Sự Quan Trọng Của Chánh Niệm – Kinh Đại Niệm Xứ

SỰ QUAN TRỌNG CỦA CHÁNH NIỆM
KINH ĐẠI NIỆM XỨ
Thiền Sư U Silananda
Nita Truitner dịch Việt

Vài lời của người dịch

Từ lâu tôi luôn nghĩ rằng thực hành thiền Minh Sáthành Chánh Niệm. Kinh nghiệm hành thiền và học thiền của tôi rất giới hạn gồm có thiền Minh Sát theo truyền thống của Ngài Mahasi Sayadaw, (Thiền sư U Pandita, Thiền Sư Khippapanno). Gần
đây
tôi có được cơ hội học được phương pháp Niệm Cảm Thọ của Thiền Sư Cư sĩ S.N. Goenka. Duyên may
đưa đến năm nay tôi được đi học thiền “Niệm Tâm” ở thiền viện của Cố Hòa Thượng Thiền Sư Shwe Oo Min, Miến
Điện.

Tuy còn sơ cơ về pháp hành, tôi nhận xét tất cả những gì mà tôi thu thập được trong những phương pháp hành thiền kể trên, tôi nghĩ rằng, tất cả
đều là thực hành chánh niệmphương pháp hành thiền là theo trong kinh Tứ Niệm Xứ. Mỗi một Thiền sư danh tiếng tự chọn cho mình một “chuyên môn” theo kết quả kinh nghiệm cá nhân, nhưng chung quy vẫn là thiền Tứ Niệm Xứ hay Thiền Minh Sát, hay Vipassana. Hiện nay danh từ Vipassana thường dùng để chỉ
thiền Minh Sát, hay Tứ Niệm Xứ, rất phổ thông trong cộng
đồng
tu thiền.

Tôi rất muốn diễn
đạt
sự hiểu biết ít nhiều về lý thuyết cũng như thực hành thiền, cho vài đạo hữu mới vào học thiền, nhưng không biết làm cách nào
để diễn tả giáo lýthực hành một cách rõ ràng minh bạch và gần với sự thực. May mắn thay, mới
đây
tôi mới có dịp đọc một quyển sách nhỏ tựa đề là “The Importance of Mindfulness”, phía dưới
đề là “The Mahasatipatthana Sutta” của Hòa Thượng Thiền sư U Silananda viết, tôi vô cùng hoan hỉ vì sự giảng giải ngắn gọn nhưng rõ ràng minh bạch về nghĩa lý hàm chứa trong Kinh, rất gần với như sự hiểu biếtnhận xét của tôi về lý thuyết cũng như về thực hành thiền Minh Sát.

Trong tập sách nhỏ ấy, Hòa Thượng Thiền Sư kết luận rằng, hành thiền Tứ Niệm Xứ tức là hành Chánh Niệm. Một điều tôi muốn được ghi nhận ở đây khi Thiền Sư nói rằng “thiền Minh Sátthể đạt đến hai loại diệt trừ phiền não đó là sự diệt trừ từng chập và sự diệt trừ tạm thời, nhưng thiền Minh sát không thể
đạt
được sự diệt trừ thứ ba
đó là sự diệt trừ phiền não toàn diện.” (trang 23 bản tiếng Anh) Thoạt đầu tôi không hiểu rõ hàm ý câu nói trên, vì nếu thiền Minh Sát không
đạt được sự diệt trừ phiền não toàn diện thì phương pháp nào hiệu quả hơn để giúp hành giả diệt trừ phiền não toàn diệnchứng ngộ Niết Bàn? Phải chăng đó là sự liên tụctích cực thực hành chánh niệm đến một mức độ nào
đó khi trí tuệ tột cùng phát sanh tâm
đạo
lấy Niết Bàn làm
đối tượng?

Một
điểm quan trọng khác mà tôi muốn ghi nhận ở đây là Thiền Sư U Silananda nói rằng (trang 19 trong bản tiếng Anh) chữ si – “moha” trong tiếng Pali, không được nói đến ở đây vì si (moha) rất khó để ngăn ngừadiệt trừ. Tuy nhiên có thể moha được hàm chứa. Trong trang cuối quyển sách nhỏ nầy, Thiền Sư U Silananda
đã hàm ý nói
đến si (moha), khi Ngài nói
đến thực hành thiền Vipassana. Khi thực hành thiền Vipassana, hành giả sẽ được phát sanh trí tuệ để thấy rõ tam tướng vô thường, khổ, vô ngã. Si (moha) mê có nghĩa là sự thiếu trí tuệ, thiếu chánh kiến,
để thấy rõ tam tướng vô thường, khổ, vô ngã. Mục đích của thiền Vipassana là
để phát sanh trí tưệ, khi trí tuệ phát sanh thì si mê tiêu diệt, cũng như khi có ánh sáng thì bóng tối biến mất. Tuy không nói nhiều về Vipassana trong quyển sách nhỏ nầy, thiền Sư U Silananda đã viết và giảng rất nhiều về thiền Vipassana trong những khóa tu thiền.

Để giải thích sự diệt trừ phiền não toàn diện, những thiền sư hiện đại phải “giới thiệu” danh từ Vipassana một danh từ vừa có nghĩa minh sát (hay trí tuệ), vừa để giải thích vì sao hành thiền Tứ Niệm Xứ
để tận diệt ba phiền não: tham, sân và si, và là “con đường duy nhứt… ” theo như phần đầu trong kinh đã khẳng định.

Chúng ta phải hiểu rằng kinh Phật dạy chỉ là một “chỉ nam”, một “dàn bài,” chớ không phải một bài giảng chi tiết cho một phương pháp. Thí dụ Thiền Sư U Silananda có nói rằng trong đoạn nói về tâm định một yếu tố quan trọng trong ngủ căn, tâm định mặc dù không có
được nêu lên trong kinh
Đại Niệm Xứ
, nhưng ta phải hiểu rằng tâm định được hàm chứa, vì nếu khôngtâm định thì ta sẽ không có tỉnh giác vân vân … Ngài cho thí dụ một người thợ săn nai chỉ thấy dấu chân nai rõ ràng ở hai bên của tảng đá, người săn nai phải kết luận rằng con nai phải chạy ngang qua tảng đá.

Nếu không giải thích rõ ràng, thiền sinh sẽ dễ ngộ nhận cho rằng thiền Tứ Niệm Xứ và thiền Vipassana là hai phương pháp hành thiền khác nhau.

Thay vì tự vặn óc
để viết lên sự hiểu biết của tôi về chánh niệmpháp hành thiền minh sát, tôi phát tâm hoan hỉ tự nguyện sẽ cố gắng dịch tập sách nhỏ nầy ra tiếng Việt để chia xẻ với bà con mới vào học thiền. Tuy là quyển sách nhỏ, nhưng nó rất căn bản và là một kim chỉ nam cho những ai mới bắt đầu học thiền và hành thiền và cũng rất lợi ích cho cả những thiền sinh kinh nghiệm.


Nita Truitner
Minnesota, Mùa Thu sang Đông 2003

 

Đoạn mở đầu của Kinh Đại Niệm Xứ

“Nầy Chư Tỳ Khưu,
đây là con
đường
độc nhứt đưa đến sự thanh lọc cho chúng sanh, vượt khỏi sự sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn, đó là Tứ Niệm Xứ.
Thế nào là bốn?
Nầy Chư Tỳ Khưu, ở
đây vị Tỳ Khưu sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm

để chế ngự tham ưu ở đời.
Vị Tỳ Khưu sống quán thọ trên thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời.
Vị Tỳ Khưu sống quán tâm trên tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời.
Vị Tỳ Khưu sống quán pháp trên pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời”.

Đoạn trên trích ra từ một trong những bài kinh của Đức Phật tựa là: “Bốn lãnh vực quán niệm”; theo Phạn ngữ Pali, kinh nầy gọi là “Mahasatipatthana Sutta” ( Đại Niệm Xứ).

Tuy là
đoạn mở đầu, đoạn kinh nầy đã tóm tắt cốt tủy của toàn bài kinh.

Chính
Đức Phật đã thực hànhcông nhận rằng có sự lợi ích sẽ đem lại cho hành giả. Sau đó Ngài khuyến khích các thầy Tỳ Khưu và các đệ tử của Ngài thực hành pháp môn Tứ Niệm Xứ, và trong suốt 45 năm truyền bá giáo pháp, Đức Phật luôn luôn đề cập dẫn chứngnhấn mạnh tầm quan trọng của kinh Tứ Niệm Xứ.

Sau khi
Đức Phật nhập Niết Bàn những phương pháp thực hành được góp nhặt và g