KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 35)
Pháp Sư Tịnh Không
Thứ
hai là “Lục hòa”
Đồng
tu cộng tu với nhau nhất định phải tu sáu hòa kính.
–
Một, “Kiến hòa đồng giải”. Phải hòa thuận, tôn trọng lẫn nhau. Xem tất
cả đại chúng thành chư Phật Như Lai, thành hóa thân của Phật A Di Đà. Dùng tâm
cung kính nhất để đối nhân xử thế tiếp vật. Người khác dùng tâm trạng nào để
đối xử với chúng ta, chúng ta cũng không quan tâm chú ý, mà chỉ quan tâm mình
dùng tâm trạng gì để đối với họ. Nhất định dùng tâm Phật đối với người. Mọi
người đều là A Di Đà Phật thị hiện cho chúng ta xem, giúp đỡ chúng ta thành
tựu. Mỗi người đều học như vậy thì kiến hòa đồng giải viên mãn, chân thật nhập
Phật tri kiến. Phàm phu nhập Phật tri kiến là không thể nghĩ bàn. Đó là đại tâm
phàm phu mà kinh Hoa Nghiêm đã nói. Ngày nay chúng ta không làm được A La Hán,
Bồ tát, nhưng chúng ta phải làm đại tâm phàm phu. Không khó. Đích thực mỗi vị
đồng tu đều có thể làm được. Tâm hạnh của chúng ta liền có thể tương ưng với
năm khóa mục này.
–
Hai, “Giới hòa đồng tu”. Chữ “Giới” mang nghĩa rất rộng. Ngày nay
chúng ta trì giới, hy vọng nỗ lực triệt để làm được năm giới mười thiện, chưa
kể đến Bồ tát giới, hay tỳ kheo giới. Người xuất gia nên học đại sư Ngẫu Ích,
đại sư Hoằng Nhất. Các ngài trì sa di mười giới, năm giới. Đại sư Ngẫu Ích sau
khi thọ giới thì xả giới, cả đời ngài chỉ trì giới sa di. Cho nên các vị thấy
trong rất nhiều văn tự là Sa di Bồ tát giới. Ngài không dám xưng tỳ kheo. Ngài
là Sa di Bồ tát. Thành Thời là học trò của ngài. Thầy đã xưng Sa di thì học trò
không dám xưng Sa di, cho nên pháp sư Thành Thời xưng là Ưu Bà Tắc, mặc dù là
người xuất gia. Thật ra, cách xưng đó mới đúng với thân phận của chúng ta ngày
nay. Thân phận của chúng ta là gì? Xuất gia Ưu Bà Tắc. Còn các vị là tại gia Ưu
Bà Tắc. Tôi là Ưu Bà Tắc thị hiện thân tướng xuất gia. Thảy đều trì năm giới
mười thiện.
Trong
kinh Vô Lượng Thọ, năm giới mười thiện có giải thích tỉ mỉ từ phẩm ba mươi ba
đến phẩm ba mươi bảy. Đoạn kinh văn này thuyết minh tường tận năm giới mười
thiện. Chúng ta trì năm giới mười thiện thì thanh tịnh, đúng với tên thật, là
xuất gia Ưu Bà Tắc. Đây là trì giới. Ngoài ra, trì giới còn một nghĩa nữa là
thủ pháp. Đạo tràng thường đông người, nếu không có quy củ thì nơi đây trở
thành một đoàn thể hỗn loạn, không giống đạo tràng. Những quy củ này cần phải
tuân thủ. Bên ngoài xã hội có quốc gia, quốc gia có pháp luật, rất nhiều quy
ước, chúng ta cũng phải tuân thủ. Làm một công dân tốt tuân thủ pháp luật, làm
một người tu hành giữ pháp, làm một đệ tử Phật giữ pháp.
–
Ba, “Thân hòa đồng trú”. Tương lai sau khi thôn Di Đà khánh thành, rất
nhiều đồng tu niệm Phật cùng ở với nhau. Đôi bên cùng chăm sóc, sách tấn lẫn
nhau. Hy vọng hiện tại chúng ta cùng đồng trong thôn Di Đà thì tương lai chúng
ta cũng ở chung trong Hải Hội Liên Trì. Như vậy mới chân thật đạt đến mục tiêu.
Tôi kiến nghị, mỗi cửa phòng trong thôn Di Đà đều là cửa kính trong suốt. Người
ở đó không thể giải đãi lười biếng. Hoặc chí ít phải làm một cửa sổ bằng kính
nhỏ, người ngoài đi tới đi lui có thể nhìn thấy được bên trong. Còn cửa phòng
đóng kín thì không thể thanh đạo, người ngoài không biết được họ đang làm gì,
giải đãi lười biếng ra sao. Đồng tu ở thôn Di Đà phải chú ý, thôn Di Đà hoàn
toàn trong suốt hóa, tương lai ngay đến thân thể cũng trong suốt, không chút ô
nhiễm. Chúng ta phải đạt tiêu chuẩn này. Đây cũng là tác sư tác phạm. Cho nên
phải thủ pháp, đó mới chân thật là ý nghĩa của thân hòa đồng trú.
–
Bốn, “Khẩu hòa vô tranh”. Hy vọng sau khi bước vào thôn Di Đà, cho dù
bạn ở một năm, hai năm hoặc cả đời, bạn cũng sẽ không nói câu nào ngoại trừ câu
A Di Đà Phật. Bạn nhất định thành Phật, nhất định thượng thượng phẩm vãng sanh.
Vì sao? Vì không có lời nào đáng nói, nói ra đều thừa. Bạn nói ra lời nói đều
là tiếp nối sáu cõi luân hồi, nên bắt đầu từ hôm nay không tiếp nối sáu cõi
luân hồi nữa. Không nói chuyện. Bạn chào hỏi, tôi đều A Di Đà Phật. Bạn nói cái
gì, nhiều hay ít thì tôi đều A Di Đà Phật, một câu cũng không cho lọt vào. Làm
như vậy tâm bạn mới thanh tịnh, khẩu nghiệp của bạn mới chân thật tiêu được
sạch trơn.
–
Năm, “Ý hòa đồng giải”. Cùng ở chung nơi đây nhất định pháp hỷ sung mãn.
Bạn nhất định đạt được cảnh giới này. Hai mươi bốn giờ niệm Phật sẽ sanh tâm
hoan hỷ, không mệt, không chán. Niệm mệt thì nghỉ một lát. Khi nghỉ ngơi, tôi
khuyên đồng tu không cởi áo tràng. Chúng ta mặc áo tràng niệm Phật, nghỉ ngơi
chốc lát vẫn không cởi áo tràng. Điều đó nhắc chúng ta khỏe rồi phải mau vào
niệm Phật đường. Tự động tự phát, không cần có người đến gõ cửa. Mặc dù mỗi đơn
vị chúng ta có một trưởng liêu do các vị chọn lựa. Họ có nhiệm vụ cứ thấy thời
gian đến mà bạn vẫn lười biếng thì sẽ đến gõ cửa bạn. Niệm Phật đường có pháp
sư. Trong các pháp sư cũng có một người chuyên phụ trách công việc nhắc nhở,
gọi là tuần phang.
Khi
bạn niệm Phật bị hôn trầm, ngủ gật trong niệm Phật đường, ngày xưa dùng tuần
phang, một cú phang nhẹ lên đầu bạn, làm cho bạn tỉnh lại. Ở đây không như
thiền đường, thiền đường dùng hương bản để đánh. Còn ở đây chúng ta không đánh
mà dùng tuần phang hoặc phất trần để nhắc nhở mọi người. Đó là sự hợp tác lẫn
nhau nhằm chân thật làm đến được pháp hỷ sung mãn.
–
Sáu, “Lợi hòa đồng huân”. Mười phương cúng dường quy về thường trụ.
Thường trụ phụ trách cơm áo, đi đứng cho mọi người. Bạn đến niệm Phật đường này
niệm Phật thì không cần mang theo một phân tiền, không cần lo lắng đời sống,
chỉ cần chân thật niệm Phật là được. Tôi nghĩ tin tức này sẽ truyền đến xã hội,
mọi người trong xã hội sẽ không làm việc nữa vì mưu sinh rất khổ cực, chỉ đến
niệm Phật đường để niệm Phật. Tương lai niệm Phật đường của chúng ta ắt hẳn đầy
ắp người. May mà hoằng nguyện của cư sĩ Lý Mộc Nguyên rất lớn, ông dự định xây
dựng thôn hai, thôn ba, thôn bốn, thậm chí xây thành thành phố Di Đà, nước Di
Đà. Thật là khó được duyên phận hy hữu như vậy. Chúng ta hoan nghênh xã hội an
ổn, khiến mọi người chân thật có nơi nương tựa. Nhưng thôn Di Đà là chỗ nương
về chân chính của chúng ta, vô lượng công đức, được chư Phật tán thán. Đó là
tương ưng với lục hòa.
Thứ
ba là “Tam học Giới Định Huệ”
Thứ
tư là “Lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và bát nhã”
Thứ
năm là “Phổ Hiền Bồ tát thập nguyện”
Các
vị có thể không nhớ rõ ràng, nhưng đều hiểu ý nghĩa của từng khóa mục; khởi tâm
động niệm, lời nói việc làm của chúng ta đều tương ưng với năm khóa mục này.
Sau đó phát tâm thanh tịnh, một lòng chuyên niệm, quyết thành thục Bồ tát, vô
biên thiện căn.
“Thành
thục Bồ tát, vô biên thiện căn”
Thiện
căn vô biên, đơn giản mà nói là đại từ bi, đại tinh tấn. Quyết cầu sanh tịnh độ
là đại từ bi, bởi vì bạn sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì bạn liền
thành Phật. Hiện tiền niệm Phật đường, giảng đường, thôn Di Đà là trạm tiếp dẫn
đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Đến nơi đây cũng là đến thế giới Tây Phương.
Bạn ở đây nếu như đúng lý đúng pháp mà tu học thì nhất định vãng sanh. Ngày
trước tôi giảng giải kinh Vô Lượng Thọ đã nói qua, kinh này là chứng thư để
chúng ta vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, đó là bảo chứng bạn vãng
sanh nếu bạn y giáo phụng hành. Không chịu khó làm là việc của bạn nhưng khi
chân thật làm theo thì không ai không vãng sanh. Vãng sanh thế giới Tây Phương
mới có thể làm Phật Bồ tát, mới có thể giống Bồ tát Quán Âm, Phổ Hiền, Địa
Tạng, phân thân vô lượng vô biên, độ hóa chúng sanh mười phương thế giới, đó
chẳng phải là đại từ bi hay sao? Còn có loại từ bi nào có thể so với họ?
“Thiện
căn” chỉ tinh tấn. Thiện căn của người thế gian là thế pháp. Thế pháp này
gọi là thiện pháp trong mười pháp giới, từ ba thiện căn vô tham, vô sân, vô si
sanh ra. Trong mười pháp giới, bao gồm tất cả ác pháp từ ba độc tham sân si
sanh ra, bao gồm tất cả thiện pháp từ vô tham, vô sân, vô si sanh ra. Nói đến
pháp xuất thế là nói đến siêu việt mười pháp giới, hay pháp giới nhất chân.
Trong pháp giới nhất chân đều là pháp thân đại sĩ, thiện căn tinh tấn. Thiện
căn của pháp thân đại sĩ chỉ có một điều, đại tinh tấn. Hiện tại chúng ta tuy
chưa chứng được pháp thân đại sĩ, nhưng mỗi ngày niệm Phật hai mươi bốn giờ
đồng hồ từ đầu năm đến cuối năm không gián đoạn cũng coi như đại tinh tấn, có
thể so với pháp thân đại sĩ, tuyệt nhiên không kém hơn họ.
“Thành
thục”, chú trọng ở hai chữ này. Nếu không có duyên phận thù thắng thì làm
sao thành tựu? Đúng như đại sư Thiện Đạo đã nói trong chú giải của Quán kinh: “Tất
cả thành thục tổng tại ngộ duyên”. Duyên rất quan trọng. Duyên là điều
kiện. Hiện tại ở đây, điều kiện niệm Phật đầy đủ, quá thù thắng. Có rất nhiều
Bồ tát, rất nhiều người tu hành mong cầu mà không được. Tôi đã nghĩ đến thôn Di
Đà cách đây mười sáu năm, và luôn cho rằng mình vọng tưởng không thực hiện
được. Không ngờ lại có thể thực hiện ở nơi đây, thật hy hữu. Đến nay tôi vẫn
cảm thấy kinh ngạc, hơn nữa sự thành tựu còn viên mãn đến như vậy. Nếu không
được oai thần của Phật gia trì thì không thể. Thành thật mà nói, Bồ tát gia trì
cũng không được, nhất định phải oai thần chư Phật Như Lai gia trì mới làm được.
Chúng sanh ở đây, duyên thành Phật ngay trong một đời này chín mùi, nên mới có
cảm ứng thù thắng đến vậy. Các vị đồng tu phước báu hy hữu, vô lượng kiếp đến
nay vào lúc này hoa khai kết quả. Đó là thành thục.
“Thành
thục Bồ tát, vô biên thiện căn” là nói tương ưng. Đã tương ưng liền cảm
động chư Phật hộ niệm.
“Vô
lượng chư Phật, hàm cộng hộ niệm”
Câu
nói này cảm xúc rất sâu sắc đặc biệt, gần như chính mắt chúng ta thấy, chính
tai chúng ta nghe, chính thân tiếp xúc, chân thật chư Phật hộ niệm, long thiên
thiện thần ủng hộ. Cho nên, thế nhân cầu Phật Bồ tát bảo hộ rất đông, nhưng họ
dùng phương pháp gì để cầu? Hối lộ. Họ đến miếu bái bái lạy lạy, cầu khẩn với
Phật Bồ tát “Tôi cúng dường ngài từng này, ngài bảo hộ tôi phát tài, sau đó
tôi trở lại hoàn nguyện, sẽ cúng dường ngài từng này”. Họ mặc cả với Phật
Bồ tát rồi đưa ra điều kiện. Làm gì có loại đạo lý ấy? Nên không có cảm ứng. Để
được Phật Bồ tát hộ niệm, bạn không cần điều kiện. Các ngài chỉ xem bạn có thật
chịu làm hay không. Làm như thế nào? Y giáo phụng hành. Phật dạy bảo bạn, bạn
chân thật phát tâm, không màng đến hậu quả thì bạn được vạn chư Phật hộ niệm.
Nếu bạn chịu làm, phát tâm nhưng còn lo lắng, nghi hoặc, chẳng hạn nghĩ xây lầu
to tốn rất nhiều tiền nhưng nếu lỡ tín đồ cúng dường không đủ thì phải làm sao,
như vậy Phật Bồ tát sẽ không quản việc của bạn. Vì bạn không thật lòng, bạn còn
xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì làm sao có cảm ứng.
Cảm
ứng có được duy nhất ở tâm chân thành. Đến lúc đó nếu thật không ai góp tiền,
Phật Bồ tát sẽ cho người mang tiền đến. Không thể nghĩ bàn. Đó là thật, nhất
định không phải giả. Loại thí dụ cảm ứng này, từ xưa đến nay, chúng ta xem thấy
trong truyện ký cảm ứng lục rất nhiều. Chỉ có chí thành tột đỉnh mới được cảm
thông. Còn hơi một chút xen tạp, một chút riêng tư thì liền phá hoại hết thảy
pháp. Người trụ trì lãnh đạo không mang lòng riêng tư, chỉ có chân thành, thì
tôi tin chắc tương lai, người ở trong niệm Phật đường, đồng tu nghe kinh ở
giảng đường chỉ có tâm chân thành. Mọi người đồng một mảng chân thành thì sức
cảm ứng đó sẽ rất to lớn. Cho nên, đạo tràng thù thắng trang nghiêm có thể xây
dựng tại khu vực này không phải là việc ngẫu nhiên.
“CHƯ
PHẬT SÁT TRUNG, GIAI NĂNG THỊ HIỆN. THÍ THIỆN HUYỄN SƯ, HIỆN CHÚNG DỊ TƯỚNG. Ư
BỈ TƯỚNG TRUNG, THẬT VÔ KHẢ ĐẮC. THỬ CHƯ BỒ TÁT, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ.”
Trong
tám tướng thành đạo thì đoạn kinh văn này thuộc tướng thứ bảy “Chuyển pháp
luân tướng”. Kinh văn tương đối dài, bên trên phân thành hai đoạn lớn.
Trước nói tổng tướng của chuyển pháp luân, sau nói biệt tướng của chuyển pháp
luân. Gọi là “chuyển pháp luân”, vì Thế Tôn xuất hiện ở thế gian nhằm
làm công tác giáo học. Thuật ngữ hiện đại gọi là công việc giáo dục xã hội.
Trong biệt tướng thì nửa phần phía trước nói “hạnh Phổ Hiền”, nửa phía
sau nói “trí Văn Thù”. Từ nội dung này mà quan sát, chúng ta rất dễ liên
tưởng đến kinh Hoa Nghiêm, từ đầu đến cuối cũng cách thức tương tự. Đó là chú
trọng hành môn và đức hạnh.
Trên
kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là thứ nam. Đó là thí dụ nói rõ
một sự việc, trong hai môn giải hành thì hành môn xếp thứ nhất, giải môn xếp
hàng kế. Tôi đã giảng xong hành môn của Bồ tát Phổ Hiền, nay tiếp theo là trí
môn của Bồ tát Văn Thù, còn gọi giải môn. Hành cùng giải phải tương ưng mới có
thể đem cảnh giới hướng lên cao. Nếu hành giải không tương ưng thì hành chỉ
mang lại phước báu, không thể nâng cao cảnh giới, thật đáng tiếc.
“Hành”
nhất định phải có trí tuệ để y cứ, thì cái hành này mới là Bồ Tát hạnh, mới là
chánh hạnh. Nếu trái ngược với trí tuệ, thì Phật pháp gọi là hạnh phàm phu,
kinh luận gọi là tà hạnh. Sở dĩ gọi là tà vì lấy chánh hạnh của Phật Bồ Tát làm
tiêu chuẩn. Điều đó có nghĩa, không chỉ hạnh của phàm phu sáu cõi không được
gọi là chánh hạnh mà theo kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Quyền Giáo Nhị Thừa còn bị
Thế Tôn quở trách. Cho nên quyển kinh này cùng với kinh Hoa Nghiêm đồng một
trình độ, đồng một tiêu chuẩn.
“Chư
Phật sát trung, giai năng thị hiện”
Nhất
định phải có trí tuệ cao độ mới thành tựu thù thắng hành môn. Vừa rồi chúng ta
đọc tiêu đề của đoạn thứ nhất “thị tướng vô đắc”. Hiển thị trong tất cả
tướng bất khả đắc, đó là trí tuệ chân thật. Câu “Chư Phật sát trung, giai
năng thị hiện” mang ý nghĩa của tiêu đề lớn, tương lai kinh Hoa Nghiêm, tôi
sẽ tỉ mỉ nói đến. Dù giảng đến hai ba lần, từ bốn đến sáu giờ đồng hồ cũng chỉ
nói được đại ý “ba hạnh”, thế nên chúng ta để lại trong “Hoa Nghiêm”
sẽ nói kỹ hơn.
“Chư
Phật sát trung” ý nói tận hư không khắp pháp giới, bao gồm quá hiện vị lai,
gọi là mười phương ba đời, vô lượng vô biên cõi nước. Chi tiết hơn, đó là không
gian sinh hoạt của chúng ta. Sự thật thì không gian sinh hoạt của chúng ta rất
lớn, không chỉ trên địa cầu này. Phải là người giác ngộ mới hiểu và có thể thọ
dụng được, còn người chưa giác ngộ thì rất phiền phức, vì họ chấp trước kiên
cố. Ví dụ kinh Phật đưa ra một công án. Thế Tôn năm xưa ở đời, từng ở thành Xá
Vệ vườn Cấp Cô Độc một thời gian tương đối dài. Không ít kinh điển quan trọng
trong kinh đại thừa đều được giảng tại vườn Cấp Cô Độc. Một lần, vườn Cấp Cô
Độc tu sửa phòng ốc, Phật cùng các đệ tử xem thấy một ổ kiến. Đức Phật liền mỉm
cười. Các đệ tử mới thắc mắc tại sao Thế tôn nhìn thấy đàn kiến lại mỉm cười?
Phật nói: “Đàn kiến này đã trải qua bảy đời chư Phật xuất thế nhưng vẫn
không rời khỏi thân kiến. Vậy chúng ta không nói nhiều, mà chỉ nên dùng cách
nói thông thường thôi”.
Tu
hành thành Phật phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp, không thể ít hơn. Theo cách
nói bảo thủ nhất, thì bảy vị Phật là hai mươi mốt a tăng kỳ kiếp, vẫn làm thân
kiến. Quá khủng khiếp! Không phải kiến có tuổi thọ dài đến vậy, mà sau khi chết
đầu thai vẫn làm thân kiến, vẫn trong ổ đó. Thế nên, kinh Đại thừa thường nói “ngu
si thật đáng sợ”. Người ngu si chấp trước kiên cố. Đàn kiến chấp trước cái
thân hình đó của nó chính là thân nó, chấp trước không gian đời sống của nó chỉ
lớn như vậy, cho nên sau khi chết nó vẫn đầu thai làm kiến, vẫn sống trong
không gian cũ. Nó không biết không gian đời sống của mỗi người là vô hạn.
Hiện
tại người thế gian tương đối thông minh, biết lợi dụng khoa học kỹ thuật tạo
thành công cụ phi hành, mở rộng không gian đời sống của chúng ta đến các tinh
cầu khác. Mộng tưởng này sớm muộn gì cũng sẽ thực hiện. Nhiều năm nay, báo chí
cho biết có người ngoài hành tinh từng đến địa cầu của chúng ta nhiều lần nhưng
chúng ta chưa thấy. Tôi đã từng tận mắt nhìn đĩa bay trên không trung, nhưng
chưa thấy đĩa bay đáp xuống. Cũng có rất nhiều người cùng thấy với tôi, bởi vì
ngày hôm sau, báo chí đăng tin tức này. Có phải người ngoài hành tinh đến địa
cầu chúng ta để dò xét hay không? Việc này không thể biết được. Nếu họ có năng
lực đến, đương nhiên công cụ phi hành của họ tốt hơn nhiều so với chúng ta. Đĩa
bay của họ có thể dừng bất động trong không trung, trong khi hiện tại phi cơ
của chúng ta không làm được. Chính mắt tôi nhìn thấy nó bất động khoảng năm
phút, sau đó chuyển động với tốc độ rất nhanh, chỉ mấy giây là mất hút. Trình
độ khoa học kỹ thuật hiện tại của chúng ta tuyệt đối không thể đạt đến. Tuy
nhiên khoa học của chúng ta đang tiến bộ không ngừng. Tôi tin sẽ có ngày chúng
ta đạt năng lực này, sử dụng công cụ kỹ thuật cao để qua lại với các tinh cầu
khác. Đó là phương pháp mở rộng không gian đời sống tương đối vụng về của chúng
ta.
Trong
thái không, mắt thịt chúng ta có thể thấy các tinh cầu mà không cần kính viễn
vọng. Khi trời quang mây tạnh, vào đêm tối, chúng ta quan sát có thể thấy hơn
6000 tinh cầu. Nếu dùng kính viễn vọng cao tần thì không cách gì tính đếm được
vô số tinh cầu thậm chí ở cự ly tương đối xa. Khoa học gia dùng năm ánh sáng để
tính. Tốc độ ánh sáng trong một giây đi gần ba mươi vạn cây số. Cự ly này gọi
là đơn vị thiên văn, có nghĩa tốc độ ánh sáng đi một năm. Các khoa học gia cho
biết, cự ly hành tinh gần chúng ta nhất, nếu dùng tốc độ ánh sáng đại khái phải
mất bốn năm rưỡi mới đến được. Giả sử chúng ta tạo công cụ phi hành, nhất định
cũng không thể sánh với tốc độ ánh sáng.
Lữ
hành đến các tinh cầu rất gian khó và tương đối khổ cực. Dù ở ngoài thái không,
ngoài hành tinh đến thế gian này thăm viếng, dù công cụ giao thông của họ phát
triển đến trình độ thế nào, thì chúng ta vẫn khẳng định họ thuộc cõi người,
không phải cõi trời. Họ vẫn trong sáu cõi. Địa cầu có người, các tinh cầu khác
cũng có người. Chỉ cõi người mới dùng phương pháp này, còn cõi trời thì không
cần dùng đến. Người cõi trời lữ hành không cần dùng công cụ khoa học. Bản thân
họ có ngũ thông bao gồm năng lực “thần túc thông”. Cho nên nghĩ tới nghĩ
lui, chúng ta vẫn phải hồi phục lại bản năng của chính mình, đó mới là cao
minh. Hồi phục sáu loại thần thông không thể nghĩ bàn vốn sẵn có trong chính
chúng ta. Khi đã hồi phục lại, chúng ta du lịch đến thái không sẽ rất thuận
tiện, một khảy móng tay hoặc một sát na có thể đến bất cứ nơi nào. Không những
du lịch tinh cầu không gặp chướng ngại mà còn đến cõi nước chư Phật xa gấp bao
nhiêu lần so với du lịch tinh cầu. Đạo lý này các vị phải biết.
Ngày
nay tinh cầu mà chúng ta xem thấy vẫn chỉ dừng lại ở không gian ba độ, bốn độ,
năm độ, thậm chí không gian duy thứ cao hơn mà khoa học chưa đạt đến. Nói cách
khác, giới hạn không gian không thể đột phá. Nếu đột phá được giới hạn của thời
không thì thế giới này hoàn toàn khác nhau. Bạn có thể thấy được cõi trời, có
thể đạt đến trời dục giới, trời sắc giới, trời vô sắc giới, lại có thể siêu
việt sáu cõi. Cái đại sáu cõi này chính là đại thiên thế giới. Siêu việt đại
thiên thế giới, bạn liền tiếp xúc các cõi nước chư Phật. Nghĩ xem, không gian
tương đối phức tạp quyết không đơn thuần. Chân thật không gian lớn vô hạn so
với tưởng tượng của chúng ta, kinh Phật nói “không thể nghĩ bàn”. Năng
lực của Bồ Tát ở thế giới Cực Lạc, chúng ta cũng có phần. Chỉ cần vãng sanh đến
thế giới Tây Phương Cực Lạc, không luận phẩm vị cao thấp, cho dù hạ hạ phẩm
vãng sanh cõi phàm thánh đồng cư, bạn cũng có năng lực này.
Không
gian sinh hoạt của những vị pháp thân Bồ tát này rất rộng lớn. Chư Phật sát là
tận hư không khắp pháp giới, không chỉ hiện tại mà bao gồm quá khứ, hiện tại,
vị lai. Chúng ta thường nói mười phương ba đời, vô lượng vô biên cõi nước chư
Phật. Họ đều có thể thị hiện trong đó. “Giai năng thị hiện”, cách thị
hiện như thế nào? Giống như Bồ tát Quán Thế Âm trong Phổ Môn phẩm, đáng dùng
thân Phật để độ thoát, ngài liền hiện thân Phật; đáng dùng thân Bồ tát để độ
thoát, ngài liền hiện thân Bồ tát;.v.v… Đáng dùng thân gì, ngài liền hiện thân
đó. Ứng là cảm ứng. Bồ tát quyết không có ý niệm hiện thân. Nếu có ý hiện thân
thì là phàm phu. Bồ tát hiện thân do ứng cảm của chúng sanh. Chúng sanh có cảm,
Phật Bồ tát liền có ứng. Chỗ này cũng giống như trên kinh Lăng Nghiêm: “tùy
chúng sanh tâm” mà cảm, “ứng sở tri lượng”. Ứng của Bồ tát phù hợp
tương thích với cảm của họ.
Bạn
muốn thân Phật đến độ bạn, thì họ liền hiện thân Phật, bạn muốn thân Bồ tát đến
độ bạn, thì họ liền hiện thân Bồ tát. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”,
vậy có gì sai. Chúng ta tưởng Phật thì Phật liền xuất hiện. Trong mười pháp
giới, chúng ta biết Phật là thù thắng nhất, Phật viên mãn nhất, thế thì tại sao
không ngày ngày tưởng Phật?
Bên
dưới lầu bốn chúng ta mở rộng làm niệm Phật đường. Tôi liền nghĩ đến, tượng
Phật phải cúng ngay giữa niệm Phật đường, bởi vì theo kinh Hoa Nghiêm, niệm
Phật nhất định lấy nhiễu Phật làm chủ đạo. Thiện Tài đồng tử ra ngoài tham học,
vị thiện tri thức thứ nhất là Đức Vân tỳ kheo. Đức Vân tỳ kheo tu pháp môn niệm
Phật. Ngài chọn phương thức niệm Phật Bát chu tam muội. Bát chu tam muội chính
là nhiễu Phật, cũng được gọi là Phật vị tam muội. Trong kinh Phật nói, một kỳ
ba tháng, chín mươi ngày nhiễu Phật, ngày đêm không được nằm xuống. Tỳ kheo Đức
Vân niệm Phật như vậy. Hiện tại chúng sanh mạt pháp, thể lực không đủ nên không
làm được. Nếu nhiễu Phật mệt thì có thể ngồi xuống nghỉ ngơi một lát, uống nước
một lát. Nghiêm trọng hơn, hoặc bất đắc dĩ thì có thể nằm giường nghỉ một lát.
Khỏe rồi phải vào niệm tiếp.
Chúng
ta lấy nhiễu Phật làm chủ đạo, cho nên tượng Phật phải cúng ngay giữa. Tôi vừa
nói, thì cư sĩ Lý liền làm. Tốc độ làm của ông khiến tôi kinh ngạc. Chỉ sau ba
ngày, ông cho biết đã đặt tượng Phật bằng gỗ tràm ở Trung Quốc. Hơn nữa, ông
còn khắc ra bốn tôn tượng A Di Đà Phật đứng bốn mặt trên một tòa sen. Bạn nhiễu
Phật đến mặt nào cũng đều thấy A Di Đà Phật. Việc này tôi không nghĩ đến. Tương
lai ngay giữa niệm Phật đường, bốn mặt đều có thể lạy Phật, chỉ tịnh, nghỉ ngơi
điều thân. Nhưng nhiễu Phật là quan trọng nhất.
Nhiễu
Phật nhất định phải mở miệng niệm ra tiếng. Chỉ tịnh thì có thể niệm không ra
tiếng hoặc ra tiếng. Lạy Phật cũng không cần niệm ra tiếng vì sẽ bị tổn thân
thể. Chúng ta niệm thầm khi lạy Phật, đồng thời quán tưởng. Khi chỉ tịnh, nếu
không thể niệm Phật thì có thể lắng nghe tiếng niệm Phật, trong lòng không vọng
tưởng, như vậy mới đúng pháp.
Tương
lai vào quỹ đạo, niệm Phật đường sẽ phân làm ba khu. Vòng tròn gần Phật tượng
là khu vực lạy Phật, vòng ngoài là khu nhiễu Phật, hai bên chỉ tịnh đối diện
với tượng Phật. Hiện tại hai bên đều treo hình Phật. Đối diện tượng Phật chúng
ta nhiễu Phật, lạy Phật, ngoài ra không xem thấy điều gì, không ai nhiễu loạn
bạn. Bạn ở đây niệm Phật, một chút áp lực cũng không có. Bạn có thể thoải mái,
ưa thích, và hoan hỷ. Chính mình lạy Phật, bốn mặt đều có thể lạy, lạy nhanh
hay chậm tùy thích. Mỗi người cứ lạy theo cách của mình, chỉ cần một câu Phật
hiệu tròn đầy, như vậy mới tốt. Còn nếu lạy Phật cũng phải có pháp sư đánh
khánh dẫn chúng thì áp lực lại lớn, vì người khỏe cảm thấy quá chậm, người yếu
cảm thấy quá nhanh, chịu không nổi, thành ra than khổ. Thân tâm không an ổn làm
sao hành đạo.
Chúng
ta đi nhiễu Phật mới cần pháp sư đánh khánh hướng dẫn đi, còn chỉ tịnh và lạy
Phật thì không cần. Khi thấy cơ thể quá mệt có thể nghỉ ngơi một lát. Nghỉ ngơi
khỏe rồi lập tức nhập chúng nhiễu Phật, niệm Phật. Như vậy, niệm Phật đường này
mới trường cửu, mọi người mới sanh tâm hoan hỷ. Tôi tin tưởng khi niệm khoảng
ba tháng, các vị có thể không cần phải ngủ nghỉ. Đó là sự thật. Nhiều nhất là
bạn chỉ ngủ hai ba giờ một ngày mà tinh thần vẫn đầy đủ, thể lực tròn đầy, do
bạn được oai thần Tam bảo gia trì, có thể thoát khỏi hôn trầm. Ngủ nghỉ là hôn
trầm. Bạn bị hôn trầm, trạo cử, hai loại tập khí trong niệm Phật đường, nay đem
nó tẩy sạch, hồi phục thân kim cang bất hoại của bạn. Quá nhiều lợi ích không
thể nói hết.
Thế
Giới Tây Phương Cực Lạc không đi không được, nếu không đi thì chẳng phải là đại
ngốc hay sao. Vậy thị hiện là gì? Tuyệt đối không thể nói, tôi muốn thị hiện
thân tướng gì thì thị hiện ra thân tướng đó. Bạn có muốn cũng không thể. Vô số
thị hiện không phải do chính mình muốn, vì sao? Cảm ứng tương thông với mười
phương thế giới tất cả chúng sanh mà thị hiện. Chúng sanh có cảm, bạn liền có
ứng. Không chỉ cảm ứng tương thông với chúng sanh mà cùng với chư Phật Bồ Tát
cũng là cảm ứng tương thông. Duyên Phật dạy bảo chúng ta đã chín muồi, đó là
cảm của Phật. Chúng ta đến nơi của Phật để bái Phật, thỉnh pháp, cầu giáo. Đó
là ứng. Cho nên cảm ứng đạo giao mang nghĩa rộng, không chỉ đối với cùng một
giai tầng, hoặc đối với một giai tầng thấp, mà đối với tầng Phật cao nhất cũng
như vậy, không hề khác nhau. Phẩm Phổ Môn, Bồ Tát Quan Thế Âm đã nói “đáng
dùng thân gì để độ thì liền hiện ra thân đó; đáng dùng thân gì để tu học, thì
liền hiện ra thân đó”. Nam nữ già trẻ, các ngành nghề, mỗi đoàn thể giai
tầng trong xã hội, không thứ nào không thể thị hiện. Không chỉ thị hiện chúng
sanh hữu tình mà còn có thể thị hiện chúng sanh vô tình; thị hiện núi sông đất
đai, cây cối hoa cỏ. Cảnh giới của câu kinh văn này sâu rộng vô hạn, đó là nói
sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, chúng ta có năng lực lớn như vậy.
“Thí
thiện huyễn sư, hiện chúng dị tướng”
“Huyễn
sư” giống như hiện tại chúng ta gọi là thầy ma thuật. Họ có phương tiện
khéo léo, mặc dù chúng ta biết họ biến hiện ra đều không phải thật. Thế nhưng
bạn quan sát thấy rất giống thật, gần như không chút hư dối. “Chúng” là
nhiều người, “dị” là khác nhau. Câu này giải thích cho câu “giai năng
thị hiện”, có thể tùy chúng hiện thân. Nếu thực tiễn trong cuộc sống hiện
thực, thì Phật Bồ Tát có thể tùy loại hoá thân. Ngày nay chúng ta học tập bằng
cách tùy chúng sanh để hiện thân. Mỗi người trong một đời trải qua ngày tháng
tùy hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau mà biến hóa thân phận. Đó là hiện chúng dị
tướng.
Ví
dụ ở trong nhà, đối với cha mẹ, bạn hiện thân con cái; đối với con cái, bạn
hiện thân cha mẹ,… Bước vào xã hội, bạn hiện thân giám đốc, đổng sự trưởng,
nhân viên,.v.v… Thân phận của chúng ta mỗi giờ mỗi phút thị hiện khác nhau, đối
với những việc khác nhau, những vật khác nhau, như vậy mỗi giờ mỗi phút đang
khởi biến hoá. Đây nói rõ một chân tướng sự thật. Tướng không có định tướng mà
tuỳ theo duyên đang thay đổi. Cho nên “nhập cảnh tùy tục, thung dung tự tại”
là trí tuệ, là người sáng suốt.
(Còn
tiếp …)
KINH
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC
Pháp
sư: HT. TỊNH KHÔNG
Biên
dịch: Vọng Tây cư sĩ
Biên
tập: PT. Giác Minh Duyên
Discussion about this post