MỐI TƯƠNG QUAN VỚI THẾ GIỚI SIÊU HÌNH
HT. Thích Trí Quảng
Nếu
tu Mật tông, mối quan hệ giữa mình và thần linh có phát
ra tín hiệu, nên muốn kêu vị nào, chỉ đọc câu thần chú
tương ưng thì vị thần đó tới với ta. Còn người bắt
chước đọc thần chú, dù có đọc bao nhiêu lần, cũng chẳng
có vị nào tới.
Trên
bước đường tu hành trải qua hơn 60 năm, tôi vượt
qua được nhiều chướng duyên và thành tựu các Phật
sự do Giáo hội giao phó ở các thời kỳ khác nhau, tôi xin
chia sẻ đến quý vị một số kinh nghiệm. Trước nhất, sở
dĩ làm được một số việc, vì đối với các bậc tôn trưởng
thường gọi là thầy Tổ, tôi đã có lòng kính trọng
tuyệt đối. Thầy Tổ là người nối liền ta với chư Phật;
nếu thiếu sự tôn kính thầy thì mối quan hệ giữa ta và
thế giới vô hình đã bị đóng kín lại, chỉ còn quan hệ
trên hình thức mà thôi.
Tôn
kính thầy Tổ là niềm tin trân trọng giữa con người và
con người. Đôi khi các thầy trẻ nghĩ rằng thầy Tổ của
mình không học ở trường lớp, không có học vị, nên tỏ
ý xem thường, cho rằng thầy mình không biết gì; đó là sự
sai lầm lớn của người có học, dẫn đến sự thất bại
trên con đường hoằng dương Chánh pháp.
Mặc
dù không học trường lớp, nhưng các vị thầy Tổ sống trong
Chánh pháp và phát huy được căn lành, nên đã tạo được
sự nối kết sâu sắc với Phật mà chúng ta không thấy được.
Tôi thường suy nghĩ trong các thời kỳ khó khăn, các Ngài
lãnh đạo được Tăng Ni và Phật tử là nhờ vào điều gì.
Từ đó, tôi học được ở các bậc thầy Tổ những điều
không có trong sách vở. Thật vậy, Thầy của tôi là Hòa thượng
Trí Đức trình độ văn hóa không cao, nhưng tôi rất kính
trọng Ngài về pháp hành. Từ khi tôi còn ở điệu tại Tổ
đình Huê Nghiêm, tôi thấy ngày nào sau khi Tăng chúng tụng
thời Tịnh độ xong, xuống nghỉ, thì Hòa thượng tiếp tục
lạy sám hối và ngồi thiền, trì chú. Thời khóa công phu
khuya của chúng tôi dưới một tiếng, nhưng thời khóa của
Ngài đến hai, ba tiếng; nghĩa là Ngài có niềm tin và căn
lành mới thể nghiệm Phật pháp được như vậy. Ngài lạy
Phật và ngồi thiền không mệt mỏi, còn trì chú thì không
hiểu nghĩa, nhưng Ngài vẫn tinh tấn đọc. Làm sao chúng ta
biết lúc đó các Ngài nghĩ gì, người thường không thể
biết được.
Chúng
ta thường đặt vấn đề việc tu học của người tu là Tam
vô lậu học, không phải học ngữ ngôn văn tự. Chúng ta lầm
vô lậu học với học ngữ ngôn, nên nghĩ rằng học được
vài bộ kinh là hiểu biết Phật pháp rồi. Theo tôi, học
ngữ ngôn là việc bình thường. Còn học pháp vô lậu thì
ngồi yên hàng giờ mà tạo được lực tác động của tâm
mình một cách tốt đẹp mới quan trọng; nếu không có mối
quan hệ vô hình, chúng ta không thể ngồi yên được. Thật
vậy, đọc sách lâu, hoặc học nhiều thì không khó, nhưng
ngồi yên lâu dài được thì không đơn giản. Ngồi yên lâu
dài được là hoạt động nội tâm của người đó phải
có mối liên hệ vô hình, gọi là định vô lậu.
Các
bậc Thầy Tổ không có bằng cấp, nhưng các Ngài trụ định
vô lậu được. Còn chúng ta chỉ học suông về giới định
huệ trên lý thuyết, trên ngữ ngôn văn tự mà thôi. Nếu
giới là giới điều, định là ngồi yên và huệ là hiểu
biết, thì như vậy có phải là Tam vô lậu học hay không ?
Giới
điều là phương tiện của Đức Phật chế ra nhằm ngăn chặn
những sai lầm của người sơ cơ học đạo. Như vậy, giới
điều dùng để ràng buộc nghiệp của chúng ta mà thôi, chứ
chưa phải là giới vô lậu của Phật. Giới thể vô lậu
và giới tướng vô lậu mới quan trọng. Người có giới đức
thì tướng rất trang nghiêm và tâm thanh tịnh. Chúng ta giữ
giới, nhưng cảm thấy bị giới ràng buộc mình thì chỉ là
hàng sơ tâm; nếu chấp mãi như vậy, không thể học được
vô lậu giới thể.
Giới
thể là từ tâm hoàn toàn thanh tịnh, nên hiện tướng trang
nghiêm tác động cho người trông thấy phải phát tâm Bồ
đề. Điển hình là khi Đức Phật tu đắc giới thể, việc
hành đạo của Ngài khác với thời gian Ngài còn là Sa môn
mà giới thể chưa thanh tịnh. Lúc đó, năm anh em Kiều Trần
Như còn phê phán Ngài thế này thế nọ, không bằng các ông
tu hành giữ giới nghiêm túc. Kiều Trần Như nghĩ ông tu lâu,
lớn tuổi, rất nghiêm túc giới luật; nhưng thật ra như vậy
mới chỉ là ở phương tiện hình thức mà thôi.
Khi
Đức Phật đắc giới thể vô lậu, cũng vẫn là Ngài, nhưng
tướng trang nghiêm giải thoát hiện ra. Vì vậy, lúc Phậtđến độ năm anh em Kiều Trần Như, họ định không chào
Ngài, không tiếp chuyện Ngài; vì họ nghĩ rằng trước kia
Phật không tu nổi khổ hạnh, mới bỏ đi. Nhưng khi trông
thấy tướng trang nghiêm thanh tịnh của Phật, họ tự động
kính trọng và đảnh lễ Ngài. Đó là ý chính mà tôi muốn
nhắc các thầy trụ trì.
Nhiều
khi chúng ta dạy đệ tử, hay nói chuyện với bổn đạo, nghĩ
rằng họ không tốt, không trang nghiêm, không giữ giới, khiến
cho ta buồn phiền, bực tức, răn đe. Làm như vậy rất bất
lợi trong đạo. Trước khi răn đe người khác, phải răn đe
tánh buồn phiền, bực tức của mình trước đã. Ta không
trang nghiêm, không có giới đức thì không thể dạy được
người; vì ta đã cho họ cái buồn phiền, bực tức, chứ
không phải cho Phật pháp. Tánh thanh tịnh, trang nghiêm mới
là Phật pháp. Vì vậy, phải rèn luyện giới thể thanh tịnh.
Đức Phật dạy rằng người không đắc A la hán, thì không
được đi khất thực. Phật ngăn cấm điều này ngay từ Lộc
Uyển, vì mang tướng không trang nghiêm và tâm không thanh tịnh
mà đi vào đời sẽ làm cho ngoại đạo khinh chê, làm cho đàn
việt mất tín tâm. Lúc bấy giờ, chỉ có Đức Phật và Kiều
Trần Như được đi khất thực để nuôi bốn người còn
lại. Và trong mùa An cư đầu tiên, năm anh em Kiều Trần Như
đều đắc quả A la hán, nghĩa là tâm đã thanh tịnh và tướng
trang nghiêm, Đức Phật mới dạy rằng mỗi thầy đi một
phương để giáo hóa chúng sinh, hai người không đi chung một
đường.
Tâm
thanh tịnh đi vào đời tác động cho người phát tâm và tướng
trang nghiêm làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Vì vậy, Xá
Lợi Phất là nhà hùng biện nhất thời bấy giờ, khi trông
thấy Mã Thắng Tỳ kheo yên lặng cầm bình bát đi vào làng, Xá Lợi Phất cứ nhìn dáng đi của Mã Thắng mà đi theo. Và
một người muốn tranh cãi hơn thua như Xá Lợi Phất bắt
gặp tâm thanh tịnh của Mã Thắng, đã thu hút tâm ông, làm
cho ông thanh tịnh theo.
Do
vậy, thầy Tỳ kheo tâm thanh tịnh rồi, ai có nhân duyên thấy
họ, tự nhiên được an lạc; đó là bài thuyết pháp vô ngôn
rất quan trọng trên bước đường tu. Chính vì vậy mà Xá
Lợi Phất từ bỏ vị trí giáo chủ của ông để đi theo
Mã Thắng về tịnh xá, nghĩa là tâm của Mã Thắng đã dẫn
Xá Lợi Phất về với Phật và tâm ông được tâm bao dung
của Đức Phật nuôi dưỡng đến trưởng thành trên đường
đạo. Hiểu điều này, chúng ta mới nhận ra ý nghĩa trong
kinh Pháp Hoa về lời tâm huyết của Xá Lợi Phất thốt lên
tự đáy lòng với Đức Thế Tôn rằng: Ơn lớn của Thế
Tôn, con không thể đền đáp được. Dù có dùng đầu đội,
hai vai cõng vác trong vô số kiếp, con cũng không trả được
ơn này. Tại sao Xá Lợi Phất nói như vậy, ơn này là ơn
gì, Ngài nhận được gì từ Phật?
Thiết
nghĩ trên bước đường tu xuất gia học đạo, nếu chúng
ta không nhận được gì trong Phật pháp, thì quả là uổng
phí cả cuộc đời tu của mình. Nghe Xá Lợi Phất thốt lên
như vậy, chúng ta có suy nghĩ. Nhìn bề ngoài thấy Xá Lợi
Phất đóng góp cho Đức Phật rất nhiều; nhưng nhìn bề trong
thì Xá Lợi Phất nhận thấy rằng dù có làm suốt đời cho
Phật, ông cũng không đền đáp được công ơn của Phật.
Riêng chúng ta, chỉ làm một việc nhỏ thôi đã cảm thấy
mệt nhọc, thấy mình hy sinh rất nhiều cho đạo. Nghĩ như
vậy là sai lầm lớn, không thể đến với đạo được.
Chúng
ta phải nhận ra ơn lớn của Đức Thế Tôn. Ngài Nhật Liên
nói rằng trong bốn ơn mà Đức Phật đưa ra là ơn cha mẹ,
ơn Thầy bạn, ơn quốc dân thủy thổ và ơn đàn na tín thí,
tuy bốn ơn này quan trọng, nhưng còn ơn thứ năm là ơn Tam
bảo quan trọng hơn. Vì nếu thiếu ơn Tam bảo, chúng ta sống
rồi chết, trải qua vô số kiếp cũng là chúng sinh đau khổ
trong sinh tử. Phải nhờ ơn Phật đã cứu chúng ta thoát khỏi
nhà lửa tam giới. Vì vậy, tuy bốn ơn kia giúp cho chúng ta
trưởng thành trên cuộc đời, mà chúng ta không quên, nhưng
ơn Thế Tôn mới đưa chúng ta ra khỏi sinh tử và dạy cho
chúng ta giới định huệ vô lậu, để chúng ta ra khỏi ngục
tù tam giới.
Từ
ơn Thầy Tổ, tiến xa hơn, nhớ đến ơn Phật vô cùng lớn
lao, nên hàng đệ tử Phật đều mơ ước được thấy Phật
hiện hữu trên cuộc đời; nhưng đó chỉ là ước mơ mà
thôi, khiến cho Ngài Trí Giả phải thốt lên rằng :
Phật
tại thế thời ngã trầm luân
Kim
đắc nhân thân, Phật nhập diệt
Áo
não tự thân đa nghiệp chướng
Bất
kiến Như Lai kim sắc thân.
Nghĩa
là khi Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời này, chúng ta
đang trầm luân trong sinh tử. Đến khi mình trồi lên làm người,
thì Phật đã vào Niết bàn. Rất buồn vì nghiệp chướng
mình nặng quá, nên không thấy được kim sắc thân của Như
Lai.
Nhưng
kỳ diệu thay, khi Trí Giả nói lên câu này, thì Ngài thấy
được kim thân Phật và hội Linh Sơn chưa tan. Điều này gợi
nhắc chúng ta khi tâm tha thiết hướng về Phật, ta sẽ thấy
được những gì mà người bình thường không thể thấy.
Thật vậy, người đời thấy chúng ta tu hành cực khổ, họ
tội nghiệp cho ta; nhưng tại sao chúng ta tu được. Hoặc người
ta thắc mắc tại sao Đức Phật sống cuộc đời nhung lụa,
giàu sang, sung sướng mà lại bỏ ngai vàng để làm Sa môn,
sống lang thang rày đây mai đó. Phải biết nếp sống lang
thang của Đức Phật trong sáu năm tìm đạo, năm năm khổ
hạnh chốn rừng già, chính là thời kỳ mà Đức Phật sống
huy hoàng nhất. Còn thời gian Phật ở cung vàng điện ngọc
là Ngài đang ở trong ngục tù tam giới.
Ý
thức được như vậy, chúng ta mới thích tu. Tất cả mọi
quyền lợi thế gian chỉ ràng buộc chúng ta, giết chết chúng
ta, đẩy chúng ta vào phiền não, khổ đau mà thôi. Người
đời còn nói rằng càng cao danh vọng càng dày gian lao. Danh
vọng và quyền lợi trói chặt chúng ta, làm cho phiền não
mình luôn khởi lên và cuối cùng đẩy chúng ta vào tam đồ
khổ. Trong khi làm Sa môn, sống đạm bạc, có hôm nhịn đói,
nhưng cuộc sống rất an lạc. Ai vui với đạo pháp, thích
hạnh Sa môn, mới thấy được đạo.
Trí
Giả nhờ tâm tha thiết với Phật một cách mãnh liệt,
Ngài vượt được thế giới trần lao khổ lụy và đi
thẳng vào pháp hội Linh Sơn. Chúng ta đừng hiểu lầm pháp
hội Linh Sơn mà Ngài Trí Giả nói với hội Linh Sơn ở núi
Linh Thứu của Ấn Độ. Ngài nói rằng không phải qua Ấn
Độ mới thấy Phật, nhưng Ngài thấy Phật qua yếu nghĩa
của ba chữ Linh Thứu Sơn. “Sơn” chỉ cho thân tứ đại
của chúng ta. Đức vua Trần Nhân Tông cũng diễn tả thân
tứ đại là bốn núi sanh già bệnh chết. “Linh” là
chân linh. Ngài dạy chúng ta cắt bỏ bốn núi này thì sẽ
thấy được chân linh, mà Ngài nói rằng thấy hội Linh Sơn
chưa tan.
Ngài
Trí Giả thâm nhập hội Linh Sơn như vậy và nghe Phật nói
pháp bằng chân linh trong Tịch Quang thường chiếu, cho nên
Ngài đã phát huệ vô lậu, từ đó Ngài thuyết pháp mà người nghe không biết chán, đến độ vua Trần ở Trung
Quốc còn phải bãi triều để đi nghe pháp.
Chúng
ta tu hành phải cố đạt được huệ vô lậu. Muốn được
như vậy, phải vào hội Linh Sơn nghe Phật nói pháp. Đến
hội Linh Sơn, hay tu bằng chân linh, sẽ không sợ khó, không
sợ khổ trên cuộc đời này, giúp chúng ta làm Phật sự vượt
được chướng ngại, thì thế giới Phật mới hiện ra cho
chúng ta, mới thấy Đức Phật hiện hữu.
Đọc
kinh Pháp Hoa, quý vị sẽ thấy điều kỳ diệu là khi Đức
Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ tam muội, thì trời mưa hoa
Mạn đà la, làm cho tâm đại chúng được thanh tịnh, thấy
lục đạo tứ sanh từ địa ngục A tỳ cho đến Trời Sắc
cứu cánh, lại thấy có Phật ra đời thuyết pháp giáo hóa
độ chúng nhị thừa và hàng nhơn thiên, cũng thấy các vị
Bồ tát tùy thuận chúng sinh hiện các loại hình cứu khổ
ban vui, thành tựu lục độ vạn hạnh, cũng thấy các vị
Bích Chi Phật thiền định ở núi rừng, v.v…
Trong
thế giới chân linh hiện đủ cuộc sống của tứ sanh lục
đạo và cũng hiện đủ cả hàng tứ Thánh, nghĩa là huệ
phát thì thấy toàn cảnh của Pháp Hoa; đó chính là đạt
được hiệu quả của việc tu hành. Điều này gợi lên sự
suy nghĩ mà tôi muốn trao đổi với quý vị. Trên bước đường
tu, nếu chỉ sống với thế giới vật chất của con người,
chắc chắn không thể đi xa được. Vì vậy, hạn chế được
một phần vật chất, thì một phần tâm linh sẽ hiện ra cho
chúng ta; nhưng phần tâm linh này mới chỉ là vọng thức rất
gần với chúng ta, chứ chưa vô được chân linh. Chân linh
mà Trí Giả đại sư nói đến khác với vọng thức.
Trong
tứ sanh lục đạo chỉ sinh hoạt với vọng thức, hay nghiệp
thức. Vọng thức hay nghiệp thức là những kinh nghiệm quá
khứ và hiện tại mà chúng ta tích lũy trải qua nhiều kiếp
sống; cho nên chúng ta chỉ nhắm mắt lại là những gì chất
chứa trong tiềm thức hay còn gọi là A lại da thức liền
hiện ra.
Người
tu mở toang A lại da thức của mình để kiểm tra, sẽ thấy
được những người gần nhất là ma quỷ, hay quỷ thần.
Người chết thành ma quỷ và ma quỷ tái sinh thành người,
cho nên chúng ta dễ cảm nhận sự hiện hữu của thế giới
này. Ngày nay, các nhà ngoại cảm chỉ cần lắng yên phần
sinh hoạt vật chất một chút, thì phần Thức của họ mở
ra, giúp cho họ thấy được tâm của người chết, hay nói
nôm na là thấy hồn ma.
Riêng
tôi từ khi mới 13 tuổi, ở chùa ban đêm thanh vắng, thường
nghe tiếng tụng kinh, khiến tôi nhận ra thế giới tâm thức
của con người. Thật vậy, khi thế giới vật chất được
lắng yên một chút, chúng ta dễ nhận ra thế giới ma quỷ;
vì xung quanh Tổ đình Huê Nghiêm thời bấy giờ là nghĩa địa,
nên tôi thường thấy hồn người chết lảng vảng. Người
tu không màng phú quý lợi danh, không nặng cuộc sống vật
chất, nên dễ mở “Thức” ra trước. Và khi thế giới Thức
mở ra, thì mối tương quan giữa ta với những người
liên hệ trong những kiếp sống quá khứ và hiện tại chất
chứa trong kho tiềm thức này liền hiện ra đầy đủ trước
mắt mình; nói cách khác, chúng ta tự động thấy biết rõ
ràng trên thực tế cuộc sống này người nào thực quý mến
ta dù ta chưa làm gì cho họ, hoặc người nào ghét ta, muốn
hại ta, dù ta chẳng có ác ý gì với họ, hoặc việc tốt
lành hay hung dữ sắp xảy đến với ta, v.v… Trên bước đường
tu, tôi thường thấy trước việc không tốt sẽ xảy ra và
tôi kiểm tra lại tâm mình, tự nhiên thấy bất an, thì tự
biết điều không lành sắp đến.
Theo
tôi, đó là linh tánh báo cho biết trước, hay chư Thần báo
mộng, khiến có cảm giác như trong vô hình có người mách
bảo đừng đi đến chỗ đó, hoặc đừng làm việc nào đó.
Và sau đó, thực tế cũng xảy ra những điều không lành đúng
như chư Thần mách bảo. Phải nghe được tiếng nói phát xuất
từ thế giới siêu hình và nghe bằng tâm thanh tịnh của mình,
vì họ không nói bằng ngôn ngữ trần gian; hoặc vì tâm chúng
ta vọng động nên không nghe được, nhưng có làn sóng điện
từ truyền thẳng vào tâm ta làm cho ta có cảm giác bất an,
lo lắng, nghĩa là thế giới siêu hình đã phát tín hiệu cho
ta, nhưng ta không giải mã được.
Trong
khi các bậc Thầy Tổ của chúng ta đã học được cách giải mã tín hiệu của Phật, của Bồ tát, của Thánh thần,
đó là sở đắc đáng kể của người tu. Nếu không đạt
được sở đắc như vậy, thì chỉ là tu sĩ nói suông, không
có sức cảm hóa người; phải vượt được sinh hoạt bình
thường của căn trần thức, mới thâm nhập vào thế giới
siêu hình, mới có thể cảm hóa người khác. Gần nhất là
nhận ra tiếng nói của quỷ thần, rồi từng bước, chúng
ta giải mã tín hiệu của họ. Nếu tu Mật tông, mối quan
hệ giữa mình và thần linh có phát ra tín hiệu, nên muốn
kêu vị nào, chỉ đọc câu thần chú tương ưng thì vị thần đó tới với ta. Còn người bắt chước đọc thần
chú, dù có đọc bao nhiêu lần, cũng chẳng có vị nào tới.
Mối
quan hệ giữa thần linh và người tu không phải chỉ có Phật
giáo biết được, mà ngoại đạo tà giáo cũng làm, nhưng
phần nhiều họ quan hệ với oan hồn uổng tử. Các thầy
phù thủy luyện thiên linh cái, kêu những hồn ma này tới,
vì giữa họ với oan hồn có sự đồng cảm, đồng nghiệp.
Nghiệp ác của phù thủy và nghiệp ác của ma gặp nhau, nên
họ được ma ủng hộ và họ sử dụng âm binh này để hại
người. Tà giáo thường luyện như vậy.
Theo
Phật thì khác, chúng ta liên hệ với Hộ pháp thiện thần.
Tâm ta thiện, nên liên hệ với thiện thần, họ sẽ đến
ủng hộ. Tuy nhiên, các thầy trụ trì phải cẩn thận, muốn
trì chú trước nhất phải có Phật tâm, thì chư thần hộ
chúng ta, họ mới hiền lành; còn chúng ta bực tức, các ông
thần sẽ tác động làm cho tâm ta bực hơn nữa.
Điều
này thực tế tôi thấy rõ có một số Tăng Ni rất hiền
lành, nhưng sau một thời gian đọc thần chú mà vẫn nuôi
tâm sân hận, họ liền bị ác quỷ theo, nên tánh tình trở
thành hung dữ lạ thường. Tôi có đến một ngôi chùa, thầy
trụ trì ở đó nói với tôi rằng trước kia ông hiền, sau
một thời gian trì chú, tánh ông trở nên nóng nảy kỳ lạ,
đến mức độ ông đã đánh ông đạo què chân, nên không
ai dám ở chùa với ông nữa. Thậm chí, tối ngủ, ông mơ
thấy ma, nên ông đánh vô tường đến bầm tay. Chúng ta không
phê phán việc trì chú, nhưng phải biết tu cho đúng pháp.
Các
thầy trụ trì phải hiền như Phật, thì quỷ thần tìm đến,
họ mới hiền lành và ủng hộ chúng ta làm được những
việc lợi ích. Hiểu rõ điều này tôi đã viết trong bài
sám Pháp Hoa rằng sơn thần thổ địa đồng tùy hy, nghĩa
là họ đều tới với chúng ta để tu, không phải để kết
bè đảng làm việc ác. Thế giới quỷ thần gần gũi chúng
ta như vậy và nếu thâm nhập thế giới này, sẽ thấy những
việc kỳ lạ; chẳng hạn có Phật tử đến thưa với tôi
rằng họ nằm mơ thấy ba mẹ của họ bảo đến tìm tôi;
vì tôi đã cảm thông được thế giới thần linh, khiến họ
tác động cho cha mẹ của Phật tử như vậy.
Một
lần khác, tôi cũng chứng nghiệm điều này, một vị linh
mục đến cúng dường tôi, nhờ tôi cầu siêu cho bà cô của
ông. Tôi hỏi tại sao ông theo đạo Thiên Chúa mà không cầu
nguyện cho bà, lại nhờ tôi. Ông nói rằng buổi tối nằm
mơ thấy bà cô bảo ông đến nhờ tôi cầu nguyện; vì bà
ấy theo đạo Phật, thì không thể cầu hồn cho bà lên thiên
đàng được.
Tôi
kể hai câu chuyện này để gợi nhắc quý thầy rằng tâm
thức của con người rất quan trọng. Theo tôi, Phật giáo chúng
ta có một điều lợi lớn so với tôn giáo khác, đó là đạo
pháp của chúng ta gắn liền với dân tộc. Thật vậy, theo
dòng lịch sử của đất nước chúng ta từ khi dựng nước,
giữ nước cho đến ngày nay, dân tộc ta đã kế thừa truyền
thống Phật giáo. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, ngoài
Phật giáo ra thì dân tộc Việt Nam không có văn hóa nào khác.
Quả là “Mái chùa che chở hồn dân tộc. Nếp sống muôn
đời của tổ tông”.
Quý
thầy hãy nghĩ xem bình thường có những người không tin Phật,
nhưng khi người thân của họ qua đời, họ cũng phải rước
thầy tụng kinh mới cảm thấy yên tâm. Điều này cho thấy
truyền thống của Phật giáo và dân tộc gắn liền với nhau
một cách sâu sắc. Gần đây, hướng đến anh linh của chiến
sĩ, những người có thẩm quyền đã nhờ giới Phật giáo
chúng ta tổ chức lễ cầu siêu tại các nghĩa trang liệt sĩ
và Côn Đảo, một lần nữa nói lên sự gắn bó mật thiết
của Phật giáo và dân tộc.
Tóm
lại, Tăng Ni cần ý thức sâu sắc truyền thống gắn bó sâu
xa của Phật giáo với dân tộc, để phát huy mối tương quan
mật thiết này, giúp cho nhiều người tương thông được
với ông bà, tổ tiên, cha mẹ, hay thân bằng quyến thuộc,
bạn bè của họ ở thế giới siêu hình, để giải tỏa những
nỗi khổ tâm u uất cho người sống và cả người đã khuất
về những điều bất như ý. Như vậy, là làm cho âm siêu
dương thạnh mà mọi người luôn mong đợi ở những người
tu hành.
Mong
rằng trong ba tháng an cư, chuyên cần sống trong pháp Phật,
quý vị giữ tâm thanh tịnh và trí sáng suốt để khám phá
được những điều kỳ bí của thế giới Phật, Bồ tát,
chư Thiên, thiện thần và từ đó cảm hóa người sống, cùng
các vong linh, luôn được an vui, luôn phát huy trí tuệ và đạo
đức theo Phật, để xây dựng Tịnh độ trên nhân gian và
Tịnh độ trong mọi cảnh giới.
HT.THÍCH
TRÍ QUẢNG
(Giảng
trường hạ và khóa bồi dưỡng trụ trì ngày 23-6-09,
tại
chùa Kim Cang, tỉnh Long An)
(Giác
Ngộ)딀
Discussion about this post