BỆNH CƯỜNG GIÁP TRẠNG
(Hyperthyroidism)
BS Nguyễn Văn Đức
Giáp trạng (thyroid gland) là một
tuyến nhỏ hình móng ngựa, nằm ở trước cổ, phía dưới cục xương lộ ra. Tuyến tiết
kích thích tố thyroxine. Tên khoa học của thyroxine lằng nhằng, nên người ta
hay gọi tắt nó là T4. Không chất nào trong cơ thể có tác dụng đa năng như T4.
Nó điều khiển sự biến dưỡng của các cơ quan trong cơ thể, thúc đẩy mọi tế bào
làm việc, kiểm soát sự sử dụng năng lượng, cung cấp các chất cần cho sự hoạt
động của tế bào. Nó còn ảnh hưởng đến sự khôn lớn và trưởng thành của tất cả
các tế bào.
Trên óc ta, có một tuyến, gọi tuyến não thùy (pituitary gland). Tuyến này thuộc
hàng giám đốc, giám thị và đốc thúc các tuyến khác làm việc. Tuyến não thùy
tiết những chất có tác dụng kích thích những tuyến dưới quyền: giáp trạng,
thượng thận (adrenal glands), buồng trứng (ovaries), dịch hoàn (testicles), …
Trong những chất ấy, có chất TSH (thyroid stimulating hormone), làm công việc
kích thích tuyến giáp trạng, thúc đẩy tuyến giáp trạng chăm chỉ tiết đủ T4 cho
cơ thể. Nhờ sự tận tụy của tuyến não thùy, dòm chừng và thúc đẩy tuyến giáp
trạng, cơ thể ta luôn có đủ T4 để hoạt động, và khi thử máu, ta thấy cả T4 lẫn
TSH đều bình thường, không tăng cao hay xuống thấp. Tuyến não thùy cũng điều
động các tuyến quan trọng khác của cơ thể với cơ chế tương tự.
Giá cứ điều hòa như thế, kể cả những việc khác của cuộc đời. Được vậy thì sướng
quá, mọi người sinh ra, mạnh khỏe, ngao du cõi thế đủ ba vạn tám nghìn ngày,
rồi một đêm nằm ngủ không dậy nữa, êm đềm ra khỏi cuộc đời. Nhưng tuyến giáp
trạng nó lại hay gây rắc rối, cho cuộc đời ta thêm phiền. Nhất là ở phụ nữ. Nó
có thể trở thành cường (hyperthyroidism), suy (hypothyroidism), hoặc chẳng
cường, chẳng suy, nhưng cứ lừng lững to lên thành bướu lành, hoặc ung thư. Đã
vậy, thỉnh thoảng nó còn bị viêm (thyroiditis).
Trong bài này, ta bàn về “cường tuyến giáp trạng” (hyperthyroidism), tình trạng
tuyến hoạt động mạnh quá.
Có đến ba bốn kiểu cường tuyến giáp trạng: toàn thể tuyến cùng cường, cùng tiết
ra nhiều T4 và to lên; có khi toàn tuyến không to lên, nhưng nổi một hoặc nhiều
cục u lổn nhổn và chất T4 chỉ tiết nhiều hơn bình thường ở những chỗ trong
tuyến có các cục u này (toxic adenoma hay toxic multinodular goiter). Lại có
khi tuyến giáp trạng cường, âm thầm tiết nhiều T4, nhưng chẳng to lên tí nào
(nhiều vị có tuổi bị cường giáp trạng loại này). Loại cường tuyến giáp trạng
nhiều nhất là loại toàn thể tuyến cùng cường và to lên. Loại bệnh này chiếm đến
90% các trường hợp cường tuyến giáp trạng, có tên đặc biệt là “bệnh Graves”,
hay “bệnh Basedow”.
Nguyên nhân
Vì đâu lại có bệnh cường tuyến giáp trạng?
Nguyên nhân gây bệnh còn nhiều chỗ mù mờ, nhưng trong loại bệnh cả tuyến cùng
cường và to lên (bệnh Graves hay bệnh Basedow), người ta cho rằng vì lý do nào
chưa rõ, tự dưng, cơ thể tạo ra những kháng thể có tác dụng kích thích
(thyroid-stimulating antibodies), giả dạng TSH, đến bám vào các tế bào của
tuyến giáp trạng, chỗ bình thường TSH vẫn hay bám vào để điều hòa sự làm việc
của tuyến giáp trạng (TSH receptors). Bám trụ nơi những chỗ ấy, chúng bắt chước
TSH, đánh lừa, thúc đẩy tuyến giáp trạng hoạt động mạnh bất thường, tiết ra
nhiều chất T4 quá. Đời đâu cũng đầy những lừa đảo.
Định bệnh
Khi tuyến giáp trạng tiết ra quá nhiều chất T4, bộ máy cơ thể ta sẽ chạy nhanh
hơn. Máy chạy nhanh, tỏa nhiều nhiệt, nên người bệnh lúc nào cũng nóng nảy, kém
chịu nóng (heat intolerance), toát mồ hôi, tinh thần căng thẳng, mất ngủ, tính
tình thất thường, lúc nóng lúc nguội, tay chân run rẩy. Người bệnh ăn nhiều mà
vẫn xuống cân, yếu mệt, tim đập nhanh, hồi hộp, khó thở, tiêu chảy, kinh ra ít.
Các bắp thịt tay chân yếu, mất sức, biểu hiệu rõ nhất khi lên thang. Nhiều
trường hợp, mắt họ thành to, lộ.
Nơi người lớn tuổi, triệu chứng cường giáp trạng thường mơ hồ: xuống cân, yếu
mệt, buồn sầu… Có khi những triệu chứng về tim lại nhiều hơn: tim đập thất
nhịp, suy tim, đau ngực… Bệnh tuyến giáp trạng xảy ra khá thường ở các vị lớn
tuổi, triệu chứng hay mơ hồ, nên khi các cụ có bất cứ triệu chứng chi khác lạ,
nhất là khi các cụ có suy tim, hoặc tim thất nhịp, nếu cần thử máu để tìm hiểu
vấn đề, thường bác sĩ cho thử cả T4 và TSH.
Sự định bệnh dựa vào triệu chứng người bệnh kể bác sĩ nghe, sự thăm khám, thử
nghiệm đo các chất T4, TSH trong máu, và nếu cần, chụp phim “thyroid uptake”.
Khi thăm khám, người cường tuyến giáp trạng trông có vẻ căng thẳng, không yên.
Da dẻ sờ thấy ấm và ẩm, lòng bàn tay hồng đỏ (palmar erythema). Các móng tay
hay bị tróc cao (nailbed separation), nhất là ở ngón đeo nhẫn. Tóc họ mảnh, và
mướt như lụa (silky). Lưỡi cùng các ngón tay họ run run. Mắt họ tròn to, ít
nháy, khi nhìn lên không thấy có vết nhăn vùng lông mày. Các bắp thịt tay trên,
các bắp thịt đùi thử thấy yếu (proximal muscle weakness). Những dấu chứng kể
trên sẽ thuyên giảm với sự chữa trị.
Tuyến giáp trạng khám thấy to đều (99% các trường hợp cường tuyến giáp trạng ở
người trẻ), có khi nổi cục, cũng có khi vẫn bình thường, không to (ở 20-50% các
vị có tuổi bị cường giáp trạng, tuyến giáp trạng không to lên).
Khi thử máu, thấy chất T4 trong máu lên cao, trong khi chất TSH trong máu lại
rất thấp (vì tuyến não thùy thấy chàng giáp trạng nghe người xúi dại, đã sản
xuất quá nhiều T4, nên thương tình, vội bớt tiết TSH đi, chẳng lẽ vẫn tiết ra
TSH nhiều như trước, thêm việc cho chàng giáp trạng). Khi làm “Radioactive
Iodine Uptake”, phim chụp tuyến giáp trạng sau khi cho người bệnh dùng chất
Iodine, thấy tuyến giáp trạng hấp thụ chất Iodine phóng xạ nhiều hơn bình
thường.
Một bệnh hay gây những triệu chứng tương tự như bệnh cường tuyến giáp trạng, là
bệnh “căng thẳng tâm thần” (anxiety): cũng bứt rứt, hồi hộp, hay run rẩy tay
chân, cảm thấy yếu, mệt… Thăm khám và thử máu có thể phân biệt hai bệnh. Da
người căng thẳng tâm thần giá lạnh, trong khi da người cường tuyến giáp trạng
sờ ấm, ẩm. Người căng thẳng tâm thần, nếu xuống cân, vì chán ăn (anorexia),
trong khi người cường tuyến giáp trạng ăn vẫn ngon, ăn nhiều là khác, mà vẫn
xuống cân. Khi thử máu, T4 và TSH của người căng thẳng tâm thần bình thường,
vì… họ có cường tuyến giáp trạng đâu.
Chữa trị
Bệnh cường tuyến giáp trạng cần được chữa trị. Vì ngoài những triệu chứng khó
chịu kể trên, về lâu về dài, bệnh còn gây hư hoại các bắp thịt (myopathy), suy
tim (heart failure), xốp xương (osteoporosis).
Có người bị “cơn bão giáp trạng” thổi vào hôn mê, rồi nhanh chóng từ giã cuộc
đời. “Bão giáp trạng” (“thyroid storm”) là một tình trạng cường tuyến giáp
trạng đột nhiên trở nặng, gây nóng sốt cao 102-106 độ F, tim đập trên 140 nhịp
mỗi phút, khiến cơ thể suy sụp toàn diện, áp huyết xuống thấp, thần trí người
bệnh hoảng loạn, hôn mê. Cùng lúc, người bệnh buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, vàng
da. Chữa trị không kịp, không đúng, tỉ lệ tử vong của “bão giáp trạng” lên đến
50-60% (10 người, 5-6 người chết). “Bão giáp trạng” có thể xảy ra khi người cường
tuyến giáp trạng, không chữa trị hoặc chữa chưa đúng, bất ngờ phải mổ khẩn cấp,
hoặc bị nhiễm trùng, bị chấn thương…
Có 3 cách để chữa bệnh cường tuyến giáp trạng:
1. Dùng thuốc uống:
Thuốc có tác dụng ngăn sự tổng hợp chất T4 trong tuyến giáp trạng. Hiện ở Mỹ,
có hai thuốc được sử dụng vào mục đích chữa trị này: Propylthiouracil (PTU), và
Tapazole. Thuốc PTU dùng được trong lúc đang mang thai.
Thời gian dùng thuốc kéo dài 1-2 năm. Sự chữa trị bằng thuốc hiệu quả hơn ở
những người có tuyến giáp trạng không phình to quá, mới phát bệnh trong vòng 6
tháng, dưới 40 tuổi, chỉ cần dùng một lượng thuốc thấp cũng đủ đưa tuyến về
trạng thái bình thường. Người cần thuốc với lượng cao, hoặc trước đã từng chữa
bằng thuốc, nay tái phát, chữa thuốc sẽ không đem lại nhiều kết quả mong muốn.
Và tất nhiên, nếu bạn dùng thuốc không đều, lúc uống lúc không, kết quả cũng
chẳng khả quan lắm.
Thuốc có thể gây phản ứng khó chịu: ngứa, nổi mẩn, mề đay, đau khớp, có vị kim
khí trong miệng (metallic taste). Những phản ứng này có thể bớt dần khi ta tiếp
tục thuốc. Hay đang dùng thuốc này, ta thử đổi sang thuốc khác xem sao. Những
phản ứng nguy hiểm sau ít xảy ra hơn: viêm gan (hepatitis), suy giảm các tế bào
trong máu (agranulocytosis), viêm các mạch máu (vasculitis with lupus-like
syndrome). Những trường hợp này, thuốc cần được ngưng, và bác sĩ sẽ khuyên bạn
dùng những chữa trị khác thay vì tiếp tục thuốc. Do thế, khi đang uống thuốc,
nếu có triệu chứng gì lạ, nhất là khi vàng da, nóng sốt, ớn lạnh, đau cổ họng,
chảy máu nướu răng, bạn nên ngưng thuốc và cho bác sĩ biết ngay.
Mục tiêu của việc dùng thuốc là đưa các trị số của chất T4 và TSH trở về bình
thường, khiến triệu chứng của bạn thuyên giảm. Việc này sớm lắm cũng mất đến
vài tuần mới thực hiện được, nên trong thời gian đầu, song song với việc cho
bạn uống PTU hay Tapazole, bác sĩ thường chữa bạn thêm với thuốc có tên
Inderal, để giúp bạn mau cảm thấy dễ chịu.
Thoạt tiên, khi mới dùng thuốc, bạn cần trở lại tái khám và thử máu mỗi 1-3
tháng, để bác sĩ điều chỉnh lại lượng thuốc bạn đang dùng nếu cần, cho đến khi
T4 và TSH trở về bình thường. Sau đó, bạn cần tái khám mỗi 3-4 tháng trong suốt
thời gian chữa trị 1 đến 2 năm. Mỗi lần bạn đến tái khám, bác sĩ sẽ theo dõi
sức nặng, mạch, áp huyết của bạn, cũng như sờ nắn, đo đạc tuyến giáp trạng xem
nó có nhỏ đi hay lớn thêm, mềm hay cứng. Đồng thời thử máu đo lại lượng T4.
Sau 18-24 tháng chữa trị bằng thuốc, 1/4 đến một nửa số người dùng thuốc sẽ
khỏi bệnh, số còn lại tái phát, thường trong vòng 6 tháng sau khi ngưng thuốc.
Cho nên, chữa trị xong, bạn vẫn cần trở lại mỗi 4-6 tuần trong vòng 3, 4 tháng
đầu để bác sĩ tiếp tục theo dõi. 6 tháng sau khi dứt chữa trị, bạn trở lại tái
khám lần nữa. Nếu bạn khỏe, lượng T4, TSH trong máu bạn vẫn bình thường, bạn
tái khám mỗi năm trong vòng 2-3 năm đầu, rồi sau có thể thưa dần đi.
2. Dùng chất phóng xạ Iodine:
Cách chữa này hiện rất thông dụng, dùng cho các vị lớn tuổi bị cường tuyến giáp
trạng, cho người trẻ đã chữa bằng thuốc uống nhưng nay tái phát, hoặc cho người
không muốn hay vì yếu quá, nên không chịu được giải phẫu cắt tuyến giáp trạng.
Chất phóng xạ Iodine có tác dụng ngăn chặn sự tổng hợp chất T4 trong tuyến giáp
trạng, đồng thời làm các tế bào của tuyến không thể sản sinh.
Để sửa soạn cho việc chữa bằng chất phóng xạ Iodine 131I, người bệnh được chữa
trước bằng thuốc PTU hoặc Tapazole hầu ổn định tuyến, đưa chất T4 trở về bình
thường. Thuốc ngưng 4-5 ngày trước khi sự chữa trị bằng chất phóng xạ Iodine
bắt đầu. Thường chỉ cần một lượng phóng xạ Iodine uống vào là đủ, trong vòng
4-6 tháng sau, tuyến giáp trạng sẽ không còn tiết nhiều T4 nữa. Trong lúc chờ
đợi, ta tiếp tục PTU hoặc Tapazole thêm một thời gian, cho đến khi thử máu,
thấy chất T4 đã trở về bình thường. Có khi, sau một lượng phóng xạ Iodine,
tuyến vẫn còn cứng đầu, ta bồi thêm một lượng phóng xạ thứ hai.
Cách chữa bằng chất phóng xạ Iodine 131I giản dị, hiệu quả, so ra lại rẻ hơn
phương pháp chữa bằng thuốc hoặc giải phẫu, nhưng không dùng được khi người
bệnh đang mang thai. Thỉnh thoảng, người có mắt lộ do cường tuyến giáp trạng,
sau khi chữa bằng chất phóng xạ Iodine, mắt sẽ lộ hơn. Cho đến nay, người ta
không nghĩ rằng chất phóng xạ dùng chữa bệnh cường tuyến giáp trạng sẽ gây ung
thư máu, các ung thư khác, hoặc tàn tật cho hài nhi sinh bởi những phụ nữ trước
từng được chữa bằng chất phóng xạ Iodine 131I.
Đa số người chữa với chất phóng xạ Iodine, sau sẽ bị suy tuyến giáp trạng
(hypothyroidism), và cần uống chất T4 suốt đời. Trị liệu với chất phóng xạ
Iodine xong, ta theo dõi bằng cách đo chất T4 trong máu mỗi 4-6 tuần trong vòng
3-6 tháng đầu, rồi hàng năm sau đó.
3. Giải phẫu cắt phần lớn tuyến giáp trạng (subtotal thyroidectomy):
Giải phẫu cần trong trường hợp tuyến lớn quá, đè ép các cơ quan chung quanh gây
khó chịu ở cổ, khó thở, khó nuốt, ho. Giải phẫu cũng dùng cho người uống thuốc
không có hiệu quả, song ngại ngùng, không muốn chữa với chất phóng xạ Iodine.
Một số người chữa bằng giải phẫu, sau cũng suy tuyến giáp trạng. Suy tuyến giáp
trạng, nếu xảy ra, sẽ sớm hơn trường hợp chữa bằng chất phóng xạ Iodine, có thể
trong vòng 3-4 tuần sau khi mổ. Người bệnh cần được theo dõi giống như trường
hợp chữa trị bằng chất phóng xạ Iodine.
Để tóm tắt, cường tuyến giáp trạng rất hay xảy ra, đặc biệt ở phụ nữ. Bệnh gây
những triệu chứng khó chịu, nhiều biến chứng tai hại. Sự trị liệu (bằng thuốc,
bằng chất phóng xạ Iodine, hoặc giải phẫu) cần đến sự hiểu biết tường tận của
người bệnh, về căn bệnh của mình, cũng như tác dụng của các cách chữa. Cách nào
đi nữa, sau khi lành bệnh, ta cũng vẫn phải được theo dõi đều đặn, đến suốt
đời, vì bệnh có thể tái phát, hoặc, sau một thời gian, tuyến giáp trạng lại đâm
suy.
BS Nguyễn Văn Đức
http://www.thegioimoionline.com/tm.php?recordID=1989
XEM THÊM: Hyperthyroidism PDF
Discussion about this post