
TỪ
TƯỢNG VUA LÝ Ở HÀ NỘI
ĐẾN TƯỢNG ĐÀI BỒ TÁT THÍCH QUẢNG
ĐỨC Ở TP. HỒ CHÍ MINH
Trí Tánh Đỗ Hữu Tài
Mới
đây, trong dịp về thăm Hà Nội, tôi và hai người bạn Mỹ
được một bạn Phật tử, dân Hà Nội chính gốc, dẫn đi
thăm tượng đài vua Lý Thái Tổ ở gần bờ hồ Hoàn Kiếm.
Tượng cao trong một không gian thoáng rộng, dáng hùng vĩ và
nét mặt quắc thước nhưng vẫn đậm nét đôn hậu vương
giả. Tuy không có dữ kiện lịch sử để xác định khuôn
mặt của nhà vua ra sao nhưng, theo tường tượng chủ quan của
tôi, điêu khắc gia đã lột tả được hình ảnh hùng tráng
mà nhân hậu của vị vua gốc nhà chùa sáng lập ra triều
Lý. Nhất là vị vua đó đã có viễn kiến nhân văn để thiên
đô từ Hoa Lư về Thăng Long cách đây sắp được 1000 năm.
Chỉ
đáng tiếc, và buồn, một điều: Ngoài phần khắc tên “Lý
Thái Tổ” và năm sinh và năm mất “974 – 1028” dưới
chân tượng, trong toàn bộ quần thể kiến trúc to lớn và
trang trọng đó của tượng đài, không có một bảng chỉ
dẫn nào ghi chú xem “ông” Lý Thái Tổ nầy là ai ? Có công
gì với tổ quốc mà được tạc tượng ghi ơn tại địa
điểm thanh lịch nhất của thủ đô Hà Nội nầy. Lẽ dĩ
nhiên là người Việt Nam, ai cũng còn đọng lại trong
trí nhớ của lớp Sử thời trung học vài nét chấm phá mơ
hồ về vị vua xuất thân từ cửa nhà chùa nầy. Nhưng thi
xong là … hết, trừ ra sau đó chọn ngành Sử làm niềm đam
mê hay lẽ kiếm sống thì lại là chuyện khác. Đối với
khách du lịch nước ngoài thì lại cả một vấn đề. Cuốn
cẩm nang du lịch Lonely Planet nổi tiếng thì chỉ ghi
vài dòng ngắn ngủi mà nội dung không biện giải được lý
do tại sao một ông vua “cũng thường thôi” mà lại được
dân ta ngưỡng mộ tôn thờ đến thế.
Ở
nước ngoài, thiên hạ cũng … lung tung ! Tại thủ đô
Paris bên Pháp, trước cổng chính vào đại học Sorbonne, dưới
chân tượng bán thân của nhà tư tưởng Auguste Comte, ta cũng
chỉ thấy khắc tên ông rất đơn giản mà thôi, thậm chí
không có cả hai mốc thời gian “1798 – 1857” thường phải
có nữa. Ngồi trong quán cà phê La Sorbone đối diện, nhấm
nháp ly cà phê express, nhìn khuôn mặt trầm tư của ông, tôi
không ngờ ông là một trong những cha đẻ của một bộ môn
mà ngày nay có hàng triệu người theo đuổi: Khoa xã hội học.
Trong
khi đó thì tại thủ đô Washington DC bên Mỹ, trong quần thể
đài tưởng niệm Lincoln Memorial, điêu khắc gia Daniel Chester
French đã tạc một bức tượng của vị tổng thống giải
phóng dân nô lệ Abraham Lincoln bằng cẩm thạch trắng cao hơn
6 mét, và trên mặt tường làm phông cho bức tượng có khắc
một câu ghi nhớ ơn ông: “Trong ngôi đền nầy cũng như trong
tâm tưởng của nhân dân mà vì họ ông đã cứu lấy tổ
quốc, niềm tưởng nhớ đến Abraham Lincoln thì được tôn
thờ muôn đời” (In this temple as in the heart of people for whom
he saved the Union, the memory of Abraham Lincoln is enshrined forever).
Ngoài ra, nhà thiết kế còn cho khắc trên tường bài diễn
văn Gettysburg ngắn và bài diễn văn nhậm chức nổi tiếng
của ông (vốn là hai áng văn chính luận rất nhân bản và
cao cả nói lên lý tưởng nhân đạo và triết lý trị nước
của ông).
Ta
không theo Tây mà cũng không theo Mỹ, cứ thấy đúng thì ta
làm. Cho nên “hà tiện” chi mà không làm một văn bia (với
thiết kế truyền thống hay hiện đại gì cũng được) với
nội dung cô đọng nhưng đầy đủ, ghi lại những thông tin
cốt lõi và đặc sắc nhất của cuộc đời vua Lý, vừa để
giúp đồng bào ôn lại Sử nước nhà vừa để khơi dậy
niềm tự hào dân tộc.
Cách
đây đúng 45 năm, vào ngày 11/6/1963 (tức ngày 20/4 nhuận năm
Quý Mão), Hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu trong
tư thế kiết già ở giữa ngã tư hai đường Phan Đình Phùng
và Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư hai đường Nguyễn Đình Chiểu
và Cách Mạng Tháng Tám thuộc Quận 3, Thành phố HCM), trước
hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử, đồng bào Sài Gòn và các cơ
quan truyền thông trong và ngoài nước.
Hòa
thượng Thích Quảng Đức đã an nhiên tự tại nằm xuống
để Bồ tát Thích Quảng Đức đại hùng đại bi đứng dậy.
Nhân dân yêu chuộng công lý và tự do khắp nơi trên thế
giới rúng động. Sáu tháng sau, một chế độ độc tài giáo
trị đã bị nhân dân miền Nam đứng lên dõng dạc khước
từ bằng một tiếng “Không” âm vang bát nhã.
Trước
sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích
Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và
đã có câu đối kính viếng Hòa thượng như sau:
Vị
pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt.
Lưu
danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà.
(Theo
Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả
thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng,
ngày 30-5-2005).
Trong
khi đó thì tại Sài Gòn, giữa vòng vây dày đặc của các
cơ quan mật vụ của chế độ Diệm, một nhà thơ hiền lành
nhưng “uy vũ bất năng khuất”, vốn được xưng tụng là
thi bá của nền văn học miền Nam thời bấy giờ là thi sĩ
Vũ Hoàng Chương, đã xúc động đến tận tâm can mà xuất thần sáng tác ra bài thơ còn lưu truyền muôn thuở:
Lửa
từ bi
Lửa!
Lửa cháy ngất tòa sen!
Tám
chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả
xuống.
Hai
vầng sáng rưng rưng,
Đông
Tây nhòa lệ ngọc,
Chắp
tay đón một mặt trời mới mọc.
Ánh
Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên …
Ôi
đích thực hôm nay trời có mặt,
Giờ
là giờ hoàng đạo nguy nga,
Muôn
vạn khối sân si vừa mở mắt,
Nhìn
nhau: tình huynh đệ bao la l
Nam
mô Đức Phật Di Đà,
Sông
Hằng kia bởi đâu mà cát bay?
Thương
chúng sinh trầm luân bể khổ,
Người
rẽ phăng đêm tối đất dầy,
Bước
ra, ngồi nhập định, hướng về Tây,
Gọi
hết Lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật
pháp chẳng rời tay.
Sáu
ngả luân hồi đâu đó,
Mang
mang cùng nín thở,
Tiếng
nấc lên từng nhịp bánh xe quay,
Không
khí vặn mình theo, khóc oà lên nổi gió,
Người
siêu thăng … giông bão lắng từ đây …
Bóng
Người vượt chín tầng mây,
Nhân
gian mát rợi bóng cây bồ đề.
Ngọc
hay đá, tượng chẳng cần ai tạc,
Lụa
hay tre, nào khiến bút ai ghi.
Chỗ
Người ngồi, một thiên thu tuyệt tác,
Trong
vô hình sáng chói nét từ bi.
Rồi
đây.. Rồi mai sau… Còn chi?
Ngọc
đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát,
Với
thời gian, lê vết máu qua đi …
Còn
mãi chứ, còn Trái Tim Bồ Tát,
Gội
hào quang xuống tận chốn A Tỳ.
Ôi
! Ngọn lửa huyền vi …
Thế
giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác,
Từ
cõi vô minh Hướng về cực lạc,
Vần
điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác,
Và
cũng chỉ nguyện được là rơm rác.
Thơ
cháy lên theo với lời kinh,
Tụng
cho nhân loại hòa bình,
Trước
sau bền vững Tình Huynh Đệ này.
Thổn
thức nghe lòng trái đất,
Mong
thành quả phúc về cây.
Nam
mô Thích Ca Mâu Ni Phật!
Đồng
loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt,
Tình
thương hiện tháp chín tầng xây.
Vũ
Hoàng Chương
(Sài
Gòn, 15-7-1963)
Từ
hai đầu đất nước xa xôi, cách nhau gần 10 thế kỷ lồng
lộng, hai Phật tử Việt Nam là Lý Công Uẫn và Thích Quảng Đức, một tăng một tục, đã nắm chặt tay nhau
để nói chỉ một lời, làm chỉ một chuyện: Xả thân cho
chúng sinh, hy sinh vì dân tộc.
Được
biết Sở Thông tin Văn hoá Tp HCM và Giáo hội Phật giáo Việt
Nam đang trong tiến trình hoàn tất khu tượng đài kỹ niệm
Hòa thượng Thích Quảng Đức, tôi mạo muội đề nghị thêm
vào quần thể kiến trúc nầy một “văn bia” ghi lại
bài thơ Lữa Từ bi của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Có lẽ chữ đen khắc trên tảng cẩm thạch màu nâu nhạt
hay lam nhạt (màu tiêu biểu cho đạo Phật), nằm riêng rẽ
tự nhiên nhưng hòa điệu với thiết kế chung là đẹp và
ý nghĩa nhất.
7-2008
Discussion about this post