GÓP Ý VỀ CÁCH TIẾP CẬN
Cư Sĩ Nguyên Giác
Bài
này được viết để góp ý về kỹ năng giao tiếp. Chỉ là
một vài suy nghĩ riêng của người viết, còn hạn hẹp trong
khả năng và kinh nghiệm của mình, nhưng hy vọng sẽ hữu
dụng cho một số bạn trẻ quan tâm.
Người
cư sĩ thực ra lúc nào cũng ở trong cuộc đời, không hề
xa lìa cuộc đời, và cũng không hề có chuyện từ nơi đâu
xa bước vào cuộc đời. Nói “bước vào cuộc đời”
chỉ là một cách nói, rằng lúc này chúng ta ý thức rằng
mình bước và mình biết là mình bước với hạnh nguyện
nào. Chứ không phải mình bị ai xô đẩy hay bị ai dắt mũi
đi, hay là kiểu như bước mộng du trong giấc ngủ mê để
bước mà không biết là bước. Ít nhất phải thấy rằng
mình đang khởi sự bước trên đường giải thoát.
Nghĩa
là, bước đi tỉnh thức, vừa để tu tâm mình, vừa
để hoằng pháp. Bước vào cuộc đời – có thể gọi
là xuống núi, hay gọi là hạ sơn, hay gọi là thõng tay vào
chợ — trước là tự mình cần phòng hộ tâm mình cẩn mật,
và sau là cần nhiều kỹ năng giao tiếp. Xã hội càng
phức tạp, phương tiện kỹ thuật càng tinh vi, kỹ năng giao
tiếp lại càng cần khéo léo.
Đức
Phật đã dạy từ lâu về nghệ thuật vào đời hoằng pháp.
Phương pháp đó trong Trường Bộ Kinh và Tăng Chi Bộ Kinh gọi
là tứ nhiếp pháp — bố thí, ái ngữ, lợi hành
và đồng sự.
Trong
bố thí lại có ba cách bố thí: tài thí, pháp thí, vô
úy thí. Tài thí là bố thí về tài chánh, hay cơm áo gạo
tiền, nói theo kiểu thường ngày. Tất cả các tôn giáo đều
dùng phương tiện bố thí để tiếp cận và nhiếp phục.
Đơn giản, nếu bạn cho tiền, cho gạo, nuôi sống được
nhiều người và nhiều gia đình… thì lời nói của bạn
sẽ có sức mạnh, sẽ được họ lắng nghe và tuân phục.
Nếu kiếp này, họ không nghe pháp bạn nói, thì cũng sẽ là
nhân duyên cho những kiếp về sau, khi hạnh bố thí được
thực hiện với tâm tịnh tín.
Tại
Hoa Kỳ, từ hơn một thập niên trước, tôi có biết một
cậu bé, từ năm 4 tuổi trở lên, vâng lời cha dạy, nên khi
ra phố gặp những người ăn xin, thường bố thí những đồng
đô la lẻ cho họ và thầm niệm trong tâm rằng, “Xin
nguyện cho tất cả mọi người được no đủ, sống hạnh
phúc và sẽ thành Phật.” Vì cậu bé không giỏi tiếng Việt, người cha dạy là khi
con đưa giấy bạc hay đồng cắc vào nón người ăn xin, hãy
nguyện, “I wish that everybody will
be happy and will become a Buddha.”
Mỗi cuối tuần, người cha chở con đi mười ngôi chùa ở
Quận Cam, tới mỗi chùa bảo cậu bé cúng một đô la vào
thùng phước sương và đọc thầm lời nguyện trên. Duyên
lành tịnh tín khi bố thí sau này chắc chắn sẽ nở hoa,
Kinh Phật đã dạy như thế. Pháp thí và vô úy thí cũng công
đức vô lượng.
Về
tứ nhiếp pháp, nên đọc kỹ hơn trong các kinh luận ở các
trang web. Nơi đây, chúng ta chỉ bàn về kỹ năng giao tiếp.
Phương
tiện giao tiếp thường gặp nhất là viết, một kỹ năng
cần rèn luyện. Bạn phải viết thư, viết bài luận, viết
đơn xin việc, viết bản phúc trình kết quả nghiên cứu,
viết bản tin về một sự kiện xảy ra, viết bài phóng sự
về Đại Lễ Phật Đản, viết lời kêu gọi góp tiền cứu
trợ, viết về kinh nghiệm tu học, viết bút ký, viết truyện,
làm thơ… tất cả đều cần kỹ năng. Cũng như người học
võ, muốn lên đai đen cần tập hàng ngày trong nhiều năm.
Tương tự, tập viết nên là thường xuyên, và nên đọc nhiều
để tìm hiểu kỹ năng viết của các bậc thầy. Mỗi khi
đọc một bài viết, hay một câu văn… nên suy nghĩ rằng
bài nàỳ, câu này có chỗ nào hay và chỗ nào dở. Tránh các
lỗi chính tả.
Có
những người may mắn sinh ra đã có tài thơ văn, nhưng hầu
hết chúng ta đều phảỉ rèn luyện. Sách dạy viết thì rất
là nhiều. Bạn có thể vào bất kỳ tiệm sách nào ở Việt
Nam hay Hoa Kỳ, đều sẽ gặp những cuốn sách dạy kỹ năng
viết. Mỗi sách đều có chỗ cho mình cần học.
Viết
ngắn nhưng đủ nghĩa, sẽ đỡ làm mệt trí người đọc,
và do vậy điều mình muốn nói sẽ dễ nhận ra hơn. Chỉ
trừ khi người viết cố ý, câu nên được viết ngắn gọn,
dễ hiểu. Trong câu, cần nhất là tập trung vào chủ từ và
động từ, vì là mô tả sự kiện, có tính khách quan hơn.
Thường, nhiều câu có thể cắt bỏ tĩnh từ và trạng từ,
vì các từ này mang tính chủ quan hơn, và chưa chắc thuyết
phục được người đọc.
Thí
dụ, thay vì viết, “nàng đẹp vô cùng,” nên viết bằng
sự kiện, “khi nàng bước vào quán cà phê, tất cả bọn
con trai đều đưa mắt nhìn theo không rời.”
Bỏ
đi tĩnh từ “đẹp” và thay vào bằng sự kiện khác, vừa
mô tả được ý mình muốn truyền đạt, vừa kể thành truyện.
Tĩnh từ “đẹp” không có tính truyện; nhưng danh từ và
động từ làm thành tính truyện. Ai cũng thích tính truyện,
vì đó là cốt tuỷ của tiểu thuyết và phim ảnh.
Nói
như trên, chỉ để nhắc bạn rằng viết là một điều có
thể học và rèn luyện; và hành động viết là một cân nhắc,
lựa chọn và trau chuốt của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.
Một
phương tiện không thể thiếu sót của thời đại này là
tiếng Anh. Muốn đọc nhiều, học nhiều, cần phải biết
tiếng Anh. Thời này, bạn có thể tự học tiếng Anh dễ dàng.
Chỉ cần vào www.google.com và gõ “how to write well”, sẽ có
đủ thứ lời khuyên, hướng dẫn về cách viết. Hay vào các
trang web của các đài phát thanh VOA, BBC… để tự học. Trong
khi học tiếng Anh, tự mình cũng rèn luyện được cách viết
tiếng Việt.
Sau
khi viết, là phần gửi đi. Nếu bạn không phải sống bằng
nghề cầm bút, hay đang có hợp đồng với nhà xuất bản,
thì nên gửi tới càng nhiều báo càng tốt. Pháp nhà Phật
cần quảng bá nhiều. Bạn hãy hình dung thế này: cứ mỗi
hai tuần, bạn gửi một bài viết cho các báo địa phương.
Không nhất thiết là bài viết về Phật pháp, mà là nhiều
thể loại như truyện ngắn, thơ, bài góp ý về xã hội, bài
nhận định sách mới, phóng sự về lễ hội Quan Âm, và vân
vân… Các báo muốn đăng cũng được, muốn bỏ vào thùng
rác cũng được; bạn đừng bận tâm, vì đây là bạn viết
với tâm phụng sự cuộc đời, không có gì vô ích hết. Tới
khi đơn vị Gia Đình Phật Tử của bạn tổ chức một buổi
lễ, buổi gây quỹ từ thiện, hay có thông tin cần phổ biến,
các báo từng nhận được bài của bạn sẽ tích cực tới
để giúp đỡ, loan tin, quảng bá.
Viết
hay, viết dịu dàng, viết thuyết phục chính là ái
ngữ. Gửi bài cho các báo tùy nghi đăng tải, là bố thí.
Thực ra, cũng là lợi hành và đồng sự, vì các báo sẽ nhìn
bạn như một người cầm bút, cùng làng văn với nhau cả,
và rằng mình đang giúp cho tờ báo của họ phong phú hơn,
đa dạng hơn.
Trường
hợp tại Hoa Kỳ, nếu bạn viết và in được sách Anh ngữ
thì tuyệt vời nhất. Bạn sẽ hoằng pháp dễ dàng. Tuổi
trẻ Việt ở hải ngoại không đọc được Việt ngữ, và
nếu em nào đọc được, cũng không nắm giữ nổi ý nghĩa
sâu kín trong ngôn ngữ Việt. Thế nên, nhu cầu giảng dạy
bằng Anh ngữ ở Hoa Kỳ rất lớn.
Viết
cho báo Mỹ là chuyện khó. Nhưng bạn hãy suy nghĩ thế này:
khi bạn đưa quảng cáo để đăng chỉ trên một phần tư
trang báo Mỹ, bạn có thể sẽ phải trả tiền nhiều tới
vài chục ngàn đô la, tùy báo. Nhưng, khi bài của bạn viết,
và được đăng trên báo Mỹ, thì bạn đang làm được công
việc mà dù người khác có tốn vài chục ngàn đô la cũng
không làm nổi: ý kiến của bạn được đọc, mà độc giả
tin rằng bài đăng vì ý kiến của bạn được báo này đánh
giá là xứng đáng để đọc, chứ không phải là đăng như
quảng cáo.
Thế
nên, bạn có thể viết cho báo Mỹ trên trang Op-Ed (Ý Kiến,
hay Diễn Đàn). Thí dụ, mỗi tháng, bạn gửi một bài cho
báo Mỹ trong khu vực mình cư ngụ, dù họ không đăng, nhưng
cũng tạo thành một mối ân tình. Cũng có khi, họ sẽ cắt
ngắn để đăng vào mục Thư Độc Giả. Khi tên của bạn
quen thuộc với tờ báo và độc giả, các lễ hội tại ngôi
chùa mà bạn sinh hoạt sẽ được quảng bá rộng rãi hơn;
đó là những điều mà tiền không mua nổi. Và nếu tác giả
các bài viết lại là một vị sư hay một vị ni, thì nhà
sư hay ni này sẽ thường xuyên được báo Mỹ phỏng vấn
khi xảy ra bất kỳ chuyện gì liên hệ tới Phật Giáo trong
vùng.
Các
báo Mỹ không cần biết rằng bạn có phải là một Tiến
Sĩ hay không, nhưng họ biết rằng bạn thường xuyên gửi
bài cho họ, bạn có khả năng hoằng pháp bằng tiếng Anh,
và việc làm của bạn đang phong phú hóa tờ báo của họ.
Điều quan trọng mà báo Mỹ cần: độc giả muốn đọc bài
viết của bạn, và muốn biết sinh hoạt và suy nghĩ của cộng
đồng gốc Việt ở địa phương.
Hãy
kiên nhẫn, viết là một nghệ thuật, cần phảỉ
học và rèn luyện lâu dài. Trên đường học, bạn cũng nên
học thêm một số kỹ năng khác để dễ tiếp cận chúng
sinh. Thí dụ, bạn có thể tự học vẽ, hay học thư pháp.
Hãy hình dung thế này: những ngày Tết hay kỳ Đại Lễ Phật
Đản, các vị sư trong chùa sẽ triển lãm thư pháp hay tranh
Thiền; không chỉ là giữ gìn một không khí đạọ vị, mà
các báo Mỹ cũng sẽ tới quan tâm, phỏng vấn, làm tin. Đó
là một phương tiện để tiếp cận chúng sinh tuyệt vời,
có thể gieo nhân duyên cho các cộng đồng quốc tế với nhà
Phật. Học vẽ hay viết thư pháp cũng không tốn kém bao nhiêu.
Bạn có thể vào mạng www.YouTube.com để tự học, tìm
qua từ khóa như “drawing” hay “painting” hay “sumi
painting” (sumi: thủy mặc); trên trang này, các bậc thầy giỏi
nhất thế giới đang trình bày các kỹ năng độc đáo của
họ.
Nếu
để ý, chúng ta thấy nhiều Phật Tử tới chùa còn là để
tìm bình an, để cầu nguyện khi gia đình có chuyện bất trắc.
Cuộc đời thực sự là đầy đau khổ. Sinh, lão, bệnh, tử
không ai thoát nổi. Ngoài chuyện hoằng pháp, có một điều
bạn có thể giúp là hướng dẫn các Phật Tử giữ gìn sức
khỏe. Đó là lý do, nhiều chùa ở hải ngoại có phòng khám
bệnh từ thiện và các lớp dạy khí công.
Như
thế, chúng ta thấy, điều quan trọng nhất đối với tất
cả mọi người là sức khỏe. Hãy hình dung, khi bạn đau răng,
hay nhức mắt, có thể mất đi vài ngày nghỉ bệnh, đau đớn,
và tốn tiền bác sĩ. Đơn giản là đau răng, nhức mắt mà
còn hành hạ mình như thế, vậy thì các bệnh nan y sẽ còn
làm đau đớn hơn, tốn kém hơn. Thậm chí, làm phiền gia đình
phải chăm sóc mình nữa. Tốt nhất, hãy giữ gìn sức khỏe
và giúp người khác về các phương pháp hữu dụng.
Bạn
đã từng nghe có những vị thầy dạy pháp khí công này hay
kia, và nghe họ chỉ trích pháp khí công khác. Như thế không
nên. Bạn hãy nghĩ rằng, bất kỳ võ phái nào cũng hữu dụng,
thừa sức để tự vệ và ứng phó khi khẩn cấp. Thậm chí,
chỉ cần đi bơi, chạy bộ… đúng phương pháp, cũng còn
tốt hơn rất nhiều môn khí công hiện nay.
Điều
quan trọng là, hãy tìm những gì đơn giản để tự mình giữ
sức khỏe, và giúp người khác. Đừng tìm những gì phức
tạp với quá nhiều chiêu thế phải nhớ, vừa mệt trí vừa
mất thì giờ đã quá ngắn ngủi của đời người. Giữ sức
khỏe, cũng không cần phải khổ công học võ, không cần tìm
mua thuốc thần dược thảo nào. Thậm chí, một số bài quyền
của vài võ phái Trung Quốc, thí dụ Ngũ Hình Quyền, lại
yêu cầu bạn phải tự quán thân mình ở các tư thế như
cọp, như trâu, như rắn… điều đó lại không thích nghi
với giáo pháp nhà Phật. Đức Phật đã dạy rằng, người
nào huân tập chủng tử giả như làm loài thú, tập làm giống
như bò, kiếp sau có thể sẽ đầu thai làm bò, vân vân…
Đó cũng là một phần lý do sau này chúng ta đã thấy, Pháp Tịnh Độ dạy quán tâm mình như Phật A Di Đà, và Mật
Tông dạy quán thân tâm mình như thân tâm Quán Thế Âm Bồ
Tát, Phật Chuẩn Đề, Kim Cương Hộ Pháp Bồ Tát…
Hiện
nay, có rất nhiều thông tin về cách giữ gìn sức khỏe trên
các mạng Internet. Không có gì bí mật trong thời đại
cách mạng thông tin này.
Tổng
hợp lại, giữ sức khỏe chỉ có 3 cách:
– thứ
nhất, hàng ngày phải ăn uống đúng cách;
–
thứ nhì, hàng ngày phải thể dục, vận động cơ thể;
–
và thứ ba, giữ tâm cho an tịnh, đừng để bị căng thẳng
thần kinh (stress); hay nhất là tập Thiền hay các pháp khí
công kiểu như Tai Chi (Thái Cực).
Đã
có rất nhiều cuộc nghiên cứu y khoa tại Hoa Kỳ về những
cách trên. Bạn nên tìm các thông tin này, phổ biến cho người
quen biết và các đơn vị Gia Đình Phật Tử. Cần chú ý rằng,
ăn chay không hợp cách vẫn chỉ gây thêm bệnh:
nhiều bếp nhà chùa nấu chay, nhưng lại dùng quá nhiều dầu,
muối, đường. Thế là hỏng.
Nên
ăn nhiều chất sơ, thường có nhiều nhất là ở rau, trái
cây, hạt. Tránh hoặc dùng càng ít càng tốt: muối, đường,
dầu. Món gặp thường xuyên ở nhiều chùa là mì xào, hủ
tiếu xào… Nếu bạn tập pháp Niệm Thân trong Tứ Niệm Xứ
thường xuyên, bạn sẽ cảm thấy cơ thể mình phản ứng
ra sao, chỉ vài phút sau khi ăn các món quá nhiều muối, đường
hay dầu. Thử làm một tiến trình lý thú: Đọc lời khuyên
của các bác sĩ, và chúng ta tự cảm nghiệm trên cơ thể
mình. Đừng ăn quá no; mỗi lần ăn no, bạn sẽ thấy không
ngồi thiền được.
Thứ
nhì, cần tập thể dục. Đừng quá sức, nhưng cũng đừng
lười biếng. Chạy bộ hay đi bộ bước nhanh, không cần
tập gì phức tạp. Buổi tối về nhà xem TV, chỉ cần đứng
chạy một chỗ cũng có lợi hơn là ngồi xem.
Tập
Thiền có thể sử dụng cách đơn giản: hít thở dịu
dàng, và quan sát toàn thân mình đón nhận hơi thở vào và
ra tự nhiên. Cứ như thế suốt ngày, sẽ thấy chuyển biến
hữu dụng chỉ trong vài ngày thôi. Tôi được nghe kể rằng,
Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói trong một khóa tu ở Úc là
nếu đời sống của bạn quá bận rộn, không giữ được
thời khóa tập Thiền hàng ngày, thì mỗi ngày có thể ngồi
Thiền 20 lần, mỗi lần một phút cũng được. Đây là pháp
giữ sức khỏe tuyệt vời.
Tất
nhiên, bạn có thể chọn pháp môn khác của nhà Phật, tùy
nghi. Một trong các pháp khác mà tôi ưa thích là tham thoại
đầu về chữ “Ai.” Cứ đi đứng nằm ngồi, trong từng
cử động, trong từng niệm khởi, trong từng cảm thọ… hãy
cứ quan sát xem ai đang cử động, ai đang khởi niệm,
ai đang cảm thọ. Tự nhiên, tâm mình sẽ lặng lẽ dễ dàng.
Như thế, pháp Thiền Thoại Đầu này cũng thực sự là Tứ
Niệm Xứ, vì là bạn đang niệm toàn thân, niệm toàn tâm
và niệm toàn thọ. Hoặc là bạn nên Niệm Phật, tập
lắng nghe từng danh hiệu ngài.
Một
điều cần nói về Thiền, rằng bạn không cần phảỉ ngồi
theo pháp kiết già hay bán già. Nhiều người ưa cầu toàn,
cứ nhất định là phải ráng ngồi thế hoa sen như Phật mới
được. Thường các Thiền đường tại Miến Điện và Mỹ
chọn cách ngồi ưa chuộng nhất là Thế Ngồi Miến Điện
(Burmese posture), với hai chân xếp vào song song nhau, không cần
đưa chân này đặt lên chân kia. Bạn vào tìm ở Google.com
sẽ thấy hình ảnh thế ngồi này.
Internet

Internet
Tôi
có đọc bản tin và nhìn hình ảnh các thí sinh hoa hậu thế
giới thăm một ngôi chùa Việt Nam ở Vũng Tàu, và được
một sư cô dạy ngồi Thiền – trong đó, nhiều cô thí sinh
ngồi thế kiết già. Tôi tin chắc rằng, lần đầu ngồi,
các cô thí sinh sẽ thấy đau chân, và sẽ không thấy thoải
mái gì với chuyện ngồi Thiền nữa. Thành kiến nàỳ, và
nếu họ có khởi tâm này, sẽ cản trở nhiều đối với
việc họ có thể tìm được pháp hỷ thiền duyệt – có
khi tâm này dẫn đi xa tới cả nhiều kiếp về sau.
Hiểu
được, và có kinh nghiệm với ba cách giữ gìn sức khỏe
nêu trên, bạn sẽ tự ngừa bệnh cho mình, và có thể giúp
người khác ngừa và trị bệnh. Những kiến thức này tuy
là đơn giản, nhưng là kết tập từ nhiều bản nghiên cứu
y khoa của thế giới; bạn hãy vào Internet và tìm chữ “healthy
living” sẽ thấy các hướng dẫn cụ thể.
Trong
cộng đồng người Việt, nhiều người vẫn không để ý
tới các kiến thức, hoặc là chưa biết tới. Nếu bạn có
vào thăm các nhà dưỡng lão ở Hoa Kỳ, bạn có thể giúp
các cụ già gốc Việt bằng cách hướng dẫn pháp dưỡng
sinh — chỉ dẫn cách ăn uống đúng pháp, cách tập thể dục
đều đặn, và cách tập Thiền đơn giản – và đó
sẽ là món quà tuyệt vời nhất cho các cụ.
Nói
tới đây mới nhớ: quý tăng ni và cư sĩ các chùa hải ngoại
trong khi hoẳng pháp thường chú ý tới tuổi trẻ (tất nhiên,
nếu không có thể hệ tiếp nối thì chánh pháp sẽ không
còn gì) và những người có cơ hội tiếp cận với chùa (qua
các sinh hoạt trong cộng đồng, hội Tết, nhạc hội, hay tang
lễ). Nhưng chính các cụ Việt Nam trong các nhà dưỡng lão
cũng cần được giúp đỡ đặc biệt, nhất là về kiến
thức để chuẩn bị bước qua giai đoạn từ sắc trở về
không.
Điều
nên suy nghĩ rằng, nhiều cụ Phật Tử người Việt ở nhà
dưỡng lão, nếu không có thân nhân, khi từ trần, các viên
chức Hoa Kỳ sẽ gọi mục sư tới làm nghi thức tôn giáo.
Không phải chuyện kỳ thị gì, nhưng chỉ vì tiện lợi nhất,
vì ban giám đốc các nhà dưỡng lão quen thuộc và tiếp cận
thường xuyên với các mục sư. Nếu chúng ta không hướng
dẫn Phật Pháp cho các cụ, và nếu các cụ không để lại
một di chúc ghi rõ là khi hữu sự hãy gọi điện thoại tới
chùa này, chùa kia… để lo việc nghi thức tang lễ, thì hương
linh trong thời gian còn ở thân trung ấm có thể sẽ khởi
tâm sân hay ưu buồn, hay bất như ý; nếu khởi tâm như thế,
sẽ không có lợi cho việc giải thoát.
Một
điều nên nói thêm, có khi các cụ theo Đạo Phật, nhưng vợ/con các cụ, hay dâu/rể của các cụ lại theo đạọ khác.
Nếu các cụ không sửa soạn sẵn các nghi thức như ý mong
muốn ở phút lìa đời, các cụ có thể bị các vợ/con hay
dâu/rể áp đặt phảỉ theo nghi thức tang lễ của đạo khác.
Những chuyện này đã xảy ra ở hải ngoại, tuy không nhiều
nhưng vẫn là điều để quan tâm. Bấy giờ lại đọc
thấy bản tin trên báo viết rằng có cụ ông này, cụ ông
kia vốn là Phật Tử thuần thành, nhưng giây phút cuối đời
đã xin trở về với đạo Chúa; bạn hãy hình dung những bất
ngờ như thế. Nếu cụ ông là một nhà văn nổi tiếng, hay
nguyên là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, thì các
tôn giáó khác sẽ làm tang lễ ầm ĩ khác thường.
Trường
hợp các cụ trong giờ phút cận tử, dù biết là mình sắp
bị áp đặt phải nhận nghi thức tang lễ theo tôn giáo khác,
mà vẫn giữ được tâm chánh niệm, vẫn giữ được câu
niệm Phật trong tâm, và không hề chút nào khởi tâm sân hay
tâm ưu não, thì khi lìa thân này tất cũng sẽ vẫn ở trong
hào quang chư Phật.
Thêm
nữa, trong khi tiếp cận với bạn hữu bên các tôn giáo khác,
chúng ta cũng nên quan sát, cũng hệt như các thầy võ vẫn
thường quan sát các bài võ môn phái khác.
Khác
biệt thì nhiều lắm. Một điểm thấy được tại Mỹ, và
có lẽ cũng ở một số nơi tại Việt Nam, là một vài hệ
pháí Tin Lành tìm cách tạo quan hệ thân thiết có tính cách
xã hội giữa tín đồ trong hội thánh của họ. Phật
Tử sau khi rời chùa, thường không thấy có quan hệ đặc
biệt nào với Phật Tử khác, cho dù cùng chùa. Nhưng
với một vài hội thánh Tin Lành, tín hữu xem nhau như trong
gia đình, thăm hỏi và tương trợ nhau trong mọi việc khác
ngoàì nhà thờ. Trường hợp này khi ít người còn giữ được
quan hệ thân này, nhưng khi đông tới cả ngàn người thì
không thể giữ quan hệ thân thiết chặt chẽ này. Thực tế,
tình thân tương trợ như gia đình này, đã là một chất
keo xã hội gắn bó hơn.
Một
điểm khác biệt của một số giáo phái ngoại đạo chú trọng
về thiền định: nhiều giáo phái yêu cầu học nhân trong
khi ngồi Thiền phải lấy các ngón tay bịt mắt, bịt tai. Bạn có thể thử làm điều vừa nói, gần như ngay lập tức,
bạn sẽ thấy có hào quang chớp chớp, dần dà sẽ sinh ra
ảo giác về nhìn; cũng như sẽ thấy âm thanh vi vu bên tai,
rồi sẽ có ảo giác về tai. Nhiều người cho đó là
khai mở tâm nhãn hay tâm nhĩ. Thực ra, như thế sẽ dẫn tới
bệnh cả.
Bịt
mắt, lập tức sẽ có thọ lạc khoan khoái về mắt, vì chúng
ta nhìn cả ngày, mắt đã mỏi; bịt tai, sẽ có thọ lạc
khoan khái về tai, vì tai chúng ta nghe đủ thứ tiếng quen thuộc
náo nhiệt hằng ngày. Cách chữa đơn giản nhất cho người
đã mê nhiễm các pháp Thiền ngoại đạo vừa dẫn, là hãy
yêu cầu họ buông tay, đừng bịt mắt hay tai làm chi, mà cứ
lặng lẽ ngồi hít thở, hay chỉ đơn giản đưa lên chữ
“ai thấy” hay “ai nghe” khi tâm có ảo giác về nhìn hay
nghe. Hoặc đơn giản, yêu cầu họ “nhìn cái không có hình
tướng” hoặc “nghe tiếng vô thanh” thì sẽ thoát
được các thứ mê lậm ảo giác đã nêu. Tất cả ảo giác
sẽ biến mất. Bấy giờ, thọ lạc không phải là ảo giác,
mà chính là niềm vui pháp hỷ thiền duyệt khởi lên từ bản
tâm lặng lẽ.
Một
điềm nổi bật dị biệt là âm nhạc. Công Giáo và Tin Lành
đều chú trọng về Thánh Ca, xem như một phương tiện hữu
hiệu. Họ say mê hát Thánh Ca, và say mê nghe Thánh Ca.
Trong
khi đó, Phật Giáo lại xem âm nhạc chỉ như là sắc tướng
âm thanh, và khuyên Phật Tử là khi nghe nhạc, hãy giữ
tâm chánh niệm, đừng để tâm chao động mà say mê tiếng
nhạc. Trong các lễ hội lớn của Phật Giáo, phần nhạc lễ
thì quá cổ xưa và chuyên môn; duy bên Gia Đình Phật Tử có
sinh hoạt ca, chủ yếu dùng ngoài trời, cho các dịp họp đơn
vị hay khi cắm trại. Số lượng Đạo Ca hay Thiền Ca còn
quá ít. Đây là cơ hội để các nhạc sĩ có thể giúp hoằng
pháp bằng cách sáng tác thêm.
Khi
bạn xem các buổi hát Thánh Ca của các tôn giáo khác trên
truyền hình hay mạng YouTube, bạn sẽ thấy nét mặt người
hát và người nghe rất là say mê, như đã vào cõi khác. Họ
để toàn thân và toàn tâm bị lôi cuốn theo dòng nhạc. Cụ
thể, họ “phê” nhạc, họ “say” nhạc.
Phật
Giáo thực ra vẫn sử dụng âm nhạc, vẫn sử dụng sắc tướng
âm thanh để hoằng pháp, nhưng tâm luôn luôn giữ chánh niệm,
luôn luôn thấy mình không mất chánh niệm, luôn luôn thấy
sắc tướng âm thanh vốn thực là vô tướng — ngắn gọn,
ý nghĩa bài Bát Nhã Tâm Kinh vẫn sống không rời người tu,
rằng Sắc chính là Không, rằng vô số hình tướng quanh mình
thực sự trong bản tánh vẫn là vô tướng, rằng vô số âm
thanh bên tai mình trong bản tánh vẫn là vô thanh; và không
nên quán rằng mình là hình tướng này hay là âm thanh kia,
cũng không nên khởi tâm thơ mộng quán sát rằng mình là giọt
sương hay là tiếng chim hót buổi sớm. Như thế,
dù là có đứng giữa trùng trùng âm thanh sắc tướng, dù
là mình có đang đứng trong nhà thờ tôn giáo bạn, mình cũng
vẫn là Phật Tử chân thật.
Chú
ý thêm: một số hệ phái Tin Lành trong khi cầu nguyện thường
đưa người vươn cao, hai tay vươn lên cao, có khi người nghiêng
và lắc theo tiếng nhạc, mắt nhắm để toàn thân thả theo
tiếng nhạc và lời cầu nguyện. Nhiều kênh truyền hình Mỹ
mỗi chủ nhật vẫn chiếu các buổi lễ cầu nguyện của
các mục sư nổi tiếng.
Có
vẻ như, họ chú trọng vào “thọ lạc.” Lạc, tức là vui
sướng. Và chính thọ lạc, làm nhiều người tin rằng đó
chính là hồng ân, hay ơn trên. Nếu bạn tập Thiền rồi,
bạn sẽ thấy những dị biệt đó nổi bật. Chúng ta ban ngày
mở mắt nhiều giờ đồng hồ, ngay khi nhắm mắt sẽ thấy
có “thọ lạc” ngay, cảm thấy có sự êm dịu nơi mắt
mình. Chúng ta ban ngày nhiều giờ đồng hồ đều bận tay
đánh máy, hay ở các cử động mà việc làm đòi hỏi, ngay
khi đưa tay vươn người lên cao, nếu toàn thân lắc lư và
nhón chân lên, bạn sẽ thấy “thọ lạc” ngay. Sẽ thấy
thân thể vui sướng, mà tự nhầm lẫn cho là có giao tiếp
với đấng nào đó.
Phật
Giáo vẫn sử dụng “thọ lạc,” nhưng không dùng các kỹ
thuật ngoài tâm mình. Điển hình, trong Niệm Thọ của Tứ
Niệm Xứ, chỉ cần nhận biết các thọ khởi lên và biến
mất, thì sẽ có thọ lạc của chánh pháp. Còn gì tuyệt vời
hơn thọ lạc của chánh pháp? Còn thọ lạc của thân thể,
khi nhón chân lên, khi vươn tay cao quá đầu, chỉ là các
phản ứng sinh hóa của cơ thể. Như thế, bạn đi bơi hay
chạy bộ mỗi ngày, cũng sẽ thấy vui sướng hơn là đi tìm
ảo giác ở tôn giáo.
Một
điểm nữa, người tu của Đạo Phật — dù là Nam Tông hay
Bắc Tông, Thiền Tông hay Tịnh Độ… – trên khắp thế giới, không bao giờ nắm tay hay chạm xúc thân thể người khác
mà gọi đó là pháp tu. Trong khi đó, người trong một số
hệ phái Tin Lành trong khi cầu nguyện thường nắm tay nhau,
có khi mắt nhìn về cây Thánh Giá, hoặc nhắm mắt để giữ
cảm thọ về mối liên kết tín hữu qua cách nắm tay. Không
chỉ trong khi cầu nguyện, nhiều mục sư trong khi diễn hành
hay biểu tình vẫn thường nắm tay nhau, hay móc tay vào nhau
khi bước đi.
Khi
nắm tay hay chạm xúc thân thể nhau, thí dụ như khi ôm nhau,
hay khi hôn lên trán tín đồ, người ta sẽ cảm thấy
có thọ lạc, bên ngoài cảm thức về mối dây liên kết xã
hội lại còn có sự vui sướng tự nhiên khi da thịt chạm
nhau. Trừ phi bạn thực sự tin tưởng rằng tâm mình sẽ
không vương lụy, còn thì nên tránh các cơ hội dễ dàng khởi
tâm lưu luyến. Tôi được nghe từ một người bạn vốn
tu thiền từ thời niên thiếu kể rằng, năm người này 17
tuổi, trong khi vô ý đã bất chợt nắm tay vào tay của một
cô bạn gái, cảm giác của anh là thấy vui sướng như có
điện giật, run rẩy; nhiều thập niên sau, mỗi khi anh nhớ
tới cái nắm tay đó, người bạn này vẫn cảm thấy toàn
thân vui sướng với thọ lạc quá khứ đó. Có lẽ, đó là
lý do Đức Phật không dạy chúng ta nắm tay người khác
trong khi tu học.
Thêm
nữa, giả sử bạn đang đứng sinh hoạt chung với các bạn
Hoa Kỳ. Thì nắm tay hay ôm hôn lên trán, lên má là chuyện
bình thường; kể cả khi đứng trong khuôn viên nhà thờ. Câu
hỏi nên tự đề ra là, khi hai tay của bạn nắm tay của hai
người bạn, một bạn nữ tay mềm mại sẽ cho thọ lạc về
êm dịu, một bạn nam tay xương xẩu cho cảm thọ “bất lạc
bất khổ,” thì tâm bạn giữ về thọ nào? Bản chất chúng
sinh là ưa vui sướng; tự nhiên tâm sẽ ưa thích sự vui sướng
của bàn tay thiếu nữ mềm mại… Người Phật Tử nên tránh
vướng chân vào cõi này, mà chấp rằng mình cần phải “thiền
nắm tay” như người Tin Lành. Đức Phật nói, hãy nhìn chúng
sinh như ba mẹ mình; lời dạy này sẽ tiện dụng nhất, khi
phải tiếp cận các trường hợp phải giao tiếp xã hội như
thế. (Photo: China Post)
Cũng
chính tâm thức nhìn chúng sinh như ba mẹ của mình sẽ ngăn
chúng ta khởi nhiễm tâm mê đắm về nam nữ. Trường hợp
tình yêu vợ chồng thì nên nghĩ là duyên, là nghiệp, nên
biến thành trợ pháp cho đường tu. Các bạn vào thăm một
nhà thờ, sẽ thấy rằng nam nữ tiếp cận gần nhau hơn trong
chùa, vì nhiều cơ hội gặp và làm việc với nhau nhiều hơn,
hay cùng đứng chung trong một ca đoàn. Thêm nữa, các thiếu
nữ đi nhà thờ mặc trang phục nhiều màu sắc, diện hơn,
thường hợp thời trang hơn; trong khi thiếu nữ đi chùa nhiều
khi chỉ mặc áo tràng một màu như nhau, đơn điệu hơn. Như
thế, chỉ nói về thọ lạc khởi lên từ mắt nhìn, chúng
ta cũng thấy thiếu nữ đi nhà thờ “bắt mắt hơn,
ăn ảnh hơn, có vẻ hấp dẫn hơn.”
Có
nên khuyến khích thiếu nữ Phật Tử đi chùa nên mặc đẹp
và son phấn đa dạng hơn không (tất nhiên, chỉ trừ khi Bát
Quan Trai)? Câu trả lời xin để ngỏ cho quý tăng ni trụ trì.
Nhưng, nếu các thiếu nữ sân chùa bỗng nhiên mặc trang phục
thời trang, thì người nhìn nên giữ các căn thanh tịnh, rằng
mắt nhìn các cô vẫn như là nhìn vẻ đẹp của thư pháp,
của tranh thủy mặc… Vì nếu để mất chánh niệm, thì làm
sao mà giảỉ thoát, làm sao cứu mình, cứu người được?
Có
quan sát tâm mình liên tục như thế, mới biết vì sao ngàỳ
xưa Đức Phật dạy rằng hãy tiếp cận phụ nữ ở những
khoảng cách xa. Nếu bất ngờ, tăng ni ở chung một ngôi
chùa, hãy nên suy nghĩ rằng trong tâm mình có lúc nào khởi
lên một niệm lưu luyến cô ni má đỏ dáng gầy nào hay không,
hay là những khi ngồi chép kinh có lúc nào bỗng chợt lại
nhớ tới tiếng cười cô ni một thời nghe được bên ngoài
hành lang hay không?
Tiếp
cận, như thế, không chỉ là một nghệ thuật, mà còn là
một phần củả pháp tu phòng hộ tâm mình.
Có
một vấn đề thường đọc trên các diễn đàn Internet, rằng
vị sư này phạm giới, hay vị sư kia thế nàỳ, thế nọ.
Rất nhiều khi, chúng ta không kiểm chứng được, và lại
khởi tâm nghi ngờ, buông lời xúc phạm tăng bảo. Chuyện
này rất là thường, khi chúng ta mỗi ngày nhận được cả
ngàn email từ rất nhiều nguồn.
Đơn
giản nhất, chúng ta nên suy nghĩ rằng, có thể đó chỉ là
chuyện chụp mũ, bôi nhọ. Nhưng nếu là chuyện thật, giả
sử, nếu vị sư đó có vợ con, thì hãy nghĩ rằng có thể
vị sư đó lập gia đình rồi sau mới xuất gia; hoặc giả,
có một thời gian vị sư này đã xả giới hoàn tục, về
đời lập gia đình, rồi sau mới xuất gia trở lại. Như thế
cũng là bình thường, không thể gọi là phạm giới.
Hoặc,
giả sử rằng vị sư đó có lúc nào đã sa ngã , đã phạm
giới, thì cũng nên nêu một khả thể rằng, vị sư đó đã
sám hối đúng pháp và đã không tái phạm nữa.
Hãy
nhớ tới chuyện Đức Phật độ ngài Angulimala (Ưng quật
ma la), kẻ đã giết xong 999 người vì tin vào phép thuật ngoại
đạo và đang rượt theo mẹ khi săn lùng người thứ
1.000 để hoàn tất phép thuật sanh thiên. Khi ngài Angulimala
cầm dao rượt theo Phật lúc đó hiện tới, bảo rằng Phật
hãy ngừng chân lại, Phật mới nói, “Ta đã ngừng [bất
thiện tâm] lâu rồi, nhưng người vẫn chưa ngừng.” Angulimala
mới sám hối, xin trở thành vị tăng và rồi trở thành một
vị A La Hán.
Hãy
thấy, ngàì Angulimala tội nặng như thế, mà vẫn sám hối
được, để tu thành một vị A La Hán. Cho nên, nếu các vị
sư thời này có lỡ phạm tội, vẫn có pháp sám hối khả
dụng. Nhiều người trên các diễn đàn Internet đã không biết
về kinh, về luật nhà Phật, nên dễ buông lời xúc phạm
vô lối. Người cư sĩ chúng ta nên tránh nhầm lẫn đó.
Thực
ra, hoằng pháp cũng là chuyện nhân duyên, phước đức. Dù
là có học, có rèn luyện, không phải ai cũng viết giỏi,
hay thuyết pháp giỏi. Đó là chưa nói tới cơ duyên để tích
tụ công đức như xây chùa, in kinh, làm từ thiện… Nhiều
khi tâm muốn làm mười phần, mà tài chỉ đủ sức làm một
phần. Trong khi đó, ngoại đạo thường có hỗ trợ từ quốc
tế, nhiều tài chánh, nhiều phương tiện hơn. Nhưng đừng
lấy đó mà ngại. Hãy tin vào nhân quả, thì tâm sẽ không
còn oán trời hay trách người mỗi khi bất như ý.
Đất
nước đang hòa bình, nhiều tôn giáo đang ráo riết vào Việt
Nam rao giảng. Chính ngay lúc này, người cư sĩ chúng ta lại
cần tu học tinh tấn hơn, cần hoằng pháp ráo riết hơn. Đời
người nhanh lắm, vèo một cái là qua đời sau. Không tu bây
giờ thì để tới đời nào? Không hoằng pháp bây giờ thì
để tới khi nào?
Nếu
bạn thấy kinh sách quá nhiều, quá phức tạp, xin hãy nhớ
lời ngắn gọn của Đức Phật, chỉ gom về mấy câu thôi:
“Không
làm mọi điều ác,
Thành
tựu các hạnh lành,
Tâm
ý giữ trong sạch,
Chính
lời chư Phật dạy.” (Pháp Cú. 183)
Trong
tận cùng, đó là nghệ thuật tiếp cận tuyệt vời nhất.
Và cũng là cách hoằng pháp tối thượng, không gì hơn.
Cư
Sĩ Nguyên Giác, tháng 1-2010.
Discussion about this post