“Cha” và “mẹ” (hoặc “ba, má” hay “bố,
mẹ” ) thường là các từ đơn đầu tiên mà chúng ta bặp bẹ nói được. Điều đó có lẽ
là đương nhiên, vì người dạy cho chúng ta những tiếng đầu tiên thiêng liêng ấy,
đâu ai khác ngoài Cha Mẹ chúng ta. Những âm đầu tiên đó, chúng ta phát ra đâu được
tròn trịa là “bố” “mẹ” đâu, mà chỉ là những chuỗi âm tương tự mà thôi. Và, dù
là chẳng biết mình phát ra những âm gì, ý nghĩ thế nào, nhưng sau khi lặp lại
xong thì cười rất vui, rất sung sướng…Rồi cứ thế, “bố, mẹ” theo ta trong mọi
hoàn cảnh sống. Hai tiếng ấy quá gần gũi, quá thân thương, để rồi chúng ta cảm
nhận đó như điều tự nhiên, thậm chí đôi khi quên đi sự tồn tại ấy.
Từ thuở ấu thơ, khi bị té ngã, hay
bị chúng bạn trêu chọc, người mà chúng ta liền gọi hoặc méc (mách) không ai
khác ngoài Cha Mẹ của chúng ta. Và, Cha Mẹ luôn ở vị trí số một trong lòng ta, trong
bất cứ hoàn cảnh nào. Như thế, dù chưa hiểu biết nhiều, nhận thức còn chưa được
là bao, nhưng lúc ấy chúng ta đã ý thức được Cha Mẹ là người có thể bảo bọc, chở
che chúng ta. Hay nói cách khác, với trẻ thơ, Cha Mẹ là cả bầu trời. Đúng thật
như thế, Cha Mẹ có thể vì chúng ta mà làm tất cả, quản gì khó nhọc hy sinh. Rồi
chúng ta dần lớn lên trong tình yêu thương không bờ bến ấy. Mặc thời gian không
ngừng trôi, không gian có đổi dời, và chúng ta có thế nào đi nữa, thì tình
thương của Mẹ Cha vẫn mãi tràn đầy…
Tiếng “mẹ” “cha” ôi sao quá giản dị,
quá mộc mạc. Thế nhưng, ẩn chứa bên trong sự mộc mạc, giản dị ấy là cả tình yêu
thương bao la, là sự hy sinh bất tận, là niền vui nỗi buồn, là cả cuộc đời của
Mẹ của Cha.
Từ lúc chúng ta hình thành trong bụng
Mẹ, là chuỗi ngày Cha Mẹ đứng ngồi không yên. Phần vì hạnh phúc lớn lao khi được
làm Cha Mẹ; phần vì lo lắng mọi bề… Suốt chín tháng giữ gìn thai giáo, việc uống
ăn đi đứng Mẹ nào được như ý; Cha thì chăm mẹ chăm “con”, mong cho đến lúc
vuông tròn cả hai. Rồi đến thời lâm bồn Mẹ khổ, chịu đau đớn trăm phần mê mỏi,
thậm chí tính mạng Mẹ có thể gặp nguy; Cha thời xót vợ thương con, nhưng trong
cảnh chẳng thể giúp gì được, cảm giác “bất lực” ấy cũng đau không kém. Đau đớn
là thế, nhưng khi nghe được mẹ con đều khỏe mạnh, thì bao sự đau sự khổ liền đều
biến tan, thay vào đó là niềm hạnh phúc vui sướng khôn tả rõ. Đó chính là sức mạnh
của tình yêu thương, là tấm lòng của bậc làm cha mẹ.
Cùng với niềm vui sướng hạnh phúc khi
con cất tiếng khóc chào đời, cũng là lúc Cha Mẹ bắt đầu những tháng ngày vất vả
nuôi con. Vì cho con ăn no mặc ấm, dẫu mình mang nghiệp cũng cam. Miễn con ăn học
nên người, thức khuya dậy sớm Cha thời xá chi. Để con có cuộc thanh nhàn, Mẹ
thân phụ nữ chẳng màng chuốt chau… Sự hy sinh ấy, ngoài Cha Mẹ chúng ta ra ai
làm được? Thế nên trong kinh Báo Đáp Công Ơi Cha Mẹ có dạy: “Ơi cha nghĩa mẹ
sánh bằng Thái Sơn”. Thái Sơn to lớn thế nào không cần rõ, nhưng chúng ta phải
biết là, vì con cái mà Cha Mẹ ta hy sinh tất cả, điều đó lớn lao cao cả chừng
nào? Biết được điều đó, dù trong cuộc sống có bất kỳ biến cố nào, chúng ta cũng
không bao giờ quên nghĩa Mẹ công Cha.
Khi chúng ta cắp sách đến trường,
chữ a, b, c Cha Mẹ cùng ta học. Con điểm mười Cha Mẹ còn vui hơn. Bao vất vả bộn
bề cuộc sống, cũng chẳng bằng con Cha Mẹ giỏi ngoan (con ngoan trò giỏi). Có sá
gì nắng sớm mưa chiều, quản ngại chi vai gầy gánh nặng; miễn cho con được như bạn
bằng bè. Rồi đến lúc con vào đời lập nghiệp, cũng không ngừng dõi theo bước con
đi. Con thành công Cha Mẹ – người vui nhất; lỡ vấp ngã trên đường đời trắc trở,
nơi con về nương tựa chỉ có Mẹ và Cha. Dẫu vui buồn tranh đua nơi thế cuộc, Cha
Mẹ già vẫn xót dạ thương con… Nhưng thế gian cũng lắm hạng người, dù làm Cha
Mẹ con thơ chẳng màng. Những người như thế nghiệp mang, sống trong “địa ngục”,
thác sanh tam đồ[1].
Còn trên bình diện rộng chung, công Cha nghĩa Mẹ non xanh khó bằng.
Ấy thế mà, được bao lần chúng ta
nhìn lại, sự hiện hữu nhiệm màu của Mẹ Cha bên ta. Hay chỉ nghĩ đó là điều tất
yếu, mà quên rằng Cha Mẹ cũng có khoảng trời riêng. Giờ nghĩ lại ta thấy mình
quá lỗi, khi chỉ biết Cha Mẹ phải vì ta. Chẳng thế mà trong kinh[2]
có nói, chúng ta là: “Mười phần mê muội
cả mười, không tường ơn trọng đức dày song thân.” Thật vậy, nếu đọc
qua hiểu thấu kinh này, chúng ta liền thấy mình sao quá đỗi nhẫn tâm, làm cho
Cha Mẹ bao phen lo buồn. Vậy mà chẳng biết chẳng thương, lại còn cho đó chuyện
thường xưa nay. Tội bất hiếu vì đây khó tránh. Thế nên, mau mau y pháp mà hành,
một lòng hiếu Mẹ thuận Cha, để mai con cháu nhìn ta mà làm.
Cha Mẹ già xớm khuya thăm hỏi, cơm
canh bày sẵn một lòng kính dâng. Nếu chẳng vui thì nên nhớ lại, lúc chúng ta còn
thuở thiếu thời, bón cơm bú mớm song thân nào phiền. Lúc ốm đau tay nâng tay đỡ,
đừng cậy tiền người khác làm thay; chúng ta có được ngày nay, một tay Cha Mẹ chăm
lo ắm bồng, bao công dựng xây đắp bồi. Hơn nữa, Cha Mẹ đâu mãi sống đời, thế
nên lựa ý chọn lời dạ vâng. Từ vật chất đến tinh thần, coi sao báo được thù ân
thì làm. Kẻo mai Cha Mẹ mất rồi, có ngồi hối hận hiếu con chưa tròn, thì lúc đó
nào còn kịp nữa. Nên y theo Vu Lan Bồn pháp, cùng kinh Báo Đáp Công Ơi Cha Mẹ,
vào rằm tháng bảy hàng năm, sắm sanh lễ vật cúng dường chư Tăng, đặng cầu nguyện
song đường mạnh khỏe, thọ trường; nếu thác rồi về cảnh an vui…
Có thể nói, với Cha Mẹ con cái là cả
cuộc đời. Điều này nếu ai đã làm Cha là Mẹ, từng trải qua những cung bậc vui buồn
vì con rồi, thì mới hiểu rõ tấm lòng Cha Mẹ. Cũng có nghĩa, nếu chưa từng sanh
con nuôi dưỡng con cái, thì cả đời sẽ chẳng bao giờ hiểu hết được những khó nhọc
và tình thương cao cả ấy. Thế nên, chúng ta sống trong văn hóa đạo đức Việt, ít
nhất phải tạc dạ ghi lòng:
CÔNG CHA NHƯ NÚI THÁI SƠN
NGHĨA MẸ NHƯ NƯỚC TRONG NGUỒN CHẢY RA
MỘT LÒNG THỜ MẸ KÍNH CHA
CHO TRÒN CHỮ HIẾU MỚI LÀ ĐẠO CON.
Vĩnh Nghiêm, Vu Lan năm 2011
Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam
[1]
Hay còn nói “tam đồ ác đạo”: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
[2]
Kinh Báo Đáp Công Ơi Cha Mẹ
Discussion about this post