ĂN CHAY ĐỂ CHỐNG LẠI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU
TS. Nguyễn Thọ Nhân
Hiện
nay, vấn đề Bảo vệ Môi trường đang rất được quan tâm
ở khắp các nước trên thế giới. Bảo vệ Môi trường để
có một thế giới tốt lành trong đó con người được phát
triển hài hòa là điều mong ước của nhân loại.
Nhưng
từ vài thập niên trở lại đây, các nhà khoa học còn phát
hiện ra một hiện tượng mà các hệ lụy đã bắt đầu tác
động lên đời sống của tất cả chúng ta: đó là hiện
tượng biến đổi khí hậu.
Những
hệ lụy ấy thật muôn hình muôn vẻ nhưng loài người đã
bắt đầu cảm nhận được sức tàn phá của chúng ngày một
tăng cao.Khoa học đã phát hiện và đánh giá mức độ nghiêm
trọng của hiện tượng biến đổi khí hậu trong hiện tại
cũng như từ lâu chúng ta đã cảm nhận được các tác hại
của việc môi trường bị hủy hoại. Nếu không có những
tác động tích cực để bảo vệ môi trường và giảm thiểu
các tác nhân gây biến đổi khí hậu, thì trong tương lai,
con cháu chúng ta phải gánh chịu những hậu quả vô cùng to
lớn.
Đứng
trước một vấn đề cấp bách và nghiêm trọng ở tầm cỡ
này, toàn thể cộng đồng quốc tế đã vào cuộc để tìm
hiểu nguyên nhân và diễn biến của hiện tượng biến đổi
khí hậu nhằm tìm ra những biện pháp ứng phó và giảm thiểu
các tác nhân gây hại. Liên Hiệp quốc, qua hai cơ quan chuyên
môn của mình là Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương
trình Môi trường của Liên Hiệp quốc (UNEP) đã cho thành
lập Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC)
năm 1988. IPCC tập hợp được các chuyên gia hàng đầu trên
thế giới trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến biến
đổi khí hậu và đã công bố 4 báo cáo đánh giá tình hình
biến đổi khí hậu trên thế giới vào những năm 1990, 1995,
2001 và 2007. Tất cả các báo cáo ấy đều được đánh giá
rất cao và được các nhà khoa học trên thế giới công nhận
như những tài liệu chính thức về biến đổi khí hậu. Ngay
sau khi cho công bố báo cáo lần thứ tư năm 2007, IPCC được
trao giả thưởng Nobel Hòa bình (cùng với cựu phó tổng thống
Mỹ Al Gore) về các hoạt động của mình.
Biến đổi
khí hậu và các hệ lụy của nó
Một
trong những kết luận quan trọng của các báo cáo IPCC là các
biến đổi khí hậu hiện nay đều có xuất xứ từ các hoạt
động của con người . Thật vậy, các tác nhân chính gây
biến đổi khí hậu là những khí thải nhà kính như đioxit
cacbonic (CO2), mêtan (CH4), oxit nitrơ (N2O)…Người ta nhận thấy
nồng độ của các chất khí ấy trong khí quyển đã tăng
lên đột biến từ khoảng 250 năm trở lại đây tức là từ
khi bắt đầu kỷ nguyên công nghiệp hóa mà khởi điểm là
khoảng năm 1750. Đi kèm với việc gia tăng nồng độ của
các khí thải nhà kính là các hiện tượng biến đổi khí
hậu mà đặc trưng nhất là việc gia tăng nhiệt độ trái
đất với những hệ lụy quan trọng của nó. Những biểu
hiện của hiện tượng biến đổi khí hậu còn gồm có:
– Mực
nước biển dâng cao khi các tấm băng ở hai cực tan dần,
– Lượng
mưa thay đổi thất thường, nhiều vùng trên thế giới sẽ
có hạn hán kéo dài, nhiều vùng khác lại bị lũ lụt trầm
trọng
– Lưu
lượng nước trên các sông ngòi thay đổi thất thường ,
khi thì quá cao trong mùa mưa và khi thì quá thấp trong mùa khô
-Các
hiện tượng cực đoan như bão, lũ sẽ tăng cao cả về tần
suất và về cường độ.
Dựa
trên những mô hình tính toán, các báo cáo của IPCC cũng dự
báo các hiện tượng biến đổi khí hậu trong tương lai và
đề ra những biện pháp để ứng phó và giảm thiểu các
tác nhân gây biến đổi khí hậu. Người ta cũng nhận thấy
rằng dù con người có cố gắng đến đâu đi nữa thì cũng
chỉ có thể làm yếu đi phần nào các hiện tượng biến
đổi khí hậu, các hiện tượng này sẽ kéo dài trong nhiều
thế kỷ, thậm chí nhiều thiên niên kỷ.
Trong
số các biện pháp đề ra, người ta thường nhắc đến Nghị
định thư Kyoto. Đây là một lời cam kết của phần lớn
các nước trên thế giới là sẽ giảm lượng phát tán ra
không trung của 6 loại khí thải nhà kính mà quan trọng nhất
là khí CO2. Nếu thực hiện được các cam kết này, người
ta hy vọng là đến giữa thế kỷ 21 nồng độ khí CO2 trong
không trung sẽ ổn định ở một giá trị vừa phải và các
hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ giảm đi được phần
nào.
Các
tiến bộ nhận thấy được giữa các kỳ công bố của những
báo cáo IPCC có nguồn gốc từ việc các nhà khoa học ngày
càng hiểu rõ hơn các hiện tượng vật lý gây ra biến đổi
khí hậu từ đó đề ra những khuyến cáo cần thiết. Các
khuyến cáo chủ chốt nhắm vào việc giảm hay ngừng hẵn
việc phát tán ra không trung các khí thải nhà kính, đặc biệt
là khí CO2. Vì ngành chăn nuôi gia súc để lấy thịt là một
nguồn phát tán khí thải nhà kính quan trọng cho nên có thể
nói rằng giảm lượng thịt tiêu thụ trong các bữa ăn
trên khắp thế giới là một biện pháp hữu hiệu.
Hiệu ứng
nhà kính và các khí thải nhà kính
Trái
đất của chúng ta nhận năng lượng nhiệt từ mặt trời
qua bức xạ chiếu xuống mặt đất. Khoảng 70% năng lượng
này được hấp thụ để làm cho mặt đất ấm lên, 30% còn
lại bị phản chiếu trở lại không gian (hình 1). Nhưng vì
trái đất phát ra tia bức xạ hồng ngoại ở bước sóng dài
nên phần lớn năng lượng bị giữ lại trong các lớp khí
đã tích tụ trong khí quyển, nhiệt độ của trái đất vì
thế mà còn cao hơn so với khi không có các khí này trong khí
quyển. (hình 2). Đây là hiện tượng nhà kính giống như trong
các nhà kính mà những người làm vườn trồng hoa quả ở
các nước ôn đới sử dụng để giữ ấm cây trồng khi nhiệt
độ bên ngoài xuống quá thấp. Từ hàng nghìn năm, các khí
thải từ những nguồn thiên nhiên phát ra đã tích tụ trong
không trung và đạt đến một nồng độ ổn định, giữ cho
trái đất có một nhiệt độ trung bình khoảng 15oC phù hợp
với đời sống con người. Nếu không có hiện tượng này,
năng lượng nhiệt nhận được từ mặt trời sẽ thoát đi
một phần và nhiệt độ trái đất lúc ấy chỉ là -18oC theo
các tính toán. Nhưng khi nồng độ của các chất khí ấy lên
quá cao thì năng lượng được giữ lại sẽ nhiều hơn và
trái đất sẽ ấm lên.
Người
ta đã bắt đầu đo nhiệt độ trái đất từ đầu thế kỷ
19 và nhận thấy rằng nhiệt độ này càng ngày càng tăng
(hình 3). Qua các tính toán với những kịch bản khác nhau,
người ta có thể dự đoán nhiệt độ trái đất vào cuối
thế kỷ 21 và xa hơn nữa (hình 4). Các báo cáo của IPCC cho
thấy rằng trong 50 năm vừa qua, nhiệt độ trái đất tăng
0,13oC mỗi thập kỷ nghĩa là gấp hai lần mức tăng trung bình
trong 100 năm trở lại đây.
Trên
hình 4, ta thấy rằng tùy theo từng kịch bản mà đến cuối
thế kỷ 21 nhiệt độ trái đất có thể tăng hơn cuối thế
kỷ 20 1,8oC (trường hợp lạc quan nhất) hay thậm chí 4oC (trường
hợp xấu nhất).
Một
minh chứng rõ rệt cho việc trái đất ấm dần lên là hiện
tượng tan băng ở hai cực của trái đất và ở nhiều vùng
phủ băng tuyết như Greenland hay vùng Patagonia ở Nam Mỹ (hình
5).Một hậu quả của việc tan băng này là hiện tượng mực
nước biển dâng cao, Người ta thấy rằng giữa các năm 1870
và 2001, nước biển đã dâng cao 20cm. Giữa năm 1993 và 2006,
các vệ tinh đo đạc cho thấy nước biển đã dâng cao 3,1
mm (hình 6).
Khi
so sánh với sự gia tăng nồng độ các khí thải nhà kính
trong khí quyển, người ta có thể kết luận rẳng chính việc
phát tán ra không trung các khí thải nhà kính như CO2 và mê
tan là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu (hình 7 và 8). Trên
hình 7 ta thấy chỉ từ khi bắt đầu thời kỳ công nghiệp
hóa, nồng độ CO2 mới tăng lên đáng kể. Nồng độ này
vào năm 1750 chỉ là 280 ppm (ppm= một phần triệu) đến năm
2005 đã lên đến 379 ppm, tức là khoảng 3000 tỷ tấn CO2 hiện
có trong khí quyển. Từ năm 2000 đến năm 2005, lượng CO2 trong
không trung tăng 26,4 triệu tấn mỗi năm. Đến năm 2100 người
ta cố đạt đến một nồng độ trung bình 450 ppm còn nếu
không có các biện pháp giảm thiểu, nồng độ này có thể
lên trên 950 ppm. Cũng tương tự như thế, nồng độ khí mêtan
tăng từ 600 ppb (ppb=một phần tỷ) vào thời kỳ bắt đầu
công nghiệp hóa lên 1744 ppb vào năm 2005 (tương đương với
4932 triệu tấn mê tan trong khí quyển).
Để
đánh giá khả năng gây biến đổi khí hậu của các loại
khí thải nhà kính khác nhau, người ta thường quy về lượng
CO2 tương đương.Thí dụ như khí mê tan, mặc dù nồng độ
của nó trong khí quyển không đáng kể, nhưng tác động của
mỗi phân tử mêtan quan trọng gấp 21 lần một phân tử CO2.
Các
nỗ lực của khoa học kỹ thuật hiện nay nhắm tới mục
tiêu giảm lượng khí thải nhà kính phát tán ra không trung
và tìm cách giảm việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch
như than, dầu mỏ qua việc thay thế chúng bằng những nhiên
liệu ít phát tán CO2 (năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng
lượng….) Trên hình 9, người ta thấy nông nghiệp mà chủ
yếu là chăn nuôi cũng tạo ra một lượng khí thải nhà
kính quan trọng vì thế cho nên việc giảm các súc vật nuôi
lấy thịt là một biện pháp hữu hiệu.
Ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu
trên lương
thực, dinh dưỡng
Biến
đổi khí hậu sẽ làm giảm sản lượng lương thực trên
thế giới và tạo ra các cơn khủng hoảng lương thực trầm
trọng.
Khi
nồng độ khí CO2 trong không khí tăng lên thì năng suất của
một số thực vật gọi là C3 như lúa, lúa mì, đậu nành,
khoai tây, rau …tăng lên nhiều hơn các thực vật C4 như bắp,
mía , kê, lúa miến. Tuy nhiên chất lượng của chúng có phần
giảm đi, thí dụ như hàm lương can xi, tinh bột trong hạt
gạo thay đổi cũng như nhiệt độ gelatin hóa của nó.
Nhiệt
độ không khí có ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng
vì các loại cây lương thực hiện nay đã thích nghi với nhiệt
độ bình thường, sự tăng hay giảm nhiệt độ sẽ làm giảm
năng suất của chúng. Người ta dự đoán rằng, với việc
trái đất ấm dần lên năng suất nông nghiệp ở các nước
đang phát triển sẽ giảm đi từ 9 đến 21%, trong khi ở các
nước phát triển năng suất chỉ giảm 6%. Theo báo cáo Stern
của chính phủ Anh quốc, nếu nhiệt độ trái đất tăng lên
3oC, giá lương thực trên thế giới sẽ tăng 40%và ở vùng
nhiệt đới sẽ có từ 100 đến 500 triệu người thiếu đói.
Các
hiện tượng cực đoan như nắng nóng, rét đậm rét hại,
bão lũ cũng làm cho sản xuất lương thực bị ảnh hưởng.
Trong đợt nắng nóng vào mùa hè năm 2003, sản lượng bắp
ở Pháp đã giảm đi 20% so với năm 2002 còn sản lượng hoa
quả giảm 25%.
Một
ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu đến sản xuất
lương thực xảy ra khi mực nước biển dâng cao. Người ta
tính rằng vào năm 2100, mực nước biển sẽ cao hơn mực nước
năm 2000 là 0,48 m trong trường hợp tốt nhất (nồng độ CO2
khí quyển là 450 ppm) và là 0,96 m trong trường hợp xấu (nồng
độ khí CO2 là 950 ppm) Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới
năm 2007, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng xấu
nhất của hiện tượng mực nước biển dâng cao (hình 10).
Khi
mực nước biển dâng cao 1m, trong số 5 nước nêu trên thì
Việt Nam bị thiệt hại nhiều nhất về số dân bị ảnh
hưởng (gần 11%), về giá trị GDP bị giảm (11%). về diện
tích các đô thị bị ngập (10%) và về diện tích các vùng
ngập nước ngập mặn đã bị mất đi. Về tỷ lệ đất
nông nghiệp bị mất (7%) Việt nam chỉ ít hơn Ai Cập (13%).
Sản lượng nông nghiệp của ta sẽ bị giảm đi khoảng 5
triệu tấn thóc.
Một
nguyên nhân có liên quan đến biến đổi khí hậu và làm cho
an ninh lương thực trên thế giới bị tổn hại: đó là việc
nhiều quốc gia chuyển một phần đất trồng cây lương thực
thành đất trồng cây sản xuất nhiên liệu sinh học. Một
khi không đủ lương thực thì người ta phải chấp nhận sự
suy giảm về mặt dinh dưỡng.
Cộng
đồng quốc tế hiện nay đang tìm các biện pháp giảm thiểu
các khí thải nhà kính, đặc biệt là thành phần quan trọng
nhất, khí CO2. Các khí khác như mê tan, oxit nitrơ cũng được
để ý đến nhiều và người ta thường quy các khí thải
nhà kính vào CO2 để có khí CO2 tương đương (CO2e). Mặc dù
lượng mê tan trong không trung ít hơn nhiều so với lượng
CO2 nhưng tác động của nó để gây ra biến đổi khí hậu
lại lớn hơn nhiều, một phân tử mêtan gây ảnh hưởng trên
khí hậu gấp 21 lần một phân tử CO2. Đối tương mà khoa
học nhắm đến trước hết là các nhiên liệu hóa thạch
(than, dầu mỏ…) vì chúng tạo ra nhiều khí thải nhà kính.
Ngành chăn nuôi súc vật để lấy thịt cũng là một nguồn
tạo ra khí thải nhà kính quan trọng cho nên việc giảm thiểu
các loại gia súc cũng là một biện pháp hữu hiệu.
Tổng quan
về ngành chăn nuôi trên thế giới
Ngành
chăn nuôi súc vật để lấy thịt dùng cho bữa ăn đang phát
triển rất nhanh chóng nhất là ở những nước đang phát triển.
Lượng thịt sản xuất trên thế giới tăng lên rất nhanh
trong những năm cuối của thế kỷ 20:
Năm
……. Sản lượng thịt (triệu tấn)
1950
………. 45
1980
………. 73
1990
………. 170
1997
………. 210
1999
………. 217
2000
………. 233
2002
………. 239
2006
………. 276
Từ
năm 1950 đến năm 2000, lượng thịt sản xuất trên thế giới
đã tăng từ 45 triệu tấn lên 233 triệu tấn tức là khoảng
5 lần trong khi dân số trên thế giới chỉ tăng gấp đôi,
từ 2,7 tỷ lên 6,7 tỷ người. Lượng thịt tiêu thụ hàng
năm tính theo đầu người ở các nước đang phát triển tăng
lên từ 14 đến 28 kg giữa các năm 1980 và 2002, con số tương
ứng ở các nước phát triển là 73 và 78 kg, sản lượng thịt
trên toàn thế giới tăng từ 73 triệu tấn lên 239 triệu tấn..
Thịt từ các súc vật thuộc loài nhai lại (trâu, bò, dê cừu)
tăng ít hơn thịt heo,gà, vịt. Trên hình 11, ta thấy có những
thay đổi rất lớn về lượng thịt tiêu thụ hàng năm của
mỗi người dân ở một số nước.
Ngành
chăn nuôi gia súc để lấy thịt không những tạo ra những
lượng khí thải nhà kính quan trọng gây biến đổi khí hậu
trong tương lai mà trước mắt nó còn là một nguồn gây ô
nhiễm môi trường quan trọng.
Ngành chăn
nuôi lấy thịt gây ô nhiễm môi trường
Chăn
nuôi là một ngành gây ô nhiễm môi trường rất lớn.
Ô
nhiễm không khí : những chất khí như mêtan, ammônhác… bay
ra từ các chất thải và phân súc vật gây ô nhiễm trầm
trọng chung quanh các trại chăn nuôi lớn
Ô
nhiễm nguồn nước: những chất thải ra từ các trại chăn
nuôi vào các nguồn nước có thể là ni tơ (dưới dạng ammônhác,
Nitơ phân tử, các nitrát,…). 64% lượng ammônhác do con người
tạo nên là từ chăn nuôi. Ammônhac trong không khí sẽ gây
ra những trận mưa axit rất tai hại. Nitrát là một chất có
hại cho sức khỏe con người nhất là trẻ em nếu uống nước
có lẫn các nitrat. Phốtpho có trong phân súc vật thải vào
các nguồn nước cũng là một chất gây ô nhiễm, tuy không
độc như ni tơ. Trong một tài liệu của Tổ chức Lương Nông
quốc tế năm 2004, người ta đã xác định lượng nitơ và
phốt pho chảy vào biển Đông từ Việt Nam, Thái Lan và tỉnh
Quảng Đông (Trung quốc) có nguồn gốc từ việc chăn nuôi
heo. Riêng đối với Việt Nam, các ô nhiễm Nitơ và Phốt pho
từ việc nuôi heo chiếm 38 và 92% của tổng lượng trong các
nguồn nước, trong khi tỷ lệ đóng góp của các loại nước
thải gia đình chỉ là 12 và 5%.
Các
loại vi sinh vật và ký sinh trùng thải ra từ phân, rác chăn
nuôi cũng là một hiểm họa lớn cho sức khỏe con người.
Ngoài
ra ngành chăn nuôi còn thải vào các nguồn nước uống những
kháng sinh, hoóc môn tăng trọng đã được đưa vào thức ăn
gia súc. Ngoài các tác động đến môi trường của những
phân, rác trong chăn nuôi thì các khâu giết mổ, thuộc da …cũng
đều gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các kim loại
nặng do súc vật thải ra sau khi ăn các thực phẩm có trộn
thuốc chữa bệnh hay thuốc tăng trọng cũng có hại cho sức
khỏe con người.
Một
tác động lớn đến môi trường của ngành chăn nuôi là việc
chiếm giữ tài nguyên nước, đặc biệt quan trong ở các vùng
khô cằn. Ngành chăn nuôi cần rất nhiều nước, sử dụng
8% lượng nước do con người khai thác không những để cho
súc vật uống (nước chiếm từ 60 đến 70% trọng lượng
cơ thể) mà còn trong việc trồng cây thực phẩm cho súc vật.
Trên thế giới, 90% đậu nành được dùng làm thức ăn gia
súc. Nếu để sản xuất 1kg bắp người ta chỉ cần 900 lít
nước thì muốn có 1kg thịt bò, lượng nước cần dùng lên
đến 15500 lít.
Ngành
chăn nuôi cũng chiếm giữ rất nhiều diện tích đất để
làm các đồng cỏ và để trồng các cây thực phẩm cho súc
vật. Đất làm đồng cỏ chiếm đến 26% diện tích đất
trên thế giới không bị băng tuyết bao phủ, đất trồng
thức ăn chăn nuôi chiếm 33% đất trồng trọt được trên
thế giới. Khoảng 70% rừng vùng Amazon đã bị phá để dùng
cho chăn nuôi.
Thịt là
một sản phẩm sử dụng không hợp lý
Thịt
là một loại prôtêin cao cấp nhưng việc sản xuất ra nó
tỏ ra rất lãng phí. Người ta tính rằng, hiện nay trên thế
giới 1/3 ngũ cốc được dùng làm thức ăn trong chăn nuôi
cũng như 90% sản lượng đậu nành. Để có được 1kg thịt
bò người ta cần 10 kg ngũ cốc làm thức ăn cho chăn nuôi,
1 kg thịt heo cần từ 4 đến 5,5 kg ngũ cốc, 1 kg thịt gia
cầm cần 2,1 đến 3 kg ngũ cốc.
Phải
sử dụng từ 7 đến 16 kg đậu nành để tạo ra 1 kg thịt
do đó người ta đã lãng phí 90% prôtêin, 99% hydratcacbon và
100% chất xơ là những chất cần cho sức khỏe con người.
Nếu chỉ trồng rau, quả, ngũ cốc cho người ăn thì 1 hécta
đất có thể nuôi 30 người trong khi nếu sử dụng đất để
trồng thức ăn cho chăn nuôi để sản xuất ra thịt, trứng,
sữa thì 1 hécta chỉ nuôi được từ 5 đến 10 người dân.
Tác
động quan trọng nhất của ngành chăn nuôi trên biến đổi
khí hậu là việc thải ra nhiều khí nhà kính trong quá trình
sản xuất thịt.
Ngành chăn
nuôi tạo nhiều khí thải nhà kính
gây biến
đổi khí hậu
Chăn
nuôi là một ngành tạo ra nhiều khí thải nhà kính trong rất
nhiều khâu, phá rừng để dành đất trồng trọt các thức
ăn cho gia súc, sản xuất phân đạm, sử dụng nhiên liệu
trong các máy nông nghiệp…. Các gia súc thuộc loài nhai lại
còn phát ra khí mê tan qua việc tiêu hóa trong ruột của chúng
và phân súc vật nếu không được ủ kín sẽ cho thoát mêtan
và oxit nitrơ ra không trung. Trên hình 12, người ta biểu thị
lượng khí CO2 tương đương (tính bằng kg) phát tán ra cho
mỗi kg thành phẩm như lúa gạo, thịt, len cừu….
Hiện
nay, ngành nông nghiệp tạo ra 22% khí thải nhà kính trong lượng
khí thải tổng cộng phát tán ra không trung. Trong số đó,
chăn nuôi đóng góp đến 80%, nghĩa là ngành chăn nuôi tạo
ra 18% tổng lượng khí thải nhà kính. Trong lượng khí thải
này có 9% là CO2, 37% là mêtan và 65% là oxit nitrơ. Nếu mêtan
mạnh gấp 21 lần CO2 trong việc gây ra biến đổi khí hậu
thì oxit nitrơ còn mạnh gấp 296 lần. Năm 2007, một nhà nghiên
cứu người Nhật đã tính rằng để có 1 kg thịt bò người
ta đã cho thoát ra không trung 36,4 kg khí CO2 tức là tương đương
với việc lái xe liên tục trong 3 tiếng đồng hồ đồng thời
quên tắt đèn trong nhà hay cũng tương đương với việc thắp
một bóng đèn 100 watt trong 20 ngày. Khí thải nhà kính có nguồn
gốc từ ngành chăn nuôi còn nhiều hơn khí thải nhà kính
có nguồn gốc từ mọi phương tiện giao thông trên thế giới
(xe cộ đường bộ, hàng không …) chỉ là 14%.
Hình
13 cho thấy tỷ lệ khí thải nhà kính phát ra từ các khâu
có liên quan đến chăn nuôi.
Trước
hết là khí mê tan sinh ra trong tiêu hóa của các loài nhai lại.
(86 triệu tấn/ năm). Trong dạ dày của chúng, hiện tượng
lên men vi sinh biến các chất xơ thành những sản phấm hấp
thụ được trong ruột, mê tan là một chất thải tiêu hóa
sẽ bị tống ra ngoài.
Phân
súc vật khi phân hủy trong môi trường yếm khí cũng phát
ra khí mê tan (18 triệu tấn mỗi năm). Người ta có thể sử
dụng phân súc vật để tạo ra khí sinh vật trong các hầm
ủ hay bể tiêu hóa. Phân súc vật còn cho thoát ra một lượng
lớn oxit nit rơ (khoảng 3,6 triệu tấn/năm).
Khí
CO2 phát tán ra không trung có nguồn gốc từ chăn nuôi có thể
là:
CO2
phát sinh trong việc sản xuất phân đạm để bón cho các loại
cây dùng làm thức ăn gia súc. Phần lớn khí này phát ra từ
các nhiên liệu hóa thạch như khí đốt (hay than đá) dùng
trong công nghiệp chế biến ammônhác. Người ta tính rằng
khí CO2 phát ra trong khâu này khoảng 41 triệu tấn/năm.
CO2
phát sinh trong việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản
xuất thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu… trong máy
móc nông nghiệp, trong vận chuyển, cày cấy, gặt hái, trong
tưới tiêu …Tổng lượng CO2 phát ra khoảng 90 triệu tấn/năm.
CO2
từ việc sử dụng đất cho chăn nuôi, thí dụ như phá rừng
để cải tạo thành đồng cỏ, đất trồng trọt cây thực
phẩm gia súc, bón phân chuồng để trồng lúa nước…Người
ta ước tính lượng CO2 phát ra trong khâu này lên đến 2,4
tỷ tấn/năm. Thay đổi việc sử dụng đất cũng làm phát
tán ra không trung khoảng 28 triệu tấn CO2 còn hiện tượng
sa mạc hóa do chăn nuôi cũng phát tán ra không trung 100 triệu
tấn khác mỗi năm.
CO2
thoát ra không trung qua hiện tượng thở của súc vật tuy rất
lớn (khoảng 3 tỷ tấn) nhưng vì các loại thực vật chúng
ăn vào đã hình thành bằng cách rút CO2 từ khí trời cho nên
trong nghị định thư Kyoto, người ta không tính đến lượng
khí thải này, đây chỉ là chu kỳ tuần hoàn của CO2 trong
thiên nhiên mà thôi.
Giảm số
lượng súc vật chăn nuôi để chống lại biến đổi khí
hậu
Các
khí thải nhà kính là nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng
biến đổi khí hậu. Hiện tượng này chỉ có càng ngày càng
trầm trọng, ít ra cũng trong nhiều thế kỷ tới. Ngành chăn
nuôi là một trong những nguồn phát ra khí thải nhà kính quan
trọng, cho nên một biện pháp hữu hiệu là giảm số lượng
súc vật chăn nuôi và giảm lượng thịt tiêu thụ trong các
bữa ăn.
Tháng
8 năm 2008, tiến sĩ Rajendra Pachauri, chủ tịch Ủy ban Liên
Chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC, người đã thay mặt
Ủy ban nhận giải thưởng Nobel đã lên tiếng khuyên người
ta nên ăn ít thịt để góp phần vào việc bảo vệ môi trường
và chống lại biến đổi khí hậu. Ông đưa ra những con số
rất hùng hồn là một người ăn chay trong 70 năm đã giảm
được 100 tấn khí CO2 tung ra không trung và chỉ cần ăn chay
mỗi tuần một ngày thì một người dân châu Âu có thể làm
giảm đi 170 kg CO2 trong một năm. Chính tiến sĩ Pachauri đã
ăn chay từ 10 năm nay và cho là đã giảm được 12 tấn CO2.
Có
lẽ không cần ăn trường chay nhưng ăn ít thịt đã là một
đóng góp của mỗi người trong công cuộc chung của nhân loại
nhằm tránh các hệ lụy của biến đổi khí hậu.
TS.
Nguyễn Thọ Nhân
Viện
Năng lượng Nguyên tử Quốc gia (Hội Dinh dưỡng Việt Nam)
Discussion about this post