XÉT LẠI CÂU TỤC NGỮ
“ĐỜI CHA ĂN MẶN ĐỜI CON KHÁT NƯỚC“
QUA LĂNG KÍNH ĐẠO PHẬT
Tâm Diệu
Nếu
toàn thể nhân loại kể từ đời thượng cổ cho đến ngày
nay đều có cùng một thói quen sống “ai sao tôi vậy”
hoặc “xưa sao nay vậy” thì giờ này chúng ta vẫn còn
phải vác rìu bằng đá để đi săn thú đem về ăn sống nuốt
tươi, chứ không thể có được nền văn minh điện toán như
ngày nay.
Nền
văn minh mà chúng ta đang thừa hưởng này không phải bỗng
nhiên từ trên trời rơi xuống, hoặc là từ những bộ óc
ù lì, nghị gật “ai sao tôi vậy” mà xây dựng nên. Đó là
nhờ công lao của những khối óc quả cảm, đầy sáng kiến,
dám thí nghiệm những sáng kiến của mình, dám tranh đấu
để những sáng kiến thành hiện thực dù cho đôi khi phải
hy sinh tính mạng.
Sự
tiến hóa cả về vật chất lẫn tinh thần có được là nhờ
ở những con người biết suy nghĩ độc lập, can đảm nhận
lãnh trách nhiệm, dám có ý kiến khác đương thời, “ai sao
tôi không vậy” mới vùng lên lật đổ được ngoại xâm,
không chịu cam tâm làm nô lệ.
Cho
nên, là phần tử của đạo Giác Ngộ, chúng ta nên xét lại
một số thói quen xấu, như thói quen ỷ lại vào người khác
“ai sao tôi vậy”.
Những
“ai sao tôi vậy” nào mà hợp lý, có lợi cho mọi người thì
theo. Cái nào có hại thì nên bỏ và nói người khác bỏ.
Không nên mang nỗi sợ truyền kiếp với tiền nhân mà cứ
cắm đầu tuân theo những thói quen lạc hậu như sợ “ra ngõ
gặp gái thì xui xẻo“, “có con mèo lạc vào nhà thì sẽ nghèo“,
“vợ chồng khắc tuổi thì sẽ sớm bỏ nhau“, vân vân và vân
vân.
Trong
tinh thần đó, chúng ta nên xét lại một số châm ngôn tục
ngữ qua lăng kính của đạo Phật, thí dụ như câu “đời
cha ăn mặn đời con khát nước”.
Quan
niệm về cái gọi là “đời cha ăn mặn đời con khát nước”
cho rằng có một cái gì vô hình lưu truyền cái nhân xấu
do đời cha tạo ra và chuyển giao cái quả xấu do nhân xấu
mang lại cho con cái trong dòng họ huyết thống tổ tiên.
Có
người cho rằng, đó là do ảnh hưởng huyết thống, mà khoa
học ngày nay đã khám phá ra các “gene” di truyền và cũng có
người cho rằng quan niệm này bắt nguồn từ thuyết nhân
quả luân hồi của đạo Phật, điều này mới nghe ra thì
tưởng như đúng vì cũng gieo nhân và cũng hái quả, nhưng
hoàn toàn không đúng.
Thời
đức Phật còn tại thế, có người hỏi Ngài:
“Bạch
Đức Thế Tôn, vì lý do nào mà trong đời người có người
chết yểu và có người sống lâu; có người bệnh hoạn và
có người khỏe mạnh; có người xấu và có người đẹp;
có người làm gì cũng không có ai làm theo, noiù gì cũng không
ai nghe theo; có người nghèo khổ và người giầu sang, có người
sanh trong gia đình bần tiện và có người sanh trong gia đình
cao sang, có người ngu dốt và có người trí tuệ thông minh
?
Đức
Phật trả lời như sau:
“Tất
cả chúng sinh đều mang theo cái Nghiệp (Karma) của chính mình
như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân,
như chỗ nương tựa. Chính vì cái Nghiệp riêng của mỗi người
mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh”.1
Nghiệp
(kamma, hay tiếng Sanscrit là karma) là qui luật nhân quả trên
bình diện đạo đức. Nói một cách chính xác hơn, Nghiệp
là tác ý hay ý muốn. Vì có ý muốn nên mới phát sinh hành
động qua thân, khẩu, và ý. Tác ý có thể là thiện hay không
thiện, tức lành hay dữ, cũng có thể không lành không dữ.
Vì thế hành động là gieo nhân, mà nhân lành sẽ ra quả lành
và nhân ác sẽ ra quả ác. Tiến trình hành động và phản
hành động, tức tiến trình gieo nhân và gặt quả nối tiếp
vô cùng tận. Nhân tạo quả, quả trở thành nhân mới.
Tiến
trình của nhân và quả này là qui luật thiên nhiên, luôn luôn
biến dịch, không có ai tạo ra nó và hủy diệt nó. Một năng
lực ngoại tại hay một đấng thần linh nào đó có quyền
ban phước cho những ai ăn hiền ở lành hay trừng phạt những
ai làm điều ác, hay có quyền chuyển giao phước báu hoặc
hình phạt từ người này qua người khác, hoàn toàn không
có chỗ đứng trong Phật giáo. Người cha, dù có thương con
cách mấy cũng không thể nào thay thế cho con ở tù khi đứa
con phạm trọng tội giết người.
Trong
lịch sử Phật Giáo có rất nhiều điển tích nói lên cái
nhân quả do mình làm mình chịu, không ai có thể gánh thay
cho mình được, như sự tích bà Mục Liên Thanh Đề, thân
mẫu ngài Mục Kiền Liên. Bà Thanh Đề khi còn sống đã làm
nhiều điều độc ác, tham lam và ích kỷ, không bao giờ làm
phước, bố thí hay giúp đỡ người nghèo khổ, nên khi mệnh
chung bà phải đọa vào địa ngục A-Tỳ, làm thân ngạ quỷ,
đói khát cực khổ.
Ngài
Mục Kiền Liên, một vị đại đệ tử thần thông bậc nhất
của Phật, sau khi chứng được đạo quả, liền dùng huệ
nhãn quan sát sáu nẻo luân hồi, thấy cha đang ở c i trời
hưởng phước báu an vui, còn mẹ là bà Thanh Đề đang sống
trong cảnh giới địa ngục thân hình tiều tụy, đói khát
khổ sở.
Quá
thương xót mẹ, ngài dùng thần thông đem bát cơm dâng mẹ.
Bà Thanh Đề, vì đói lâu ngày nên khi thấy bát cơm, thì lòng
tham nổi lên sợ các quỷ đói khác dành ăn nên bà lấy tay
trái che bát cơm, tay mặt bốc ăn, cơm liền biến thành than
hồng. Ngài xót xa rơi lệ, biết mẹ mình nghiệp chướng quá
nặng, sức mình không cứu nổi, bèn đi cầu cứu với Phật.
Vâng
theo lời Phật dậy, ngài nhờ sức tâm của chư vị A La Hán,
là những bậc tu hành đạt đạo, đã thanh lọc tất cả mọi
tư tưởng ô nhiễm tham sân si, tháo gỡ xong mọi sự vướng
mắc của tâm ý thức, chấm dứt được dòng luân hồi nghiệp
báo, tâm thanh tịnh mênh mông như hư không, nên mới chuyển
hóa được tâm bủn xỉn của bà Thanh Đề. Chỉ cần một
niệm tâm chuyển hóa, ngục tù tâm tạo của bà đã tự tan
rã. Cho nên Lục Tổ nói: “Tự tánh khởi một niệm ác,
liền diệt vạn kiếp thiện nhân, tự tánh khởi một niệm
thiện, liền dứt hằng sa ác nghiệp” (Pháp Bảo Đàn Kinh).
Bao
nhiêu đó chứng tỏ rằng người con đắc đạo, thần thông
bậc nhất là do tu chứng của chính cá nhân mình không do nơi
cha mẹ và bà mẹ cũng vậy, phải gánh chịu cái quả do việc
làm của chính mình, ngay cả con bà đến cứu bà cũng không
được. Thật là rõ ràng quan niệm phúc ấm truyền đời hay
cái gọi là “đời cha ăn mặn đời con khát nước” không
có mặt trong đạo Phật.
Theo
luật nhân quả, thì quả vui hay quả khổ của người đang
thụ hưởng đều do những nhân tốt hay xấu do chính người
ấy, chứ không phải do người khác đã gieo trồng, trong kiếp
hiện tại hay trong những kiếp quá khứ. Với cái nhận thức
và tầm nhìn giới hạn của chúng ta nên chúng ta chỉ thấy
trước mặt cái quả đang trổ mà không thấy được tất
cả các nguyên nhân vi tế đã sanh quả ấy, vì các nhân ấy
không phải chỉ là những nhân đã gieo trồng trong kiếp này
mà có thể là đã được gieo trải từ nhiều kiếp trong quá
khứ. Nhà Phật gọi là nhân quả ba đời, (có nghĩa là bao
gồm nhiều kiếp trong quá khứ, kiếp hiện tại và nhiều
kiếp trong tương lai).
Sở
dĩ chúng ta phải đem ánh sáng của đạo Giác Ngộ rọi vào
những câu châm ngôn tục ngữ như câu “Đời cha ăn mặn đời
con khát nước” vì câu này không đúng với luật nhân quả. “Người
này ăn mặn mà người khác lại khát nước” !!! Chuyện đời
nay rõ ràng, ai cố gắng học hành thì được ghi tên nơi bằng
cấp, không có việc chuyển nhượng.
Quan
niệm “Đời cha ăn mặn đời con khát nước” cũng có
thể là một lời hăm dọa phát nguồn từ thế lực cầm quyền
trong xã hội cũ tại Việt Nam. Chế độ phong kiến thời xưa,
vì quyền lợi, thường có thói quen tàn ác kéo cả gia đình
phạm nhân vào một sự trừng phạt, thí dụ như án “chu di
tam tộc”, giết cả ba họ kẻ có tội với triều đình, với
mục đích khủng bố tinh thần dân chúng, để họ vì nghĩ
đến thân nhân, thương xót không muốn thân nhân mắc họa,
mà không giám chống đối lại triều đình.
Ở
đây thì vì nghĩ đến con mà không giám làm điều gì mang
họa cho con. Dọa dẫm mà có kết quả thì cũng có thể bỏ
qua được. Nhưng không có nghĩa là lời dọa đó đúng với
chánh pháp. Cũng như giết ba họ của phạm nhân để người
khác không giám phạm pháp thì chỉ là một sự trả thù tàn
nhẫn và vô lý mà thôi.
Cái
lợi của sự dọa dẫm này quá nhỏ so với cái hại: (1) Quan
niệm “đời cha ăn mặn đời con khát nước” chỉ gây cho con
cái, cái tinh thần ỷ lại vào phúc ấm tổ tiên. (2) Đời
sống đen tối thì oán trách, đổ thừa cho cha mẹ mà không
tự nhận rằng vì cái nhân xấu mình đã gây ra trong quá khứ.
(3) Con cái khá giả thì cha mẹ giành công, khoe khoang rằng
phúc đức do mình tạo. Nếu trong đám lại có những đứa
nghèo khổ thì chúng lại oán hận cha mẹ bất công, chia phúc
cho con này không cho con khác. Cha mẹ nhận công như vậy đã
gián tiếp không khuyến khích chính con cái làm điều thiện
để tạo nhân tốt cho nghiệp quả của bản thân họ. (4)
Không giải thích được những trường hợp một gia đình
có nhiều anh chị em, trong đó có người giầu sang, kẻ nghèo
khó nghiện ngập. Như vậy thì phước đức của tổ tiên
cha mẹ đã được chia cho con cái theo công thức nào? (5) Không
giải thích được trường hợp cha mẹ hiền đức như vua
Ba Tư Nặc và Mạt Lợi phu nhân mà lại sinh ra người con độc
ác là vua Lưu Ly, đang tay giết cả dòng họ Thích.
Là
Phật tử của đạo Giác Ngộ, chúng ta không tin về cái gọi
là “phúc ấm truyền thừa” hay “đời cha ăn mặn đời
con khát nước“. Bà Mục Liên Thanh Đề ăn mặn nhưng con của
bà đâu có khát nước. Chúng ta phải tin và hiểu định luật
nhân quả, phải tin tưởng nơi chính mình, chính mình tạo
nhân cũng chính mình gặt quả, phải tin vào khả năng và sự
cố gắng của chính mình trong việc hóa giải những nhân xấu
bằng những nhân tốt để cải thiện đời mình và không
ngừng làm việc tốt để tạo an lạc cho chúng sinh, làm tốt
cho cộng đồng.
Tâm
Diệu
1
Majjhima Nikaya, Cullakammavibhanga Sutta no.35. Warren, Buddhism in Translation,
p. 214
Discussion about this post