LỢI
LẠC HỮU TÌNH
Pháp
Sư Tịnh Không
(Trích
lục từ Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng
Giác giảng giải)
Mời
mở kinh ra, khoa hội trang 28, xem “thù nhân cảm quả”. Thù nhân cảm quả đoạn
này, ở trong khoa này, cũng chia ra thành hai đoạn nhỏ. Đoạn nhỏ thứ nhất là
phước chí, đoạn nhỏ thứ hai là cảm quả.
Xin
xem kinh văn: “Do thành như thị chư thiện căn cố, sở sanh chi xứ, vô lượng
bảo tạng, tự nhiên phát ứng”.
Trước
tiên chúng ta hãy học đoạn kinh văn này: “Như thị chư thiện căn”, đây là
kinh văn ở phía trước đã nói, chỉ việc đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, các
loại thiện căn. Thiện căn là năng cảm, cảm ắt có ứng, đây là đạo lý của cảm ứng
đạo giao vậy. Người thế gian, bất kể là xưa hay nay, trong hay ngoài, không ai
mà không mong cầu quả báo thù thắng. Tại sao cái quả báo này cầu không được
vậy? Ngạn ngữ Trung Quốc nói rằng: “Việc không như ý thường có tám, chín”.
Câu nói này rất đáng để chúng ta soi xét. Tại sao thế gian lại có nhiều việc
không như ý đến như vậy? Chúng ta thử xem trong bộ kinh này nói đến thế giới
Cực Lạc, thử xem trong kinh Hoa Nghiêm nói đến thế giới Hoa Tạng, tại sao cư
dân ở nơi đó có đời sống viên mãn như vậy? Đích thực đã làm được 100% tâm tưởng
sự thành, đó là do nguyên nhân gì vậy? Chúng ta từ những chỗ này mà suy nghĩ,
mà quan sát, thì mới có thể học được chút ít lợi ích.
Sáng
hôm nay cư sĩ Lâm phát tiền trợ cấp người già ở đây, tôi nhìn thấy người đến
tham gia buổi lễ này đều là những cụ lớn tuổi. Nhà Phật nói rằng: “Sinh lão
bệnh tử khổ”. Chúng ta nhìn thấy người già quả thật là rất đáng thương.
Chính phủ và những đoàn thể từ thiện trong dân tuy có quan tâm, nhưng vẫn không
thể thỏa được lòng người. Người khác quan tâm, đây là ân đức. Cho nên chúng ta
phải thường xuyên suy nghĩ, chúng ta nhìn thấy những người già này, nghĩ đến
bản thân mình cũng sẽ già. Khi chúng ta già rồi, cảnh ngộ tương lai, đời sống
có gian nan khốn khổ giống như họ hay không? Phật pháp dạy chúng ta học tập,
việc học là vĩnh viễn không có ngày dừng. Người giác ngộ chân chánh hiểu được,
đời người chính là học tập, học từ nhỏ đến già, có học xong hay không vậy?
Không thể. Trong kinh Phật thị hiện cho chúng ta thấy, từ lúc mới phát tâm cho
đến quả vị Như Lai, hằng ngày phải học tập, ba đại A tăng kỳ kiếp, vô lượng đại
kiếp. Ngày chứng được Phật quả cứu cánh viên mãn rồi, chúng ta muốn hỏi, lúc
này có cần học nữa hay không? Vẫn phải học tập, việc học vĩnh viễn không có
gián đoạn. Thế họ đã thành Phật rồi, tất cả đều viên mãn rồi, tại sao vẫn phải
học tập vậy? Họ phải làm tấm gương học tập để cho những người chưa thành tựu
thấy, đạo lý là ở chỗ này. Trước đây người làm cha mẹ, mỗi ngày đều phải làm
tấm gương học tập để dạy con cái. Dạy con cái hiếu thuận cha mẹ thì người làm
cha mẹ tự mình phải hiếu thuận cha mẹ, để con cái thấy, để chúng học tập. Cha mẹ
còn sống, phụng sự như thế nào, phải để trẻ con nhìn thấy. Cha mẹ không còn
nữa, thì ngày giỗ kỵ, ngày tưởng nhớ tổ tiên mỗi năm, cũng phải để chúng thấy,
ghi nhớ trong lòng. Người làm thầy giáo cũng cùng đạo lý như vậy, hằng ngày
phải làm tấm gương học tập cho học trò thấy. Từ đó cho thấy, việc học là vĩnh
viễn không có gián đoạn. Phật ở trong kinh từng câu từng chữ đều là dạy chúng
ta học tập. Ở chỗ này, đây là nói tổng quát, chúng ta phải học tập chư Phật
Bồ-tát, thành tựu tất cả thiện căn, bắt đầu học từ đây.
Tu
thiện, thiện vẫn phải có gốc, gốc có thể sanh thiện pháp. Vậy gốc của thiện là
gì vậy? Tâm ưa thích thiện là gốc, đích thực có tâm ưa thích thiện thì nhất
định sẽ có hạnh ưa thích thiện thôi. Hạnh đây là tích lũy công đức, tích lũy
công đức phải dựa vào hạnh. Gốc của thiện, trong kinh luận đại thừa nói rất
nhiều, nói rất rộng. Chúng ta đem tất cả kinh luận quy nạp lại, trong kinh gọi
là A nậu đa la tam miệu tam Bồ-đề, Trung văn dịch thành tâm Bồ-đề vô thượng,
đây là gốc thiện. Câu nói này rất khó hiểu. Nếu như ý nghĩa không rõ ràng,
không sáng tỏ, thì sẽ tạo nên khó khăn cho việc học tập của chúng ta, cho nên
chúng tôi đem câu này, dùng từ hiện nay để mọi người dễ hiểu, gọi nó là chân
thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi. Mười chữ này chính là trong
kinh điển gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ-đề. Chúng ta phải học. Cái tâm này
chính là tâm Phật, cái tâm này là chân tâm của chúng ta, là bản tánh của chúng
ta. Trong kinh luận chúng ta cũng thường hay thấy cái gọi là Phật Phật đạo
đồng. Chữ đạo này chính là tồn tâm. Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai,
tất cả chư Phật ba đời cùng một cái tâm, đều là cái tâm này, là chân tâm. Chúng
ta học tập, đại đức xưa thường hay dạy chúng ta phải học từ căn bản, tu từ căn
bản. Căn bản chính là chân tâm.
Người
thế gian, người không học Phật thì chúng ta không nói, người học Phật rất
nhiều, họ cũng thường hay đọc kinh, cũng thường hay nghe giảng, số lần nghe
cũng đã nhiều rồi, tại sao vẫn không chịu học vậy? Tại sao vẫn không sửa chữa
được vậy? Thí dụ như chúng ta đối với người không chân thành, chúng ta không
dùng chân tâm đối với người, chúng ta không dùng thành ý đối với người, tại sao
vậy? Chúng ta suy nghĩ quan sát tỉ mỉ, điều đó không ngoài việc sợ bị thiệt
thòi. Người ta đối với mình đều là không thật lòng, mà ta đối với người chân
thành, thế chẳng phải là ta đã bị thiệt thòi rồi sao? Cái quan niệm sai lầm này
đã hại chúng ta đời đời kiếp kiếp học Phật đều không thể thành tựu, không những
không thể chứng quả, mà ngay cả khai ngộ cũng không làm được. Cho nên cổ
nhân thường dạy chúng ta: “Thiệt thòi là phước”. Thiệt thòi không phải
họa, thiệt thòi là phước, lời nói này rất ý vị. Người chịu thiệt thòi, sẵn sàng
lấy chân tâm thành ý để đối nhân tiếp vật, phước của họ ở đâu vậy? Cái này
trong kinh nói là vô lượng bảo tạng tự nhiên phát ứng. Bạn nhìn thấy đoạn kinh
văn này, nghe thấy cách nói này thì lắc đầu, e rằng tin không nổi, tâm nghi ngờ
của bạn chưa đoạn dứt, chỉ sợ thiệt thòi, vì thế những mong cầu của bạn không
thể thành hiện thực.
“Phật
thị môn trung hữu cầu tất ứng”, bạn cầu không được, nguyên nhân do đâu vậy? Như
vừa rồi đã nói, cảm ứng đạo giao, cảm là phải dùng tâm chân thành mới có cảm,
sau đó mới có thể có hồi ứng. Tâm của chúng ta không chân, không thành, nói
thật ra là cái tâm này không thanh tịnh, không bình đẳng. Cái tâm như vậy cũng
có cảm, nhưng cảm đến điều gì vậy? Cảm đến là tai họa, không phải phước. Đây
chính là điều mà ở trong kinh chư Phật Bồ-tát thường nói: “Tất cả pháp từ
tâm tưởng sanh”. Tâm tưởng của chúng ta bất thiện, lời nói của chúng ta
chưa thoát khỏi bốn loại lỗi của miệng mà Thế Tôn đã nói, ngôn ngữ bất thiện,
vọng ngữ, hai lời, thêu dệt, ác khẩu. Hãy suy nghĩ tỉ mỉ, soi lại kiểm điểm,
chúng ta từ sáng đến tối, những việc chúng ta đã làm trong một ngày, quả thật
mà nói, chúng ta không thể sánh với Viên Liễu Phàm.
Tiên
sinh Viên Liễu Phàm mỗi tối soi lại, đem việc trong một ngày, việc thiện ông
đều ghi chép lại, việc ác cũng ghi chép lại, cái thiện này bắt đầu từ khởi tâm
động niệm. Lời nói việc làm, phàm là việc lợi ích cho chúng sanh, lợi ích cho
xã hội, là vì xã hội chúng sanh, có thể làm tấm gương tốt, đó đều là thiện. Nếu
như tùy thuận theo phiền não tập khí của mình, không đủ để làm mô phạm cho xã
hội đại chúng, đây là ác. Mỗi ngày ghi chép lại đem so sánh, xem thử chúng ta
làm thiện nhiều hay ác nhiều? Sau đó quan sát tỉ mỉ lại, xem sức của thiện lớn
hay là sức của ác lớn? Mỗi ngày nhờ sửa đổi từ chỗ này, cho nên vận mệnh của
tiên sinh Liễu Phàm được chuyển đổi, phước báo cũng tự nhiên hiện tiền ngay.
Trong số mạng không có công danh, ông được công danh. Công danh vào thời đó là
thi đỗ cử nhân, thi đỗ tiến sĩ, đây là công danh, cách nói hiện nay gọi nó là
học vị. Số mạng của ông không có học vị, ông có được học vị. Trong số mạng
không có con cái, ông cũng có con cái. Trong số mạng là đoản mạng, thọ mạng ông
cũng được kéo dài. Thọ mạng trong số mạng của ông chỉ có 53 tuổi, mà ông sống
đến 74 tuổi. Từ đó cho thấy, số mạng là do mình tạo, phước là do mình làm.
Chúng ta đọc đến đoạn kinh văn này, cần hiểu cho được phải học như thế nào.
Những điều mà tiên sinh Liễu Phàm đã học vẫn là quả báo nhỏ ở cõi trời người.
Chúng ta hôm nay miệng thì nói rất hay, là phải cầu làm Phật làm tổ, cầu quả
báo vô thượng, nhưng hành nghiệp của chúng ta còn không bằng cư sĩ Liễu Phàm,
vậy quả báo của chúng ta có thể thành hiện thực không?
Chúng
ta thử nghĩ, rốt cuộc chúng ta phải học từ chỗ nào? Mọi người phải làm thật.
Chúng tôi ở trong các buổi giảng đã nói quá nhiều rồi. Trước hết, yêu cầu việc
lớn đầu tiên là chung sống giữa người với người phải như thế nào? Trước tiên
bạn hãy làm tốt việc này. Ở trong gia đình, đây là xã hội nhỏ nhất mà chúng ta
đang sống. Chúng ta chung sống với cha mẹ ra sao? Chung sống với anh em chị em
như thế nào? Chung sống giữa vợ chồng ra sao? Chung sống với con cái ra sao?
Quí vị phải hiểu rằng đây gọi là bài học lớn. Sau đó mở rộng ra, chung sống với
hàng xóm ra sao? Chung sống với láng giềng ra sao? Chung sống với tất cả bạn bè
thân thích mà bạn quen biết ra sao? Sự tích lũy công đức của chúng ta phải bắt
đầu từ chỗ này mới có thể thiết thực. Sự tồn tâm của chúng ta niệm niệm phải
luôn suy nghĩ vì người khác, ở trong gia đình khởi tâm động niệm suy nghĩ vì
cha mẹ, ta làm con cái phải suy nghĩ vì cha mẹ, phận làm chồng phải suy nghĩ vì
vợ con, phận làm vợ phải suy nghĩ vì chồng, phận làm cha mẹ phải suy nghĩ vì
con cái. Họ không vì bản thân, họ nghĩ cho người khác, ở trong đây liền có công
đức rồi vậy. Sao gọi là công đức? Là làm tấm gương tốt cho xã hội đại chúng.
Ngày
nay, rất nhiều người có học vấn, có đức hạnh thường hay cảm khái, cái xã hội
này nhà không ra nhà, nước không ra nước nữa. Nguyên nhân gì gây nên vậy? Là đã
làm hỏng đi quan hệ giữa người với người rồi. Chỉ biết nghĩ cho mình, mà không
biết nghĩ cho người khác, cái này là sai lầm căn bản. Cho nên từ một gia đình
mở rộng ra ngoài là xã hội, vì xã hội, vì chúng sanh, vì quốc gia, vì thế giới,
thì tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi của bạn tự nhiên sẽ hiển lộ ra
ngay. Ngôn ngữ hành vi của bạn không cần phải học, mà tự nhiên cũng có thể trở
thành hình ảnh tốt cho xã hội đại chúng. Ngôn ngữ hành vi của bạn là tấm gương
tốt của xã hội đại chúng, là mô phạm của xã hội đại chúng. Chúng ta phải bắt
đầu từ đây.
Học
Phật trước tiên phải làm người tốt, xử lý tốt mối quan hệ giữa người với người
rồi, tiến thêm một bước, chúng ta phải xử lý tốt mối quan hệ với môi trường tự
nhiên. Trong môi trường quy nạp lại thì không ngoài tất cả động vật, thực vật,
khoáng vật. Chúng ta cũng dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi
giống như vậy mà đối xử với chúng. Y báo tùy theo chánh báo chuyển. Vô lượng
bảo tạng tại sao tự nhiên phát ứng vậy? Là do tâm hạnh của chúng sanh chiêu cảm
vậy. Lời nói này có thật không? Là thật 100%. Tại sao vậy? Trong kinh Phật bảo
với chúng ta, “Y báo tùy theo chánh báo chuyển”, y chánh là một không phải hai.
Cái đạo lý này quá sâu, người hiểu được không nhiều, nhưng nó là chân tướng sự
thật. Dứt khoát không nên cho rằng cái môi trường tự nhiên này chẳng có quan hệ
gì với con người chúng ta, đó là sai rồi, hoàn toàn sai lầm. Môi trường tự
nhiên là do tâm người biến hiện ra. Tâm thiện thì môi trường tốt đẹp, tâm ác
thì môi trường không tốt. Cái đạo lý này, quả thật trong kinh Phật nói rất
nhiều, nói rất hay, nói thấu triệt hơn so với những sách thông thường. Chỉ có
chúng ta thâm nhập kinh tạng, y giáo phụng hành mới có thể nhận ra được, mới có
thể chứng nghiệm được. Những động vật nhỏ này có tánh linh, chúng ta dùng tâm
chân thành thì liền có thể thông giao được với chúng, muỗi kiến đều có thể
thông giao.
Tiêu
chuẩn của chân thành là gì vậy? Quí vị đã xem Liễu Phàm Tứ Huấn, trong Liễu
Phàm Tứ Huấn, thiền sư Vân Cốc có nói đến, ngài đem việc vẽ bùa niệm chú ra làm
ví dụ. Một niệm không sanh gọi là thành, trong đó xen tạp một tâm vọng niệm là
không thành. Một vọng niệm cũng không có, dùng cái tâm này vẽ bùa thì bùa linh,
niệm chú thì chú linh, niệm Phật thì Phật cũng linh, quả thật cảm ứng đạo giao,
trong đó không còn chướng ngại, ngăn trở nữa. Chúng ta ngày nay cũng vẽ bùa mà
bùa không linh, niệm chú chú chẳng linh, niệm Phật Phật cũng không linh, nguyên
nhân do đâu vậy? Vì trong đó xen tạp vọng niệm. Bồ-tát Giác Minh Diệu Hạnh nói
rất hay: “Không nghi ngờ, không xen tạp, không gián đoạn”. Lời nói này nói thì
rất dễ, nhưng làm thì rất khó. Do đó, cổ đức mới dạy cho chúng ta rằng: “Niệm
kinh không bằng niệm chú, niệm chú không bằng niệm Phật”. Tại sao vậy? Kinh
thì quá dài, nếu muốn không xen tạp vọng niệm thì khó quá! Chú ngắn hơn kinh,
thời gian ngắn, có thể khống chế mình không khởi vọng niệm. Nhưng so sánh chú
với câu Phật hiệu thì chú vẫn còn dài, Phật hiệu chỉ có bốn chữ A Di Đà Phật.
Trong một câu A Di Đà Phật này, quyết định không xen tạp vọng niệm thì câu này
sẽ linh.
Chúng
ta niệm mười câu, trong mười câu quả thật không xen tạp vọng niệm thì mười câu
Phật hiệu này sẽ linh. Chúng tôi đề xướng cách niệm mười câu này, đạo lý là ở
chỗ này vậy, không cần bảo bạn niệm thật nhiều, niệm nhiều nhất định xen tạp
ngay. Hy vọng số lần bạn niệm mỗi ngày nhiều, thời gian ngắn, trong thời gian
ngắn đó không xen tạp thì công phu này sẽ đắc lực thôi, từ từ kéo dài thời gian
ra thêm, cái việc này gấp không được. Bây giờ thì tôi khuyên quí vị đồng tu mỗi
ngày niệm chín lần, bạn niệm chừng ba tháng, niệm chừng nửa năm, mỗi ngày bạn
niệm mười lần, niệm hai mươi lần, vậy liền có tiến bộ thôi. Sau ba năm, mỗi ngày
bạn có thể niệm được ba mươi lần, bốn mươi lần, thì công phu của bạn sẽ không
ngừng tiến bộ. Đây không phải là thoái bộ, đây là hiện tượng tốt. Cho nên, nôn
nóng là không được, pháp thế xuất thế gian, cũng đều như vậy cả, dục tốc tất
bất đạt, phải bồi dưỡng từ từ.
Nếu
muốn công phu đắc lực, thì trước hết phải hiểu rằng, tất cả muôn sự muôn vật ở
trên thế gian này đều là những thứ giả tạm. Trong kinh Bát Nhã dạy chúng ta: “Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Cho nên, đối với thân tâm thế giới, muôn sự
muôn vật nên buông xả. Buông xả không phải là không làm gì cả, điểm này dứt
khoát không được hiểu lầm. Không vì mình, chúng ta phải cố gắng nỗ lực làm, làm
gì vậy? Giúp đỡ người khác.
Học
Phật, phải dựa vào duyên phận, dùng cách nói hiện nay để nói thì phải dựa vào
cơ hội, duyên phận chính là cơ hội vậy. Chúng ta phải tạo cơ hội cho những đồng
tu mới học. Ở nơi này xây đạo tràng, mời pháp sư đến đây giảng kinh lâu dài,
xây niệm Phật đường, đều là tạo cơ hội cho những người đồng tu. Có vì mình hay
không? Không có, vậy là đúng rồi, tạo cơ hội cho người mới học, dứt khoát không
vì mình, đây gọi là hành Bồ-tát đạo, đây đích thực là buông xả. Cho nên cái cần
buông xả là mình, cái cần nâng lên là người khác. Giúp đỡ người khác, cái này
phải nâng lên, không nên nói việc giúp đỡ người khác cũng buông xả luôn, đó là
sai lầm vậy. Phàm là việc có lợi cho xã hội, có lợi cho chúng sanh, thì chúng
ta phải hết lòng hết sức làm. Chỉ cần hết lòng hết sức, thì cái việc này đã làm
thành công viên mãn, làm không thành công cũng viên mãn. Đó là gì vậy? Đó là
duyên phận ở bên ngoài.
Thí
dụ, chúng tôi lần này mở lớp bồi dưỡng, vào năm trước chúng tôi có ký kết ý
hướng thư với hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, cơ hồ như thành hiện thực. Hiệp
hội Phật giáo Trung Quốc đem danh sách người học gởi đến Cư sĩ Lâm rồi, gồm 25
người. Chúng tôi cũng đã chuẩn bị đầy đủ, nhưng hiện nay họ không đến được,
công đức của chúng tôi viên mãn rồi, họ không đến được chúng tôi cũng viên mãn
rồi. Nếu như họ thật sự đến, thì chúng tôi còn phải cố gắng dạy chừng nửa năm,
dạy chừng một năm, dạy có thành tựu mới viên mãn. Bây giờ ở trong đó có một số
trở ngại nên họ không đến được, không đến thì chúng tôi không phải tốn nhiều
sức lực mà công đức cũng viên mãn, vì thành ý của chúng tôi đầy đủ rồi. Trong
kinh Lăng nghiêm đã nói: “Phát ý viên thành”. Chúng tôi phát cái tâm
này, cái ý này viên mãn thành tựu tức là công đức viên mãn rồi. Chúng tôi không
phải không cố gắng nỗ lực làm, do cơ duyên không chín mùi. Đạo lý của thế xuất
thế gian đều giống nhau, chúng ta cứ toàn tâm toàn lực giúp đỡ người khác, giúp
đỡ cái xã hội này, hoàn toàn không nghĩ đến bản thân, cái này mới gọi là công
đức viên mãn.
“Vô
lượng bảo tạng, tự nhiên phát ứng”, hai câu này nếu dùng cách nói hiện nay
mà nói, chính là “mọi việc như ý”. Khổng Lão phu tử, sau 70 năm đã nhập vào
cảnh giới này. “Tùy tâm sở dục nhi bất du cũ” cũng là cái ý này, đây là
cảm ứng đạo giao. Chúng tôi ngày nay cũng đặc biệt nhắc đến, cho nên quí phải
nhớ kỹ, cái tâm đó vô cùng quan trọng. Niệm niệm vì chúng sanh. Niệm niệm vì
chúng sanh chính là vì chúng sanh phục vụ, đây chính là đại hỷ đại xả. Trong
bài kệ quí vị thường hay niệm: “Đại hỷ đại xả cứu hàm thức”. Hàm thức là
tất cả chúng sanh hữu tình, phải giúp đỡ họ. Người thế gian cầu giàu có, chúng
ta xả tài. Xả tài mới có thể được giàu có. Nếu như mục đích xả tài của chúng ta
là cầu được giàu có, vậy có thể cầu được không? Cầu được, nhưng được không
nhiều, giống như bạn đi làm ăn buôn bán để kiếm tiền, nhưng kiếm có hạn, bạn xả
thì nhất định được. Nếu như bạn tu bố thí, vì tất cả chúng sanh phục vụ, bản
thân chẳng cầu gì cả, vậy bạn có được hay không? Được cả, được càng nhiều hơn,
được phước bao lớn vậy? Chư Phật Bồ-tát cũng không thể nói hết, cái phước báo
đó ngang bằng với hư không pháp giới. Tại sao vậy? Vì bạn không có giới hạn. Ta
có ý niệm cầu tài, thì cái tài này có giới hạn, cái bạn có được không thể vượt
qua cái giới hạn này. Bạn chẳng cầu gì cả thì cái quả báo này thù thắng, tại
sao vậy? Vì không có giới hạn. Không có giới hạn trong Phật pháp gọi là xứng
tánh. Chúng ta xả một đồng, xả một xu, đều được đại phước báo xứng tánh. Người
hiểu được cái đạo lý này không nhiều. Cho nên chúng ta phải tu bố thí tài, tu
bố thí pháp, tu bố thí vô úy.
Bố
thí vô úy là giúp xã hội đại chúng được bình an, xa lìa tất cả sợ hãi, được yên
ổn, đây là tu bố thí vô úy. Phàm những gì thuộc vào loại này đều gọi là bố thí
vô úy. Từ đó cho thấy, đạo tràng, giảng kinh thuyết pháp, khuyên bảo giáo hóa
đại chúng, thì ba loại bố thí này thảy đều đầy đủ. Tài thí, đạo tràng là do tài
lực xây dựng, mới thành tựu. Bạn không có tài lực, thì cái đạo tràng này không
thể thành tựu. Chúng ta có cái đạo tràng thoải mái như thế này để cùng nhau học
tập, thì cái đạo tràng này là bố thí tài, các loại thiết bị bên trong đạo tràng
này đều thuộc vào bố thí tài. Người giảng kinh chúng tôi, dùng sức lực của
mình, giảng hai giờ ở tại nơi đây, thì cái thân thể này là bố thí nội tài.
Thính chúng như quí vị có tu bố thí nội tài hay không vậy? Có, bạn ngồi ở nơi
đây được hai giờ đồng hồ, ở đây ngồi nghe giảng rất chăm chỉ là đã làm tấm
gương tốt cho những người khác thấy, cũng là bố thí tài, bố thí nội tài vậy!
Những điều chúng ta nghe được, thấy được ở đây, đây là Phật pháp, đây là thuộc
về bố thí pháp. Nội dung của pháp là dạy chúng ta xa lìa tất cả tai hại, làm
sao hướng về điều tốt lành, phước đức, đây là thuộc về bố thí vô úy. Cho nên,
một công mà được ba việc, đều ở trong đó cả. Chúng ta phải hiểu rõ cái đạo lý
này, phải hiểu rõ cái chân tướng sự thật này. Cho nên đến nơi đây nghe pháp
được hai giờ là bạn đang tu bố thí tài, bố thí pháp và bố thí vô úy đó, ba loại
bố thí đều đầy đủ.
Tâm
của mình rất thanh tịnh, chẳng chút mong cầu, công đức phước báo này là không
có hạn lượng. Thế tại sao chúng ta ở trong đời sống thường ngày, vẫn có rất
nhiều những chuyện bất như ý vậy? Từ những sự thật này mà quan sát, thì chúng
ta có thể tỉnh ngộ ra thôi, do thời gian tu tích công đức của chúng ta quá
ngắn, còn thời gian tùy thuận theo phiền não tập khí quá dài. Bạn thử xem, một
tuần có bảy ngày, một ngày có 24 giờ, bảy ngày là bao nhiêu giờ? Đến đây để
nghe kinh mới có hai giờ đồng hồ, bảy ngày mới tu có hai giờ đồng hồ, những
thời gian khác đều là tùy thuận theo phiền não tập khí, cho nên việc bất như ý
vẫn thường là tám, chín. Nếu như mỗi ngày đều có tu hai giờ thì tình hình sẽ khác
đi nhiều rồi. Chúng ta trong tưởng tượng nếu có tu từ ba đến năm năm thì cảnh
giới của bạn liền chuyển biến ngay. Thời gian này của chúng ta hiện nay vẫn còn
quá ngắn. Vậy nếu hỏi, tại sao không tạo cơ hội mỗi ngày giảng kinh để chúng ta
có thời gian tương đối dài mà huân tu? Chúng tôi luôn tạo cơ hội, do quí vị có
phân biệt, có chấp trước, bạn không chịu đến đó thôi! Quí vị phân biệt chấp
trước, pháp sư Tịnh Không giảng kinh tôi mới nghe, người khác giảng kinh thì
không đến nghe, vậy sao được? Mỗi ngày vào buổi tối chúng tôi có những người
đồng tu giảng kinh tại đây, cũng giảng hai giờ đồng hồ. Bạn thật sự muốn tu thì
mỗi ngày không gián đoạn, hằng ngày đến nghe kinh, bạn nhất định có kết quả.
Trước
đây tôi đã nói rất nhiều rồi, công đức mà quí vị nghe pháp sư trẻ tuổi giảng
kinh lớn hơn so với đến nghe tôi giảng kinh. Không phải là tôi nói dối, từng
câu từng chữ của tôi đều là chân thật. Lớn ở điểm nào vậy? Là quí vị đang bồi
dưỡng thế hệ trẻ. Thế hệ trẻ giống như mầm của cây Bồ Đề vậy, còn chưa trưởng thành,
bạn mỗi ngày đến nghe kinh là đến tưới nước, chăm bón cho họ để họ có tín tâm.
Nhìn thấy có nhiều người đến nghe như vậy, cảm thấy mình giảng cũng không tồi,
thì tín tâm của họ tăng trưởng, họ càng cố gắng nỗ lực học tập. Nếu như ở trên
bục giảng nhìn xuống thấy không có mấy người, e rằng mình không được, tín tâm
không còn nữa! Bạn thử nghĩ xem, công đức này bao lớn? Đây là chúng ta giúp đỡ
cho một số pháp sư giảng kinh, thành tựu cho pháp sư giảng kinh. Chúng ta phải
ủng hộ họ, phải giúp đỡ họ. Giúp đỡ như thế nào? Đến nghe họ giảng kinh, hơn
nữa nhất định yêu cầu họ mỗi ngày phải tiến bộ. Nếu họ không tiến bộ, thì lần
sau chúng ta sẽ không đến nghe nữa. Cái này là áp lực đối với họ, không thể
không cố gắng nỗ lực chuẩn bị. Tại sao vậy? Vì giảng không hay nên thính chúng
không đến. Quí vị thử nghĩ xem, đến nghe kinh như vậy thì ba loại bố thí tài,
pháp và vô úy của các bạn thảy đều đầy đủ. Tích lũy công đức làm ở chỗ nào vậy?
Đến cư sĩ Lâm để nghe kinh là được rồi. Lý sự chúng ta đều phải thông đạt, đều
phải hiểu rõ, có thể giúp cho một pháp sư trẻ trở thành đại đức giảng kinh
tương lai, cái công đức này quá lớn! Tương lai vãng sanh thế giới Tây Phương
Cực Lạc, bạn cũng không cần niệm A Di Đà Phật, chỉ cần muốn vãng sanh liền đi
ngay. Tại sao vậy? Do công đức quá lớn, Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn bạn. Lời
tôi nói đều là chân thật.
Có
rất nhiều đồng tu đã từng gặp Hàn viện trưởng. Hàn viện trưởng cả đời hộ pháp,
bà không có thời gian niệm kinh, bà cũng không có thời khóa sáng tối, bạn thấy
bà suốt cả ngày cười vui rôm rả. Nhưng bà một lòng một dạ hộ trì Phật pháp,
giúp đỡ thế hệ trẻ, thành tựu mọi người học tập, hoằng pháp lợi sanh. Lúc bà đi
thì Phật A Di Đà đến đón bà. Có thể thấy, Phật không cô phụ chúng sanh, mà là
chúng sanh đã cô phụ Phật Đà. Cho nên chúng ta phải nhận thức cho rõ ràng, biện
biệt rõ ràng, cái gì gọi là thiện căn, phải cố gắng nỗ lực học tập. Sau đó ở
đời này hay đời sau, nơi này hay nơi khác, đều có thể được mọi sự như ý, trong
kinh đã nói là “vô lượng bảo tạng, tự nhiên phát ứng”.
Tuyệt
nhiên không tham cầu bảo tạng, vô lượng bảo tạng dù có hiện tiền, cũng là vì
lợi ích tất cả chúng sanh, mình hoàn toàn không hưởng thụ, cái đạo lý này phải
hiểu. Cho nên không nên tiếc, chúng ta được cái gì thì lập tức phải xả, cái
công đức này mới viên mãn. Được rồi mà không chịu xả, lại khởi tâm tham, vậy
liền bị đọa lạc, liền bị đọa lạc xuống rồi. Không nên tiếc.
Nghĩa
thứ hai là đem những gì có được cũng phải xả hết, bạn mới được đại tự tại, mới
có thể được đại viên mãn. Như vậy đoạn này hoàn toàn là nói về cảm ứng. Tâm của
chúng ta, hành vi của chúng ta chính là cảm. Thế gian có rất nhiều người cầu
Phật Bồ-tát, cầu thần linh, cũng cầu khấn rất thành tâm mà không có cảm ứng,
nguyên nhân do đâu vậy? Bạn có tâm, mà không có hạnh. Nhất định phải có hạnh
đoạn ác tu thiện, dùng tâm hạnh chân thành thì mới có thể được cảm ứng. Bạn
không có hạnh chỉ có tâm, bạn chỉ có một nửa, vẫn còn thiếu một nửa, nên cảm
ứng không thể hiền tiền. Đạo lý là ở chỗ này!
Mời
xem tiếp đoạn kinh văn dưới đây: “Hoặc vi trưởng giả, cư sĩ, hào tánh tôn
quí, hoặc vi sát lợi quốc vương, chuyển luân thánh đế, hoặc vi lục dục thiên
chủ, nãi chí phạm vương”.
Đây
là nói về cảm quả, phía trước nói tu nhân, tu nhân sẽ được quả báo. Từ đó cho
thấy, trong thế gian này, chúng ta nhìn thấy quý tộc quyền uy, đều là do trong
đời quá khứ có tu tích nhân thiện, họ mới cảm được quả báo. Khi hưởng thụ quả
báo, nếu như không biết tiếp tục tu nhân, quả báo hưởng hết rồi thì vẫn phải
đọa lạc. Do đó, thánh hiền thế xuất thế gian không ai mà không coi trọng giáo
dục cho đời sau. Giáo dục cho đời sau có thể bù đắp chỗ tu khiếm khuyết của đời
trước, cũng có thể đề phòng sự đọa lạc của đời sau.
Chúng
ta nói đến giáo dục, giáo dục là quan trọng hơn hết. Giáo dục gia đình, giáo
dục nhà trường, giáo dục xã hội, giáo dục tôn giáo. Ba loại ở phía trước là
phước báo của nhân gian. Giáo dục tôn giáo giúp bạn được nâng lên, từ cõi người
nâng lên cõi trời. Nhà Phật nói cõi trời có 28 tầng, chia thành ba loại, trời
dục giới, trời sắc giới, trời vô sắc giới. Giáo dục tôn giáo giúp bạn không
ngừng hướng lên trên, mà giáo dục Phật giáo là càng không thể nghĩ bàn, nó đúng
quả thật là có thể giúp chúng ta đạt đến cứu cánh viên mãn. Phật pháp tại thế
gian là để thành tựu thế gian, chứ tuyệt đối không làm nguy hại thế gian, nó có
thể thành tựu thế gian. Ở chỗ này xin nêu ra mấy ví dụ, từ trong những ví dụ
này, chúng ta có thể nêu một việc để biết mười việc, biết tất cả phước được ở
thế gian, người được tốt đẹp thuận lợi đều là có thiện căn, đều là có thiện
nghiệp nên cảm được quả báo thù thắng.
Đầu
tiên là nêu ra trưởng giả. Trưởng giả thời Ấn Độ cổ, họ tuổi tác cao, họ có đức
hạnh, họ có học vấn, họ có địa vị, họ có của cải, những điều kiện này thảy đều
đầy đủ thì mới có thể gọi họ là trưởng giả, trưởng giả là cách tôn xưng đối với
loại người này. Ở trong chú giải Pháp Hoa, có mấy câu giải thích hàm nghĩa từ
trưởng giả này. Nghĩa thứ nhất là tâm bình tánh trực, tâm bình đẳng, điều này
rất quan trọng, tâm bình đẳng. Phần sau là nói tánh tình thẳng thắn, cái này
chính là nói chân thành, tuyệt đối không dùng cong vẹo để đối nhân xử thế, phải
dùng chân thành để đối nhân xử thế, “ngữ thực hành đôn”, lời nói chân thực, lìa
bốn lỗi của miệng, hành vi trung thực. Tuổi tác cũng phải có tuổi tương đối, họ
có của cải, có địa vị, có tiếng tăm, cái tiếng tăm này được xã hội đại chúng
tán thán. Đầy đủ những điều kiện này, đây gọi là trưởng giả. Những quả báo này
đều là thành tựu đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức trong đời quá khứ. Họ tu
thì họ được thôi, không tu thì làm sao có thể có được!
Chúng
ta trong đời quá khứ không có tu, điều này không nên lo lắng, bây giờ biết rồi,
thì cố gắng nỗ lực mà tu, quả báo cũng có thể hiện ngay. Đương nhiên, nghe pháp
tu hành càng sớm càng tốt. Nếu như quá trễ, thì công đức mà bạn tu tích có thể
trong đời này không nhận được, phải đợi đến đời sau cảm ứng mới có thể hiện
tiền. Nếu như bạn nghe pháp học Phật trước năm 30 tuổi, bạn có thể cố gắng nỗ
lực, thì ngay trong đời này sẽ nhận được. Chúng ta nói quả báo thông cả ba đời.
Hiện báo là trong đời này tu thì trong đời này có thể được hưởng thụ. Nếu như
40 – 50 tuổi mới nghe pháp, mới bắt đầu tu, thì quả báo có thể ở đời sau, nhưng
ngay trong đời này có hoa báo, cũng tức là cuộc sống cuối đời trong đời này của
chúng ta nhất định cũng có thể cải thiện, chắn chắn là có tốt đẹp, đời sau được
quả báo.
Thứ
hai là cư sĩ. Cư sĩ là tên gọi thông thường của người tu hành tại gia ở Trung
Quốc, là người học đạo ở tại nhà. Ở trong chú giải của kinh Pháp Hoa cũng có
hai câu giải thích thêm đối với cách xưng hô này. Người có thể giữ đạo, có thể
tự mình có niềm vui, có thể thanh tâm, ít ham muốn, tích lũy công đức, đây đích
thực gọi là cư sĩ, chứ không phải chỉ chú trọng trên hình tướng mà không có tu
hành chân chánh. Điều này chúng ta cần phải hiểu. Cư sĩ với trưởng giả cũng có
chỗ tương thông với nhau. Cho nên trưởng giả cũng gọi là cư sĩ. Chúng ta gọi là
đại cư sĩ, gọi là lão cư sĩ, cái ý đó là gần giống như trưởng giả vậy, là gần
giống nhau, đây là trong cách xưng hô thông thường ở Trung Quốc.
Dưới
đây nói hào tánh tôn quý, bốn chữ này cũng là nói hai sự việc khác nhau. Hào
tánh là nói quý tộc. Trước đây thời đại đế vương, gia tộc có ảnh hưởng rất lớn
đối với thân phận của một người. Như Phật Thích Ca Mâu Ni, gia tộc của ngài là
đế vương, thân phận của ngài là vương tử, đây chính là sinh ra trong gia đình
hào tánh. Tôn quý là chỉ có địa vị rất cao trong xã hội, cái này đều là chỉ làm
quan, quan cao tước trọng, họ có tước vị, có quan vị, ở đây gọi là tôn quý.
Trong tôn quý lại nêu ra mấy ví dụ, đây là nêu lên địa vị rõ rệt nhất trong tôn
quý: Sát Lợi, quốc vương. Sát Lợi là hào tánh. Quốc vương là tôn quý. Ấn Độ cổ,
quan niệm giai cấp rất sâu sắc, cho đến bây giờ vẫn còn bị ảnh hưởng. Đây là
loại thứ hai trong bốn giai cấp của Ấn Độ. Giai cấp cao nhất của họ là Bà La
Môn. Ở Singapore, Hưng Đô giáo chính là Bà La Môn của thời xưa. Lãnh tụ tôn
giáo, người truyền giáo trong tôn giáo, người truyền giáo trong Bà La Môn giáo,
người tu hành ở trong tôn giáo, những người này là người có địa vị cao nhất trong
xã hội. Từ đó cho thấy, Ấn Độ cổ giống với Trung Quốc chúng ta là sùng kính
thánh hiền, đế vương tuy cao, nhưng chúng ta thường tôn trọng thánh hiền hơn đế
vương. Bạn thấy ở Trung Quốc, Khổng Tử, Mạnh tử, Lão Tử, những đại thánh này
được dân gian tôn sùng hơn các đế vương xưa nay. Ấn Độ cổ vô cùng tôn kính đối
với người thực sự có đức hạnh, có học vấn, có đạo đức.
Đứng
thứ hai mới là quốc vương. Quốc vương là quý tộc, người lãnh đạo quốc gia. Sở
dĩ được gọi là Sát Đế Lợi, Sát Đế Lợi ở đây là vương tộc. Quốc vương đại thần
hơn một nửa là thuộc về tộc họ này. Quốc vương thì dễ hiểu, đây là vua của một
nước, mới gọi họ là quốc vương. Thời đại mà Thế Tôn ra đời là cùng với thời
Xuân Thu của Trung Quốc, quốc gia chưa thống nhất, hình thái xã hội còn thuộc
vào hình thái bộ lạc, cũng chính là những nước nhỏ ở sát nhau. Trong lịch sử
Trung Quốc có ghi chép, vào thời đó lãnh thổ của Trung Quốc, phía bắc giáp đến
lưu vực sông Hoàng Hà, phía nam đến lưu vực sông Chu Giang, vùng này được gọi
là Trung Nguyên, có bao nhiêu quốc gia vậy? Sách xưa ghi lại là có 800 chư hầu
vào thời nhà Chu. 800 chư hầu chính là hơn 800 quốc gia. Chúng ta nhìn thấy
trong lịch sử, nước lớn chu vi 100 dặm, có thể có lãnh thổ 100 dặm thì được gọi
là nước lớn, giống như khu vực Singapore này vậy, vào thời xưa là nước lớn.
Nước nhỏ thì 30-50 dặm. Cho nên hiện nay nhìn thấy ở Trung Quốc rất nhiều huyện
thị, là nước nhỏ thời xưa.
Ở
Ấn Độ cũng giống như vậy, Ấn Độ thời ấy, phụ thân của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng
là thủ lĩnh của một bộ lạc, như vậy người nào sinh vào dòng họ này mới gọi là
Sát Đế Lợi. Phía dưới nói là Chuyển Luân Thánh Vương. Trong kinh Phật có khi
gọi là Chuyển Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc giả gọi là Luân Vương,
đều mang ý nghĩa này. Đây là cõi người chứ không phải cõi trời, phước báo lớn
nhất trong cõi người. Trong kinh Phật nói, Luân Vương có bốn loại. Phật dùng
vàng, bạc, đồng, sắt, dùng bốn chữ này để làm tỉ dụ. Tỉ dụ phước báo của họ lớn
hay nhỏ, nhỏ nhất là Luân Vương Sắt. Luân Vương Sắt thì quản lý một châu, trong
kinh nói Nam Thiệm Bộ Châu. Một châu này, trên thực tế, chính là chúng ta hiện
nay gọi là địa cầu. Thế thì trên địa cầu của chúng ta đã từng xuất hiện Luân
Vương không vậy? Trong lịch sử hiện đại chưa từng thấy xuất hiện, vẫn chưa thấy
có một người nào thống nhất toàn bộ địa cầu này. Nếu như đến lúc nào đó xuất
hiện một người thống nhất toàn bộ địa cầu, thì người này là Luân Vương Sắt. Nếu
như là luân vương đồng thì đó chính là người thống trị hai tinh cầu trở lên.
Luân Vương Bạc thì phạm vi quản lý lớn hơn. Luân Vương Vàng, trong kinh Phật
nói khu vực họ thống trị là bốn đại bộ châu. Dùng cách nhìn của người hiện đại
chúng ta thì đại khái là một thái dương hệ, người nào có thể thống trị một thái
dương hệ mới gọi họ là Luân Vương Vàng. Cho nên, thời cận đại có rất nhiều
truyền thuyết, vậy rốt cuộc là có thật hay không? Xưa nay không có cách gì
chứng thực.
Rất
nhiều người nói đĩa bay, tôi nghe đến cái danh từ đĩa bay này liền nghĩ đến
Luân Vương. Họ tại sao được gọi là Luân Vương vậy? Họ có luân bảo, trong kinh Phật
nói họ có luân bảo. Những người này phước báo quá lớn, bảo quá nhiều, bảo nói
không hết, luân bảo là loại thù thắng nhất trong đó. Cái luân bảo này là công
cụ giao thông của họ. Họ ngồi trong cái luân bảo này, trong khoảng một ngày một
đêm là có thể bay khắp thái dương hệ này. Cho nên chúng tôi nghĩ rằng đĩa bay
là luân, đây là công cụ giao thông của họ, họ ngồi trong công cụ giao thông này
đi tuần tra khắp phạm vi mà họ quản lý, có thể trong khoảng một ngày một đêm,
họ liền thảy đều nhìn thấy, sự việc chắc hẳn là như vậy.
Phật
Thích Ca Mâu Ni nói luân bảo, đại khái chính là nói đến đĩa bay. Bốn loại vua
này đều có loại công cụ giao thông này. Xác thực, nếu như trên quả địa cầu này
không có loại công cụ phi hành tốc độ cao, thì làm sao có thể quản lý cái tinh
cầu này? Cũng phải có [phương tiện để] trong 24 giờ có thể bay đi khắp tinh cầu
này, phạm vi mà bạn quản lý này. Nếu khi làm Luân Vương Bạc quản lý từ hai – ba
tinh cầu trở lên. Cái công cụ giao thông này, với khoa học kỹ thuật hiện nay
của chúng ta vẫn chưa làm được. Hiện nay khoa học kỹ thuật này của chúng ta có
thể bay đến mặt trăng, vẫn không thể bay đến những hành tinh khác, vẫn còn
tương đối khó khăn. Nếu như đĩa bay là thật, vậy chúng ta tin rằng đĩa bay, đại
khái là luân bảo của Thánh Vương Kim Luân, luân bảo của Thánh Vương Ngân Luân.
Họ đến nơi đây để thị sát, đến xem thử môi trường ở bên này, rất có khả năng là
như vậy. Cho nên cái này gọi nó là Chuyển Luân Thánh Đế. Do đó, chúng ta hiểu
rằng, phàm là người đáp bằng công cụ phi hành, chúng ta ngày nay gọi là người
ngoài hành tinh, đáp công cụ phi hành đến viếng thăm trái đất chúng ta đây, đều
là thuộc vào cõi người, không phải thuộc vào cõi trời. Tại sao vậy? Cõi trời
đâu có phiền phức như vậy, đâu cần làm công cụ gì nữa, cõi trời có thần thông
rồi, không cần những thứ công cụ phi hành này nữa.
Lục
Dục Thiên Vương, đây là trời Dục Giới. Trời Dục Giới, dưới thấp nhất là trời Tứ
Vương, trên trời Tứ Vương là trời Đao Lợi. Trong kinh Phật nói, hai loại trời
này gọi là trời Địa Cư, họ vẫn cư trú trên đại địa. Như vậy chúng ta muốn hỏi,
Phật nói họ ở tại núi Tu Di, vậy núi Tu Di ở đâu? Núi Tu Di chắc chắn không
phải ở trên địa cầu này. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói rất hay, ngài có một bài
văn ở phần sau chú giải đại kinh, chuyên nghiên cứu sự việc này. Núi Tu Di
không ở trên trái đất, mà trái đất với thái dương hệ là đang xoay quanh núi Tu
Di. Từ cách nói này, nhà thiên văn học thời cổ Trung Quốc chúng ta nói là Hoàng
Cực. Ngày nay chúng ta biết, trái đất là đang xoay quanh hệ ngân hà. Như vậy
núi Tu Di có phải là trung tâm của hệ ngân hà hay không? Điều này hiện nay khoa
học vẫn chưa có cách gì nghiên cứu đến cảnh giới này. Cư sĩ Hoàng Lão, theo
cách nhìn của ngài thì núi Tu Di phải là trung tâm của hệ ngân hà, phải có một
tinh cầu rất lớn. Trời Tứ Vương và trời Đao Lợi, chúng chắc chắn phải ở tại nơi
đó. Trước đây có một số người nói núi Tu Di là núi Hymalaya cao nhất trên trái
đất chúng ta, đỉnh của núi Hymalaya chính là chỗ của trời Đao Lợi, và chính
giữa của núi Tu Di đó chính là chỗ của trời Tứ Vương. Hiện nay nhà thám hiểm,
nhà leo núi của chúng ta không ngừng leo lên đến đỉnh cao nhất rồi, cũng không
thấy có Tứ Đại Thiên Vương, cũng không nhìn thấy vua trời Đao Lợi. Nhưng mà,
trời và người là không cùng không gian duy thứ, như vậy chúng ta sẽ rất khó nói
rồi!
Trái
đất này của chúng ta, quả thực đúng là nơi phàm thánh đồng cư, người phàm chúng
ta không nhìn thấy thánh nhân, thánh nhân cũng không tiếp xúc với người phàm
chúng ta. Ví dụ rõ ràng nhất là pháp sư Pháp Chiếu, người thời nhà Đường, lễ
bái núi Ngũ Đài nhìn thấy đạo tràng của Bồ-tát Văn Thù tại chùa Đại Thánh Trúc
Lâm, trong lịch sử có ghi chép rất rõ ràng. Quốc sư Ngộ Đạt tại Tứ Xuyên thăm
viếng tôn giả Ca Nặc Ca là đạo tràng của A La Hán, ở trong Từ Bi Tam Muội Thủy
Sám có nói rất rõ ràng. Do không cùng không gian duy thứ thôi, không có duyên
phận đặc thù nên không thấy, chứ không thể nói là không có, cũng không thể nhất
định nói có. Trong kinh luận đại thừa bảo với chúng ta, “Phi hữu phi vô, diệc
hữu diệc vô”, nói như vậy là có đạo lý. Trong lời nói này có nghĩa lý rất sâu,
chúng ta dứt khoát không nên đem những lời này mà cho rằng Phật Thích Ca Mâu Ni
nói lời lập lờ nước đôi, thế là sai rồi! Vậy là bạn không hiểu nghĩa chân thật
của Như Lai rồi. Chúng ta phải đích thực dụng công khế nhập vào cảnh giới này
thì mới biết được.
Ngoài
ra như cõi ác quỷ, cõi địa ngục đều là không cùng không gian duy thứ với chúng
ta. Trên trái đất này của chúng ta đây, quả thật có cõi ác quỷ, cũng quả thật
có cõi địa ngục, ở trong điển tích Trung Quốc có ghi chép rất nhiều. Thời cận
đại, người phương tây cũng thông qua rất nhiều thực nghiệm khoa học, chứng thực
có sự tồn tại của cõi quỷ và cõi địa ngục. Chúng ta đọc qua không ít những bài
viết của phương tây, họ nói gì vậy? Nói là không cùng không gian duy thứ. Còn
như trong kinh Phật nói 28 tầng trời, dục giới sáu tầng, vô sắc giới tổng cộng
có 18 tầng, chia ra thành sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Cõi tứ
thiền vô cùng đặc thù, nếu như chúng ta quan sát thật tỉ mỉ, tam thiền có thể
gọi là ba tầng, và tứ thiền chí ít cũng có ba tầng, có thể còn có nhiều hơn.
Trời phổ thông của tứ thiền có ba tầng, ngoài ra có một tầng trời ngoại đạo,
trời vô tưởng, đây là những tầng trời không cùng với tầng trời thông thường.
Ngoài cái này ra còn có ngũ bất hoàn thiên, cái này chắc chắn là không cùng
không gian duy thứ, có thể có năm cái không cùng không gian duy thứ. Từ đó cho
thấy, cõi trời cũng rất phức tạp. Đây là nói đến sáu tầng trời dục giới cho tới
Phạm vương (Phạm vương là trời sắc giới), ở đây thảy đều bao gồm cả dục giới và
sắc giới.
Vô
sắc giới không nói đến. Tại sao vậy? Họ không có hình dạng, cho nên thường là
không nói đến, ở đây chúng ta dùng cách nói hiện đại mà nói, thì chỉ có linh,
người bình thường nói là tâm linh. Chỉ có linh tồn tại, họ không có thân thể.
Trời sắc giới có thân thể, họ không có ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy, cái
này không có. Nếu như còn có ý niệm tài, sắc, danh, thực, thùy, cho dù rất đạm
bạc, thì đó cũng chưa thoát khỏi dục, chưa thoát khỏi ngũ dục. Trời sắc giới
không có khái niệm này, cũng không có những hành vi này, gọi đó là sắc giới. Vô
sắc giới thì ngay cả cái thân thể này cũng không cần nữa, đây là chúng ta nói
phàm phu thực sự cao cấp trong tam giới, phước báo lớn. Cho nên nếu không đoạn
dục, thì bạn không thể lên đến sắc giới. Từ đó cho thấy, tài, sắc, danh, thực,
thùy – ngũ dục, năm loại dục vọng lớn. Nếu tham trước dục vọng này, thì chắc
chắn bạn không ra khỏi dục giới, bạn chỉ là đoạn ác tu thiện, tích lũy công
đức, tu thành phước báo lớn, cao nhất cũng chỉ có thể làm đến vua trời dục giới
mà thôi! Hưởng cái phước báo lớn này, nhưng không có phần ở sắc giới. Sắc giới
phải như thế nào vậy? Năm loại dục này nếu đoạn sạch. Đoạn không phải đoạn từ
trên hành vi, mà là đoạn từ trong tâm, tâm cực thanh tịnh, không có năm loại nhiễm
ô này. Năm loại này đều là nhiễm ô! Có năm loại này thì tâm không thanh tịnh
rồi. Thoát khỏi cái này tâm mới được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, chúng ta giảm
cái mức này xuống thấp nhất là tâm trời, tâm người ở trời sắc giới. Từ đó cho
thấy, những thứ này không phải là những thứ tốt.
Thế
chúng ta ở trong thế gian này có cần nó hay không? Cần. Trên sự thì cần, trên
tâm không được cần. Đây là trong kinh Hoa Nghiêm nói lý sự vô ngại, sự sự vô
ngại. Trên sự thì tùy duyên, cái này thì không sao cả. Trong tâm không nên dính
mắc. Trong tâm có một mảy may tham trước thì liền trở thành ngăn ngại, chúng ta
phải hiểu cái đạo lý này. Đặc biệt là sự thị hiện của chư Phật Bồ-tát, thị hiện
không nhất định là thị hiện người xuất gia. Trong kinh Hoa Nghiêm nói rất hay,
bạn thấy Thiện Tài Đồng Tử 53 lần tham học, 53 vị này là thiện tri thức, thân
phận của họ, nam nữ già trẻ, các nghành các nghề. Chúng ta thấy trên nghề
nghiệp của họ, sự hưởng thụ ngũ dục lục trần của họ rất tự tại, rất viên mãn,
trong tâm không có mảy may chấp trước, hoàn toàn không có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, đây là sự thị hiện của Phật Bồ-tát, chứng minh cho chúng ta
thấy lý sự vô ngại, sự sự vô ngại.
Từ
đó cho thấy, chướng ngại của chúng ta rốt cuộc từ đâu có vậy? Là từ vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Chúng ta đời đời kiếp kiếp tu học Phật pháp không thể
thành tựu là bị cái này hại đây! Nguyên nhân tìm được rồi thì phải tiêu trừ
nguyên nhân. Vậy chúng ta tu hành ở thế gian này rốt cuộc nên dùng thái độ gì
mới chính xác đây? Phật dạy chúng ta: “Hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công
đức”. Hai câu này nghĩa là bảo chúng ta hãy tùy duyên chứ đừng phan duyên
thì đúng ngay thôi! Tùy duyên là hằng thuận chúng sanh. Sao gọi là phan duyên
vậy? Ở trong tâm khởi phân biệt, chấp trước chính là phan duyên, đặc biệt là
chấp trước.
Tại
sao bạn sanh phân biệt, chấp trước vậy? Vì không hiểu chân tướng sự thật. Chân
tướng sự thật là gì? “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, họ làm sao có chướng
ngại? Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, cho nên họ không có
chướng ngại. Chấp trước liền thành chướng ngại. Chúng ta làm sao hàng phục vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, đây mới là công phu thật. Chúng ta đối với tất cả
pháp thế xuất thế gian không còn chấp trước nữa, buông xả hết, thì lục đạo luân
hồi sẽ không còn nữa. Phân biệt hết rồi, thì thập pháp giới sẽ không còn nữa.
Pháp giới tứ thánh là từ trong phân biệt mà biến hiện ra. Vọng tưởng không còn
nữa, bạn liền viên thành Phật đạo ngay. Trong pháp giới nhất chân, 41 quả vị
Bồ-tát, trong kinh Hoa Nghiêm nói 41 vị pháp thân đại sĩ, không có sự khác
biệt. Cái khác biệt đó là ở trong vọng tưởng dựng lập nên. Chúng ta phải hiểu
rõ cái tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc này, sau đó mới biết bắt đầu làm từ
đâu, cách tu như thế nào.
Sau
cùng đoạn này nói rất hay: “Ư chư Phật sở, tôn trọng cung dưỡng, vị tằng
gián đoạn, như thị công đức, thuyết bất năng tận”. Đây là sự thành tựu của
nhiều đời, đoạn này, phía trên là cúng chư Phật, đoạn cuối là hạ hóa chúng
sanh. Cho nên cái thiện căn này của họ, tích lũy thiện căn gọi là tích lũy công
đức, vĩnh viễn không hề gián đoạn. Làm trưởng giả họ không gián đoạn, làm cư sĩ
cũng không gián đoạn, thậm chí làm quốc vương, chuyển luân thánh vương, làm
thiên vương thì họ vẫn không gián đoạn; vĩnh viễn đang học tập, vĩnh viễn đang
nâng cao. Cái này khó được! Tại sao họ có thể có cơ duyên thù thắng tốt như
vậy? Trong kinh Kim Cang Phật đã từng nói với chúng ta là chư Phật Bồ-tát xưa
nay không ngừng hộ niệm tất cả chúng sanh, đặc biệt là người tu hành. Và chúng
ta muốn hỏi, chư Phật Bồ-tát xưa nay hộ trì tất cả chúng sanh không gián đoạn,
thì tại sao hiện nay không hộ trì cho tôi? Lần trước tôi đến Malaysia, hình như
là tại Di Bảo, gặp một vị pháp sư tiểu thừa, ông vô cùng cảm thán đến nói với
tôi: “Phật đã nói, phải độ hết chúng sanh, ngài mới thành Phật, thế ngài
chưa độ tôi thành Phật, mà sao ngài đã thành Phật rồi vậy?” Nguyên nhân ở
chỗ nào? Không phải Phật không hộ niệm ta, không phải Phật không quan tâm đến
ta, mà do ta không nghe lời, lỗi là ở bản thân ta chứ không phải do ngài. Ngài không
hề có lỗi, ngài thường hay cho chúng ta cơ hội. Cơ hội của chúng ta ở ngay
trước mắt, ở ngay xung quanh, nhưng chúng ta thì sao? Nhìn mà không thấy, nghe
cũng không nghe, còn trách Phật Bồ-tát, bạn nói thử, cái tội lỗi này bao lớn?
Nếu như chúng ta thành tâm thành ý, thật sự muốn học, thực sự thích học, bạn
mới biết cái cơ duyên này đều có ở khắp nơi, đúng như người xưa đã nói là thuận
lợi mọi bề. Cho nên gốc bệnh của chúng ta là gì vậy? Là không chịu học, ở trong
đời sống thường ngày, vẫn cứ tùy thuận theo phiền não tập khí của mình. Phật
Bồ-tát có ở xung quanh chúng ta hay không? Có, có nhưng cũng đành chịu bó tay.
Cho nên chúng ta cần phải học đoạn kinh văn này: “Ư chư Phật sở, tôn trọng
cúng dường, vị tằng gián đoạn”.
Thế
chúng ta muốn hỏi, cái chư Phật sở này, chư Phật sở ở đâu vậy? Ở trong kinh
Phật bảo với chúng ta, chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị lai. Ở
trong kinh Vạn Phật Danh, ở trong kinh 3000 Phật Danh, Phật đều đã giới thiệu
cho chúng ta. Đương nhiên, Phật ba đời thì vô lượng vô biên, Thế Tôn cũng nói
không hết, chỉ chẳng qua là nêu lên mấy ví dụ mà thôi. Nêu ví dụ để nói, Phật
vừa nói ra là đã nói hơn 12.000 danh hiệu Phật. Nhưng quí vị nên biết rằng,
quan trọng nhất là Phật vị lại. Ai là Phật vị lai vậy? Tất cả chúng sanh đều là
Phật vị lai. Chúng ta có phải dùng cái tâm chân thành này đối với Phật, tâm
cung kính đối với tất cả chúng sanh hay không? Chúng ta có tôn trọng cúng dường
đối với chúng sanh hữu tình và vô tình trước mắt hay không? Tinh nghĩa của kinh
văn là ở chỗ này, đây là chỗ chúng ta cần phải học. Trong kinh Phật nói rất
hay, tất cả chúng sanh đều là bản thân mình, là cha mẹ quá khứ, là chư Phật vị
lai. Chúng ta đối với tất cả chúng sanh mà không tôn trọng chính là không tôn
trọng đối với Phật. Chúng ta keo cú đối với tất cả chúng sanh chính là không
cúng dường đối với Phật. Chúng ta biết tôn trọng cúng dường là đại phước. Chúng
ta muốn tu phước thì nên tu ở đâu vậy? Cho nên nhất định phải biết tôn trọng
cúng dường. Chưa từng gián đoạn, câu nói này quan trọng, vĩnh viễn không được
gián đoạn.
Chúng
ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm, sở dĩ Thiện Tài Đồng Tử có thể một đời viên
thành Phật đạo, ngài thực sự đắc lực là ở ba câu này. “Ư chư Phật sở”, 53 vị
thiện tri thức, đó là 53 vị Phật. Ngài dạy cho chúng ta điều gì vậy? Chúng ta
từ sáng đến tối tất cả người việc mà mình tiếp xúc chính là chư Phật sở. Từ
sáng đến tối bạn nhìn thấy tất cả người già trẻ nam nữ, các ngành các nghề, đó
là chư Phật. Những người này ở đây, quả thật mà nói là đầy đủ cả chư Phật ba
đời. Ơ trong đây, có Phật quá khứ, có Phật hiện tại ứng hóa ra mà mắt thường
phàm phu chúng ta không nhận biết. Không phải chư Phật quá khứ, hiện tại thị
hiện đó thảy đều là Phật vị lai. Chúng ta làm sao biết được? Mỗi ngày thấy
người này rất chướng mắt, nhìn người kia thấy không vui, hằng ngày chửi mắng
chư Phật, hằng ngày quay lưng lại với chư Phật thì làm sao được? Vậy thì đến
đời nào, đến kiếp nào bạn mới có thể học thành công? Nếu bạn thực sự muốn
thành tựu trong đời này thì không có gì khác là tất cả mọi chúng sanh đều là
chư Phật Như Lai, chúng ta phải dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình
đẳng tôn trọng cúng dường chưa từng gián đoạn. Trên sự có gián đoạn, nhưng
trên tâm không có gián đoạn. Đối với tất cả người, sự, vật phải chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi, cái tâm này vĩnh viễn không gián đoạn
thì chúng ta trong đời này, chắc chắn viên thành Phật đạo.
Sau
cùng nói: “Như thị công đức, thuyết bất năng tận”. Ở chỗ này Phật cũng
chỉ nêu ra ví dụ để nói với chúng ta mà thôi. Chúng ta phải cảm nhận sâu sắc
nghĩa thú của Phật nói, phải cảm nhận cho được. Nếu có thể đem nó biến thành tư
tưởng hành động của chính chúng ta, thì trong đời này chúng ta mới có thành tựu
thù thắng, mới có thể thực sự tiêu trừ nghiệp chướng, tiêu trừ tai nạn, cũng có
thể giống như chư Phật Bồ-tát vậy, khế nhập vào pháp giới vô ngại. Đây là kiết
tường viên mãn đích thực, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, chúng ta phải tu nhân
từ chỗ này. Kinh văn dưới đây là, làm thế nào đem công đức tu tích của mình
cùng hưởng với tất cả đại chúng. Đây là phần cuối nói hạ hóa.
Hôm
nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây. A Di Đà Phật!
Người
giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Thời
gian: Tháng 1 năm 2001
Giảng
tại: Phật giáo cư sĩ Lâm Singapore
Cẩn
dịch: Vọng Tây cư sĩ
Biên tập: Phật tử Diệu Hiền
Discussion about this post