Đây là một khái niệm căn bản trong giáo lý đạo Phật, coi như chìa khóa cửa của căn nhà kín cổng cao tường mở ra cho chủ nhân là hành giả bắt đầu cất bước trên con đường Giải Thoát.
Đây là một khái niệm căn bản trong giáo lý đạo Phật, coi như chìa khóa cửa của căn nhà kín cổng cao tường mở ra cho chủ nhân là hành giả bắt đầu cất bước trên con đường Giải Thoát. Kinh Kim Cang phẩm 14 Ly tướng tịch diệt có câu: Ly nhất thiết chư tướng, tức danh chư Phật. Diễn nghĩa: Xa lìa hết thảy mọi tướng, ngay lúc đó có thể xứng đáng gọi là chư Phật.
Khi xa lìa hết thảy mọi tướng, không nắm giữ trong tâm thức một tướng nào, hành giả mới có được cái tâm gọi là Tâm Vô Chấp, Tâm Vô Nhiễm, Tâm Thanh Tịnh, Tâm Không… Trong kinh Kim Cang gọi là Tâm Vô Sở Trụ, có nghĩa Tâm không có chỗ để bám tựa vào. Khi đó, Tâm của hành giả không còn là Tâm Vô Minh, Tâm Si Mê của kẻ phàm phu dung tục, vì đã chuyển thành Tâm Giác Ngộ, Tâm Bồ Đề.
Tâm của hành giả xa lìa hết thảy pháp tướng của vạn hữu, thực chứng hội nhập vào chư pháp giới Chân Như.
Tướng và Tánh là hai thuật ngữ nói tắt của Pháp tướng và Pháp tánh, người tìm hiểu đạo Phật cần nhận biết rõ ràng rành rẽ trong khi lý giải cũng như hành trì.
1. Pháp tướng và Pháp tánh
Trong Phật học, từ ngữ Pháp diễn tả nội dung của Dharma tiếng Sanskrit, Dhamma tiếng Pali, phiên âm là Đạt-ma hay Đàm-ma. Đây là một khái niệm có nội dung rất rộng mang nhiều nghĩa:
– Quy luật bao trùm toàn thể vũ trụ như lý Nhân Quả, lý Duyên Sinh, lý Vô Ngã, lý Vô Thường…
– Quy tắc hướng dẫn nhân sinh như Giáo pháp của Đức Phật, Chánh pháp, Pháp bảo, quy y Pháp…
– Giới luật trong đời sống tu hành như pháp môn, pháp luân, pháp quy..
– Sự hiển lộ của thể tánh, mọi hiện tượng, mọi sự vật, mọi thực thể…
– Nội dung tâm thức, tức đối tượng của mọi quán chiếu, tưởng niệm, suy tư…
– Những thành phần tạo dựng nên thế giới hiện hữu, tức pháp giới.
Nói tổng quát, theo Phật học đại từ điển của Đinh Phúc Bảo, Pháp là tất cả những gì có đặc điểm riêng biệt, khiến cho người nhận thức không lầm với cái khác, có những khuôn khổ riêng có khả năng làm phát sinh trong đầu óc người nhận thức có khái niệm về nó. Đây là định nghĩa cổ điển diễn nghĩa từ chữ Hán: Nhậm trì tự tánh quỹ sinh vật giải. Nói cách khác, Pháp là đối tượng của khái niệm, tất cả những gì tạo nên ấn tượng cho giác quan hay nhận thức, do đó con người mới có khái niệm về cái đó. Cái gọi là cái đó bao gồm tất cả những thực thể vật chất hay tinh thần, hữu hình hay vô hình, những vật thể hay hiện tượng trong vũ trụ hay những sự kiện trong sinh hoạt hàng ngày hay trạng thái tâm lý của con người trong cuộc sống.
Pháp được cảm thọ nhận thức qua hai lăng kính Pháp tướng và Pháp tánh, gọi tắt là Tướng và Tánh.
Thấy biết như thật và thấy tánh

Tướng
Tướng là tiếng đơn, tiếng ghép đôi thường dùng là Sắc tướng, Hình tướng Giả tướng, Hư tướng. Đó là sắc thái, hình dạng, trạng thái của một vật thể, một sự kiện hiển lộ ra ngoài, gây nên ấn tượng cho con người nhận thấy. Tướng là cái biểu tượng ra ngoài, bên trong là bản tánh, thực chất. Ca dao có câu:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
Nước sơn, dung nhan vóc dáng con người gọi là Tướng. Chất của gỗ, tính nết con người là Tánh.
Tánh
Tánh hay Tính là tiếng đơn, tiếng ghép đôi thường dùng là Thể tánh, Bản tánh, Chân tánh. Từ ngữ này có nhiều nghĩa tùy theo từng trường hợp ứng dụng:
– Cái cốt tủy, gốc rễ chính yếu ấn đang ở trong như căn tánh, đức tánh, tánh khí…
– Bản thể, thực chất như tự tánh, tánh mạng, tánh tham dục.
– Nguyên lý bất biến, không đổi rời, không hoại diệt như Phật tánh, Như Lai tánh, Thiện tánh…
– Điểm đặc thù của từng loại như tánh chăm chỉ, tánh lười biếng, tánh hay nói hay cười…
Trong Phật học, hai thuật ngữ Tướng và Tánh thường dùng khi có đối ý với nhau như Sự đối với Lý, pháp Hữu Vi đối với pháp Vô Vi, Giả đối với Thực, Vọng đối với Chân…
Discussion about this post