ĐỐI PHÓ VỚI SÂN HẬN VÀ CẢM XÚC
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Geshe Thupten Jinpa
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 24/08/2011
Sân
hận và thù oán là hai trong số những người bạn gần gũi nhất của chúng ta. Khi còn trẻ, tôi đã có một mối quan hệ rất gần
gũi với giận dữ. Cuối cùng tôi thấy nhiều
sự bất hòa (!) với giận dữ. Bằng việc sử
dụng ý thức thông thường, với sự hổ trợ của từ bi và tuệ trí, bây giờ tôi có một
biện luận đầy năng lực để đánh bại sân hận.
Theo
kinh nghiệm của riêng tôi, rõ ràng rằng nếu mỗi cá nhân thực hiện nổ lực ,sau
đó người ấy có thể thay đổi. Dĩ nhiên,
thay đổi không phải ngay lập tức mà nó cần nhiều thời gian. Nhằm để thay đổi và đối phó với những cảm
xúc, phân tích tư tưởng là lợi lạc, xây dựng và hữu ích cho chúng ta một cách
thiết yếu. Tôi muốn nói một cách chủ yếu
đối với những tư tưởng làm cho chúng ta tĩnh lặng hơn, thư thái hơn, và những
điều ban hòa bình cho tâm tư chúng ta, chống lại những tư tưởng tạo nên băn
khoăn, sợ hãi và thất vọng. Sự phân tích
này tương tự với điều mà chúng ta có thể sử dụng cho những thứ ngoại tại, như
thực vật. Một số cây cỏ, bông hoa, và
trái cây là tốt lành cho chúng ta, vì thế chúng ta sử dụng và trồng trọt
chúng. Những thứ cây cỏ nào độc hại hay
tổn thương chúng ta, chúng ta nghiên cứu,nghe biết để nhận ra và đôi khi tiêu
trừ chúng.
Có
một sự tương tự với thế giới nội tại. Thật
đơn giản để nói về “thân thể” và “tâm thức”. Trong thân thể có hàng tỉ hạt [vi tế]. Tương tự thế, có nhiều tư tưởng khác nhau và
một sự đa dạng thể trạng của tâm thức. Thật là thông tuệ để có một cái nhìn vào trong thế giới tâm thức của
chúng ta và làm một sự phân biệt giữa những thể trạng lợi ích và tổn hại của
tâm thức. Một khi chúng ta có thể nhận
ra giá trị của những thể trạng tốt lành của tâm thức, chúng ta có thể củng cố
hay nuôi dưỡng chúng.
Đức
Phật đã dạy về những nguyên tắc của Bốn Chân Lý Cao Quý[1]
và những điều này hình thành nền tảng của Phật Pháp. Chân Lý Thứ Ba là sự chấm dứt (diệt đế). Theo Long Thọ, trong phạm vi chấm dứt này có
nghĩa là thể trạng của tâm thức hay phẩm chất tinh thần qua sự thực tập và nổ lực,
chấm dứt tất cả mọi cảm xúc tiêu cực. Long Thọ xác định sự chấm dứt chân thật như một tình trạng mà trong ấy
cá nhân đã đạt đến một thể trạng toàn hảo của tâm thức tự do khỏi những tác động
của các phiền não đa dạng của những cảm xúc và tư tưởng tiêu cực. Một thể trạng chấm dứt thật sự như vậy, theo
Đạo Phật, là Giáo Pháp chân thật và vì thế là nơi nương tựa mà tất cả những sự
thực hành Phật Pháp tìm cầu. Đức Phật trở
thành một đối tượng nương tựa, đấng tôn kính, bởi vì Đức Phật thực chứng thể trạng
ấy. Do thế, sự tôn kính của một người đối với Đức Phật, và lý do mà người ta
tìm cầu sự quy y với Đức Phật, không phải bởi vì Đức Phật là một người đặc biệt
từ lúc đầu, nhưng bởi vì Đức Phật thân chứng thể trạng chấm dứt chân thật (diệt
đế). Tương tự thế, cộng đồng tâm linh,
hay Tăng Già, được xem như một đối tượng để nương tựa bởi vì những thành viên của
cộng đồng tâm linh là những cá nhân hoặc là đã hay đang dấn thân trong con đường
đưa đến thể trạng diệt đế ấy.
Chúng
ta thấy rằng thể trạng chân thật ấy có thể được hiểu chỉ trong những dạng thức
của một thể trạng tự tại khỏi những cảm xúc tiêu cực hay là điều đã được tịnh
hóa những tư tưởng bất thiện qua việc áp dụng những sự đối trị và năng lực đối
kháng. Sự chấm dứt chân thật là một thể
trạng của tư tưởng và những nhân tố đưa
đến điều này cũng là những chức năng của tâm thức. Cũng thế, căn bản mà trên ấy sự tịnh hóa có
thể diễn ra là sự tương tục của tinh thần. Do vậy, một sự thấu hiểu về bản chất tự nhiên của tâm thức là thiết yếu
cho sự thực hành Phật Pháp. Bằng việc
nêu lên điều này, tôi không muốn nói rằng mọi thứ hiện hữu đơn giản là sự phóng
chiếu hay phản chiếu của tâm thức và rằng tách rời khỏi tâm thức thì không có
gì tồn tại. Nhưng do bởi tầm quan trọng
của sự thấu hiểu về bản chất tự nhiên của tâm trong sự thực hành Phật Pháp, nên
người ta thường diễn tả Đạo Phật như một “khoa học của tâm thức”.
Nói
một cách tổng quát, trong kinh luận Đạo Phật, một cảm xúc hay tư tưởng tiêu cực
được định nghĩa như “một tình trạng tạo ra quấy nhiễu trong tâm thức con
người.” Những cảm xúc và tư tưởng
phiền não này là những nhân tố tạo nên khổ sở và rối loạn trong chúng ta. Cảm xúc trong tổng quát không nhất thiết là
điều gì đấy tiêu cực. Tại một hội nghị
khoa học mà tôi tham dự cùng với nhiều nhà tâm lý học và thần kinh học, đã kết
luận rằng ngay cả những vị Phật cũng có cảm xúc, theo sự định nghĩa cảm xúc thấy
trong những nguyên tắc khoa học đa dạng. Vì thế bi mẫn (karuna – lòng ân cần tử tế vô hạn) có thể được diễn tả
như một loại cảm xúc.
Một
cách tự nhiên, cảm xúc có thể tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, khi nói về sân hận hay giận dữ,v.v…,
chúng ta đang đối phó với những cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tiêu cực là những thứ tạo ra một loại
khổ sở hay không thoải mái ngay lập tức, và là những thứ về lâu dài, tạo nên những
loại hành động nào đấy. Những hành động
này căn bản đưa đến tồn hại người khác, và điều này mang đau đớn hay khổ sở đến
chính người ấy. Đây là những gì chúng
tôi muốn nói qua cảm xúc tiêu cực.
Một
cảm xúc tiêu cực là sân hận. Có lẽ có
hai loại sân hận. Một loại sân hận có thể
chuyển hóa thành cảm xúc tích cực. Thí dụ,
nếu một người có một động cơ từ bi chân thật và quan tâm đến người nào đấy, và
người ấy không lưu ý đến cảnh báo của mình về hành vi của người ấy, rồi thì
không có lựa chọn nào ngoại trừ việc sử dụng một loại sức mạnh nào đấy để chấm
dứt hành vi sai lầm của người ấy. Trong
sự thực hành Mật tông tantra, có những loại kỷ năng thiền quán cho phép chuyển
hóa năng lượng của sân hận. Đây là lý
do ẩn tàng phía sau những bổn tôn phẩn nộ. Trong căn bản của động cơ từ bi, sân hận có thể hữu ích trong một vài
trường hợp bởi vì nó cho chúng ta năng lượng bổ sung đặc biệt và có thể cho
phép chúng ta hành động một cách nhanh chóng.
Tuy
nhiên, sân hận thường đưa đến thù oán và thù hận luôn luôn là tiêu cực. Thù hận nuôi dưỡng ý chí bệnh hoạn. Tôi thường phân tích sân hận trong hai cấp độ:
trên cấp độ căn bản của loài người và trên cấp độ của Đạo Phật. Từ cấp độ của con người, không có bất cứ sự
liên hệ nào với một truyền thống hay lý tưởng tôn giáo, chúng ta có thể nhìn
vào căn nguyên sự hạnh phúc của chúng ta: thân thể mạnh khỏe, phương tiện vật
chất thuận lợi, và những người đồng hành hữu hảo. Bây giờ từ vị thế của sức khỏe, những cảm xúc
tiêu cực như thù hận là rất tệ hại. Vì
con người thông thường cố gắng chăm sóc sức khỏe của họ, một kỷ năng người ta
có thể dùng là thái độ tinh thần của họ. Tình trạng tinh thần của chúng ta phải luôn luôn trầm tĩnh. Ngay cả nếu một sự băn khoăn nào xảy ra, như
nó luôn luôn ràng buộc với đời sống chúng ta phải luôn luôn tĩnh lặng. Giống như sóng sinh khởi từ nước, và hòa tan
trở lại trong nước, những sự quấy nhiễu
này rất ngắn, vì thể chúng không ảnh hưởng thái độ tinh thần căn bản của chúng
ta. Mặc dù chúng ta không thể loại trừ tất
cả những cảm xúc tiêu cực, nếu thái độ tinh thần căn bản của chúng ta là lành mạnh
và trầm tĩnh, nó sẽ không bị ảnh hường nhiều. Nếu chúng ta duy trì tĩnh lặng, áp suất của máu, v.v… sẽ duy trì ở mức độ bình thường
và như một kết quả sức khỏe của chúng ta sẽ cải thiện. Trong khi tôi không thể nói một cách
khoa học tại sao điều này là như vậy,
thì tôi tin tưởng rằng điều kiện thân thể của chính tôi đang cải thiện khi tôi
già hơn. Tôi đã và đang dùng cùng một loại
thuốc, cùng một bác sĩ, cùng một thứ thức ăn, vì thế điều này phải là xuyên qua
tình trạng tinh thần của tôi. Một số người
nói với tôi, “Ngài phải có một loại thuốc men đặc biệt của Tây Tạng.” Nhưng tôi không có!
Như
tôi đã đề cập phía trước, khi tôi còn trẻ, tôi khá dễ nổi nóng. Đôi khi tôi xin lỗi điều này bằng việc nói rằng
tại vì cha tôi hay nổi giận, giống như nó là một loại di truyền. Nhưng thời gian trôi qua, tôi nghĩ rằng bây
giờ tôi hầu như không có thù hận đối với bất cứ người nào, kể cả những người
Trung Cộng đang tạo nên khốn khó và khổ đau cho đồng bào Tây Tạng của tôi. Thậm chí đối với họ, tôi thật sự không cảm thấy
bất cứ loại thù oán nào.
Một
số người bạn thân của tôi bị áp huyết cao, tuy thế sức khỏe của họ chưa bao giờ đi đến tình trạng
nghiêm trọng và họ chưa bao giờ cảm thấy mệt mõi. Trải qua nhiều năm, tôi đã gặp một số hành giả
rất tinh chuyên. Trong lúc ấy, có một số
người bạn khác có tiện nghi vật chất rất tốt, nhưng khi chúng tôi bắt đầu nói,
sau một vài lời lịch sự khởi đầu, họ bắt đầu phiền hà và đau buồn. Mặc cho sự giàu có vật chất của họ, những người
này không có sự tĩnh lặng hay bình an của tâm hồn. Như một kết quả, họ luôn luôn lo lắng về sự
tiêu hóa, giấc ngủ của họ, mọi thứ! Do
thế, rõ ràng rằng sự tĩnh lặng của tâm tư là một nhân tố rất quan trọng cho sức
khỏe tốt lành. Nếu quý vị muốn sức khỏe
tốt, đừng hỏi bác sĩ, mà hãy nhìn vào chính quý vị. Hãy cố gắng sử dụng khả năng nào đấy của quý
vị. Điều này thậm chí không tốn tiền gì
cả!
Nguồn
gốc thứ hai của hạnh phúc là những phương tiện vật chất. Thỉnh thoảng khi tôi thức giấc vào buổi sáng
sớm, nếu tâm trạng của tôi không quá tốt đẹp, sau đó khi nhìn đồng hồ, tôi
không cảm thấy thoải mãi, do bởi tâm trạng của tôi. Rồi thì trong những ngày khác, có lẽ qua kinh
nghiệm của ngày trước, khi thức dậy, tâm trạng của tôi dễ chịu và an bình. Vào lúc ấy, khi tôi nhìn đồng hồ đeo tay của
tôi, và tôi thấy nó như cực kỳ đẹp đẻ. Nhưng đấy cùng là một đồng hồ thôi, có phải không? Sự khác biệt đến từ thái độ tinh thần của
tôi. Việc sử dụng các phương tiện vật chất cung cấp sự hài lòng
chân thật hay không tùy thuộc vào thái độ tinh thần của chúng ta.
Phương
tiện vật chất của chúng ta sẽ là tệ hại nếu tâm tư chúng ta bị khống chế bởi
sân hận. Để nói một lần nữa về kinh nghiệm của chính tôi, khi tôi còn trẻ, đôi
khi tôi sửa chửa những đồng hồ đeo tay. Tôi cố gắng và thất bại nhiều lần. Đôi khi tôi đánh mất sự kiên nhẫn của mình và đập chiếc đồng hồ! Trong những thời khắc ấy, sự giận dữ làm thay đổi thái độ của
tôi hoàn toàn và sau đó tôi lấy làm tiếc vì những hành động của tôi. Nếu mục tiêu của tôi là sửa chửa đồng hồ, thế
thì tại sao tôi đập nó trên bàn? Một lần
nữa, quý vị có thể thấy thái độ tinh thần của một người là thiết yếu nhằm để sử
dụng những phương tiện vật chất cho sự
toại nguyện hay lợi ích chân thật của chúng ta.
Nguồn
gốc thứ ba của hạnh phúc là những người đồng hành của chúng ta. Rõ ràng rằng khi chúng ta tĩnh lặng tinh thần,
chúng ta lịch sự và cởi mở tâm tư. Tôi sẽ
cho một thí dụ. Có lẽ 14 hay 15 năm về
trước, có một người Anh Quốc tên là Phillips, người có một mối liên hệ với
chính quyền Trung Cộng, kể cả Chu Ân Lai và những lĩnh tụ khác. Ông ấy biết họ trong nhiều năm và ông là bạn
thân của những người Hoa. Một lần nọ vào
năm 1977 hay 1978, Phillips đã đến Dharamsala để gặp tôi. Ông mang đến một số phim và nói với tôi về những khía cạnh tốt đẹp của Trung
Hoa. Vào lúc mở đầu cuộc gặp gở, có một
sự khác biệt lớn lao giữa chúng tôi, vì chúng tôi đã có những ý tưởng khác biệt
nhau. Trong quan điểm của ông, sự hiện
diện của Trung Cộng ở Tây Tạng là điều gì đấy tốt đẹp. Trong ý kiến của tôi, và theo một số báo cáo,
tình trạng là không tốt. Như thông thường,
tôi không có cảm giác tiêu cực đặc thù gì với ông ta. Tôi chỉ cảm thấy là ông ta giữ những quan điểm
này qua sự thiếu hiểu biết. Với sự cởi mở,
tôi đã tiếp tục cuộc đối thoại của chúng tôi. Tôi tranh cải rằng những người Tây Tạng đã tham gia Đảng Cộng Sản Trung
Quốc vào đầu năm 1930 và những người đã tham dự trong cuộc chiến tranh Hoa – Nhật
và đã chào mừng sự xâm lược của Trung Cộng và nhiệt tình hợp tác với những người
Trung Cộng đã làm như thế vì họ tin rằng đấy là một cơ hội bằng vàng để phát
triển Tây Tạng, từ quan điểm của tư tưởng Marxist. Những người này đã hợp tác với người Hoa vì
hy vọng chân thành. Sau đó, khoảng những
năm 1956 hay 1957, hầu hết những người ấy đã bị gạt bỏ khỏi đủ loại cơ quan của
Trung Cộng, một số bị cầm tù, và những người khác bị mất tích. Do thế, tôi đã giải thích rằng chúng tôi không
chống người Hoa hay chống Cộng. Trong thực
tế, đôi khi tôi nghĩ chính mình như một người phân nửa Marxist và phân nửa Phật
tử. Tôi đã giải thích tất cả những thứ
khác nhau đến ông ta với một động cơ chân thành và cởi mở và sau một thời gian
thái độ ông ta hoàn toàn thay đổi. Thí dụ
này cho tôi một sự niềm tin nào đấy rằng nếu có một sự khác biệt ý kiến lớn
lao, chúng ta vẫn có thể đối thoại trên trình độ con người. Chúng ta có thể đặt qua một bên những ý tưởng
khác nhau và đối thoại như những con người. Tôi nghĩ rằng đấy là một cách để tạo nên những cảm giác tích cực trong
tâm tư những người khác.
Cũng
thế, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng nếu vị Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn này cười
ít hơn, có lẽ tôi sẽ có ít bạn bè hơn ở những nơi khác nhau. Thái độ của tôi đối với người khác là luôn
luôn nhìn vào họ từ trình độ loài người. Trên trình độ ấy, cho dù tổng thống, nữ hoàng hay hành khất, không có gì
khác biệt, những con người biểu lộ rằng có cảm giác con người chân thành với một nụ cười con người chân thành tác động.
Tôi
nghĩ rằng trong cảm giác con người chân thành có giá trị hơn là trong thân phận[2],v.v…
Tôi chỉ là một con người giản dị. Qua
kinh nghiệm và nguyên tắc đạo đức tinh thần, một thái độ quan điểm mới nào đấy
đã phát triển. Điều này không có gì đặc
biệt. Quý vị, những người tôi nghĩ đã có một nền học vấn tốt hơn
và kinh nghiệm hơn chính tôi, có khả năng hơn để thay đổi chính quý vị. Tôi đến từ một làng quê nhỏ bé không có sự
giáo dục hiện đại và không có sự tỉnh thức sâu xa về thế giới. Cũng thế, từ lúc mười lăm hay mười sáu tuổi tôi đã mang lấy một gánh nặng
không thể tưởng được. Do vậy, mỗi người
quý vị phải cảm thấy rằng quý vị có một khả năng lớn và đấy, với sự tự tin và một
ít nổ lực hơn, có thể thật sự thay đổi nếu
quý vị muốn. Nếu quý vị cảm thấy rằng lối
sống hiện tại của quý vị là không vui hay có những khó khăn nào đấy, thế thì đừng
nhìn vào những thứ tiêu cực này. Hãy thấy
phía tích cực, năng lực, và thực hiện một nổ lực. Tôi nghĩ rằng ở điểm ấy đã có một loại nào đấy
bảo đảm thành công từng bộ phận. Nếu
chúng ta sử dụng tất cả năng lượng tích cực của con người hay những phẩm chất của
con người, chúng ta có thể vượt thắng những vấn nạn này của loài người.
Do
vậy, cho đến khi mà sự tiếp xúc của chúng ta với đồng loại con người được quan
tâm, thái độ tinh thần của chúng ta là rất quan yếu. Ngay cả đối với những người không tín ngưỡng,
chỉ là một con người giản dị ân cần, cội nguồn căn bản của hạnh phúc là trong
thái độ tinh thần của chúng ta. Thậm chí
nếu quý vị có sức khỏe tốt, những phương tiện vật chất được sử dụng trong cung
cách thích đáng, và những mối quan hệ tốt với những con người khác, nguyên nhân
chính của một đời sống hạnh phúc là ở trong ấy. Nếu quý vị có nhiều tiền đôi
khi quý vị lại có nhiều lo lắng hơn và quý vị vẫn cảm thấy thèm muốn hơn nữa. Một cách căn bản, quý vị trở thành nô lệ của
tiền của. Trong khi tiền của là rất hữu
ích và cần thiết, nó không phải cội nguồn
quan yếu của hạnh phúc. Tương tự thế, học
vấn, nếu không quân bình hợp lý đôi khi có thể tạo nên nhiều rắc rối hơn, băn
khoăn hơn, tham lam hơn, thèm khát hơn, và tham vọng hơn – nói tóm lại, khổ đau
tinh thần hơn. Bạn bè cũng thế, đôi khi
rất phiền phức.
Bây
giờ quý vị có thể thấy giảm đến mức tối thiểu sân hận và thù oán như thế nào. Đầu tiên, điều cực kỳ quan trọng là nhận ra
tính tiêu cực của những cảm xúc này trong phổ quát, đặc biệt là thù oán. Tôi xem thù oán là kẻ thù chính yếu. Bằng chữ “kẻ thù” tôi muốn nói cá
nhân hay nhân tố trực tiếp hay gián tiếp phá hoại sự quan tâm của chúng
ta. Sự quan tâm của chúng ta là những gì
căn bản tạo nên hạnh phúc.
Chúng
ta cũng nói về kẻ thù ngoại tại. Thí dụ,
trong trường hợp của riêng tôi, những anh chị em Trung Cộng đang tiêu diệt những
quyền của người Tây Tạng và trong cách ấy, khổ đau và khoắc khoải hơn tăng trưởng. Nhưng bất chấp điều này mãnh liệt như thế
nào, nó không thể phá hoại cội nguồn siêu việt hạnh phúc của tôi, đấy là sự
tĩnh lặng tâm thức của tôi. Đây là điều
gì đấy mà một kẻ thù bên ngoài không thể phá hủy. Non sông tôi có thể bị xâm lược, tài sản tôi
có thể bị phá hủy, bạn bè tôi có thể bị giết, nhưng đây là những điều thứ yếu
trong niềm hạnh phúc tinh thần của tôi. Cội nguồn chủ yếu của hạnh phúc tinh thần là sự tĩnh lặng tâm thức của
tôi. Không điều gì có thể phá hoại điều
này ngoại trừ sự sân hận của chính tôi.
Hơn
thế nữa, chúng ta có thể đào thoát hay lẫn trốn khỏi kẻ thù bên ngoài và đôi
khi chúng ta ngay cả có thể lừa đảo kẻ thù. Thí dụ, nếu có ai đấy quấy nhiễu
sự hòa bình tâm hồn tôi, tôi có thể trốn tránh bằng việc đóng cửa phòng và ngồi
yên lặng một mình. Nhưng tôi không thể
làm như thế với sân hận! Bất cứ nơi nào
tôi đi đến, nó vẫn luôn luôn ở đấy. Mặc
dù tôi khóa cửa phòng, sân hận vẫn ở bên trong. Ngoại trừ chúng ta áp dụng một phương pháp nào đấy, bằng không thì không
thể trốn thoát. Do thế, thù oán hay sân
hận – và ở đây tôi muốn nói về giận dữ tiêu cực – là kẻ tàn phá chủ yếu niềm
hòa bình tinh thần của tôi và vì vậy là kẻ thù thật sự của tôi.
Một
số người nào đấy tin rằng đè nén cảm xúc là không tốt, rằng tốt hơn là để nó bộc
lộ ra ngoài. Tôi nghĩ rằng có những sự
khác biệt giữa những cảm xúc tiêu cực đa dạng. Thí dụ, với chán nãn thất vọng, có một loại thất vọng nào đấy phát triển
như một kết quả của những sự kiện quá khứ, chẳng hạn như ngược đãi tình dục, rồi
thì điều này vô tình hay cố ý tạo nên những
rắc rối. Thế nên, trong trường hợp này,
tốt hơn là bày tỏ sự chán chường và bộc lộ nó ra ngoài. Tuy vậy, theo kinh nghiệm của tôi với sân hận,
nếu quý vị không thực hiện một cố gắng để giảm thiểu nó, nó sẽ vẫn duy trì với
quý vị và thậm chí gia tăng. Rồi thì
ngay cả với một sự việc nhỏ nào đấy quý vị sẽ nổi giận ngay lập tức. Một khi quý vị cố gắng để kiểm soát hay rèn
luyện sự sân hận của quý vị, sau đó cuối cùng thậm chí những sự việc lớn lao
cũng sẽ không làm quý vị giận dữ. Qua
rèn luyện và tu tập chúng ta có thể thay
đổi.
Khi
sân hận đến, có một kỷ năng quan trọng để hổ trợ quý vị duy trì sự hòa bình
tĩnh lặng của tâm thức. Quý vị không nên
bất mãn hay chán nãn bởi vì đây là nguyên nhân của giận dữ và thù hận. Có một sự nối kết tự nhiên giữa nguyên nhân
và hậu quả. Một khi những nguyên nhân và
điều kiện nào đấy hội ngộ một cách đầy đủ, thi cực kỳ khó khăn để ngăn chặn tiến
trình quan hệ nhân quả ấy đi đến đơm hoa kết trái. Thật là quan yếu để thẩm tra hoàn cảnh vì thế
vào lúc giai đoạn trứng nước sơ khởi chúng ta có thể xếp đặt một sự dừng lại của
tiến trình nhân quả. Rồi thì nó không thể
tiếp tục đi đến giai đoạn xa hơn. Trong
tác phẩm Phật Giáo Hướng Dẫn Lối Sống Bồ
Tát, đại hành giả Tịch Thiên đề cập rằng thật quan trọng để bảo đảm rằng chúng
ta không đi vào một tình trạng đưa đến sự bất mãn chán chường, bởi vì bất mãn
là hạt giống của sân hận. Điều này có
nghĩa rằng chúng ta phải áp dụng một quan điểm nào đó đối với tài sản vật chất
của chúng ta, đối với những người đồng
hành cùng bạn bè, và đối với những tình huống đa dạng.
Những
cảm giác của chúng ta về bất mãn, khốn khó và tuyệt vọng, v.v… trong thực tế
liên hệ đến tất cả những hiện tượng. Nếu
chúng ta không tiếp nhận một quan điểm đúng đắn, có thể bất cứ điều gì và mọi
thứ đều làm cho chúng ta chán chường. Thí dụ đối với một số người nào đấy ngay cả tên Đức Phật có thể cũng
tránh khỏi làm họ giận dữ hay thất vọng, mặc dù có thể không là trường hợp khi
ai đấy có một sự gặp gở trực tiếp với Đức Phật. Do thế, tất cả mọi hiện tượng có khả năng tạo nên sự chán nãn và không
hài lòng. Tuy vậy, những hiện tượng là bộ
phận của thực tại và chúng ta là đối tượng của những quy luật hiện hữu [nhân quả,
luân hồi,…]. Vì thế, điều này chỉ cho
chúng ta một lựa chọn duy nhất: thay đổi thái độ của chúng ta. Bằng việc đem đến sự thay đổi trong quan điểm
của chúng ta đối với mọi sự vật và sự kiện, tất cả những hiện tượng có thể trở nên bằng hữu hay cội
nguồn của hạnh phúc. Thay vì trở thành những kẻ thù hay nguồn gốc
của thất vọng.
Trong
trường hợp đặc biệt là một kẻ thù. Dĩ
nhiên, có một kẻ thù là rất tệ hại. Nó
quấy nhiễu sự hòa bình tinh thần và tàn phá một số thứ thánh thiện của chúng
ta. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào nó từ một khía cạnh khác, chỉ có kẻ thù mới cho chúng
ta cơ hội để thực tập sự kiên trì (nhẫn nhục). Không ai có thể cho ta cơ hội để bao dung. Thí dụ, như một Phật tử, tôi nghĩ Đức Phật
hoàn tòa thất bại trong việc cung ứng cho chúng ta một cơ hội để thực tập bao
dung và kiên nhẫn. Một số thành viên của
tăng đoàn có thể cung cấp cho chúng ta điều này, nhưng nói khác hơn thật là hiếm
hoi. Vì chúng ta không biết đại đa số
năm tỉ người trên trái đất này, do thế, đại đa số con người cũng không cho
chúng ta cơ hội để biểu lộ bao dung hay nhẫn nhục. Chỉ có những người nào mà chúng ta biết và những
người tạo ra rắc rối cho chúng ta thực sự cung ứng cho chúng ta một cơ hội tốt
để thực hành nhẫn nhục và bao dung.
Thấy
từ khía cạnh này, kẻ thù là một vị thầy vĩ đại cho sự thực hành của chúng
ta. Tịch Thiên Tôn Giả biện luận một
cách rất sáng tỏ rằng những kẻ thù, hay những thủ phạm gây tổn hại cho chúng
ta, trong thực tế là những đối tượng xứng đáng cho sự tôn kính và đáng để xem
như những vị thầy quý báu của chúng ta. Ai đấy có thể phản đối rằng các kẻ thù của chúng ta không thể được xem xứng
đáng cho sự tôn kính của chúng ta bởi vì họ không có xu hướng trong việc giúp đở
chúng ta; sự thật rằng họ rất hữu dụng và lợi ích cho chúng ta chỉ đơn thuần là
một việc ngẫu nhiên. Tịch Thiên nói rằng
nếu đây là trường hợp thế thì tại sao chúng ta, như những Phật tử, xem thể trạng
ngừng dứt (diệt đế) như một đối tượng xứng đáng để nương tựa khi sự ngừng dứt
chi là một thể trạng đơn thuần của tâm và về phần nó không có khuynh hướng để hổ
trợ chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng mặc
dù điều này là đúng, ít ra với sự ngừng dứt thì cũng không có khuynh hướng làm tổn hại chúng ta, trái lại những kẻthù, đối nghịch khuynh hướng giúp đở chúng ta, trong thực tế có khuynh hướng
làm tổn hại chúng ta. Do thế, một kẻ thù
không phải là một đối tượng đáng để tôn trọng. Tịch Thiên nói rằng chính khuynh hướng làm tồn hại chúng ta là điều làm
cho kẻ thù trở nên rất đặc biệt. Nếu kẻ
thù không có khuynh hướng làm tồn hại chúng ta, thế thì chúng ta sẽ không phân loại người ấy như một kẻ thù, do thế
thái độ của chúng ta sẽ hoàn toàn khác biệt. Chính vì khuynh hướng làm tồn hại chúng ta làm cho người ấy là một kẻ
thù, và do bởi điều ấy kẻ thù đã cung cấp cho chúng ta một cơ hội để thực hành
nhẫn nhục và bao dung. Vì vậy, một kẻ
thù quả thực là một vị thầy quý báu. Bằng việc suy tư trong những dòng này
chúng ta cuối cùng có thể giảm thiểu những cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là thù
oán.
Đôi
khi người ta cảm thấy rằng giận dữ là hữu ích bởi vì nó mang đến một năng lượng
phụ trội và tính táo bạo. Khi chúng ta
chạm trán với những khó khăn, chúng ta có thể thấy sân hận như một kẻ hộ vệ. Nhưng mặc dù giận dữ đem cho ta thêm năng lượng,
năng lượng ấy một cách chủ yếu là mù quáng. Không có gì bảo đảm rằng sự giận dữ và năng lượng ấy sẽ không trở thành
tàn phá đối với những sự quan tâm của chúng ta. Do vậy, thù oán và giận dữ hoàn toàn không lợi ích gì cả.
Một
câu hỏi khác là nếu chúng ta luôn luôn giữ sự khiêm tốn thì người khác có thể lợi
dụng chúng ta và chúng ta phản ứng như thế nào? Điều này khá giản dị: chúng ta nên phản ứng với tuệ trí hay cảm nhận
thông thường, không có sân hận hay thù
oán. Nếu hoàn cảnh đến nổi chúng ta cẩn
một loại hành động nào đấy về phần mình, chúng ta có thể có một phản ứng chống
lại giới hạn mà không sân hận. Sự thật
là, những hành động như vậy theo chiều hướng tuệ trí hơn là giận hờn trong thực
tế hiệu quả hơn. Một phản ứng đối phó xảy
ra giữa sự giận dữ có thể thường sai lầm. Trong một xã hội rất ganh đua, đôi khi cần có một phản ứng đối phó. Chúng ta hãy thẩm nghiệm tình trạng của Tây Tạng
một lần nữa. Như tôi đã đề cập trước
đây, chúng tôi đang tiến hành một phương cách bất bạo động và bi mẫn chân
thành, nhưng điều này không có nghĩa là
chúng tôi nên phải cúi mình xuống với hành động của những kẻ xâm lược và chịu
thua. Không sân hận và không thù oán, chúng tôi có thể xoay sở
một cách hiệu quả hơn.
Có
một loại thực hành khoan dung liên hệ một cách ý thức thể hiện trên khổ đau của
những kẻ khác. Tôi đang nghĩ về những
hoàn cảnh mà trong ấy, bằng việc dân thân trong những hành vi nào đấy, chúng ta
cảnh giác về những thử thách gay go, khó khăn, và rắc rối liên hệ trong thời
gian ngắn hạn, nhưng được tin rằng những hành động như vậy sẽ có một tác động lợi
ích rất lâu dài. Do bởi thái độ của
chúng ta, và cố gắng cùng nguyện ước của chúng ta nhằm mang đến lợi ích lâu dài
ấy, đôi khi chúng ta ý thức và cẩn trọng gánh lấy những thử thách khó khăn và
các rắc rối liên hệ nhất thời.
Một
trong những phương tiện hiệu quả mà nhờ nó chúng ta có thể vượt thắng các năng
lực của những cảm xúc tiêu cực như sân hận và thù oán là bằng việc trau dồi những
năng lực đối kháng của chúng, chẳng hạn như những phẩm chất tích cực của tâm
như từ ái và bi mẫn.
Dealing with
Anger and Emotion trích từ quyển The Art of Living
Ẩn
Tâm Lộ ngày 31/08/2011
Bài liên hệ
1- Sống Vui, Sống
Khỏe và Toại Nguyện
2- Đối Diện với
Cái Chết và Chết An Lành
[1] BỐN
CHÂN LÝ CAO QUÝ His Holiness the Dalai Lama – Tuệ Uyển chuyển ngữ
[2]
Chúng tôi là những con người với những cảm giác chân thành của con người trọn vẹn
chứ không chỉ là thân phận những con người mà không có cảm nhận con người.
“Ngay trong văn hóa quần chúng điều
này được diễn tả trong nhận xét rằng cho đến bao giờ tình thương và sự quan tâm
cho những người khác trưởng thành mà một người mới được xem là “tính người trọn
vẹn.”http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-81_4-13695_5-50_6-4_17-162_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark hay:
http://old.thuvienhoasen.org/nhungyogataytang-01.htm#02
֨[
Discussion about this post