫn giải “tâm lực” và
“nghiệp lực”. Xem các đoạn kế sẽ hiểu được ý chỉ hai câu, nên để nguyên văn cho
toàn lý thú.

[11] Đạo Ngan Thiền sư, xem
tiểu sử ở tập sau.

[12] Xin xem và suy gẫm kỹ
bốn bài kệ luận Thiền và Tịnh của Lục Tổ Diên Thọ Đại sư. Có giảng rõ ở tập
“Thiền Tịnh quyết nghi” ở sau.

CHƯƠNG
THỨ TÁM

 TỨ
CHÚNG
VÃNG SANH TRUYỆN

Tịnh Độ châu sa giới

Vân hà độc lễ Tây ?

Đản năng hối nhứt niệm

Xúc xứ thị Bồ-đề !

Thuận theo lời dạy của Đức
Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà đến ra mắt Đức Từ Phụ A Di Đà Phật. Rồi thể theo
chí nguyện của Đức Từ Phụtrở lại phụ trợ Đức Bổn Sư. Không rời Cực Lạc
khắp đến mười phương, ngồi an trên liên đàiphân thân Pháp giới.

Từ
khi hai Đức Giáo chủ lập pháp đến nay, những người đã được như thế đông nhiều
như số cát sông Hằng

TỊNH ĐỘ THẬP NGHI LUẬN TỰ

TỨ
CHÚNG
VÃNG SANH THỨ NHỨT

A 1 – CHƯ SƯ TĂNG

I – TRÍ NGHỊ ([1])

Trí Nghị Đại sư họ Trần, tự Đức
An, người Tần Xuyên. Thân mẫu mơ thấy khói thơm năm màu phủ thân mình mà có
thai. Giờ sanh ngài, cả nhà thoạt sáng rực. Mắt ngài có con ngươi đôi. Từ bé,
lúc nằm bao giờ ngài cũng nghiêng về hông bên mặt, lúc ngồi bao giờ cũng xếp
bằng
và xoay mặt về hướng Tây. Lớn lên, hễ gặp tượng Phật, tượng Bồ Tát, ngài
liền đảnh lễ, còn gặp Sư Tăng, ngài liền cung kính.

Năm
18 tuổi, ngài xuất gia tại chùa Quả Nguyện ở Tương Châu. Ngài thông Luật tạng,
tụng Kinh Pháp Hoa, thích ngồi thiền.

Ít lúc sau, ngài đến núi Đại Tô ở
Quang Châu tham lễ Huệ Tư Thiền sư([2]).
Thiền sư vừa thấy ngài liền nói : “Lúc Đức Phật còn tại thế, ông và ta đồng dự hội Pháp Hoa. Do túc duyên
ấy nên nay ông tìm đến ta”. Thiền sư liền dạy ngài môn “Pháp Hoa Tam muội” và
giảng “Tứ an lạc hạnh”([3]).
Ngài bèn ở lại núi này mà tu Pháp Hoa
Tam muội. Vừa được ba đêm, khi tụng đến câu “Thị chơn tinh tấn danh chơn pháp
cúng dường
Như Lai” trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Nguyện, thân tâm ngài bỗng rỗng rang tịch tịnhnhập định,
chiếu suốt Pháp Hoa, thấu rõ các pháp tướng, được Huệ Tư Thiền sư ấn khả.

Năm Quang Đại triều Trần, ngài
đến Kim Lăng ở chùa Ngõa Quan rộng truyền pháp môn tu thiền. Năm Đại Kiến, ngài
qua núi Thiên Thai tại Lâm Hải cất am mà ở. Không bao lâu ngài lại phụng chiếu trở
về
Kim Lăng.

Nhà Trần
mất, ngài đi qua Lô Sơn và các xứ Kinh Châu, Dương Châu.

Năm Khai
Hoàng triều Tùy, ngài trở lại Thiên Thai.

Trước sau
ngài dựng 36 cảnh chùa, đúc tám mươi vạn (800.000) tượng Phật đồng. Đích thân ngài độ được 14.000
vị Tăng. Ngài mua những hào, rạch, đầm, sông hơn 60 chỗ để làm nơi phóng sanh.
Ngài dâng biểu lên triều đình ra bảng nghiêm cấm việc bắt cá, chim… Thật là,
mọi người đều quy ngưỡng, Long Thiên đều kính trọng, tông Pháp Hoa từ đó rất
thịnh hành. Tấn Vương thọ giới Bồ Tát với ngài, rồi phụng hiệu là Trí Giả.

Ngài
có trứ tác bộ “Tịnh Độ Thập Nghi Luận”, ở chương cuối nói về hai nghĩa Hân và Yểm
: Người muốn được sanh Cực Lạc thế giới nếu đủ cả hai hạnh sau đây thời chắc chắn
vãng sanh.

A.-
Hạnh nhàm lìa trược ác

B.-
Hạnh ưa thích Tịnh Độ

A.-
Hàng phàm phu từ vô thỉ tới nay, bị cảnh ngũ dục lôi kéo nên luân hồi mãi trong
vòng
sanh tử chịu đủ điều khốn khổ, nếu không sanh lòng nhàm lìa vật dục thời
không sao giải thoát được. Nên thường quan sát thân người là một bọc máu mủ phẩn
dãi, đủ thứ hôi thối dơ dáy. Kinh Niết Bàn nói : “Cái thân này như thế, giống
quỷ dữ ngu si thường ở luôn trong đó. Có ai là người trí mà lại ưa thích
nó…”. Kinh lại nói : “Thân này là chỗ họp của mọi điều khốn khổ, toàn thể đều
dơ thối, là cội gốc của tai hại. Nhẫn đến thân thể của chư Thiên cũng đều như vậy
cả”.

Người
tu hành, ngày đêm thường quán sát thân thể là khổ, là dơ, không chút chi vui,
không một mảy sạch, lòng rất nhờm gớm. Nếu người ở nơi sự dâm dục chưa đoạn hẳn
được phải quán sát bảy cách như vầy :

1.-
Xét nghĩ thân dâm dục này là từ nơi vọng niệm tham ái mà sanh, đó là chủng tử
nhơ nhớp.

2.-
Do tinh cha huyết mẹ hiệp lại mà thành, đó là thọ sanh nhơ nhớp.

3.-
Nhiều tháng ở trong tử cung của đàn bà, đó là chỗ ở nhơ nhớp.

4.-
Lúc ở trong thai chỉ ăn huyết của mẹ, đó là ăn đồ nhơ nhớp.

5.-
Khi đủ ngày từ nơi cửa mình của đàn bà mà chui ra, đó là lúc sanh nhơ nhớp.

6.-
Xem kỹ thân này, dưới lớp da mỏng chỗ nào cũng là những máu mủ đồ dơ, đó là toàn
thể
nhơ nhớp
.

7.-
Sau khi chết, thân này sẽ sình rã thối hôi, đó là rốt ráo nhơ nhớp.

Xem
xét
thân mình cực kỳ nhơ nhớp như thế, thời xét nghĩ thân người khác cũng như vậy.
Nếu có thể thường có quan niệm nhơ nhớp như trên, thời vọng niệm dâm dục lần lần
yếu bớt. Và nên phát nguyện : Nguyện tôi mau thoát khỏi tấm thân máu mủ nhớp
nhúa trong vòng sanh tử khốn khổ này, mà được thân kim cương thanh tịnh an vui
nơi Tịnh Độ.

B.- Hạnh ưa muốn Tịnh Độ có hai
điều :

I.-
Ý nghĩa cầu vãng sanh : Người cầu sanh Tịnh Độ chính vì để cứu vớt tất cả chúng
sanh
. Tự xét như vầy : “Tôi hiện nay không có đạo lực tự tại, nếu ở nơi cõi trược
ác này thời cảnh nhiễm ô quá mạnh, tự mình phải bị nghiệp chướng ràng buộc xoay
lăn trong lục đạo luân hồi nhiều đời nhiều kiếp như thời gian quá khứ, biết lúc
nào thoát khỏi, làm sao cứu khổ cho chúng sanh được ! Vì vậy nên tôi cầu sanh về
Tịnh Độ để được gần gũi bên Phật, sau khi chứng Vô sanh Pháp nhẫn rồi mới kham
vào cõi trược ác hóa độ mọi loài”. Vãng Sanh Luận nói : “Người phát Bồ-đề tâm
chính là tâm muốn thành Phật, tâm muốn thành Phật chính là tâm muốn độ sanh,
tâm muốn độ sanh là tâm mong nhiếp lấy chúng sanh sanh về cõi Phật…”. Bồ-đề
tâm
này do đâu mà thành tựu ? Cần phải do sanh về Tịnh Độ, ở gần bên Phật mau
chứng Vô sanh nhẫn rồi vào cõi sanh tử cứu độ chúng sanh, trí và bi gồm đủ, tự
tại
vô ngại, chính đó là tâm Bồ-đề.

II.- Tu trì tịnh nghiệp : Người có lòng ưa muốn về Tịnh
Độ
nên tưởng nhớ thân tướng của Đức Phật A Di Đà : 84.000 tướng tốt, mỗi tướng
tốt có 84.000 tùy hình hảo, mỗi tùy hình hảo phóng ra 84.000 tia sáng chiếu khắp
pháp giới nhiếp lấy những chúng sanh niệm Phật. Lại quan sát cõi Cực Lạc thanh
tịnh trang nghiêm
như trong Quán Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh v.v… Nên thường tu
“Niệm Phật Tam muội” và thực hành những điều lành như : lễ Phật, tụng kinh,
cúng dường, sám hối, trì giới, bố thí, phóng sanh v.v… luôn luôn đều hồi hướng
cầu được sanh về Cực Lạc thế giới. Được như vậy thời quyết định vãng sanh


duyên
giáo hóa đã mãn, Đại sư qua chùa Thạch Thành ở Việm Đông nói với đệ tử rằng
: “Tôi sẽ từ giã cõi đời tại chùa này !”. Ngài bảo kê giường hướng về Tây
phương
rồi chuyên niệm A Di Đà Phật với Bát NhãQuan Thế Âm. Ngài lại bảo thị
giả
thắp hương đèn, ngài xướng to đề Vô Lượng Thọ KinhQuán Vô Lượng Thọ
Kinh
. Xướng đề Kinh xong, ngài tán thán rằng : “Bốn mươi tám nguyện trang
nghiêm Tịnh Độ
, ao sen đài báu dễ đến mà không người. Kẻ ác, tướng địa ngục đã
hiện, ăn năn niệm Phật còn đặng vãng sanh, huống là người giới huệ huân tu
Thánh hạnh, quyết chắc công phu không luống uổng vậy”. Các đệ tử thưa rằng : “Chẳng
biết Đại sư chứng bậïc nào ? Sau khi bỏ thân này sẽ sanh về đâu ?”. Ngài đáp :
“Nếu ta không bận việc chung, tất được bậc “lục căn thanh tịnh”, vì tổn mình lợi
người nên chỉ được bậc “ngũ phẩm”([4]).
Các thầy bạn của ta hiện theo đức Quan Thế ÂmĐại Thế Chí đồng đến rước ta”.
Dứt lời, Đại sư ngồi kiết già mà tịch, an nhiên như nhập thiền định. Thọ 67 tuổi.
Bấy giờ là ngày 24 tháng 11, năm Khai Hoàng thứ 17, triều Tùy.

Ông
Thích Huệ Diên ở chùa Thiên Hương hay tin Đại sư viên tịch, buồn nhớ lắm. Ông
muốn biết Đại sư hiện ở đâu, mới phát nguyện tả Kinh Pháp Hoa để cầu minh ứng.
Đêm đến, ông Diên mơ thấy Trí Giả Đại sư ngồi tòa sen báu theo sau đức Quan Thế
Âm
, từ phương Tây bay đến, ngó ông mà bảo rằng : “Ông đã hết nghi ngờ chưa ?”.

Ngoài
ra
Đại sư hiện rất nhiều việc linh cảm tương tợ như việc trên đây.

Trích
ở những bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ, Tịnh Độ Thập Nghi Luận

LỜI PHỤ.- Trí Giả Đại sư, Sơ Tổ của Pháp Hoa tông, người thủ truyền viên chỉ “nhứt tâm tam
quán
, nhứt niệm cụ vạn hạnh”. Đại sư thân chứng Pháp Hoa Tam muội, hoằng truyền
tông chỉ Pháp Hoa, lấy Tịnh độ làm quy túc,
chính Đạivãng sanh Cực Lạc. Vì thế nên các bậc tôn túc trong tông
Pháp
Hoa noi gương Đại sư, cực lực hoằng
truyền Tịnh độ, phổ khuyến chúng sanh đồng tu niệm Phật, đồng sanh Cực Lạc.

II – ĐÀM LOAN

Đàm
Loan
Pháp sư, người Nhạn Môn, thuở niên thiếu đi viếng núi Ngũ Đài, được thấy
nhiều cảnh linh dị, phát lòng tinxuất gia. Đọc Kinh Đại Tập thấy lời cùng ý
đều thâm mật, ngài mới ra công chú thích. Vừa được nửa bộ, ngài mang bệnh nặng,
thuốc men đủ cả mới được lành. Ngài tự than rằng : “Mạng người mỏng manh chết mất
trong sớm tối ! Tôi nghe các vị Tiên trường sanh thường có nơi thế gian. Trước
luyện thuật trường sanh, sau tu học Phật pháp cũng được như vậy !”. Ngài qua
Giang Nam khẩn cầu tiên thuật nơi ông Đào Ẩn Cư, một nhà tu tiên chánh truyền.
Ông Đào truyền cho mười quyển kinh Tiên, ngài hớn hở mang về, cho rằng Thần Tiên
có thể thành. Đến Lạc Dương gặp Tam Tạng Pháp sư Bồ Đề Lưu Chi, ngài bạch hỏi : “Trong Phật giáophương
pháp
trường sanh bất tử hơn kinh Tiên này chăng ?”. Tam Tạng Pháp sư đáp : “Xứ
này làm gì có pháp trường sanh bất tử ! Tu Tiên dầu được sống lâu, nhưng rồi
cũng phải luân hồi, đâu đủ quý báu. Về trường sanh bất tử chỉ trong Phật pháp
ta có thôi !”. Pháp sư trao cho ngài quyển Quán Kinh mà bảo rằng : “Tu học theo
đây thời không còn sanh vào chốn luân hồi sanh tử nữa, tất cả họa phước thạnh
suy đều không chi phối được. Luận về sự sống lâu, hằng hà sa kiếp số cũng không
sánh kịp. Đây là pháp trường sanh rốt ráo của nhà Phật ta đấy !”. Ngài Đàm Loan
mừng lắm, bèn đốt kinh Tiên mà chuyên tu tịnh nghiệp, ngài đem chỗ tự tu giáo
hóa
mọi người rất được rộng lớn. Ngài soạn 12 bài kệ lễ Tịnh Độ nối theo kệ của
Long Thọ Bồ Tát([5]),
ngài có trứ tác bộ “An Lạc Tập” 2 quyển, lưu truyền trong đời. Vua triều Ngụy rất
trọng kính ngài, phụng hiệu là “Thần Loan Pháp sư”, và thỉnh ngài trụ trì chùa
Đại Tự ở Tinh Châu. Về sau ngài qua trụ chùa
Huyền Trung ở Vân Châu.

Năm
Hòa Hưng thứ 4, đêm nọ, có một vị Thánh Tăng hiện ra nói với ngài rằng : “Tôi
Long Thọ đây. Tôi về Tịnh Độ đã lâu, vì ông đồng chí nên tôi đến thăm”.

Ngài
biết trước giờ viên tịch, vân tập đại chúng lại mà bảo rằng : “Sống chết nhọc
nhằn biết ngày nào dứt. Sứ thống khổ trong tam đồ phải biết lo sợ, chín phẩm Tịnh
nghiệp
phải gắng siêng tu !”. Rồi ngài bảo hàng đệ tử to tiếng niệm Phật, còn
ngài thời xoay mặt về hướng Tây rập đầu cúi lạy mà tịch. Lúc đó, tất cả người tại
chùa đồng thấy tràng phan, bảo cái từ phía Tây bay đến, khắp trời vang tiếng nhạc
du dương lâu lắm mới dứt.

Triều
đình được tin, truyền xây tháp dựng bia ở Văn Cố (Sơn Tây).

Trích
ở các bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Lạc Ban Văn Loại

LỜI
PHỤ
.- Thiên Tiên được
sống lâu nên được tạm gọi là trường sanh, còn gọi là bất tử thời không phải, vì
tiên vẫn là phàm phu trong vòng sanh tử luân hồi trong tam giới([6]).
Vả lại người tu Tiên rất chướng ngại đạo giải thoát. Vì luân hồi gốc nơi “ngã
chấp”, ngã chấp từ nơi mến thân mà có, nên trên đạo giải thoát bắt đầu từ quan
niệm
nhàm thân, có nhàm thân mới có hết ngã chấp, ngã chấp hết mới thoát khỏi
luân hồi. Do đây nên trong Phật pháp rất chú trọng đến các vấn đề : quán thân
nhơ nhớp, là gốc khổ, là vô thường, là không tự thể… Người tu Tiên trái ngược
lại, rất mến thân, nên những cách tu luyện của họ cốt yếu là giữ thân máu thịt
này cho trường tồn, mến thân là ngã chấpngã sở, đó là kiên cố cội gốc sanh
tử luân hồi
.

Thần
Loan Pháp sư nghe một lời khai thị liền đốt bỏ kinh Tiên mà chuyên tu Phật đạo,
phải chăngtúc căn tham hậu khiến nên, hay là do chánh trí của ngài thấu tỏ
!

III – ĐẠO XƯỚC

Đạo
Xước
Thiền sư họ Vệ, người Tinh Châu, năm 14 tuổi, ngài xuất gia học tập Kinh
luận
. Ngài theo học thiền với Toản Thiền sư. Về sau ngài trụ trì chùa Huyền
Trung ở Văn Thủy, ngôi chùa của Đàm Loan Pháp sư khai sơn. Ngài ham mộ hạnh Tịnh
độ
của Đàm Loan Pháp sư nên chuyên tu Tịnh nghiệp : ngồi thường xoay mặt về hướng
Tây
, sáu thời lễ Phật, tâm tưởng không rời Tịnh độ, ngày đêm niệm Phật bảy vạn
câu.


một Sư Tăng nhập định xuất thần du Tịnh Độ, thấy Đạo Xước Thiền sư ngồi tay cầm
chuỗi, thân to lớn tỏa ánh sáng như một tòa núi vàng. Ngoài ra còn rất nhiều
thoại ứng khác kể không xiết.

Ngài giảng dạy Quán Kinh
Lượng Thọ Kinh
gần 200 bận. Thính giả gồm cả Tăng và tục, tay đều cầm chuỗi
miệng niệm Phật như tiếng sóng biển. Mỗi khi giảng Kinh xong, lúc giải tán, tiếng niệm Phật vang cả rừng, cả đường.

Ngài có trứ tác bộ Tịnh Độ
Luận
hai quyển, lời cùng nghĩa đều thiết yếu, người thời ấy rất trọng.

Năm
Trinh Quán thứ 2 nhà Đường, giữa lúc giảng Kinh, cả chúng đều thấy Đàm Loan
Pháp sư ngồi trên tòa thất bảo gọi Đạo Xước Thiền sư mà nói rằng : “Đền báu của
ông ở Tịnh Độ đã hoàn thành, chỉ còn thân thừa chưa mãn đấy thôi !”. Đồng thời
mọi người thấy Hóa Phật ngự trên hư không, thiên hoa rưới xuống. Cả chúng đều
hân ngưỡng và khen lạ.

Từ
ngày ấy trở đi, sự hoằng hóa của Thiền sư càng phấn chấn hơn. Tăng và tục ở bốn
phương về quy kính mỗi ngày thêm đông. Năm 82 tuổi, ngài viên tịch.

Bấy
giờ Thượng tọa Thích Đạo Phủ, bạn thân của Thiền sư, được tin Thiền sư đã viên
tịch
, bèn nói với mọi người rằng : “Tôi thường hẹn sẽ về Tịnh Độ trước ông,
không ngờ nay lại trễ sau. Tôi chỉ gia công thêm một hơi thời theo kịp ông”.
Nói xong Thượng tọa liền nghiêm chỉnh y áo, đến trước tượng Phật kính lễ rồi
đoan tọa mà tịch.

Trích
ở các bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

IV – TĂNG HUYỀN

Tăng
Huyền Hòa thượng, người Tinh Châu, Hòa thượng thâm đạt Thiền tông, thông giáo
lý, giải cùng hạnh đều trọn đủ. Năm 96 tuổi, thấy Đạo Xước Thiền sư giảng Quán
Kinh
cùng trứ tác Tịnh Độ Luận, Hòa thượng mới hồi tâm lo niệm Phật. Sợ rằng tuổi
đã quá già sống không còn bao lâu, nên Hòa thượng tu Tịnh nghiệp rất chuyên cần
: mỗi ngày lễ Phật một nghìn lạy, niệm Phật chín vạn câu, luôn như vậy trọn 5
năm không một ngày thiếu trễ.

Một
hôm nhuốm bệnh nhẹ, Hòa thượng hội đệ tử lại mà bảo rằng : “Đức A Di Đà Phật
trao cho ta chiếc áo thơm đẹp, Quan Thế ÂmĐại Thế Chí cùng Thánh chúng đều
đứng trước ta, vô số Hóa Phật chật cả hư không. Ai nấy ở lại gắng tu. Ta xin đi
!”. Dứt lời, Hòa thượng liền tịch. Mùi thơm lạ ngào ngạt trọn bảy ngày mà chưa
tan.

Bấy
giờ có Khải Phương Pháp sư và Viên Quả Pháp sư mục kích Hòa thượng vãng sanh.
Hai người đồng phát tâm cầu sanh Tịnh Độ. Đồng nhau đến chùa Ngộ Chơn kiết thất
ba tháng chuyên niệm A Di Đà Phật. Hai Pháp sư cùng bẻ một nhánh dương tươi,
đem để trong tay tượng đức Quan Thế Âm, rồi đồng vái rằng : “Nếu chúng tôi sẽ
được vãng sanh Cực Lạc, nguyện nhánh dương này không héo”. Qua sau bảy ngày,
nhánh dương ấy càng xanh tươi hơn. Hai Pháp sư rất mừng, ngày đêm niệm Phật
không ngớt. Năm tháng sau, một hôm đương lúc tịnh tọa, hai Pháp sư tự thấy mình
đến ao báu, thấy đức Quan Thế Âm cùng Đại Thế Chí ngồi trên hai hoa sen lớn đẹp
sáng. Kế thấy Đức A Di Đà từ phía Tây đi đến rồi ngự trên một hoa sen lớn nhứt,
thân Phật tỏa ánh sáng rực rỡ. Hai Pháp sư lễ
Phật
rồi bạch rằng : “Chúng sanh ở Ta
y theo lời dạy trong Kinh mà niệm Phật, không rõ có được sanh về đây
chăng ?”. Phật dạy : “Đừng nghi ! Quyết định sanh về cõi nước của Ta”. Hai Pháp
lại nghe văng vẳng tiếng của Thích Ca Mâu Ni Phật cùng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
tán thán Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trên thềm báu thấy có rất đông người, bảo là
người ở Ta Bà niệm Phật mà được sanh về vậy.

Sau khi xuất định, Khải Phương, Viên Quả hai Pháp sư thuật
lại với hàng đệ tử của các ngài.

Trích
ở bộ : Tống Cao Tăng Truyện

V – KHẢ CỬU


Khả Cửu người Minh Châu, chuyên tụng Kinh Pháp Hoa cầu sanh Cực Lạc. Người thời
ấy gọi Sư là Cửu Pháp Hoa.

Năm
Nguyên Hựu triều Tống, Sư đoan tọa mà tịch, thọ 81 tuổi. Ba ngày sau, Sư sống lại
bảo người rằng : “Tôi đến Tịnh Độ thấy cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh đúng
như trong Kinh đã thuật. Người ở đây tu tịnh nghiệp trên đài hoa đã nêu tên sẵn.
Tôi thấy một kim đài nêu tên Huân Công ở Quảng
Giáo
viện tại Thành Đô, một kim đài nêu tên Tôn Thập Nhị Lang ở Minh
Châu
(ông Tôn Trung), một kim đài nêu tên Khả Cửu, một ngân đài nêu tên Từ Đạo
Cô ở Minh Châu”. Dứt lời Sư liền nhắm mắt. Năm năm sau, Từ Đạo Cô mất mùi hương
lạ thơm ngát cả nhà. 12 năm sau ông Tôn Trung vãng sanh, thiên nhạc đến rước. Lời
của Sư Khả Cửu đều nghiệm.

Trích
trong bộ Tịnh Độ Văn

V B – HAI SA DI


Văn Châu có hai ông Sa di đồng niệm Phật được năm năm. Một hôm ông lớn chết, thần
thức
đến Tịnh Độ lễ Phật mà bạch rằng : “Con còn một người bạn đồng tu, chẳng
biết rồi được sanh về đây chăng ?”. Phật dạy : “Lúc trước, nhờ ông Sa di nhỏ ấy
khuyên ông, nên ông mới phát tâm niệm Phật. Nay ông trở về gắng tu tịnh nghiệp
thêm. Ba năm sau hai người sẽ đồng đến nơi đây”.

Ông
Sa di lớn sống lại thuật chuyện gặp Phật với ông Sa di nhỏ và mọi người. Từ đó
hai ông càng chuyên cần tu niệm.

Ba
năm sau, cả hai ông đồng thấy Phật và Thánh chúng từ phương Tây đến. Khắp đại địa
rung động, hoa trời bay rưới. Hai ông đồng thời vãng sanh.

Trích
trong bộ Phật Tổ Thống Kỷ

LỜI
PHỤ
.- Đại Thế Chí Bồ
Tát
nói : “Tưởng Phật niệm Phật, hiện tiền và tương lai quyết định thấy Phật”.
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát cũng từng bảo : “Nếu người chuyên niệm Phật được nhứt
tâm
, hiện tiền cũng thấy Phật”. Việc thấy Phật và được Phật dạy của hai Pháp
, hai Sa di chính là minh chứng.

Luôn
nhớ Phật đó là Phật tâm, thấy Phật đó là Phật cảnh. Phật cảnh tùy Phật tâm
hiện. Tâm và cảnh vốn không hai, cảm ứng đạo giao duy tâm tự hiện. Muốn thấy Phật
cảnh
phải do Phật tâm, muốn thành Phật tâm phải chuyên niệm Phật.

VI – QUÁN ĐẢNH

Quán
Đảnh
Đại sư họ Ngô, người Lâm Hải. Vừa sanh được ba tháng, ngài đã xưng được Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo. Năm lên bảy tuổi, ngài xuất gia ở chùa Nhiếp Tịnh.

Năm
Chí Đức triều Trần, ngài bẩm thọ pháp
môn Chỉ quán với Trí Giả Đại sư tại chùa Tu
Thiền
, tu tập ít lâu liền được Trí Giả Đại sư ấn khả, bèn theo làm Thị giả. Phàm khi nghe giảng Kinh pháp nào,
ngài đều thông thuộc tất cả.

Sau
khi Trí Giả Đại sư viên tịch, ngài tuyên dương giáo pháp Thiên Thai tông
siêng tu định huệ. Mỗi khi ngài đoan tọa tụng Kinh, thường có thiên hoa bay rớt
bên mình ngài. Một hôm đương lúc ngài giảng Kinh Niết Bàn tại chùa Nhiếp Tịnh,
có giặc cướp kéo đến toan đánh cướp chùa. Cửa chùa bỗng hiện cờ xí rợp đất và
vô số thần binh mình cao hơn trượng. Giặc cướp kinh hãi tan chạy.

Năm
Trinh Quán thứ 6, ngày mùng 7 tháng Tám, trong thất của ngài có mùi hương lạ,
ngài kêu các đệ tử đến mà bảo rằng : “Tôi sắp vãng sanh !”. Ngài bỗng đứng dậy
chắp tay cung kính như có Phật, Bồ Tát đến, miệng thời niệm to Nam mô A Di Đà
Phật
ba lần, nét mặt hớn hở, ngài lên giường nằm xoay mặt về hướng Tây mà tịch.
Thọ 72 tuổi. Cả ngày đỉnh đầu vẫn ấm luôn.

Trích
ở bộ : Tục Cao Tăng Truyện

Phật Tổ Thống Kỷ

VII – PHÁP TRÍ

Pháp
Trí
Đại sư, đồng niên xuất gia, các nơi khai giảng Kinh luận ngài đều đến tham
học
. Về sau nghe pháp môn thành Phật mau tắt không môn nào qua môn niệm Phật,
ngài nói với người rằng : “Tôi thấy Kinh nói phạm một kiết-la (tội nhỏ) phải đọa
địa ngục một trung kiếp, thời tôi tin. Tôi lại thấy Kinh nói chí tâm xưng niệm
A Di Đà Phật một câu diệt được tám mươi ức kiếp tội lớn, thời tôi chưa tin được”.
Có một Tôn túc quở rằng : “Ông là đại tà kiến, đều là lời Phật cả sao lại chẳng
tin !”. Một câu khai thị ấy rửa sạch lòng nghi của Đại sư, ngài đến đài Đâu Suất
tại chùa Quốc Thanh ngày đêm tinh tấn niệm Phật, cảm Quan Thế Âm và Đại Thế Chí
hai vị Bồ Tát hiện thân. Một hôm khác lại cảm thiên quan của đức Quan Thế Âm
bửu bình của đức Đại Thế Chí phóng quang chiếu đến thân ngài.

Một ngày kia, Đại sư từ giã đại
chúng
rằng : “Tôi sắp sửa vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, quý vị lấy gì
để tiễn biệt tôi !”. Đại chúng Tăng và tục hẹn ba ngày sau họp tại chùa làm
tiệc chay để đưa Đại sư. Đến kỳ, sau khi thọ trai xong, nhiều người ở lại chùa
để chờ xem. Đến nửa đêm, Đại sư ngồi kiết già trên giường niệm Phật an nhiên
tịch. Lúc đó ánh sáng màu huỳnh kim từ phương Tây xẹt đến chiếu sáng cả trăm
dặm. Người ở những thuyền đậu trên sông đều ngỡ là trời sáng, nào ngờ lúc đó
mới vừa quá nửa đêm. Do điềm sáng ấy, mọi người đều công nhận Đại sư thật được
vãng sanh.

Trích
ở những bộ : Tống Cao Tăng Truyện,

Lạc Ban Văn Loại

VIII – TRÍ DIỆM

Trí
Diệm Pháp sư họ Châu tự Minh Sáng, người Ngô Quận. Năm lên tám, ngài xuất gia
làm đệ tử của Cứ Pháp sư ở chùa Thông Nguyên. Ngài đi tham học khắp các nơi rồi
rộng truyền Kinh luận. Nhà Trần mất, ngài về Hổ Khưu ở tọa thiền 30 năm([7]).
Sau vì nạn chiến tranh nên lại phải di cư.

Năm Võ Đức thứ 7, nhà Đường, quan Tổng quản Tô Châu, ông Lý Thế Gia, rước ngài về Hổ Khưu.
Từ đây ngài chuyên tu tịnh nghiệp. Mỗi tháng
họp những pháp lữ đồng chí hơn 500 người đến chùa niệm Phật, luôn hơn 10 năm không sai sót. Tháng 10, năm Trinh Quán thứ 8, ngài thoạt
thấy một Thánh Tăng tay cầm cái bình báu
sáng chói đến trước ngài mà nói rằng : “Tôi là Vô Biên Quang. Ngày sau ở Tịnh Độ gọi là Công Đức Bửu Vương, chính
là tôi đấy !”. Sau khi Thánh Tăng biến đi,
ngài bảo đại chúng rằng : “Vô Biên Quang
Đại Thế Chí Bồ Tát, còn Công Đức Bửu Vương là Phật hiệu của Ngài ở
tương lai. Duyên Tịnh Độ đã thục, tôi sẽ về Tây phương !”. Đến tối ngài ngồi kiết
già
mà tịch thọ 71 tuổi([8]).

Trích
ở các bộ : Phật Tổ Thống Kỷ

Hổ Khưu Chí

IX – ĐẲNG QUÁN

Đẳng Quán Thiền sư họ Tôn, người
Phú Dương. Ngài bẩm thọ pháp môn tâm quán với Trí Giả Đại sư, rồi ở Thiên Thai
tu thiền quán và thường tụng Kinh Pháp Hoa. Mùa Đông năm Trinh Quán thứ 9, chùa
Pháp NhẫnDư Hàng thỉnh ngài giảng Kinh. Mùng một tháng Giêng năm sau, có
người mặc sắc phục nhà vua đến chùa bạch cùng ngài : “Đệ tử là thần miếu Kiểu
Đình. Tháng trước Sư đi ngang qua miếu, nhằm lúc đệ tử mắc đi tuần du nên không
dịp tiếp rước. Hôm nay đệ tử đến đây để cầu giới pháp”. Ngài bèn lên hương đèn
truyền giới Bồ Tát cho Thần. Thọ giới xong, Thần lễ tạ mà lui về. Qua giữa
nửa đêm sau, ngài tắm rửa thay áo, ngồi kiết già xoay mặt về hướng Tây, to
tiếng niệm Tây phương Tam Thánh và hiệu của Trí Giả Đại sư. Đại chúng họp đến
vây quanh, ngài giảng rành rẽ pháp nhứt tâm tam quán. Giảng xong, ngài vẫn ngồi
yên
tại chỗ mà tịch.

Trích
ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

X – ĐỨC MỸ

Đức Mỹ Đại
, họ Vương, người Thanh Hà, xuất gia năm 16 tuổi, nghiêm trì giới luật, mỗi ngày chuyên cần lễ sám. Ngài thường tụng
Kinh
“Vạn Ngũ Thiên Phật Danh”. Năm Đại Nghiệp, ngài trụ chùa Huệ Linh ở Kinh Sư, tổ chức những việc phước thiện,
được rất nhiều sự cảm ứng.

Năm
Võ Đức, ngài về ở chùa Hội Xương, lập Sám Hối đường ở phía Tây chùa để làm chỗ tu “Bát chu Tam muội”, trọn một hạ không ngồi([9]).


lúc vì ngăn sự lỗi nơi miệng, nên cả ba năm ngài không nói chuyện. Có lúc thực
hành
hạnh Bất Khinh([10]),
ngài kính lễ cả bảy chúng. Ngài đoạn tuyệt việc đời, chuyên tưởng Cực Lạc, chấp
trì
Phật hiệu trọn đời không hở.

Tháng
Chạp năm Trinh Quán thứ 11, một hôm ngài mời đại chúng họp lại, dặn dò mọi người
tinh tấn niệm Phật tu trì. Dặn xong, ngài chắp tay xướng hồng danh của Phật mà
tịch, thọ 63 tuổi.

Trích
ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

B
1 – CHƯ SƯ NI

 I
– HUỆ MỘC


Ni Huệ Mộc họ Phó, năm 11 tuổi xuất gia ở chùa tại Tương Quận. Mỗi ngày cô tụng
Kinh
Đại Phẩm Bát Nhã, thường thấy hiện rất nhiều sự linh dị, Ni cô từng mơ đến
Tây phương, thấy trong ao báu có nhiều hoa sen đẹp sáng chói, những người vãng
sanh
đều ngồi trên hoa. Ít lúc sau cô thỉnh thầy thọ giới Cụ túc. Lúc đương ở
giới đàn, cô bỗng thấy trời đất biến thành màu huỳnh kim.

Một
hôm, cô cùng chúng lễ A Di Đà Phật, cô mọp nơi đất rất lâu không trỗi dậy. Người
đứng gần đạp cô mà hỏi. Cô đáp : “Đương lúc mọp lạy, tự thấy mình đến Cực Lạc
thế giới
, Đức Phật giảng Tiểu Phẩm Bát Nhã cho tôi nghe, vừa nghe được bốn quyển
thời bị đạp mà tỉnh dậy. Tôi lấy làm tiếc quá !”.

Năm
Nguyên Gia thứ 14, triều Lưu Tống. Sư Ni Huệ Mộc vãng sanh có nhiều điềm tốt,
thọ 69 tuổi.

Trích
ở bộ Pháp Uyển Châu Lâm

II
PHÁP THẠNH

Ni
Pháp Thạnh họ Nhiếp, người Thanh Hà. Năm 70 tuổi xuất gia tại chùa Kiến Phước
ở Kim Lăng. Cô bẩm tánh rất thông minh, từng nói với các pháp hữu Đàm Kỉnh, Đàm
Ái rằng : “Tôi lập thân hành đạo, chỉ quyết về Tây phương Cực Lạc thế giới
thôi”.

Năm
Nguyên Gia thứ 16, ngày 27 tháng Chín, Ni cô đến dưới tháp lễ Phật, chiều ngày ấy
nhuốm bệnh. Đến đêm 30 tháng Chín, cả chùa trong ngoài bỗng sáng rực như ban
ngày. Ni cô bảo : “Đó là Đức A Di Đà Phật cùng Quan Thế ÂmĐại Thế Chí đến,
nên sáng như vậy…” Dứt lời Ni cô yên lặng. Chúng lại gần xem, thì ra cô đã đi rồi.
Thọ 72 tuổi, cô xuất gia mới được 2 năm.

Trích
ở bộ Tỳ Kheo Ni Truyện

III
– TỊNH CHƠN


Ni Tịnh Chơn người thời nhà Đường, ở chùa Tích Thiện tại Trường An, nạp y không
rời thân, luôn đi khất thực. Trọn đờitụng Kinh Kim Cang được mười vạn quyển.
Hằng ngày cô rất siêng niệm Phật. Một hôm cô bảo các đệ tử rằng : “Trong năm
tháng gần đây, tôi mười lần thấy Phật, hai lần thấy Thiên đồng chơi giỡn trên
hoa sen báu. Tôi được vãng sanh bậc Thượng phẩm”. Nói xong, cô ngồi kiết già chắp
tay
mà tịch. Lúc ấy ánh sáng đẹp mát tỏa sáng cả chùa rất lâu mới ẩn.

Trích
ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

IV
PHÁP TẠNG


Ni Pháp Tạng, người thời nhà Đường, ngụ ở Kim Lăng, ngày đêm siêng năng niệm Phật.
Một đêm nọ, thấy quang minh của Phật và Bồ Tát chiếu sáng cả chùa, Sư Ni chắp
tay
yên lặng mà mất.

Trích
ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

C
1 – CHƯ TÍN SĨ

I – BẢY VẠN NGƯỜI HỌ THÍCH

Thuở
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở tại khu rừng Ni Cư Đà trong nước Ca Tỳ La. Một
hôm Đức Bổn Sư phái ngài Ca Lưu Đà Di qua giáo hóa Phụ vương, vua Tịnh Phạn.
Ngài Ca Lưu Đà Di liền vận thần thông, ngồi kiết già bay trên hư không mà thẳng
đến thành Ca Tỳ La, rồi giảng nói công đức của Phật cho Tịnh Phạn Vương nghe.
Vua phát lòng kính tin, bèn dắt người trong họ Thích đến rừng lễ Phật.

Đức
Phật
giảng rộng nghĩa “Tam giải thoát môn”([11])
cho vua cha và người dòng Thích. Đức Phật lại dạy : “Tất cả pháp đều là Phật
pháp”. Vua gạn : “Nếu tất cả pháp đều là Phật pháp, thời lẽ ra tất cả chúng
sanh
cũng đều là Phật cả”. Đức Phật giảng : “Nếu ở nơi chúng sanh mà không điên
đảo
nhận thấy đó chính là “Phật”. Gọi “Phật” tức là nhận thấy chúng sanh đúng
như thật. Nhận thấy chúng sanh đúng như thật tức là thấy “Thật tế”([12]).
Thật tế chính là “pháp giới”. Tất cả pháp vốn vô sanh, đây là môn Đà-la-ni. Nên
để tâm nơi pháp vô sanh này, đừng tin nơi khác !”.

Bấy
giờ vua Tịnh Phạn và bảy vạn người họ Thích nghe Phật giảng dạy, đều tỏ ngộ chứng
Vô sanh Pháp nhẫn. Đức Phật mỉm cười mà bảo rằng : “Người họ Thích có trí quyết
định
nên ở trong Phật pháp được mau an trụ vững vàng. Sau khi mãn thân người
này, sẽ đặng vãng sanh Cực Lạc thế giới, hầu gần bên Phật A Di Đà, sớm thành tựu
Vô thượng Bồ-đề”.

Trích
Kinh Bảo Tích

II – SAI MA KIỆT

Trong
thành Ca Tỳ La Vệ có ông Trưởng giả tử Sai Ma Kiệt đến lễ Phật mà bạch rằng :
“Bồ Tát thực hành hạnh gì mà mau chứng quả Vô thượng Chánh giác, đủ các tướng hảo
v.v… ?”. Đức Phật vì ông mà giảng những hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục… và
sau cùng Đức Phật kết luận vô ngã, vô nhơn, như huyễn hóa. Nghe Phật giảng
xong, ông Sai Ma Kiệt liền chứng đặng Vô sanh Pháp nhẫn. Trong pháp hội, 500 vị
Tỳ kheo, 500 thanh tín sĩ và 500 thanh tín nữ đồng chứng bất thoái chuyển địa.
Đức Phật thọ ký cho tất cả những người trên, khi mạng chung sẽ sanh về cõi nước
thanh tịnh của Vô Lượng Thọ PhậtTây phương, sẽ thường hộ trì vô lượng Phật
pháp
, giáo hóa thành tựu vô số nhân dân làm cho đều được bậc bất thoái. Tu hành
như vậy đến vô lượng hằng hà sa số kiếp về sau, sẽ ở nơi cõi này, theo thứ tự nối
nhau mà thành Phật.

Trích
trong Bồ Tát Sanh Địa Kinh

III – Ô TRÀNH QUỐC VƯƠNG

Ô
Trành Quốc vương rất mến Phật pháp. Một hôm Vương bảo các quan rằng : “Trẫm dầu
ở ngôi vua hưởng phước, nhưng rồi cũng chẳng trốn khỏi số vô thường. Nghe Kinh
nói cõi Tây phương Cực Lạc là nơi giải thoát, trẫm phải phát nguyện cầu sanh về
cõi ấy !”. Từ đó, ngày đêm sáu thời, nhà vua hành đạo niệm Phật. Thường khi
trai Tăng, nhà vua cùng hoàng hậu đích thân dâng cơm nước cúng dường. Nhà vua
tinh tấn tu hành như vậy ngót ba mươi năm. Đến lúc lâm chung, dung sắc nhà vua
vui tươi và hiện rất nhiều điềm tốt.

Trích
Vãng Sanh Tập

IV – LƯU TRÌNH CHI

Ông
Lưu Trình Chi tự Trọng Tư, người Bành Thành. Cha khuất sớm, ông thờ mẹ rất hiếu,
học thông kinh sử, rất giỏi về học thuyết Lão, Trang. Ông làm quan Tham quân
nơi Bành Thành, vì tánh không thích chiều theo thời tục, mặc dầu các công khanh
nhiều phen tiến dẫn về triều, ông đều cố từ.

Bấy
giờ, Huệ Viễn Đại sưLô Sơn tu niệm Phật Tam muội, ông nghe tiếng, đến Lô Sơn
xin theo tu học. Đại sư hỏi : “Quan cao tước lớn sao lại bỏ đi ?”. Ông thưa :
“Triều nhà Tấn không vững, quan to thời nhiều nạn, vả lại vô thường không định,
đường sanh tử phải lo, nên tôi bỏ việc tục mà cầu đạo pháp !”.

Lưu
Dũ một danh nhơn thời ấy, tặng ông Lưu Trình Chi đức hiệu là Di Dân, để tiêu biểu
tâm chí của ông Chi.

Đồng
thời
lại có các nhà danh sĩ thạc đức, như
quý ông : Tông Xát, Lôi Thứ Tông, Châu Tục Chi, Trượng Dã, Trương
Thuyên, Tất Tần Chi, v.v… cùng rất đông Cao Tăng Đại đức đồng đến Lô Sơn. Huệ
Viễn
Đại sư lãnh đạo tất cả mọi người đến trước tượng Tây phương Tam Thánh đồng
lập thệ nguyện cùng tu tịnh nghiệp. Đó là hội niệm Phật đầu tiên ở miền Đông vậy.

Tuân
lời Huệ Viễn Đại sư, ông Trình Chi soạn bài văn lập thệ đồng tu Tịnh độ, đồng
sanh Cực Lạc, đồng mong thành Phật, đồng độ chúng sanh mà chạm vào bia đá.

Ít lâu sau, ông Trình Chi qua bên
khe phía Bắc Tây Lâm, cất riêng một tịnh thất để làm chỗ thiền quán niệm Phật.
Ở thất được nửa năm, trong lúc nhập định, ông thấy quang minh của Đức Phật A Di
Đà
chiếu sáng mặt đất thành màu huỳnh kim. Mười lăm năm sau, đương lúc niệm
Phật
, ông thấy Đức A Di Đà hiện kim thân, phóng quang chiếu mình ông. Ông liền
đảnh lễ mà bạch rằng : “Ngưỡng mong Đức Thế Tôn từ mẫn xoa đầu con và lấy y
trùm thân con”. Rồi ông rập đầu cúi lạy nơi chân Đức Phật. Đức Phật liền đưa
tay vàng xoa đầu ông cùng kéo y vàng phủ trên mình ông.

Ít
hôm sau, ông mơ thấy mình đến bên ao thất bảo, trong ao có vô số hoa sen lớn
màu xanh và trắng, mặt nước đứng trong như lưu ly. Một người cao lớn, trên đầu
có vầng sáng tròn, ngực bày chữ Vạn, chỉ nước
ao mà bảo ông rằng : “Nước bát công đức đấy, ông uống đi !”. Ông vâng lời
lấy tay bụm nước uống, nghe mùi rất thơm ngon, khoan khoái cả tâm thần. Sau khi
ông tỉnh giấc, mùi thơm lạ từ lỗ chân lông tiết ra không dứt. Ông thuật chuyện
lại với các bạn đồng tu và nói rằng : “Tôi, duyên về Tịnh Độ đã đến !”. Rồi ông
cung thỉnh chư Tăng đến thất tụng Kinh Pháp Hoa. Còn ông thì thắp hương đối tượng
Phật
đảnh lễ nguyện rằng : “Nhờ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni con mới được biết Phật
A Di ĐàCực Lạc Tịnh Độ, nên hương này con thành tâm trước cúng dường Đức Bổn
Sư, kế cúng dường Đức Từ Phụ A Di Đà Phật, sau cúng dường Kinh Pháp Hoa, vì nhờ
công đức của Kinh này mà con được vãng sanh. Con nguyện cùng tất cả chúng sanh
đồng sanh Cực Lạc thế giới”. Nguyện và lạy xong, ông từ biệt mọi người rồi lên
giường ngồi xoay mặt về hướng Tâytạ thế, thọ 59 tuổi. Bấy giờ nhằm năm
Nghĩa Hy nhà Tấn.

Trích
ở những bộ : Đông Lâm Truyện,
Xuất Tam Tạng Ký Tập

V – DƯƠNG KIỆT

Dương
Kiệt
hiệu Vô Vi Tử, tự Thứ Công, người xứ Vô Vi. Năm Nguyên Phong, ông làm quan Thái Thường. Ban sơ ông mộ thiền, theo
học với Thiếu Y Thiền sư, tham cứu cơ ngữ của
Bàng cư sĩ. Một hôm ở Thái Sơn thấy mặt trời mọc như chiếc mâm đồng vọt lên,
ông bỗng đại ngộ.

Năm
Hy Ninh, mẹ mất, ông về nhà cư tang. Nhơn được rảnh việc quan, ông chuyên đọc tạng
Kinh
, và cũng do đó mà ông kính ngưỡng Tịnh độ. Ông họa tượng A Di Đà Phật, đi
đâu cũng mang theo để ngày đêm lễ niệm. Đời ông trứ tác rất nhiều, tất cả văn
phẩm đều chỉ quy Tịnh độ. Dưới đây là bài tựa bộ Tịnh Độ Thập Nghi Luận của ông
soạn.

“Tình
ái không nặng thời chẳng sanh Ta Bà, chánh niệm không thuần thời chẳng sanh Cực
Lạc
. Ta Bà là chỗ uế nhơ, Cực Lạc là nơi thanh tịnh. Thọ mạng của người Ta Bà
thời hữu hạn, người Cực Lạc sống lâu vô cùng. Nơi Ta Bà này đủ muôn vàn sự thống
khổ
, cõi Cực Lạc kia chỉ thuần hưởng những điều an vui. Ở Ta Bà, chúng sanh phải
theo nghiệp mà luân hồi sanh tử, còn Cực Lạc, một khi được sanh về thời tất chứng
Vô sanh Pháp nhẫn một đời thành Phật, nếu muốn độ sanh thời tùy nguyện tự tại,
không bị nghiệp chướng buộc ràng. Sự nhơ uế
cùng thanh tịnh, khổ sở cùng an vui,
già chết với trường tồn, luân hồi cùng giải thoát, sanh tử cùng tự tại…
Hai cõi khác hẳn nhau rõ ràng mà người đời không biết không hay, thật đáng buồn
thương.

A
Di Đà Phật
là đức cha lành nhiếp thọ chúng sanh về Tịnh Độ. Thích Ca Mâu Ni Phật
là đấng thầy sáng chỉ đường về Cực Lạc. Quan Âm cùng Thế Chí là hai vị đại Bồ
Tát
giúp Phật độ sanh. Vì thế nên trong các Kinh giáo liễu nghĩa Đại thừa, luôn
luôn có lời cặn kẽ khuyên người phát nguyện vãng sanh.

Đức
A Di Đà Phật cùng Quan Âm, Thế Chí ngồi thuyền đại nguyện đi trong biển sanh tử, chẳng neo bờ bên này, chẳng đậu bờ bên
kia
, cũng không dừng ở giữa dòng, chỉ lấy việc tế độ làm nhiệm vụ. Như trong
Kinh Di Đà nói : “Nếu thiện nam tín nữ nào được nghe A Di Đà Phật rồi chấp trì
danh hiệu
từ một ngày đến bảy ngày nhứt tâm bất loạn. Lúc người đó lâm chung, Đức
A Di Đà Phật cùng chư Thánh hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm
không
điên đảo, liền đặng sanh về Cực Lạc quốc độ…” Kinh Vô Lượng Thọ lại nói :
“Chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, nhớ tưởng cõi của tôi, tu các
hạnh lành chí tâm hồi hướng cầu được sanh về cõi của tôi. Nếu chúng sanh đó
không được toại nguyện thời tôi không ở ngôi Chánh giác”([13]).

Thuở
Bổn Sư tại thế, chính viện Vô Thường([14])Kỳ
Hoàn Tinh xá
sắp đặt cho những người bệnh đều xoay mặt về hướng Tây, chuyên tưởng
Cực Lạc thế giới để cầu vãng sanh… Do vì quang minh của A Di Đà Phật chiếu khắp
pháp giới nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật không bỏ rời. Thánh và phàm đồng thể,
hễ có tâm niệm Phật, thời Phật đến rước, đó là cơ cảm tương ưng. Chúng sanh
trong tâm của Phật, nơi nơi đều Cực Lạc. Tịnh Độ trong tâm chúng sanh, niệm niệm
A Di Đà. Nhơn những lẽ trên tôi xét thấy rằng : “Người trí huệ, dễ vãng
sanh
, vì không còn nghi ngờ vậy. Người thiền định dễ vãng sanh, vì không còn tạp
loạn. Người trì giới dễ vãng sanh, vì không ô nhiễm. Người bố thí dễ vãng sanh, vì không tham luyến. Người nhẫn
nhục
dễ vãng sanh, vì không sân hận. Người tinh tấn dễ vãng sanh vì không thoái
chuyển
. Người không làm lành không gây ác dễ vãng sanh, vì chuyên niệm thuần nhứt
vậy. Nhẫn đến người đã gây tạo tội ác, nghiệp báo đã hiện mà vẫn được vãng sanh
vì tâm hết sức ăn năn sợ sệt vậy. Nên biết rằng dầu có nhiều phước lành, nếu
không
lòng tin chắc, không phát nguyện hồi hướng, thời chẳng được vãng sanh.

Ôi
! A Di Đà Phật rất dễ niệm, Cực Lạc Tịnh Độ rất dễ về, mà chúng sanh không chịu
niệm không muốn về, Đức Phật dầu là đấng đại từ bi, cũng không làm sao được. Vả
lại, hễ ai tạo tội ác thời phải đọa vào nơi khốn khổ, còn niệm A Di Đà Phật thời
được sanh về Cực Lạc, hai điều ấy đều là lời của Phật cả. Người đời lo sợ bị sa
đọa, mà lại nghi sự vãng sanh, há không phải là mê lầm lắm ư !”.

Năm
Nguyên Hựu, triều Tống, ông giữ chức Đề Hình Lưỡng Triết, một hôm ông họp thân
thuộc
lại để từ biệt và nói : “Lúc sống cũng không có gì tham luyến, lúc chết
cũng chẳng có chi vất bỏ. Khắp thái hư không : chi, hồ, giả, dã. Đem sai đến lầm
Tây phương Tịnh Độ !”. Dứt lời ông vui vẻ an nhiên mà mất.

Trước đây có quan Tham quân Vương Trọng Hồi, từng
bẩm thọ pháp môn niệm Phật với ông Kiệt. Ông Hồi từng hỏi : “Thế nào được niệm
Phật
không gián đoạn ?”. Ông Kiệt đáp : “Sau khi đã tin chắc không còn lại nghi
ngờ
nữa, đó chính là không gián đoạn”. Ông Hồi nghe lời dạy ấy mừng lắm. Năm
sau ông Kiệt mơ thấy ông Hồi đến cúi lạy mình mà nói : “Ngày trước nhờ ngài chỉ
dạy cho pháp môn niệm Phật, nay tôi được vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới
nên đến tạ ơn”. Ít hôm sau, ông Kiệt tiếp được thiệp tang và thơ của con trai
ông Hồi gửi đến cho hay rằng : “Ông Trọng Hồi biết trước ngày giờ chết, từ giã
các thân hữu rồi an lành mà đi”.

Sau
khi ông Dương Kiệt mất, Kinh Vương Phu nhơn([15]), một
nhà tu hành cao hạnh, thần du Tây phương thấy một người ngồi trên hoa sen lớn,
y đẹp phất phơ, đội mão vàng, đeo chuỗi ngọc. Phu nhơn hỏi người đứng gần, đáp
Vô Vi Dương Kiệt.

Trích
ở những bộ : Đồng Đô Sư Lược

Lạc Ban Văn Loại

VI – KHUYẾT CÔNG TẮC

Ông
Khuyết Công Tắc người nước Triệu. Triều Tấn, ông ngụ ở Lạc Dương, tánh trầm
tĩnh
điềm đạm và phóng xả thế sự. Hằng ngày ông thọ trì Kinh Chánh Pháp Hoa.

Sau
khi ông mất, bạn của ông đến chùa Bạch Mã lập trai đàn để hồi hướng công đức
cho ông. Đêm ấy, giữa lúc pháp chúng tụng Kinh, thoạt nghe trên hư không có tiếng
người gọi, và ánh sáng chiếu xuống. Mọi người ra sân nhìn lên đồng thấy một người thân hình rất sáng và rất đẹp ngó xuống
nói : “Tôi là Khuyết Công Tắc đây ! Tôi đã được sanh về Cực Lạc thế giới nay
tôi với chư thượng nhơn đến nghe Kinh”.

Ông
Vệ Sĩ Độ ở Hấp Quận, vốn là học trò của ông Tắc. Bà mẹ của ông Độ thường hay
trai Tăng nơi nhà. Một hôm gần đến giờ Ngọ, chư Tăng sắp sửa thọ trai, trên
không
, bỗng rơi xuống một cái bát ngay trước mặt mẹ ông Độ. Mọi người xem kỹ thời
là cái bát mà trước kia ông Công Tắc thường dùng. Bát ấy đựng đầy cơm, mùi cơm
thơm ngát cả nhà. Những người được ăn cơm ấy, cả bảy ngày khỏe khoắn không biết
đói. Ông Chi Đạo Lâm, một danh nhơn thời ấy, có làm lời khen ngợi ông Tắc :
“Cao cả thay ông Khuyết Công Tắc ! Thần dị linh thiêng ! Thần sanh Cực Lạc, ứng
tích
Đông Kinh. Bay trên hư không thân sáng giọng hòa. Kính dâng vài lời, ghi
truyền trong đời”.

Trích
ở các bộ : Đại Đường Nội Điển Lực

Niệm Phật Tam Muội Bửu Vương Luận

VII – CANH TÂN

Ông Canh Tân, tự Ngạn Bửu, người
Tân Dã, học thông kinh sử. Ông tánh bình dị, thích cảnh núi rừng, ăn chay, áo
thô rách, không thích kinh doanh sản nghiệp. Ông bẩm tánh nhu hòa nhẫn nhục,
siêng rèn luyện đức hạnh.

Vua Lương Võ Đế thuở thiếu niên
chơi thân với ông Tân, khi được hiển vinh, vua mời ông Tân lãnh chức Bình Tây
Phủ Ký Thất, ông Tân không nhận lời. Năm Phổ Thông, Lương Võ Đế lại chiếu phong
chức Huỳnh Môn Thị Lang, ông Tân cáo bệnh mà từ. Sau ông Tân lập đạo tràng nơi
nhà, ngày đêm sáu thời lễ sám, tụng Kinh Pháp Hoa mỗi ngày một bộ.

Một
đêm nọ, thoạt có một đạo nhơn đến nơi đạo tràng tự xưng là Nguyên Công gọi ông
Tân là Thượng Hạnh tiên sanh, trao cho ông Tân một nén hương rồi biến đi.

Năm
Đại Thông thứ 4, ông Tân đương ngủ ngày vụt choàng trỗi dậy kêu người nhà mà
nói rằng : “Nguyên Công đã đến, không thể chậm được !”. Dứt lời liền tắt hơi. Cả
nhà đồng nghe trên hư không xướng to rằng : “Thượng Hạnh tiên sanh đã sanh về
cõi thanh tịnh của A Di Đà Phật !”. Năm ấy ông Tân được 78 tuổi.

Trích
ở bộ Nam Sử

VIII – TÔN TRUNG

Ông Tôn Trung người Minh Châu,
sớm mộ Tây phương, ăn chay giữ giới. Ông cất am, đào hai ao lớn trồng sen
trắng, bên ao dựng điện, nhóm các thiện tín lập hội niệm Phật.

Một
hôm ông thấy Đức Phật A Di Đà hiện thân trên hư không, ông vội chạy ra sân đồng
thời
kêu hai người con trai của ông cùng mọp dưới đất lễ Phật. Đức Phật hiện
lâu lắm mới ẩn. Nhơn đó nên người thời ấy gọi khu đất đó là xóm Trú Phật (đất
Phật dừng lại).

Năm
Nguyên Hựu thứ 8 triều Tống, Sư Khả Cửu đã sanh Tây phương Cực Lạc, cách ba
ngày trở lại nói thấy trên đài vàng nêu tên Tôn Thập Nhị Lang (tức Tôn Trung).

Mười
hai năm sau, ông nhuốm bệnh bèn mời Tăng và tục 100 người đến niệm Phật. Giữa
lúc đại chúng tụng niệm, ông Tôn Trung bỗng ngước mặt ngó lên hư không chắp tay
mà vái chào rồi kiết ấn mà qua đời. Cả thành Minh Châu mọi người đồng nghe tiếng
thiên nhạcmùi thơm lạ bay lần về hướng Tây.

Hai
người con trai của ông Trung cũng tinh tấn niệm Phật, ít lúc sau đồng ngồi xoay
mặt về hướng Tây niệm Phật mà mất.

Trích
ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ

IX – TẢ THÂN

Ông
Tả Thân, người Lâm Hải, thọ Bồ Tát giới với Thần Chiếu Pháp sư. Ông nghe giảng
pháp
yếu Đại thừa bỗng rỗng suốt tỏ ngộ. Từ đó ông nghiêm trì giới luật, tạo tượng
Tây phương Tam Thánh, sớm tối kính lễ cầu sanh Tịnh Độ. Ông tụng Kinh trước sau
tính được 3.400 bộ Pháp Hoa, 20.000 quyển Kim Cang.

Năm
Thiệu Thánh thứ 2, mùa Thu, ông nhuốm bệnh, bảo con trai của ông là Sa môn Tịnh
Viên xướng đề Kinh Pháp Hoa. Kế đó ông mơ thấy ba người cao lớn đứng bờ sông
kêu ông mau lên thuyền, ông tuân lời, thuyền liền vụt đi về phía Tây. Thức dậy,
ông tự biết đã đến giờ vãng sanh, liền thỉnh chư Tăng đến nhà tụng Kinh A Di
Đà
. Ông nói với mọi người rằng : “Tôi đã thấy quang minh của Phật”. Ông tự đi tắm
gội thay đổi y phục, căn dặn quyến thuộc đừng than khóc mà làm ngại sự vãng
sanh
của ông. Rồi ông ngồi ngay thẳng tay kiết ấn mà qua đời.

Trích
ở các bộ : Pháp Hoa Trì Nghiệm Ký

Phật Tổ Thống Kỷ

X – VƯƠNG ĐIỀN

Ông Vương Điền tự Vô Công người
Minh Châu, hỏng khoa Tấn Sĩ, ông bèn mặc áo vải ăn chay đi khắp các nơi tham
học
Phật pháp. Khi tuổi cao, ông ở nhà chuyên tu niệm Phật Tam muội. Ông trứ thuật
bộ “Tịnh Độ Tự Tín Lục”, và dưới đây là bài tựa của bộ sách ấy :

“Pháp
môn Tịnh độ của Phật dạy, có một lời trùm cả ý nghĩa : hạng phàm phu mà được trụ
bậc bất thoái. Vì sao thế ? Vì ở Ta Bà này tu hành, về Đại thừa Viên giáo thời
Sơ tín Bồ Tát, còn Tiểu thừa thời Sơ quả Thánh nhơn, hai bậc này đoạn kiến hoặc
bắt đầu dự hàng Thánh, tà kiến tam độc không còn sanh khởi, khỏi hẳn ác đạo
không mất thân nhơn, thiên và cách đời không quên quả đã chứng. Còn về hạng
phàm, dầu là bậc phục hoặc phát ngộ Bồ Tát, một khi bị sanh tử, thường thời
quên chỗ tu chứng của đời trước, do đó nên có vị gặp chướng duyên phải thoái đạo
mà đọa vào tam đồ.

Sao bằng cõi Cực Lạc, chỉ có
thượng thiện nhơn mà không ác đạo, nên chi được vãng sanh liền thoát hẳn tam
đồ
. Lại thêm trợ duyên tu hành rất đầy đủ, tuổi thọ lại vô lượng vô biên kiếp.
Dầu là hạng rất ngu chậm, nội một đời quyết chứng Thánh quả, trọn không có sự
thoái thất. Vì thế nên Đức Bổn Sư luôn luôn tán thán Cực Lạc, cùng phát nguyện
cầu sanh. Nếu là hạng đại căn đại trí minh tâm kiến tánhhồi hướng cầu sanh
thời chiếm phẩm cao. Người quê tối, chỉ siêng niệm Phật phát nguyện tha thiết
cũng đặng vãng sanh.

Ôi
! Xét kỹ một môn niệm Phật thời rõ lòng Phật không bỏ sót một ai. Những người cố
chấp
si không, bắt chước hạnh vô ngại vô tu đó là chướng mình mà cũng chướng cả
người, thật đáng thương đáng xót lắm !”.

Năm
Thiệu Hưng thứ 16, tháng Tư, một đêm nọ thoạt nghe hương lạ ngào ngạt khắp nhà.
Ông Điền nói với Sa môn Tư Tề rằng : “Đó là tịnh nghiệp của tôi cảm cách đấy
!”. Rồi ông rửa thay y phục, đoan tọa xoay mặt về hướng Tây mà mất. Sau khi
thiêu xác ông, được 108 hột xá lợi bằng hột lúa.

Trích
ở bộ : Phật Tổ Thống Kỷ

Lạc Ban Văn Loại  

D 1 – CHƯ TÍN NỮ

I – VI ĐỀ HI

Hoàng Thái hậu Vi Đề
Hi
, người nước Ma Kiệt, vợ vua Tần Bà Ta La ở kinh thành Vương Xá. Thái tử A Xà
Thế
nghe lời Sa môn Điều Đạt([16]), bắt
vua cha là Tần Bà Ta La giam trong nhà ngục bảy lớp cửa, cấm ngặt không cho các
quan lui tới, cố ý bỏ vua chết đói. Thái hậu mới tắm gội thật sạch, lấy bột trộn
với sữa và mật trét lên mình, trong chuỗi ngọc thời đựng nước nho, rồi vào thăm
vua và lén dâng cho vua dùng. Ngài Đại Mục Kiền LiênPhú Lâu Na vận thần
thông
bay đến truyền giới Bát quan traithuyết pháp cho vua. Mỗi ngày được
ăn bột sữa uống nước nho, và được thọ giới nghe pháp, nên dầu bị giam cầm mà
dung sắc của vua càng tăng phần khỏe mạnh vui vẻ.

Hai mươi mốt ngày sau, A Xà Thế
được tin ấy, nổi giận, cầm gươm bèn định vào cung giết mẹ. Nhờ hai quan đại
thần
, Nguyệt QuangKỳ Bà, hết lời can gián, A Xà Thế mới bỏ gươm, truyền nội
thất nhốt Thái hậu trong cung, không cho đến thăm vua cha nữa.

Thái hậu bị nhốt rất lo âu buồn
thảm. Bà mới hướng về núi Kỳ Xà Quật, nơi mà Đức Bổn Sư đang ngự, cúi đầu đảnh
lễ
rồi vái rằng : “Ngày trước Đức Thế Tôn thường sai ngài A Nan đến viếng con,
nay con đang gặp phải việc buồn thảm. Đức Thế Tôn oai đức cao trọng, phận con
phước bạc không phiền nhọc đến Thế Tôn, ngưỡng mong Đức Phật cho ngài Mục Liên
A Nan đến an ủi con !”. Vái rồi bà tủi phận nước mắt trào ra, mọp sát đất
lạy. Lúc đó, Đức Phậtnúi Kỳ Xà Quật thấu rõ nỗi lòng của Thái hậu, liền sai
Mục LiênA Nan bay trên hư không mà đến hoàng cung, Đức Phật cũng rời núi Kỳ
Xà Quật
hiện ra trước Thái hậu.

Thái
hậu
Vi Đề Hi, sau khi mọp lạy ngước đầu dậy, chợt thấy Thích Ca Mâu Ni Phật
thân màu vàng chói ngự trên tòa sen trăm thứ báu. Bên tả thời Mục Liên, bên hữu
thời
A Nan. Trên hư không, Thiên Đế cùng Phạm Vươngchư Thiên rải hoa trời
cúng dường Phật. Thái hậu liền tự bứt bỏ những vòng vàng chuỗi ngọc, mọp sát
trên đất khóc nức nở mà bạch Phật rằng : “Đời trước con có gây lấy tội gì mà
nay sanh đứa con bất hiếu đến thế. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn chỉ nơi nào không có
sự đau khổ lo sầu để con vãng sanh. Con không còn muốn ở cõi trược ác này. Cõi
gì mà đầy những địa ngục, ngạ quỷsúc sanh ! Nguyện con đời sau không còn
nghe tiếng ác, không còn thấy kẻ ác. Nay con kính lạy Đức Thế Tôn mà cầu ai sám
hối
. Xin Phật dạy cho con pháp quán tưởng nghiệp hạnh thanh tịnh”.

Bấy
giờ, Thích Ca Mâu Ni Phật từ nơi lông trắng giữa chặng mày, phóng ánh sáng sắc
vàng chiếu khắp vô lượng thế giớimười phương, rồi ánh sáng ấy xoay về tụ
trên đảnh của Phật, hóa làm hình một cái đài vàng lớn như núi Tu Di. Các cõi nước
thanh tịnh trang nghiêm của thập phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy.
Nương thần lực của Phật, Thái hậu thấy được tỏ rõ tất cả : có cõi nước như Tự Tại
Thiên cung, có cõi nước thuần là liên hoa, có thế giới bằng bảy chất báu hiệp
thành… Thái hậu ngắm kỹ tất cả rồi bạch Phật rằng : “Những thế giới ấy dầu rằng
đều thanh tịnh trang nghiêm, đồng sáng đẹp cả, nhưng con chỉ muốn sanh về cõi Cực
Lạc
của Đức Phật A Di Đà thôi. Mong Đức Thế Tôn dạy con cách tư duy tu tập, dạy
con phương pháp thâm nhập chánh định”.

Nghe
Thái hậu thưa xong, Đức Phật mỉm cười. Ánh sáng năm màu từ miệng Phật phóng ra
chiếu thẳng đến đầu vua Tần Bà Ta La. Lúc đó nhà vua dầu bị giam trong ngục
kín, nhưng tâm nhãn bỗng khai thông, nên vua thấy được Phật. Nhà vua liền cúi đầu
rập lạy tự nhiên đạo lực tăng tấn chứng quả A-na-hàm([17]).

Đức
Phật
bảo Vi Đề Hi : “A Di Đà Phật cách đây không xa, Thái hậu nên nhiếp tâm
quán kỹ cõi nước Cực Lạc của Ngài. Ta sẽ giảng rõ pháp môn Tịnh độ cho Thái hậu,
và cũng để cho chúng sanh đời sau y theo tu hành đặng sanh về Tây phương Cực Lạc
thế giới. Nếu là người muốn sanh về cõi đó phải tu ba phước nghiệp :

1.-
Thảo nuôi cha mẹ, kính thờ thầy Tổ, từ tâm không sát hại, tu mười nghiệp lành([18]).

2.-
Thọ trì tam quy y, nghiêm trì giới hạnh, chẳng phạm oai nghi.

3.-
Phát Bồ-đề tâm, tin chắc lý nhơn quả, đọc tụng Kinh Đại thừa, khuyến tấn người
tu hành.

Ba
điều trên đây là chánh nhơn tịnh nghiệp của thập phương chư Phật”([19]).

Và sau khi giảng rộng mười sáu pháp quán tưởng xong, Thái
hậu
Vi Đề Hi cùng 500 cung nữ đồng thấy
rõ cõi nước Cực Lạc, thấy rõ Đức Phật A
Di Đà
và hai vị Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Thế Chí. Mọi người rất vui mừng,
Thái hậu thoạt nhiên tâm trí sáng suốt chứng Vô sanh nhẫn. Năm trăm cung nữ
phát Bồ-đề tâm nguyện sanh Cực Lạc thế giới. Đức Phật liền thọ ký cho tất cả đều
sẽ được vãng sanh, và sau khi được sanh về Cực Lạc, tất cả những người ấy sẽ chứng
được “Chư Phật hiện thân Tam muội”([20])

Trích
Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh

II – LẠC ÂM LÃO MẪU

Một
lúc nọ, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật ở nơi vườn Lạc Âm trong nước Duy Gia
La, có một bà già nghèo khổ đến bạch Phật rằng : “Sanh, lão, bệnh, tử bốn điều
khổ ấy từ đâu mà lại, rồi chúng nó sẽ về chỗ
nào ? Cho đến lục thức, lục căn, ngũ đại các thứ ấy từ đâu lại rồi về nơi đâu ?”. Phật đáp : “Sanh, lão, bệnh,
tử không từ đâu lại, cũng không về chỗ nào,
cho đến lục thức, lục căn, ngũ đại không từ chỗ nào lại, cũng không về
chỗ nào. Ví như hai khúc gỗ, cọ nhau
bật ra lửa, lửa trở lại đốt khúc gỗ, gỗ cháy
hết thời lửa tắt. Các pháp cũng vậy, do nhân duyên hội họp mà thành, nhân duyên ly tán thời hoại. Không từ đâu
lại, cũng không về đâu”.


già
nghe Phật giảng dạy, tâm trí mở thông chứng bậc Pháp nhãn thanh tịnh.

Đức
Phật
nói với chúng hội : “Thuở quá khứ lúc Ta phát Bồ-đề tâm, có một đời từng
làm con trai của thân trước của bà già này. Về sau này, khi thọ mạng đã mãn,
già
này sẽ sanh về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Qua 60 ức kiếp bà sẽ
thành Phật hiệu là Phò Ba Kiện, làm giáo chủ cõi nước Hóa Tác.

Trích
Lão Mẫu Kinh

III – KỶ THỊ

Kỷ
Thị người thời Lưu Tống, vợ của Cát Tế ở Cú Dung. Ông Tế là dòng dõi ông Cát Hồng,
gia thế học tiên thuật. Riêng Kỷ Thị thích Phật pháp, kính tin chí thiết, siêng
năng lễ niệm.

Một
hôm Thị đương ngồi dệt, cảm thấy trời đất trong sáng hơn ngày thường, Thị ngước
đầu ngó lên, thoạt thấy vô số tràng phan bảo cái từ phương Tây bay lại, ở giữa
có một vị ngự tòa sen báu, thân sắc vàng tỏa ánh sáng chiếu suốt mây xanh. Kỷ
Thị ngừng dệt chăm nhìn, lòng mừng lắm tự nói : “Đây chắc là Đức A Di Đà Phật
mà trong Kinh thường nói đến !”. Thị vội vã rập đầu đảnh lễ, rồi kêu ông Tế ra
chỉ cho xem. Lúc ông Tế nhìn thời chỉ thấy được nửa thân trên của Phật và tràng
phan bảo cái
. Cả xóm ấy, mọi người cũng đều thấy như thế. Từ đó, Cát Tế bỏ Tiên
theo Phật, và rất đông người quy ngưỡng Phật pháp.

Trích
ở bộ Minh Tường Ký

IV – CON GÁI CỦA NGỤY THẾ TỬ

Con
gái của Ngụy Thế Tử, người Lương Quận. Cả nhà cha và các anh đều tu tịnh nghiệp,
cô cũng quyết chí vãng sanh. Riêng bà mẹ chưa phát tâm. Ít lâu cô chết, thân ấm
nóng không lạnh, bảy ngày sống lại, cô liền lên ghế cao ngồi tụng Kinh Vô Lượng
Thọ
. Tụng xong cô xuống ghế thưa với cha mẹ rằng : “Con đến Cực Lạc thế giới của
Vô Lượng Thọ Phật, con đi xem khắp ao thất bảo, thấy cha cùng các anh và con, mỗi
người đều có hoa sen lớn đẹp, sẽ thác sanh nơi đó. Chỉ một mình mẹ là không có,
vì lòng thương mẹ nên con trở lại báo tin !”. Nói xong cô liền nhắm mắt. Từ đó
bà mẹ của cô phát khởi tín tâm tinh tấn tu trì.

Trích
ở bộ Minh Tường Ký

V – VƯƠNG THỊ

Vương
Thị vợ của Tiết Ông, thân mẫu của Sư Đảnh Cái. Hằng ngày Thị đọc tụng các Kinh,
siêng tu lễ sám chí cầu Tịnh Độ.

Năm
Trinh Quán thứ 11, nhuốm bệnh, Thị càng khẩn thiết tu trì hơn. Không bao lâu,
trước giường của Thị nằm có hiện một hoa sen đỏ bằng cái ché năm đấu. Rồi lại
hiện ra hoa sen xanh lớn chật cả nhà. Đồng thời Đức A Di Đà Phật cùng Quan Thế
Âm
, Đại Thế Chí hiện thân trên hư không. Cháu nội của Thị là ông Đại Hưng lúc
đó đương đứng hầu bệnh, thấy Đức Phật cao lớn trội hơn hai vị Bồ Tát. Một lát
sau, Phật và hai vị Bồ Tát mới ẩn. Xem lại thời Vương Thị đã tắt hơi rồi.

Trích
ở bộ Tục Cao Tăng Truyện

VI – VIỆT QUỐC PHU NHƠN

Việt
Quốc Phu nhơn, họ Vương vợ của Kinh Vương chú của vua Triết Tông nhà Tống.

Phu
nhơn chuyên tu Tịnh Độ ngày đêm tinh tấn, khuyến dẫn hạng thiếp, tỳ đồng dốc
chí
vãng sanh. Trong hàng tỳ thiếp có một
người thiếp trễ lười, Phu nhơn trách
: “Chẳng có thể vì một mình nhà ngươi
phá hoại trật tự của nhà ta !”. Rồi Phu nhơn ra lịnh đuổi đi, người thiếp ấy sợ lắm và rất ăn năn, cần cầu tạ lỗi, từ
đó trở đi, người thiếp ấy hết sức
tinh tấn, tu trì không quản mệt nhọc.
Ít lâu sau, một hôm người thiếp ấy bảo
các bạn rằng : “Tôi sẽ đi nội ngày nay !”. Tối
hôm ấy, mọi người đều ngửi thấy mùi thơm lạ khắp nhà, người thiếp ấy vẫn không
chút bị ốm, an nhiên mà chết. Cách đêm sau một người thiếp khác thưa với phu nhơn rằng : “Tôi mơ thấy cô ấy mách rằng nhờ phu
nhơn khuyên mới được vãng sanh
Cực Lạc thế giới, đội ơn vô cùng. Cô ấy bảo tôi thay lời kính tạ phu nhơn”. Phu
nhơn nói : “Cô ấy ứng mộng cho ta thời
ta mới tin !”.

Tối
đến, phu nhơn chiêm bao thấy người thiếp đã chết về tạ ơn. Phu nhơn hỏi : “Tôi
có thể đến Tây phương được không ?”. Thiếp đáp : “Được !”. Rồi dắt phu nhơn đi.
Thoạt thấy trước mặt một thế giới cực kỳ đẹp sáng, có một cái ao rộng lớn mênh
mông
. Trong ao đầy những hoa sen, hoặc to, hoặc nhỏ, có cái lại héo. Phu nhơn hỏi
duyên cớ. Thiếp phân giải : “Người đời tu Tịnh độ, vừa phát tâm thời trong ao
báu này mọc lên một ngó bông. Vì người siêng kẻ trễ không đồng, nên mới có tươi
có héo khác nhau như vậy. Người nào tinh tấn thời bông sen của người ấy tươi tốt
to sáng, còn ai biếng lười thoái thất thời hoa của người ấy cũng héo lần. Nếu
người một mực tu trì lâu ngày chẳng nản, công phu niệm Phật thuần thục, đến khi
thọ mạng đã mãn, quyết định thác sanh trong hoa sen này”. Trên một hoa sen lớn,
phu nhơn thấy một người ngồi mão vàng chuỗi ngọc ánh sáng rực rỡ, bèn hỏi. Người
thiếp đáp : “Ông Dương Kiệt đấy !”. Phu nhơn lại thấy một người khác, nhưng hoa
sen
của ông ấy đang ngồi chưa nở xòe. Người thiếp bảo là ông Mã Vu([21]).

Phu
nhơn hỏi : “Tôi sẽ sanh tại hoa sen nào ?”. Người thiếp liền dắt phu nhơn đi chừng
vài dặm thấy một đài hoa, vàng ngọc rực rỡ, chiếu sáng dị thường. Thiếp vừa chỉ
vừa nói : “Đó là chỗ phu nhơn sẽ thác sanh. Kim đài thượng phẩm thượng sanh đấy
!”.

Sau khi tỉnh dậy, phu nhơn rất
vui đẹp nơi lòng, công việc tự tu cùng khuyến hóa người càng chí thiết hơn. Năm
ấy, đến ngày sanh nhựt của phu nhơn, sáng sớm phu nhơn tay cầm lư hương hướng
về phía lầu thờ đức Quan Thế Âm mà đứng ngay thẳng. Quyến thuộc trong dinh hội
lại rồi đồng đến trước mặt phu nhơn định để chúc thọ, chúng xem kỹ, thì ra phu
nhơn đã vãng sanh rồi.

Trích
ở bộ Lạc Ban Văn Loại

VII – GIAO BÀ

Giao Bà, người Thượng Đảng, thân
với Phạm Bà. Phạm Bà khuyên niệm Phật, Giao Bà nghe lời, bèn giao hết việc gia
đình
cho dâu con, rồi nhứt tâm niệm Phật.

Đến
lúc lâm chung, thấy Đức A Di Đà Phật hiện trên hư không. Quan ÂmThế Chí hầu
hai bên. Giao Bà đảnh lễ rồi bạch Phật : “Nhờ Phạm Bà con mới được thấy Phật,
xin Phật chờ con một lát, để con từ biệt Phạm Bà”. Rồi lập tức cho người mời Phạm
Bà, lúc Phạm Bà đến, Phật và hai vị Bồ Tát vẫn còn trụ trên hư không. Giao Bà đứng
chắp tay từ biệt mà theo Phật.

Trích
ở bộ Tịnh Độ Văn

VII – Vợ ông ÔN TỊNH VĂN

Vợ
ông Ôn Tịnh Văn, người Tinh Châu, nằm bệnh dây dưa không mạnh, Tịnh Văn dạy niệm Phật A Di Đà, mụ nghe lời. Từ đó đến
trọn hai năm sau, mặc dầu bệnh khổ trên thân, mụ thầm niệm danh hiệu của Phật
không ngớt. Một hôm mụ nói với Tịnh Văn rằng
: “Tôi đã được thấy Phật chắc chắn sẽ
về Cực Lạc ở tháng tới”.

Trước
giờ lâm chung ba ngày, có hoa sen lớn sáng như mặt đất mới mọc hiện ở trước giường
của mụ. Đến ngày, mụ sắm sửa thức ăn đến dâng cho cha mẹ mà thưa rằng : “Nay
con may mắn được vãng sanh Tịnh Độ, trông mong cha mẹ và ba nó chuyên niệm A Di
Đà Phật
, tất sẽ được gặp nhau ở Cực Lạc”. Thưa xong mụ lễ Phật, rồi đoan tọa
mất.

Trích
ở bộ Tịnh Độ Văn

IX – CHUNG LY PHU NHƠN

Chung
Ly phu nhơn, họ Nhiệm, người Cối Kê, chính là thân mẫu của Tri phủ Chung Ly Cẩn.
Đời bà siêng tu tịnh nghiệp, trổ gỗ Chiên đàn làm tượng A Di Đà Phật. Mỗi đêm
bà thường đội tượng trên đầu mà hành đạo.

Năm 98 tuổi, bà vẫn mạnh giỏi như
thường. Một hôm bà gọi Tri phủ mà bảo rằng : “Ai ai đều sẵn có Đức A Di Đà,
ngặt vì tự vất đi. Nơi nơi đều là cõi Cực Lạc mà chẳng biết trở về. Mẹ sắp vãng
sanh
, con phải siêng niệm Phật !”. Sáng ngày sau, bà dậy thật sớm thắp hương
quỳ niệm Phật. Niệm được một lát, bà nín lặng mà đi. Tay bà vẫn còn chắp ngang
ngực, thân bà vẫn còn quỳ ngay thẳng.

Trích
Phật Tổ Thống Kỷ

X – MỤ VU

Mụ
Vu họ Tần, người Tiền Đường, chồng làm nghề bán cá. Con trai phạm luật nước,
gia sản bị khánh tận. Mụ Vu sầu khổ, đến bờ sông định tự tử. May gặp Từ Chiếu
Pháp sư can ngăn mà khuyên rằng : “Đó là nghiệp duyên đã gây từ đời trước, nay
mụ nên cam tâm mà trả. Bắt đầu từ nay mụ nên vun trồng nghiệp nhơn thanh tịnh,
sau này sẽ hái lấy quả giải thoát an vui. Nhảy xuống sông để trốn nợ, để rồi đời
sau
lại phải trả nặng hơn. Đâu bằng cứ sống mà chuyên tu niệm Phật !”.

Nghe
Pháp
giảng giải, mụ Vu tỉnh ngộ, bèn đối trước tượng Phật đốt ngón tay, thệ
trường trai niệm Phật. Từ đó trở đi mụ Vu tinh tấn tu niệm trọn mười năm không
bê trễ. Phàm gặp bất luận ai, mụ đều gọi là Phật tử cả.

Một
ngày nọ, mụ Vu thỉnh chư Sư Tăng đến nhà tụng Quán Vô Lượng Thọ Kinh, còn mụ
thì lần chuỗi niệm Phật. Chư Sư tụng đến đoạn “Quán tượng” thời mụ Vu yên lặng
mà mất.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ


[1] Tức là Trí Giả Đại sư, Sơ Tổ của tông Pháp Hoa, cũng gọi
tông Thiên Thai

[2] Tác giả bộ Đại Thừa Chỉ Quán Luận

[3] Một phẩm trong kinh Pháp Hoa

[4] Bậc “Lục căn thanh tịnh” là bậc “Viên giáo sơ tín”, bậc
này đã viên phục ngũ trụ hoặc và đã đoạn kiến hoặc thuộc Nội Phàm.

Bậc “Ngũ phẩm” là “Viên giáo ngũ phẩm Pháp sư vị”, đã viên phục ngũ trụ
hoặc, thuộc Ngoại Phàm.

[5] Xem lược sử Long Thọ Bồ Tát

[6] Trong kinh Lăng Nghiêm, chúng sanh trong tam giới chia
làm bảy loài : 1. Địa ngục. 2. Ngạ quỷ. 3. Súc sanh. 4. A tu la. 5. Nhân loại.
6. Tiên . 7. Chư Thiên. Tất cả đều là phàm phu luân hồi sanh tử.

[7] Do đây nên người đời gọi ngài là Hổ Khưu Thiền sư

[8] Nên xem bài Đại Thế Chí Bồ Tát nơi chương Thân tướng
trong Đ.V.C.L tập I.

[9] Cách tu của pháp môn này là vừa đi vừa quán tưởng Phật,
đi luôn không ngồi nằm từ 7 ngày đến 90 ngày. Khi chứng chánh định thời tự thấy
Đức A Di Đà Phật đứng trên đầu nên gọi “Bát Chu” (Phật đứng)

[10] Trong Pháp Hoa, tiền thân của Thích Ca khi gặp chúng tại
gia
hay xuất gia đều cung kính đảnh lễ mà nói : “Quý ngài sẽ thành Phật. Tôi
không dám khinh quý ngài !”. Nên người thời ấy gọi ngài là “Thường Bất Khinh”

[11] Ba môn giải thoát : 1.- Không giải thoát môn.
2.- Vô tướng giải thoát môn. 3.- Vô tác giải thoát môn.

[12] Thật tế : Lý chơn thật, chơn lý

[13] Điều nguyện thứ 20 trong
48 điều nguyện của đức Từ Phụ. Xem chương Hoằng Nguyện ở tập I.

[14] Nhà để chư Tăng bệnh
nặng ở

[15] Tức là Việt Phu nhơn, có
lược sử ở đoạn chư Tín nữ truyện thứ VI

[16] Tức Đề Bà Đạt Đa, em họ
của Phật và là đệ tử của đức Bổn Sư, thường tìm cách hại Phật và phá Tăng. Ông
xúi Thái tử A Xà Thế giết vua cha mà cướp ngôi.

[17] Quả thứ ba trong bốn bậc
Thánh Tiểu thừa, người chứng quả này nhứt dứt sạch chín phẩm tư hoặc của cõi
Dục. Sau khi xả thân, sẽ sanh lên cõi trời Bất Hoàn ở đầu cõi Sắc, rồi chứng
quả
A-la-hán thứ tư, không còn trở lại cõi Dục nữa.

[18] Thân ba nghiệp lành :
Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.

 Miệng bốn nghiệp lành : Không nói láo, không đòn
xóc, không mắng rủa, không nói thêu vẽ.

Ý ba nghiệp lành : Không giận hờn ganh ghét, không tham lam bỏn sẻn, không
si mê tà kiến.

Trên đây là mười nghiệp lành thuộc “Chỉ thi