TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM
Thích Phước Đạt
Không
phải đợi đến ngày vía Đức Quán Thế Âm, giới Phật tử
mới thành tâm lễ bái, cầu nguyện và tưởng niệm mà hình
tượng Ngài đã đi sâu vào tâm thức trong đời sống tu tập
tâm linh của mọi người con Phật. Niềm tin bất động ấy
đã trở thành tín ngưỡng tôn giáo, không chỉ thể hiện
qua lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm vào các
ngày vía Ngài mà còn tác động khá rõ nét vào đời sống
văn hóa cộng đồng qua nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo
các nhà nghiên cứu Phật giáo thì tín ngưỡng Quán Thế Âm
rất phổ biến ở các nước Phật giáo Bắc truyền. Việc
dịch kinh điển về tín ngưỡng Quán Thế Âm có từ rất
sớm. Người đầu tiên phải kể đến là Chi Cương Lương
Tiếp, nước Đại Nhục Chi đã dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội
(6 quyển) vào năm 255 tại Giao Châu (miền Bắc Việt Nam) cùng
với nhà sư Thích Đạo Thanh phụ dịch. Ngài Trúc Pháp Hộ
đời Tây Tấn dịch phẩm Quán Thế Âm Phổ môn trong kinh Chính
Pháp Hoa vào năm 286. Ngài Đàm Vô Kiệt dịch kinh Quán Thế
Âm Bồ tát thọ ký… Ngoài kinh Pháp Hoa còn có kinh Vô Lượng
Thọ được ngài Khang Tăng Khải dịch vào năm 252 đời Tào
Ngụy; kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới do ngài Phật Đà
Bạt La dịch, nói rộng về hạnh lợi tha của Bồ tát Quán
Thế Âm; kinh Thập Nhất Diện Quán Thế Âm thần chú do ngài
Da Xá Quật Đa dịch vào thời Bắc Chu thì nói rõ về phước
đức và sự linh nghiệm của việc xướng danh hiệu Bồ tát
Quán Thế Âm… Nhờ các bản kinh này được phiên dịch làm
cho tín ngưỡng Quán Thế Âm phát triển rộng rãi.
Căn
cứ vào các bản kinh nói trên, thì danh hiệu của Bồ tát
Quán Thế Âm có bản nguyện và năng lực là “quán sát” và
“lắng nghe” những âm thanh kêu gọi cứu khổ của chúng
sinh mà mở lòng cứu độ vô điều kiện. Cũng vì đó mà
hàng Phật tử tôn kính, thờ tự, ngưỡng nguyện Ngài mọi
lúc, mọi nơi trong sự độ trì của Ngài.
Diệu
Pháp Liên Hoa kinh, phẩm Phổ môn là bản kinh khá quen thuộc
và được giới Phật tử hành trì theo công hạnh cũng
như tiếp nhận sự gia trì, che chở từ năng lực huyền thâm
của Ngài. Năm 406, đời Dao Tần, Cưu Ma La Thập đã dịch
kinh này sang Hán ngữ.
Nội
dung phẩm Phổ môn chủ yếu là đề cập đến công hạnh
cứu khổ cứu nạn của Bồ tát Quán Thế Âm trước những
khổ đau và hệ lụy của chúng sanh. Theo phẩm kinh này thì
khi chúng sinh gặp khổ nạn, chỉ cần niệm danh hiệu Bồ
tát, tức thời Ngài quán sát âm thanh ấy mà đến giúp. Điều
đáng nói trong bản kinh này là người hành trì sẽ đón nhận
một trong những hóa thân Ngài đến cứu độ trong mọi hoàn
cảnh, tình huống khổ đau, hoạn nạn, hiểm nguy, bệnh hoạn…
và vô lượng sự nhiệm mầu khác nữa.
Theo
kinh Bi Hoa, xuất phát từ ý nguyện độ sinh, hướng dẫn linh
thức của người hằng niệm Phật với tâm tịnh tín, một
lòng hướng nguyện sinh về cõi Cực Lạc, Ngài với Đức
Đại Thế Chí cùng trợ hóa đắc lực cho Đức A Di Đà, tiếp
dẫn chúng sinh về Cực Lạc.
Ngoài
ra, hình tượng Quán Thế Âm còn được biểu trưng cho vị
Bồ tát hóa độ xuyên suốt thời gian và không gian kể từ
khi Đức Phật Thích Ca thị hiện ở cõi Ta Bà cho đến lúc
Phật Di Lặc đản sinh và hơn thế nữa. Chí nguyện đó trở
thành cơ sở cho niềm tin bất diệt trong tâm thức người
Phật tử, vì vậy Đức Quán Âm có ý nghĩa như là toàn bộ
giá trị thăng chứng trí tuệ, giác ngộ giải thoát, sự chứng
đắc quả vị Phật, luôn hiện hữu trong mọi chúng sinh.
Đây
chính là hạt nhân quan yếu mà con người thường hướng nghĩ
và niệm tưởng về Ngài với ước nguyện mong cầu khả năng
chuyển hóa từ năng lực “biết quán sát và lắng nghe”.
Sự hóa hiện mầu nhiệm cùng với những đức năng được
nhiều bản kinh Bắc truyền mô tả, Ngài được biểu trưng
bằng những hình ảnh khác nhau. Chúng ta dễ dàng bắt gặp
hình ảnh Cửu diện Quán Âm, Thập nhứt diện Quán Âm, Tống
tử Quán Âm, Quán Âm nghìn mắt nghìn tay…
Tuy
nhiên, chính sự đa năng và tùy duyên hóa độ này mà Ngài
được tôn vinh bằng nhiều danh hiệu khác nhau để khái quát
trong việc cứu độ theo từng lĩnh vực, chức năng chuyên
biệt gắn liền những sự tích thiêng liêng. Chẳng hạn, khi
nói đến “Nam hải Quán Âm” có nghĩa Ngài đang là vị Phật
chủ tể biển Nam để cứu độ những sinh thể đang trôi
giạt ở đó. Ngài thường cảm ứng, chia sẻ nỗi đau với
những người phụ nữ hiếm con, hay muộn con mà thị hiện
cứu độ nên có danh hiệu “Tống tử Quán Âm”. Ta còn bắt
gặp hình tượng Quán Âm được thờ trong chùa, các tư gia
mặc áo trắng tinh khiết, có danh hiệu “Bạch y Quán
Âm”, hoặc là hình tượng Ngài ngồi một cách thoải mái,
biểu thị sự cứu độ chúng sinh một cách “vô tư” mà
có danh hiệu “Tự tại Quán Âm”.
Tiếp
cận các bản kinh Bắc truyền có liên hệ đến Ngài, sự
đa dạng phong phú qua các danh hiệu và hình thức thờ tự
Ngài thường gắn liền với ý nghĩa biểu tượng của giáo
pháp, sự hành trì đi đến giải thoát. Chẳng hạn, hình tượng
Tứ thủ Quán Âm (bốn cánh tay) là biểu tượng giáo pháp
Bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Chính bốn tâm vô lượng
trở thành phương tiện hữu dụng để Ngài hóa độ cùng
khắp, xứng danh “đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn,
linh cảm”. Hay hình tượng Dương liễu Quán Âm, tay cầm bình
nước cam lồ và tay kia cầm cành dương liễu. Cả hai đều
có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về giáo pháp tự độ, độ
tha mà người Phật tử hướng đến. “Giọt nước cành dương”,
trong đó bình nước cam lồ là hình ảnh biểu trưng chuyển
tải từ bi và trí tuệ. Nhành dương liễu biểu thị sự linh
động, uyển chuyển, chuyển hóa, tùy căn cơ, tùy thuận chúng
sinh trong mọi hoàn cảnh mà cứu độ.
Trong
các thời khóa hành lễ, mở đầu bao giờ cũng trì niệm thần
chú Đại Bi. Thần chú này có ý nghĩa quan trọng, công năng
mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Thần chú “Án ma ni bát di
hồng” cũng mang giá trị tâm linh mầu nhiệm, một khi đang
đắm chìm trong khổ đau mà biết chí thành trì niệm chú này
thì Bồ tát hóa hiện cứu độ ngay lập tức. Chính sự nhiệm
mầu linh cảm của Đức Quán Âm nên chúng sinh hiện hữu ở
đời cảm nhận Ngài luôn dõi mắt và lắng nghe từng nhịp
đập con tim của họ chẳng khác người mẹ trông con. Vì thế
mà Ngài trở thành mẹ hiền Quán Thế Âm, dân gian còn gọi
là Phật Bà. Từ đó, nói đến “Quán Âm” là nói đến
sự hiện thân của lòng từ bi cao cả, tột cùng của chư
Phật và Bồ tát ba đời. Mặc dầu các ngài như Văn Thù,
Phổ Hiền, Di Lặc… đều có hạnh nguyện từ bi như Ngài,
nhưng trong các vị Bồ tát cứu độ chúng sinh thì Quán Thế
Âm là vị Bồ tát được sùng bái, trì niệm, phổ cập vào
quần chúng nhất. Thậm chí, bất kỳ sự linh nghiệm nào mà
người ta đón nhận được từ trong khó khăn, nguy hiểm hay
an vui, thuận lợi đều được xem là có sự cứu độ của
Ngài.
Sự
mầu nhiệm và hóa thân của Đức Quán Thế Âm còn tác động
vào đời sống văn hóa các nước ở nhiều lĩnh vực, nhất
là văn học, văn hóa và nghệ thuật. Ở Trung Hoa xuất hiện
việc sáng tác một số kinh điển văn học tín ngưỡng Quán
Thế Âm nhằm giải thích, sớ giải nghĩa lý về hình tượng
Quán Thế Âm. Chẳng hạn như ngài Trí Khải dựa vào phẩm
Phổ môn, kinh Pháp Hoa mà soạn Quán Âm huyền nghĩa, Quán Âm
nghĩa sớ, Thỉnh Quán Âm sám pháp… Ngoài ra, những sáng tác
nghệ thuật kiến trúc tự viện, mỹ thuật trang trí hình
tượng Quán Thế Âm rất phong phú, đa dạng. Các nghệ nhân
phóng tác tùy theo sự giao cảm, lòng tin và ứng nghiệm mà
tạo tượng Quán Âm ngồi trên sò, Quán Âm ngồi trên sườn
núi trong biển cả, tượng Quán Âm tay xách giỏ cá… Tượng
Bồ tát Quán Âm được tôn trí trong thạch động Đôn Hoàng
chiếm gần một nửa, cho thấy tín ngưỡng Quán Âm rất thịnh
hành.
Ở
Nhật Bản cũng rất sùng kính Bồ tát Quán Thế Âm. Theo Phù
Tang lược ký thì Suy Cổ Thiên hoàng có ban sắc khắc tượng
Quán Thế Âm bằng gỗ thơm trầm thủy; Thánh Vũ Thiên hoàng
và hoàng hậu Quang Minh triều Nara kiến lập Quốc Phân Ni tự,
tôn trí tượng Quán Thế Âm, tạo 177 pho tượng và chép 177
quyển kinh Quán Thế Âm để cầu nguyện cho thái tử hết
bệnh. Tín ngưỡng Quán Thế Âm vào thời Bình An cũng rất
phổ cập. Có gần 500 tác phẩm điêu khắc, hội họa qua các
thời đại, hiện được xếp vào hàng quốc bảo. Ngoài ra,
các tác phẩm kinh văn nói về sự linh nghiệm của Quán Thế
Âm cũng được ghi nhận khá nhiều như Quán Âm cảm thông
truyện, Quán Âm tân nghiệm lục, Quán Âm diệu ứng tập…
Ở
Việt Nam, từ khi kinh Pháp Hoa được dịch ngay từ thời du
nhập đến nay, tín ngưỡng Quán Thế Âm đã phát triển mạnh
mẽ trong đời sống văn hóa cung đình cho đến đời sống
văn hóa dân dã. Từ việc vua chúa xây chùa biểu đạt tâm
thức người Việt như chùa Một Cột cho đến dựng tượng
đài Quán Thế Âm khắp nơi, cũng như tôn trí các bức tượng
Quán Thế Âm qua nhiều mẫu thức khác nhau trong các tự viện,
tịnh thất, cho thấy sự sáng tạo mỹ thuật hội họa, điêu
khắc trong trực cảm tâm linh của quần chúng đối với Ngài
thật là tương thích, đa dạng và nhiệm mầu. Có những bức
tượng, ảnh tượng ngày nay đã được trở thành báu vật
quốc gia được lưu giữ ở trong các tổ đình và bảo tàng
quốc gia. Sự tác động của tín ngưỡng Quán Thế Âm còn
đi vào sự thể nhập trong văn học nước nhà. Các truyền
thuyết Quán Âm Diệu Thiện, Quán Âm Thị Kính, Nam Hải Quan
Âm… đã đi vào tâm thức người Việt như dòng chảy văn
hóa Việt Nam đang lưu chuyển trong dòng máu Lạc Hồng để
tạo ra những mẫu người Phật tử Việt Nam chí thành với
đạo và tận tâm với đời để cùng nhau xây dựng đời
sống an lạc. Đây chính là giá trị tâm linh mà tín ngưỡng
Quán Thế Âm đem lại cho cõi đời này.
Thích
Phước Đạt
(Giác
Ngộ)
4-04-2007
05:45:23
Discussion about this post