HÒA BÌNH
THEO QUAN ĐIỂM CỦA KIM CANG THỪA
Karma Lekshe Tsmo
Đỗ Kim Thêm dịch
“Người canh giữ đích thực cho hoà bình xuất phát từ nội
tâm: tinh thần quan tâm và trách nhiệm về tương lai cho chính mình và vì phúc lợi
cho tha nhân.“ H.H Dalai Lama
****
Để thảo luận về vấn đề Hoà Bình theo quan điểm của Kim Cang Thừa ta cần tìm hiểu hai khái niệm Hoà Bình và Kim
Cang Thừa cùng những
truyền thống đặc sắc của Kim Cang Thưà. Trong phạm vi này, thì tìm
hiểu tiến trình của Kim Cang Thưà trong mối quan hệ với các truyền thống Phật giáo khác và nhận thức về mối quan hệ gắn bó
giữa Hoà bình và Kim Cang Thừa
là vấn đề khả thi. Mặc dù Phật giáo Kim Cang Thừa có ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nơi khác, nhưng tiểu luận sau đây sẽ đặt trọng tâm vào truyền thống Tây Tạng.
Định
Nghiã Hoà Bình (Shi Wa) Theo Kim Cang
Thừa
Âm shi thuộc về hợp âm shi wa
trong ngôn ngữ Tây Tạng có hai dạng, vừa là danh từ có nghĩa hoà bình, và vừa
là động từ có nghiã là ổn định hoá, tạo yên lành hoặc dẹp yên. Âm shi thể hiện trong hai hợp âm quan trọng
là shi de và shi ne. Shi ne theo nghiã phổ thông là hoà bình,
kết hợp của shi là hoà bình với de nghiã là hạnh phúc. Mối quan hệ chặt
chẽ giữa hoà bình và hạnh phúc cho thấy cả hai là một tình trạng gắn bó mật thiết
và hoà bình là một tình trạng cầu mong có hạnh phúc. Từ shi de chỉ tình trạng an bình và hạnh phúc trên bình diện cá nhân,
cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Trên bình diện cá nhân shi de chỉ sự an hoà thuộc khía cạnh tâm lý và tâm linh, thực ra
hai khía cạnh này kết hợp nhau đến độ hầu như không còn phân biệt được. Mục
đích giải thoát được coi là tình trạng tối hậu để đạt đến an hoà. Có môt câu
nói nổi tiếng của Đức Phật khi giải thích về “Tứ Pháp Ấn” hay nguyên
lý triết học của Phật giáo như sau :
“Mọi tạo vật là vô thường
Mọi ảo vật
là bất toại
Mọi hiện
tượng là trống không của hiện sinh cố hữu
Niết
Bàn là hoà bình“ (Thích Ca Mâu Ni)
Âm shi trong hợp âm shi me cũng có thể dịch là an hoà vĩnh cữu, một hình thức đặc biệt
trong tu tập định tâm hay an định. Có chín giai đoạn liên tục để mô tả việc đạt
đến tình trạng định tâm tĩnh lặng của tu tập thiền định: định vị (định tâm vào
một đối tượng), định vị liên tục, tái lập định vị, cận định, chế ngự tâm linh,
an định, an định toàn diện, tập trung vào một chủ điểm và đạt đến trầm lắng.
Từ vajra được dịch nhiều cách khác nhau như
là sự kiên quyết, có tính bất hoại, sấm sét và kể cả hàm chứa quyền năng. Từ yana được dịch là bánh xe, cỗ xe hay sự
chuyên chở theo ý nghĩa một con đường dẫn đến giải thoát hay giác ngộ. Khi ghép
thành varayana (Kim Cang Thừa) có
nghĩa là một tông phái Phật giáo Đại thừa sử dụng phương pháp thiền định theo Mật
tông. Từ này thường được dùng mà không phân biệt với tantrayana (Mật tông) và matrayana
(Chân Ngôn Thừa). Đôi khi từ này cũng được coi như là Phật giáo thần bí dựa
theo Hoa ngữ là mi cong hay Nhật ngữ
là mikkya.
Từ mantra (Thần chú) có nghiã văn chuơng là
mạch, chuỗi hay dòng, và được diễn dịch là dòng ý nghĩa, một mạch của sự liên tục
hay truyền thừa về những lời giáo huấn. Tantra
(Thần Chú bằng văn bản) có tiếng là một loại hợp kim, không phù hợp với ý thức
hệ có tính quy phạm. Nghi lễ theo Mật tông có sử dụng nhiều phẩm vật như thịt
và rượu, đó là những thứ bị cấm trong việc tu tập của tôn giáo khác.
Lịch Sử Còn Tranh Luận
Con đường
tu tập theo Phật giáo mở ra nhiều phương hướng: thuần lý và chuyên tâm, nhiều
màu sắc và khổ hạnh, uyên náo và suy niệm. Phật giáo được gọi là một tôn giáo
có đặc tính phổ quát, không phải chỉ làm thay đổi tín ngưỡng của tha nhân mà
còn kết hợp những giá trị chung như hoà bình, từ bi và thành tín. Người ta dù
có khác nhau về văn hoá, khuynh hướng, trình độ, chuyển hướng và tình trạng phát
triển tâm linh đều có thể tìm đến Phật gíáo để tiếp cận và tu tập một cách thích hợp cho riêng mình.
Theo truyền thống Tây Tạng,
Đức Thích Ca Mâu Ni đã truyền giảng pháp môn Mật Tông khi Ngài còn tại thế,
nhưng lời giảng quá khó hiểu cho người thông thường, vì thế mà lời giảng này được
truyền thừa
một cách bí mật qua hàng trăm năm. Theo lời các sử gia, những lời giáo huấn bắt
đầu từ khoảng thế kỷ thứ IV tại Ấn Độ. Dù giáo huấn này có khi trở thành văn tự, cách truyền đạt
giáo huấn từ sư phụ cho đệ tử vẫn còn tiếp tục và được coi như là chủ yếu để kiểm
chứng tính cách trung thực của các kinh sách hay lời giảng huấn.
Phật giáo Mật Tông được du
nhập vào Trung Quốc và Nhật Bản qua nhiều đường lối và thời điểm khác nhau từ thế kỷ IV sau
Tây Lịch cho đến ngày nay. Dù kinh điển Phật giáo Mật tông vẫn còn tồn tại bằng
tiếng Sankrit, những bí ẩn về giáo huấn của Phật giáo Mật tông được lưu giữ
trong ngôn ngữ Tây Tạng. Ngoài kinh điển, truyền thống hành trì theo pháp môn Mật
tông còn ảnh hưởng tiếp nối cho đến ngày nay, dù chủ yếu là ở Tây Tạng, nhưng
cũng có ở Trung Quốc và Nhật Bản là hai nơi có trong hai tông phái Chân Ngôn
Tông và Tào Động Tông.
Khái Niệm Về Hoà Bình
Ràng buộc vào bản sắc và ý
thức hệ là nguyên nhân chủ yếu cho việc sử dụng bạo lực trong thế giới ngày
nay. Giáo huấn của Phật giáo về Vô Ngã nhằm rà soát lại những nguyên nhân của
việc bám chặt
vào bản ngã, chỉ quan tâm đến mình và tính tự cao tự đại của cái tôi. Khi hiểu
biết về việc không có một loại tinh thần hiện hữu bất biến và độc lập hoặc là một
loại khả năng có thể tự giải quyết sẽ làm giảm nhẹ mọi ràng buộc vào bản ngã và
sở hữu, mà đó chính là trọng tâm của
tranh chấp. Con người phải có những dị biệt về triết lý và tôn giáo hay tông
phái, nhưng đó phải không là để giết nhau. Hiểu được sự vô thường của tư tưởng,
thái độ và ý thức hệ giúp ta linh động hơn, khoan dung và không phản ứng khi gặp
phải những người có những quan điểm khác biệt với mình.
Thái độ của Kim Cang Thừa về
hoà bình và bạo lực là cùng có chung một cơ sở với các truyền thống Phật giáo khác. Hoà bình
và bất bạo động được đánh giá rất cao và phương cách tu tập theo Phật giáo là để
phát huy đạo đức, trí huệ
và từ bi cốt được đào luyện để đạt đến lý tưởng này. Lời giáo huấn của Đức Phật
về “oán baó oán sẽ không bao giờ hết oán, chỉ có từ bi mới giải quyết vấn
đề” thường được truyền tụng như là phương châm để sống. Tín đồ không được
phép làm hại bất cứ người nào, thay vào đó, phải trân quý những người khác như
chính người mẹ thân yêu hay đứa
con duy nhất của mình. Phật tử được dạy là không một người nào muốn bị đau khổ
và chính vì thế mà phải bảo vệ cuộc sống và để mọi sinh linh thoát khỏi mọi tổn
hại, từ thể xác cho đến tinh thần, đó là điều an lạc và tạo công đức.
Đạo đức Phật giáo được hình
thành nhằm bảo vệ con người thoát khỏi mọi tổn hại và không làm hại lẫn nhau. Để
sống phù hợp với quy luật nghiệp báo, thì mọi hành động tạo ra hậu quả và nhân
nào thì quả nấy. Điều này có nghĩa là mọi hành vi tốt đẹp sẽ tạo những hậu quả
an lành, trong khi hành vi không tốt đẹp sẽ gây hậu quả tương tự. Để tuân theo
giáo lý này, Đức Phật dạy những quy luật qúy giá, tín đồ phải đối xử tốt với tha nhân giống như khi
họ muốn tha nhân đối xử tốt với mình.
Sự phát triển để quân bình tâm linh và trao giồi đức hạnh như từ bi và bác ái
được tin là tạo điều kiện đưa tới hoà bình và hạnh phúc. Kinh điển Phật giáo có
ghi nhiều cách trao giồi đức hạnh để nhằm ngăn ngừa những xung đột có bạo lực,
giải quyết căng thẳng, duy trì bình ổn và hiển nhiên tạo được bình an tâm hồn. Theo quan điểm này, không
có một kỹ thuật nào thật đặc biệt được đề ra để kiến tạo hoà bình. Đúng hơn,
khi một con người thực sự
có lòng đạo đức và từ bi,
tất nhiên
người này là một người kiến tạo hoà bình. Một người trao giồi tính an hoà trong
thiền định sẽ trở
thành hoà ái hơn, ít phản ứng hơn, và có nhiều tĩnh thức hơn đối với người khác
trong đời sống hằng ngày. Bằng cách này, bình an tâm hồn sẽ mở rộng cho đến cộng đồng chung
quanh, hành giả trở thành người đem xoa dịu và là nguồn lực tự nhiên cho mọi chuyển hoá
xung đột. Phương cách ngăn ngừa và giải quyết xung đột được cô đọng lại trong
đường hướng
này của Phật giáo. Mọi cách thực hiện của Phật tử có thể đúc kết
theo khuôn mẫu này.
Trao giồi đức hạnh trực tiếp
đưa tới việc nghiên cứu đạo đức Phật giáo. Đạo đức Phật giáo có nhiều phương cách hình thành khác nhau, nhưng
theo truyền thống Tây Tạng thì có đề ra ba giới luật, đó là Bồ Đề Mộc Xoa, (pratimoksa), Bồ Đề Tát (bodhisattva) và Mật Giáo (tantric). Cá nhân tự luyện tập theo ba giá trị đạo đức này
sẽ tạo một nền tảng đạo đức cho việc bồi dưỡng
tâm linh và tạo một xã hội an hoà. Giới luật Bồ Đề Mộc Xoa là nền tảng đạo đức
cho việc giải thoát cá nhân. Cả hai giới cư sĩ và tăng sĩ buộc phải giữ giới luật
không được sát sanh, trộm cắp, nói dối, tà dâm và dùng ruợu. Giới luật Bồ Đề Tát
là kỷ luật nhằm tạo phúc lợi và giải thoát chúng sinh khỏi khổ đau. Hơn nữa, hành
trì theo pháp môn Mật Tông đòi hỏi khấn nguyện tuân thủ theo 14 giới luật chính
và mười giới luật bí mật. Người theo giới luật của Mật Tông phải tuân thủ thêm giới
luật của Bồ Đề Mộc Xoa và Bồ Đề Tát.
Giới luật Phật giáo nhằm xây
dựng xã hội an hoà và có những quy tắc đạo đức dành cho cá nhân bình thường
và giới lãnh
đạo. Mười tính hạnh của nhà lãnh đạo có đạo đức bao gồm lòng rộng lượng, đức hạnh,
hy sinh, thành tín, tự kiểm, thân ái, thanh lịch, từ bi, khiêm tốn và khoan nhẫn.
Nhà lãnh đạo lý tưởng là người cai trị với thành tín, công bình và từ bi. Với những nguyên tắc
này làm nền tảng cho việc
cai trị, quốc gia có thể
đạt được hoà bình và ổn định, tạo điều kiện cho người dân được hạnh phúc và thịnh
vượng. Những đức tính này không chỉ là nguyên tắc áp dụng cho lãnh đạo. Dĩ nhiên,
những tính hạnh này làm kim chỉ nam cho cai trị tốt đẹp cũng được có thể mở rộng
để áp dụng cho cá nhân.
Những hướng dẫn của Đức Phật
nhằm tạo lập một xã hội an hoà không thể bảo đảm là mục tiêu này sẽ đạt được,
vì nhiều
xã hội theo Phật giáo dễ bị tổn thương do tấn công và bị tham nhũng do những lực
lượng ngoại nhập hay do những cá nhân thiếu đạo đức ngay trong lòng xã hội. Dù
có lý tưởng hiếu hoà, các nước theo Phật giáo cũng có những nhà độc tài thô bạo
và xung đột diệt chủng. Vì những thực tại này làm cho vấn đề giá trị hoà bình được
coi như là nguyên tắc chỉ đạo cho bất cứ tình huống nào. Nhưng trước tình trạng
hay đối với các đối thủ có tiềm năng dùng bạo lực thì cách cưỡng chế có thể biện luận được không?
Liệu có thể so sánh cưỡng chế như hình ảnh ác thần hung nộ đánh đuổi những điều
bất thiện trong ta không? Trong chừng
mực nào
thì những biện pháp quyết liệt này là phù hợp với tác động tích cực cho hoà
bình?
Bạo
Lực Và Hậu Quả
Đối với truyền thống của Phật
giáo, kể
cả Kim Cang Thừa, khi nghiên cứu thực tế thì tất cả xem bạo lực là vô nghiã. Theo
quan điểm về giới luật của Phật giáo, khi cầu cứu đến bạo lực thì thắng là ít
mà thua thì nhiều. Cái giá của bạo lực phải trả là chiụ cảnh chết chóc, tổn hại,
mất mát, hao kém tiền bạc và gia sản, phá hủy môi trường và tổn hại về mặt tâm lý, tất
cả vượt qua xa mức
thắng lợi có thể đạt được. Hơn thế, việc này phù hợp với quy luật nhân quả vì
có ít thiệt hại đáng kể. Hành vi bạo động luôn gieo mầm cho hận thù sau này
trong tinh thần của thủ phạm sử dụng bạo lực và nạn nhân và gia đình của họ.
Chính vì thế mà bạo lực biểu hiện suy đồi đạo đức dẫn đến suy vi trầm trọng mọi
giá trị.
Theo tinh thần của Tứ Diệu Đế,
Phật tử theo truyền thống Tây Tạng xét đến nguyên nhân của bạo lực và nhận ra
ba ảo tưởng tác hại cho tâm linh là gian tham, sân hận và vô minh. Ba ảo tưởng này
được coi là nguốn gốc của vấn đề xã hội, kể cả trộm cắp, giết người và bạo hành
trong gia đình. Những vấn đề này không thuần là cá nhân hay địa phương, nhưng còn
có thể mở rộng khắp bốn phương. Thí dụ gian tham và mê say theo chủ nghĩa tiêu
thụ ở một nơi trên thế giới có thể
là nguyên nhân cho nghèo đói, bất công xã hội và bất ổn chính trị cho những nơi
khác.
Hiện nay, nhờ những phương
thức chuyển vận và thông tin được cải thiện mà con người trên toàn địa cầu được
nối kết nhau và ngày càng được gần gũi nhau nhiều hơn, kể cả ở những nơi hẻo lánh nhất. Những nối
kết tăng lên đòi hỏi sự hiểu biết nhiều hơn, tôn trọng và từ bi hơn bao giờ hết,
để ngăn ngừa hiểu lầm có thể
gây ra tranh chấp và bạo lực. Mối quan hệ của mọi sinh hoạt là một bài học về sự
tương thuộc trong một thế giới càng ngày càng nối kết.
Khái niệm về Hoà bình của Phật
giáo là toàn diện, nối kết sự
phát triển tâm linh và hoạt động trong thế giới hằng ngày. Khởi đầu với sự chấp nhận và chuyển hoá những
mầm móng
bạo lực trong tâm trí từng con người, người ta có thể mở rộng một chương trình hành
động từ căn bản cá nhân rồi đến gia đình, cộng đồng, quốc gia và vượt qua để tiến
đến toàn vũ trụ. Kinh điển Phật giáo mô tả một nền hoà bình toàn diện bao gồm mối
quan hệ xã hội, chính trị và cá nhân cũng như là mối quan hệ tâm và thân của cá
nhân. Quan niệm tổng thể
về một nền hoà bình toàn diện có thể được coi như là một phương tiện vừa ngăn
ngừa và chỉnh sửa việc sử dụng
bạo lực sai lầm theo cấu trúc. Lý tưởng của Phật giáo về khoan dung và kết hợp văn
hoá, cũng có thể
được coi là một phương tiện để ngăn ngừa và sửa sai bạo lực xuất
phát từ văn
hoá. Như đã được nhiều người biết rõ, tinh thần khoan dung và tôn trọng sự đa dạng các quan điểm tôn
giáo và triết học được công nhận như là một yếu tố chính trong sự phát huy
trong lịch sử của Phật giáo. Phật giáo thích ứng thành công trong những môi trường mới lạ và
nhất là khi
có khác biệt về văn hoá.
Khái niệm về Hoà bình như là
hành vi bất bạo động mang tính cấu trúc đòi hỏi ta nhận định lại tất cả khái niệm
và thái độ thường làm hợp pháp hoá bạo lực trong mọi hình thức. Vì thế mà cách
nhận định này trở nên cần thiết để phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng giới
tính và bạo lực, đặc biệt là những cấu trúc tạo nên bạo hành chống phụ nữ và trẻ
em. Mọi hình thức phân biệt giới tính làm hại đến một vài mức độ của sự
an hoà, đó là kết quả.
Nền
Tảng Triết Lý Của Tinh Thần Bất Bạo Động
Là một tông phái của Phật
giáo Đại thừa, mục tiêu và thành quả của việc hành trì theo Kim Cang Thừa nhằm đạt
Phật tính. Những điều kiện thiết yếu cho việc tu tập theo cách này là theo ba nguyên
tắc dẫn lối mà Atisa, một tăng sĩ người Ấn và cũng là một học giả đã chú dẫn
trong tác phẩm “Ánh Sáng Soi Đường Giác Ngộ” (1983) như sau: từ bỏ,
đạt tâm Bồ Đề và trực diện tính không. Từ bỏ đuợc định nghiã là quyết định
không còn muốn tái sinh vào cõi luân hồi. Thái độ tĩnh thức là nguyện vọng vị
tha mong đạt được như tình trạng giác ngộ tuyệt mỹ của Đấng Như Lai để nhằm cứu
chúng sinh vật thoát khổ. Trực diện tính không là một loại trí huệ đạt được khi xem thực tại cố hữu của
mọi hiện tượng là không thực. Nếu không theo đuổi ba nguyên tắc này, thì việc
tu tập theo Kim Cang Thừa không thể đạt được mà còn nguy hiểm.
Lập luận theo sau ba nguyên
tắc tu tập này kết hợp toàn diện đưa tới sự hiểu biết quan điểm Kim Cang Thừa về
hoà bình và bất bạo
động. Trước tiên, để
đạt đến tình trạng giải thoát hay giác ngộ, điều cần thiết phải khởi động cho
việc từ bỏ tuyệt đối. Thúc đẩy này có nghĩa là từ bỏ mọi ràng buộc trong vòng
luân hồi và từ bỏ mọi nghiệp dẫn đến tái sinh, đặc biệt là những hành vi bất
thiện dẫn đến tái sinh trong điều kiện chuyển kiếp bất hạnh với mức độ thấp hơn,
thí dụ như thú vật, qủy đói hay sa vào địa ngục. Giết một sinh vật hữu tình (là
một sinh vật có ý thức) được xem như là một hành vi bất thiện nghiêm trọng mà kết
qủa là tái sinh vào địa ngục. Không phải chỉ bị hành hạ trong địa ngục mà còn chịu
hình phạt trong cả một thời gian dài, gây trở ngại lớn lao cho việc đạt đến giải
thoát.
Thứ hai, để đạt đến giác ngộ
tuyệt mỹ,
khởi động tâm Bồ Đề là cần yếu. Tĩnh thức này trở thành đấng Như Lai giác ngộ
toàn diện và hỗ
trợ cho chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi. Đây là một công việc mà Tôn giả Tịch
Thiên (Santideva), một sư phụ người Ấn xem là căn cơ nhất trong
84.000 pháp môn của Đức Phật. Có bảy bước tu luyện để đạt đến giác ngộ, tùy
theo sự hiểu biết mà tất cả mọi chúng sinh sẽ tái sinh vào cõi luân hồi. Vì thế,
mọi chúng sinh đều có liên hệ nhau trong nhiều cách khác nhau.
Bảy bước đó là 1) công nhận
chúng sinh như là mẹ chúng ta trong một thời điểm nào đó, sinh ra trong
chúng ta và chúng tỏ cho chúng thấy lòng từ ái vô hạn. 2) công nhận chúng ta nhận
nhiều ân huệ của chúng sinh vì họ là mẹ và cưu mang chúng ta với từ tâm. 3) quyết
tâm đền đáp lòng từ ái này cho tất cả chúng
sinh. 4) khởi động từ tâm, cầu mong cho chúng sinh đạt đuợc hạnh phúc 5) khởi động
lòng từ bi, công nhận rằng chúng ta hiện không đủ khả năng để cứu mọi chúng
sinh thoát vòng đau khổ 6) khởi động suy tưởng đặc biệt, quyết tâm nhận trách
nhiệm giải thoát chúng sinh khỏi vòng đau khổ và cuối cùng 7) đạt đến tâm Bồ Đề đích thực, mơ uớc
đạt đến giác ngộ,
công nhận rằng chỉ có Đấng Như Lai giác ngộ có khả năng gải thoát chúng sinh khỏi
đau khổ. Để trở thành Như Lai thức tĩnh toàn diện, điều cần thiết là phải tránh
phải tránh mọi hành động và suy nghĩ bất thiện và cố đào luyện thực hành mọi
suy nghĩ và hành động hướng thiện. Kết quả là điều tất yếu là tránh làm tổn hại
cho mọi sinh linh, gồm có mọi hành vi bạo lực dù là qua thân, tâm và ý.
Thứ ba, để đạt đến tình trạng
giác ngộ, cần phải phát triển việc trực diện tính không. Cội nguồn của mọi hành vi bất thiện
và ràng buộc với chúng sinh trong vòng luân hồi là vô minh, hoặc là không hiểu
biết về những cách đích thực của sự hiện hữu của các hiện tượng. Chúng sinh vô
minh sẽ hiểu biết sai lạc về những hiện tuợng vô thường mà cho là thường hằng,
những hiện tượng bất toại mà cho là thanh thoả, và những hiện tượng không có bản
ngã mà lại cho là có bản ngã, và chủ yếu hay hiện hữu đích thực
Nếu hành trì theo Kim Cang
Thừa, thì thiền định sẽ phát huy được nhờ kỹ thuật thiền định của du già về những luồng gió và luồng năng lượng trong cơ thể. Khả
năng kết hợp 72.000 nguồn gió hay năng lượng vào thành một nguồn tâm lực chính là
điều có thể tôi luyện được, nhờ thế, mà đến phút lâm chung, người ta có thể
chuyển hướng ý thức của mình thẳng vào cõi tinh độ của Phật A Di Đà. Trong bốn
cách của Mật tông là thực hành, tạo thành quả, thiền hành và tránh loạn động – hành
giả sẽ khởi động quán tưởng những
thể hiện sinh động của chư thiên, tự đồng hóa mình như là những chư thiên đã
giác ngộ và cuối cùng hãnh diện thành chư thiên.
Hình ảnh đạt giác ngộ là trọng
điểm trong sự quán tưởng
mà người tu thể hiện qua hình thức hoặc là thiện hay ác. Mục đích không phải là vượt
qua những ô trược về tâm ý hoặc là chuyển hoá chúng, mà còn đối diện với chúng,
sử dụng
chúng trong tiến trình thức tĩnh. Như là phân bón cho ruộng đồng, những cảm xúc
gây đau khổ như mong muốn, nếu sử dụng một cách khéo leó, có thể được dùng
trong lộ trình này. Thí dụ như trong bốn cách hành trì theo pháp môn Mật Tông,
hành giả khởi động một cách có ý thức bốn loại hạnh phúc này – thể hiện qua
nhìn, cười, ôm nhau và kết hợp – và sử dụng những thể hiện này như là phương tiện
cho việc tu luyện theo con đường này. Biểu tượng nam nữ kết hợp là
quy luật cho sự bổ túc giữa những phương tiện thiện xảo
của nguời nam
gắn bó với trí huệ của người nử. Tính cách thần thánh trong sự kết hợp thân xác nam nữ là biểu
hiện hạnh phúc không thể
tách đôi và đạt đến tĩnh lặng.
Phương
Cách Thiện Xảo Của Tĩnh Thức
Có nhiều môn phái triết lý,
phương cách tu tập và biểu hiện văn hoá khác nhau, đó là đặc điểm chung của
Phật giáo Đại thừa. Có những cách diễn giảng khác nhau về giáo lý cơ bản, cũng là
đặc điểm chung. Về mặt phương pháp, học giả Mật Tông phân loại việc tu tập theo
Đại thừa vào loại Ba la Mật, (được biết như là Khế Kinh) và Chân Ngôn Thừa (được
biết như là Mật Tông hay Kim Cang Thừa). Khái niệm của Đại thừa là Như Lai Tạng
(Phật Tánh), tiềm năng của sự giác ngộ luôn có sẳn
trong tất cả chúng sinh.
Trước khi theo đuổi việc tu
tập theo pháp môn Mật tông, hành giả cần có hiểu biết vững chắc về cơ bản giáo
lý Phật giáo. Hành giả tôi luyện hằng ngày theo ba cách: thái độ đạo đức, tập trung thiền định
và trí huệ. Hơn nữa,
hành giả cần tuân thủ sáu đức tính để đạt đến sự hoàn hảo (theo tinh thần
đáo bỉ ngạn) là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.
Điểm thứ ba trong sáu đức
tính này là nhẫn nhục được xem như là một liều thuốc hóa giải sân hận. Đức Đạt
Lai Lạt Ma XIV biểu lộ việc tu tập lòng kiên nhẫn của Bồ Tát như người mẹ khi bị
trẻ sơ sinh đánh vào người, kéo tóc đưa tay vào mắt của bà. Cũng tương tự như vậy,
Bồ Tát muốn có nhiều thời gian để đạt đến việc hoán cải sinh linh.
Hơn nữa, hành giả cần hoàn tất
chương trình tu tập nhập môn (ngondro), lập
laị 100.000 nghi thức cúng lạy, thần chú 100 âm của Kinh Kim Cang và thiền định theo giới
đàn (mandala). Cách thực tập thiền định theo sư
phụ khác nhau đáng kể, tùy thuộc vào cách chỉ dẫn của sư phụ. Mỗi lời giáo huấn của sư phự về
quán tưởng
hướng về trọng tâm của một dòng truyền thừa để giúp tìm ra một đối tượng cho viêc
quy y. Thông qua phép quán đảnh, hành giả thấy có sự hiện tiền cũa đấng giác ngộ
như là cội nguồn của giáo lý và ân huệ.
Sau khi hoàn tất khoá tu khởi
đầu chuẩn bị, hành giả sẽ nhận được phép quán đảnh Mật tông của sư phụ. Phép
này bắt chước theo giới đàn của một người đã đạt đạo, được coi như là một vị hoá
thần trong quán tưởng, hoặc
là Đức Phật hoặc là Bồ Tát, nam hoặc nữ, thể hiện trong qua vai thần
Hộ Pháp: thiện
thần hay ác thần.
Nghi lễ
kéo theo việc nhận bốn phép quán đảnh: hình thức bình, mật truyền, trí thức và
ngôn từ.
Mục tiêu của hành trì là đạt
đến tính không như điểm tối hậu cho
tất cả mọi khía cạnh tu tập mà hành giả và chúng sinh là những
người trực tiếp hưởng thành quả của tu tập. Thiền định nương theo chư thiên làm đối tượng của quán tưởng
và giới đàn chính là nơi an trú tịnh độ
tuyệt vời của chư thiên mà cũng được xem
như là đặc điểm của tính không.
Cùng lúc với việc đạt đến giác ngộ, hành giả sẽ có hai hình
thái của Đức Phật: sắc thân và pháp thân. Pháp thân có thể hiểu theo hai khía cạnh:
đặc điểm toàn năng của giác ngộ và đặc điểm tính không của giác ngộ. Sắc thân có
thể được hiểu theo hai khiá cạnh: hoan hỷ và lan toả. Đạt được pháp thân qua tu
tập thiền định hành giả trao giồi trí huệ hoặc nhận thức hướng về tính không. Đạt
được sắc thân, hành giả trao giồi những phương thúc thiện xảo như là phương
pháp.
Tôi luyện trí huệ đạt kết quả
hoàn mãn với nhận thức về
pháp thân Đức
Phật, trong khi trao giồi phương pháp thiện xảo đưa
tới rèn luyện thể xác theo sắc
thân Đức Phật. Về bản chất, nguyên nhân và hậu quả giống nhau. Điều này có nghiã
là tích lũy trí huệ tạo nên chân lý, trong khi tích lũy phương cách thiện xảo
giúp thể
hiện sắc thân. Thiền định về tính không là chủ yếu, nhưng chỉ thiền về tính không
không đủ để đạt đến giác ngộ. Thiền định về tính không cần kết hợp với lòng vị
tha và phưong tiện thiện xảo để làm giảm đi lòng khổ đau và mang lại hạnh phúc
cho chúng sinh.
Hành
Trì Theo Phật Để Trao Giồi An Lạc
Pháp môn Mật tông dùng quán
tưởng là một phương tiện chuyển hoá, nhờ đó mà thay đổỉ những ô trược thường tục
của tinh thần như giận dữ
và ham muốn để hướng về con đường giác ngộ. Cũng giống như những truyền thống
tâm linh khác, việc tu tập bao gồm nhiều yếu tố kinh nghiệm về quán tưởng,
nhưng trong trường hợp Mật tông thì khả năng kiểm soát quán tưởng là chính. Trọng
tâm của tu tập được gọi là du già theo chư thiên, nghịã là tự quán tưởng hướng về
một đấng đã giác ngộ và muốn là mình sẽ
trở thành đấng này. Dù có một số đấng giác ngộ tương tự như trong pháp môn Mật
tông của Ấn độ giáo, nhưng các đấng này không được xem như là những vị thánh
thông thường, mà là một khuôn mẫu cho việc đạt giác ngộ của riêng mình. Nói một
các khác, bằng cách quán tưởng và đồng hoá mình với bậc tuệ giác, hành giả sẽ hấp
thụ những đức tính này và tự biến mình sẽ trở thành người giác ngộ viên
mãn.
Nhận chân bản sắc của chư
thiên để đạt đến giác ngộ là trọng tâm của việc tu tập theo Kim Cang Thừa. Đào
luyện pháp thân giác ngộ theo Đức Phật thông qua nhiều cách hành trì, kể cả việc
tu tập theo du già của chư thiên sẽ đạt đến sắc thân với 32 điểm chính và 80 điểm
phụ cùng lúc với đạt đến mức độ giác ngộ viên mãn. Hành trì theo pháp môn Mật
tông bao gồm việc thiền định quán tưởng hướng về chư thiên, kết hợp tâm, thân
và ý của chính mình với tâm, thân và ý của đấng giác ngộ mà mình quán tưởng. Mọi
hình thức này được cảm nhận như hình thức đã đạt đạo của chư thiên, mọi âm
thanh được cảm nhận như là âm thanh của chư thiên và mọi sinh hoạt tâm linh được
cảm nhận như là trí huệ của chư thiên.
Trong việc tu tập theo du
già chư thiên, hành giả khởi động một sự hãnh diện như thần thánh của việc hoá thân
qua thiền định. Việc hoá thân này đuợc nói tới như là thăng tiến để đạt được Như Lai tánh.
Chính vì thế mà tu theo Mật tông được coi như là một con đường tắt. Trong khi
con đường này mở ra một tuyến đường nhanh để đạt đến mục tiêu tối hậu
thì nó có cả những trách nhiệm và nguy hiểm. Chính vì thế mà còn gọi là con đường
hiểm nghèo. Những hoạt động của chư thiên theo Mật tông bao gồm có việc tạo an
hoà, thăng hoa, tăng nghị lực và hủy diệt.
Biểu hiện về quan hệ tình dục giữa hai người nam nữ đã đạt
đạo có giá trị tượng trưng cho việc phối hợp giữa trí huệ và từ bi, một điều kiện
đòi hỏi cho việc trở thành Phật. Hành trì theo Kim Cang Thừa khởi đầu bằng cách
nhận phép quán đảnh từ một vị su phụ là lama, rồi chuyển hóa khả năng từ việc tập
trung quán tưởng
vào một chủ điểm duy nhất trong nhiều hình ảnh khác của Đức Phật và các Bồ Tát.
Đối với hầu hết các hành giả, kể cả các tăng sĩ trong tu viện, hành trì theo
Kim Cang Thừa được thành tựu qua quán tưởng, chỉ có các bậc du già có trình độ
cao cấp mới được phép tu tập với người bạn đường của minh.
Nếu thiền định hướng về chư
thiên thể hiện qua việc quan hệ thân xác, hành giả khởi động một cách có ý thức
về các mức độ ham muốn thể xác để tìm hiểu về bản chất đích thực của ham muốn.
Trong pháp môn Mật tông, khi thực tập với người bạn đường của mình thì khác với
việc tu bằng cách quán tưởng,
đây là một cơ hội đặc biệt cho bậc hành giả có trình độ cao, với điều kiện là
người này không bị ràng buộc bởi quy luật của tu viện và đạt được những điều kiện
đề ra như là từ bỏ tuyệt đối, thái độ giác ngộ qua hành vi vị tha và trực diện
tánh không. Tín đồ
của truyền thống Phật giáo Tây Tạng, kể cả tông phái Cách Lỗ (Gelugpa), coi việc thực hành trung thực
tình dục của du già là có đạo hạnh, khi những điều kiện vừa kể đạt được. Hành
giả theo
quy luật tu viện với cách quán tưởng
hơn là thực tập với người bạn đời
của mình.
Theo Kim Cang Thừa, quán tưởng thường dùng để thay đổi khái niệm và cùng lúc là những
phương hướng mà chúng ta thích nghi được thế gian. Những vị thần
Hộ Pháp thường
được xem như đối tượng để tập trung trong tụng mật chú, vì các vị này – Đức Phật và các
Bồ Tát – là một khuôn mẫu của giác ngộ, và nhờ đó chúng ta ngộ ra rằng hiện hữu thật sự là tính không, và
về bản chất thì thân xác của một người thường cũng là hư không. Những vị thần hoá
thân hay những khuôn mẫu điển hình của giác ngộ là đối tượng của du già hướng về
chư thiên, đây là việc do tự khởi động của tâm thân và được thể hiện qua hình
thức hướng về thiện thần hay ác thần. Chư thiên là đối tượng của tu tập thiền định
thường được các lạt ma tuyển lựa dựa trên những phương thức thiện xảo và tùy
theo khuynh hướng của hành giả. Hiểu biết về tiến trình quán tưởng đòi hỏi có ý thức và có phương
cách mà con người thường cảm nhận sai lầm về thực tại. Thay vì cảm nhận hiện tượng
thuần túy và trực tiếp, ý thức của một con người bình thường luôn bị bóp méo tiêu
biểu qua trung gian các mẫu mã, khái niệm và phán đoán. Chính vì thế mà nguồn gốc
của các nhận định sai lạc này là những ô trược tâm linh làm ngăn trở nhận thức
con nguời về bản chất đích thực của hiện tượng. Tiến trình tự quán tưởng của
con người thành bậc giác ngộ
là phương tiện mạnh mẽ để dẹp bỏ những ô trược tinh thần. Khi hành giả bất đầu quen thuộc với chư thiên do
quán tưởng và đồng hoá mình với những bậc này, thì hành giả nhận thức được về bản
chất đích thực của tâm mình, một
tiềm năng để đạt đến giác ngộ.
Nhờ trao giồi khả năng thiền
định theo chư thiên và biến đổi môi trường tu tập mà hành giả nhận chân khuynh
hướng của tâm thân khi có cảm nhận sai lầm, khi bị bóp méo và dự kiến một cách
có ý thức về những hình thức và nội dung. Thay vì phải chịu làm nạn nhân của
phiền não tâm linh, cảm nhận sai lạc thì nhờ hành trì theo Mật tông, hành giả đạt
được chủ động
xuyên qua một tiến trình quán tưởng tích cực, tự thực hiện để chuyển hóa tâm
linh. Một khía cạnh trong tiến trình này là nuôi dưỡng khả năng kiểm soát tâm
linh, nhưng cũng có một khía cạnh khác là tạo ra một thế giới lý tưởng và thể
hiện cách cảm
nhận qua giác ngộ, đó là do trí huệ, tâm từ bi, tính ung
dung và tinh thần đột biến. Các kinh nghiệm có thứ bậc này đóng góp bổ ích cho tiến
trình giác ngộ.
Không phải chỉ có khuôn mẫu đặc trưng cho hoà bình, bố thí và từ tâm được sử dụng
trong tiến trình này, mà còn có ham muốn và những tư tưởng chủ yếu và cảm xúc khác
cũng là phương tiện thiện xảo gây ảnh hưởng đến giác ngộ.
Những hình thức giác ngộ thường
được sử dụng trong thiền định theo Kim Cang Thừa thật rắc rối và biến dạng cực
kỳ. Khi hành giả
quán tưởng một cách liên tục, cầu nguyện và nhập thân vào một đấng giác ngộ,
thì họ sẽ khởi động một ý thức bất nhị của thường tục (một tình trạng có ý thức mà
vẫn chưa đạt đến mức độ giác ngộ) và của tối hậu (của tình trạng đạt đến
giác ngộ của chư thiên). Tiến trình này tương tự như tình trạng bất nhị giữa
luân hồi và thiên đàng, mà trong bản chất của cả hai có đặc điểm như là tính không.
Thiền Chỉ Quán (samatha) và Thiền Minh Sát Tuệ (vipasyana) là hai phương cách chính của
tu thiền, thường được sử dụng một các hoán chuyển nhau. Thứ nhất dùng để phân
tích và thứ hai để thích nghi tâm thân vào tính không. Hành trì theo Kim Cang
Thừa, hình thức giác ngộ của chư thiên được hiểu hai khía cạnh đồng thời nhau,
vì vừa là hiện hữu
theo thường
tục lại vừa
là tính không theo tối hậu. Cũng giống như khái niệm về luân hồi và thiên đàng,
mà cả hai có mục tiêu tối hậu là có tính hư không, thì ở mực độ thường
tục của thực tại,
cả hai cùng hiện hữu nhưng không có bản chất chủ yếu. Chính vì thế mà
trong khi mục tiêu tối hậu của việc hành trì theo pháp môn Mật tông là giác ngộ,
lợi điểm thực tiễn việc tu tập này là tạo khả năng vượt qua mọi trở ngại và được
an hưởng một cuộc sống trường thọ.
Kinh điển Mật tông mô tả quy
lễ tu tập nhằm kết hợp
với các cách hành
trì khác nhau liên quan tới các vị hoá thân. Quy lễ Mật tông khởi đầu bằng cách
cầu nguyện an
trú và khởi động Bồ Đề Tâm, một thái độ vị tha cầu mong giải thoát sinh linh khỏi mọi
khổ đau. Kế đến là giải thoát khỏi thực tại thường tình qua dạng của tính không,
và thay vào đó, quán tưởng đến
vị hoá thân, đấng mà ta muốn dâng hiến và cung kính kỉnh lể. Tia sáng chuyển động
sẽ chuyển từ vị hoá thân sẽ xóa tan ô trược và trở nghiệp, để chuyển hoá thành
môi trường thành cõi tịnh độ
của chư thiên. Thân, khẩu và ý
của hành giả và của chúng sinh trở
thành đồng nhất với thân, khẩu và
ý của đấng giác ngộ. Tất cả hình thức này được coi như hình thức của chư thiên,
tất cả mọi âm thanh là mật chú và tất cả tư tưởng là trí huệ giác ngộ của bậc đã đạt
giác ngộ. Khi quán tưởng các mật chú được tụng càng lâu càng tốt trong lòng của
hành giả
Hành trì kết thúc khi toàn bộ
các quán tưởng đạt đến
trạng thái tính không. Kế đến hành giả suy niệm trong tâm của mình về đặc điểm
của tính không. Cuối cùng, hành giả hướng đến chúng sinh về công đức đã tích
lũy đưọc trong lúc tu tập. Chư thiên quán tưởng khi định tâm qua dạng giới đàn
(mandala) và nghi thức này cùng với lễ nhạc gồm có cầu nguyện với
mật chú bằng pháp âm và pháp ấn. Hình thức quán tưởng theo chư thiên trước đỉnh
đầu cho đến khi nào mà hành giả cảm nhận được là mình được thêm sức qua phép
quán đảnh, có thể thành chư thiên và đồng hoá mình được với chư thiên giác ngộ về tâm,
thân và ý. Một thí dụ về quy lễ
là nghi thức theo Phật Quan Âm nhằm trao giồi tính từ bi.
Trong truyền thống Kim Cang
Thừa, có vô số Đức Phật và Bồ Tát hành đạo như những vị hoá thân thành Hộ
Pháp. Từ chư
thiên hay hoá thân dùng
ở đây chì có tính hướng dẫn, đã có nhiều chú giảng trong các nghiên cứu tôn
giáo tổng quát và đặc biệt nghiên cứu về Mật tông. Thần Hộ Pháp được thể hiện
trong hai hình thức hoặc là thiện thần hay ác thần, vì Thần Hộ Pháp có nhiều dạng
khác nhau, nên có thể thể hiện cả hai hình thức. Thí dụ một vị thiện thần là Phật
Quan Âm, một vị Bồ tát với tính từ bi, mà khuôn mặt thể hiện tịnh khiết và vị
tha. Thần Hộ Pháp thể hiện ác thần là Hàng Phục Dạ Ma (Yamantaka), Bát Đầu Minh Vương (Hevajra)
và Đại Hắc
Thiên (Mahakala). Ác thần không phải
là ác qủy, đây là một cảm nhận sai lầm, mà chính là một biểu hiện tâm linh để buộc
người tu loại bỏ mọi trở lực nội tại và ngoại lai.
Một vài vị Thần Hộ Pháp có
hình thức khác nhau, kể cả thiện và ác. Thí dụ, Lục Độ Phật Mẫu
(Tara), là đấng giác ngộ mang hình nữ giới nhưng biểu hiện qua 21
hình dạng khác nhau, mỗi hình dạng có vị thế độc đáo với những đặc trưng chuyên
biệt. Tara nổi danh nhờ
quyền năng chuyển hoá những ô trược và làm việc miệt mài đem phúc lợi cho chúng sinh. Một khi vị
sư phụ thông qua phép quán đảnh tuyển chọn hay chấp nhận một vị Thần
Hộ Pháp thì hành
giả được phép tu theo pháp môn Mật tông coi vị Thần Hộ Pháp này như là một đối
tượng để mình quán tưởng. Khởi động lòng tự hào thần thánh tự hoá thân để trở
thành chư thiên thay đỗi nhận thức từ một tâm trạng nhận thức thường tình chưa
giác ngộ để trở thành đạt đến tâm trạng giác ngộ.
Lý
Tưởng Hoà Bình Của Phật Giáo Và Thực Trạng Bạo Động
Dĩ nhiên lý tưởng của Phật
giáo về Hoà Bình không luôn được áp dụng một cách tuyệt vời tại các xã hội theo
Phật giáo. Một xã hội binh thường là nơi trú ngụ của những cá nhân bình thường và
chưa đạt giác ngộ. Vì thế mà họ là những người dể bị tổn thương với những cảm
xúc phiền não, giam tham, sân hận và vô minh. Giống như những kỷ năng khác, tinh
thần bất bạo động đòi hỏi luyện tập và thiền định đòi hỏi nhiều thời gian và thật
tâm kết ước.
Taị các xã hội theo truyền thống Phật giáo, luôn có tu viện và tăng sĩ du già theo
việc hành trì này trong cô tịch. Ngay cả tại các xã hội đề cao tinh thần bất bạo
đông, không phải tất cả mỗi cá nhân đều có thể hoàn thiện tinh thần hiếu hoà một cách toàn diện.
Liệu có nên xem việc hủy hoại
các tiêu cực là bạo lực chăng? Cưỡng chế của các ác thần có nên xem là hữu
ích tất yếu cho việc xoá tan những hoang tưởng gây tác hại tâm linh và dẹp bỏ mọi
chướng duyên trong hành trì không? Cách cưỡng chế này liệu có thể dùng để biện luận nhằm vượt
qua những cơn bệnh của xã hội đuợc chăng?
Nếu một nền kinh tế toàn cầu
được dẫn dắt bởi các bậc đạt giác ngộ và những động lực thúc đẩy của họ chỉ nhằm
đem lại phúc lơi cho mọi tạo vật trên thế gian, thì thành qủa này là tích cực. Nhưng
nếu nền kinh tế toàn cầu được điều khiển bởi các cá nhân chạy theo tư lợi và do
lòng tham thúc dục, thì việc điều hành cơ chế chỉ đưa tới lừa đảo, tham nhũng
và bóc lột. Bất công kinh tế ngày một gia tăng đưa tới căng thẳng và xung đột
có bạo lực.
Nguồn
Lực Của Phật Giáo Cho Hoà Bình
Truyền thống Phật giáo theo
Kim Cang Thừa có những nguồn lực nào để tạo hình cho một thế giới bất bạo động?
Trước hết, cũng giống như các truyền thống Phật giáo khác, Kim Cang Thừa giúp
ta tìm ra nhận thức có ba đặc điểm chủ yếu của cuộc sống (tam pháp ấn): khổ, vô
thường và vô ngã. Nhận thức về khổ tìm ra được thực tại mà vạn vật là không thể
trường tồn. Nhận thức về vô ngã xoá tan tinh thần vị kỷ và bất chấp quyền lợi riêng tư mà
Phật tử xem là nguồn gốc cho tranh chấp và phản ứng bằng bạo lực.
Suy giải về vô ngã cũng là một
phương tiện tìm hiểu về con người bằng cách nhận chân ra ngũ uẩn, đó là sắc, thọ, tưởng, hình và thức.
Suy nghĩ về
ngũ uẩn giúp ta xoá tan những khái niệm thông thường về bản ngã, một khái niệm quen
thuộc về bản ngã trong cụ thể, một thực thể đang xãy diễn, và khái niệm
về bản ngã như một thực tại thường hằng, vì nó sẽ có giá trị nhiều hơn.
Tiến trình phân tích này thường
được dùng để nhìn thấu đáo hơn về khái niệm bản ngã, tách rời những khuôn mẫu
bám chặt vào bản ngã, ràng buộc này dẫn đến xung đột có bạo lực.
Tiến trình này giúp ta nuôi dưỡng nhận thức về bản chất đích thực và hành
động để giải độc những tư tưởng nắm chặt tự ngã và ham muốn.
Tu tập có quan hệ là suy niệm về tính vô ngã của bản ngã và của
hiện tượng. Hành trì này nhằm tháo gở mọi ràng buộc tự ngã vì xem bản ngã như là một
cuộc sống đích thực. Lợi điểm thiết thực của việc hành trì này là đạt đến khả
năng bỏ đi những kỳ vọng, phẩn hận, ác cảm, thất vọng, giận dữ khi mọi kỳ vọng
không đạt được. Một lợi
điểm khác của tu tập là đặt nghi vấn về những suy đoán. Những nghi vấn quen thuộc
có liên hệ
ở đây là kỳ thị giới tính. Kỳ thị này tạo
quan điểm về kinh nghiệm của hai loại giới tính một là bị trị hoặc một là thống trị. Qua tiến trình phân chia theo giới
tính xem đàn ông là chủ động và đàn bà là thụ động, thì khái niệm này có thể
tháo gở
thành kiến trọng nam khinh nữ,
vì gây tác hại. Bạo lực cuồng loạn qua các phim ảnh hay video trở thành món ăn
hàng ngày cho khán giả có thể được xem như một loạị sản phẩm tạo nên phân biệt
giới tính trong xã hội. Khi cho là nam giới thì cứng rắn và hung hãn, còn nữ giới thì e dè và thuần phục,
thì khái niệm này phân chia cá nhân thành những khuôn mẫu trái hẳn với tự nhiên và
gây nản lòng, tất cả tác động đến những thái độ gây hấn, làm thiệt hại và áp dụng
theo quân phiệt.
Khi các khuynh hướng của các
chính phủ muốn
đạt mục tiêu của mình và có gây tác hại tôn giáo thì Phật giaó cũng không thể
tránh khỏi ảnh hưởng. Sau
khi được du nhập vào Tây Tạng thì Phật giáo là một nguồn lực mạnh trong việc tạo an hoà,
nhưng cũng có những hành vi baọ lực lại thĩnh thoảng xảy diễn, ngay cả giữa các
tu viện với nhau. Lịch sử cho biết là
để củng cố quyền lực tại Tây Tạng Ngài Đạt Lai Lạt La V đã hợp tác với Mông Cổ và
có trừng phạt với
các tấn công bằng vũ trang.
Phật giáo cùng đồng
tình với Hobbes
khi triết gia này nói là nguyên nhân của bạo lực không phải do nhân tính, nhưng
vì thiếu sự tưởng tượng về giải pháp bất bạo động luôn sẳn có, chỉ cần đề ra một
cách khôn khéo và thi hành. Quan điểm đạo đức quốc tế của Đat Lai Lạt Ma XIV và
những hành vi bất tuân dân sự của người Tây Tạng lưu vong và trong nước chứng tỏ
rằng đề kháng không cần bạo lực là hữu hiệu. Ngay cả khi đối đầu với bạo lực
đang gia tăng trong thế giới ngày nay, lòng
chính trực đạo đức của tinh thần đối kháng bất bạo động vẫn luôn được công nhận và cổ vũ.
* * *
Nguyên tác
bản dịch: “Shi Wa: A Vajrayana Buddhist Perspective”, The
Palgrave International Handbook of Peace Studies: A Cultural Perspective, Wolfgang Dietrich, Josefina
Echavarria Alvarez und Gustavo Esteva von Palgrave (2011), 229-242,
Basingstoke, Palgrave Macmillan. Bản dịch không có phần chú
thích và thư mục
tham khảo trong nguyên tác.
Karma Lekshe Tsomo là giáo
sư Phật Học tại Đại học San Diego
và là tác giả sách Into the Jaws of Yana,
Lord of Death: Buddhism, Bioethics and Death (Albany: State University of
New Yorrk, 2006).
Discussion about this post