Nấc thang để bước lên…

Bút ký:

NẤC THANG ĐỂ BƯỚC LÊN
Nguyễn Xuân Chiến

 “Giới luật chính là nấc thang đưa mọi người trên con đường giải thoát”.

TRẢ LẠI XÂU CHUỖI

Xưa, nhà tôi nằm ngay đầu xóm giữa, nhà của Ông Nội Chú ở xóm thứ ba, cách nhau khoảng vài trăm thước. Tại sao gọi là Ông Nội Chú? Đơn giản đó là em ruột của Ông Nội chúng tôi. Hai anh em rất thân nhau, đến nỗi trong bữa ăn nếu gia đình có món gì ngon lành, cũng mang sang cho người kia dùng.

Tôi cứ thế mà lớn lên giữa khung cảnh bình dị, nên thơ của nông thôn của cái thời chưa thấm nhiễm bụi hè phố. Vườn thì toàn trồng bưởi, thanh trà, khế chua khế ngọt, ổi xá lỵ, vân vân… Tôi đi học về quẳng sách vở lao xuống dòng sông trước nhà để tắm, bơi đùa giỡn trên mặt nước. Ăn cơm trưa xong, đi lên nhà Ông Nội Chú để rảo quanh vườn, tìm kiếm trái cây nào thích ý mà nhai rau ráu đến no nê.

Rồi, một biến cố trọng đại xảy ra, một sự kiện đã biến đổi cuộc đời tôi và nhiều anh em khác nữa.

Năm ấy, tôi vừa mười chín tuổi, Chú Quang bắt đầu chuyên tu pháp môn Tịnh Độ và lập đạo tràng niệm Phật đầu tiên tại thành phố Huế.

Xin được nói rõ hơn một chút: Xứ Huế hoặc bất cứ xứ nào của Việt Nam, xưa nay các Phật tử đều hành trì theo cuốn sách Nghi Thức Tụng Niệm, chú trọng tụng kinh là chính để phục vụ các thời khóa cầu an, cầu siêu – chứ không phải theo một pháp môn nào nhất định. Hình như là để duy trì niềm tin vào Tam Bảo mà thôi, chứ không phải thực hành Tịnh Độ như mọi người nghĩ. Bữa nay, (1981) Chú Quang theo học pháp môn Tịnh Độ từ hai vị khai sáng đó là Ngài Thích Trí Tịnh và Ngài Thích Thiền Tâm từ Miền Nam, cho nên Chú muốn phổ biến một pháp tu chắc thật và đúng đường lối của đức Phật và chư tổ sư. Nếu là Tịnh Độ thì hành trì bằng cách niệm Phật ròng rặt chứ không có xen vào các công việc khác như tụng kinh, hay bái sám hoặc trì thần chú các loại vân vân. Đây gọi là tu hành chuyên nhất chứ không phải xen tạp.

 Tôi mặc dù còn trẻ măng, nhưng Chú Quang nồng nhiệt khuyến khích niệm Phật ròng rã, hoàn toàn chuyên nhất – vì đạo Phật cần những người trẻ để cho người ta biết rằng, thanh niên cũng có thể tu hành như các bậc tiền bối, và Chú Quang muốn khơi dậy một không khí mới lạ trong các đạo tràng hiện toàn là những người già suy mà thôi! Phần đông mọi người cứ cho rằng, ông già, bà lão mới cần tôn giáo như “núp bóng từ bi” hoặc quan niệm tu hành là để vớt vát – kiếm được chút gì thì tốt chút ấy, chứ không phải là thanh toán Sanh Tử, giải thoát luân hồi hoặc hoằng dương chánh pháp!

Tôi cùng các anh chị em chỉ vừa tuổi đôi mươi, nhưng vẫn tự nguyện gia nhập nhóm Chú Quang để hành trì như các bác lớn tuổi và mỗi chủ nhật khi tụng kinh Pháp Hoa ở chùa Từ Đàm xong, Chú Quang dẫn các anh em ghé khắp mọi chùa ở xa thành phố để xin phép lên chánh điện để niệm Phật. Thời buổi khó khăn nên lòng người thường hay nghi kỵsợ hãi lẫn nhau, cho nên chúng tôi theo thủ tục “cơm nước tự túc” để khỏi làm phiền nhà chùa. Chúng tôi niệm Phật và dùng cơm xong do chính mình bới theo, rồi nghỉ ngơi vài mươi phút và tiếp tục đi đến chùa khác.

Cách thức hành trì của Chú Quang là phải sắm cuốn sổ riêng, gọi là Sổ Công Cứ, sử dụng xâu chuỗi để niệm Phật. Cứ lần chuỗi hàng ngày sao cho đủ số đã định, thì ghi vào sổ công cứ một dấu chấm. Bao giờ cuốn sổ tràn đầy những dấu chấm, thì trình lên Chú Quang hoăc một vị tu sĩ nào đó để cầu chứng minh.

Nhiều người “chọc quê” rằng, nếu các anh ấn định niệm Phật mỗi ngày bao nhiêu danh hiệu, rồi ghi vào sổ công cứ – như vậy có vẻ trẻ con quá! Chúng tôi thành thật trả lời như ri: Vâng. Đúng như rứa, bởi vì trên đường tu khó nhọc và hiểm trở, chúng tôi chỉ là những đứa trẻ rất cần cây gậy chống và cần bậc thầy nâng đỡ.

Dạo ấy, xâu chuỗi hột đâu dễ tìm, muốn có thì phải mua ở phòng kinh sách Từ Đàm, chứ xin thì khó quá, mà mua lại không có tiền vì mình còn là thanh thiếu niên trẻ tuổi, đâu làm chi ra tiền?

Tôi sực nhớ ra, ngày xưa Ông Nội Chú ăn chay niệm Phật như vậy có lẽ ông đã dùng xâu chuỗi. Tôi tức tốc đạp xe lên nhà.

Phật ơi! Xâu chuỗi đây rồi!

Xâu chuỗi vẫn ngang nhiên đậu trên bàn chuông mõ, mà nằm an lành trên quyển nghi thức nhật tụng nữa!

Nhà tranh vách đất, mưa xan gió tạt làm quyển kinh nhật tụng đã ngã màu vàng úa, rách rời. Nhưng, xâu chuỗi thì không hề hấn gì, vì được làm bằng nhựa đã được phủ màu bụi đất!

Bấy giờ, chẳng biết làm sao, không lẽ cứ bỏ vào túi rồi lặng lẽ ra về? Khó quá! Xin thì chắc gì người nhà đã cho. Ông chú tuy đã không màng đến, nhưng biết đâu ông ta xem như món đồ cổ.

Tôi đắn đo, tần ngần, thèm muốn.

Tôi trở về nhà mà lòng vẫn gởi trên bàn chuông mõ của Ông Nội Chú, suy nghĩ thâu đêm, suốt mấy ngày như rứa! Thôi đành “lấy trộm” là ăn chắc. Dù nhà trường và cả thầy giáo đều dạy rằng: “Được đi học thì đừng ăn cắp”. Thế mà, tuổi trẻ thường ngả theo những quyết định táo bạo, thường dẫm đạp lên trên những những lời dạy ấy. Vẫn biết sai lầm mặc dù biết rõ là tầm bậy, nhưng vẫn liều lĩnh không dừng lại được!

Hôm sau, tôi lại đến nhà Ông Nội Chú, đúng lúc Chú tôi (con trai của Ông Nội Chú) đã ra đồng, thím thì đi chợ, mấy thằng con lớn thì đi theo chú, đứa còn nhỏ thì đi học. Thật là một dịp may hiếm có! Tôi vừa run, vái lạy Đức Phật vừa đưa tay cầm xâu chuỗi bỏ vào túi, lật đật ra về, sợ có ai nhìn thấy thì… thậm chí nguy!

Ngày ngày trôi qua, không tăm hơi, không có động tĩnh gì. Tôi hoàn hồn, có lẽ cả nhà cũng không để ý gì về sự ra đi biền biệt của xâu chuỗi.

Ngày tháng trôi qua, tôi không còn nhớ rõ là bao lâu, đến nỗi quên luôn chuyện xâu chuỗi. Thỉnh thoảng, xâu chỗi hột từ đâu dưới đáy tâm thức, chợt ngoi lên: “Chà, bậy quá! Mình đã ăn trộm xâu chuỗi. Ăn cắp rõ ràng, không thể chối cãi được! Nhưng Ôn Nội Chú đâu có dùng? Mình là con cháu trong nhà, có quyền lấy về xài tạm! Khi mô Ôn đòi thì hẵng hay!”

Lâu lâu, tôi cũng thấy chú về thăm ba tôi, mặc dầu lớn tuổi hơn ba, nhưng chú rất nể trọng ba. Có khi chào hỏi chú xong, tôi mon men đến gần, xem thử hai người nói với nhau những gì. Thì ra, chú tôi nay đi chùa tụng kinh. Ba tôi khuyên chú nên “hạ thủ công phu” bằng cách niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Chú đã nghe theo lời ba tôi.

Tôi sực nhớ xâu chuỗi, nhiều năm rồi tôi không cầm đến. Tôi vội chạy đi tìm. Xâu chuỗi vẫn còn đây, có vẻ còn sáng đẹp hơn hồi trước còn ở nhà Ôn Nội Chú một chút.

Tôi mang xâu chuỗi đến nhà chú, cầm lên và nói:

– Ông ơi! Đây là xâu chuỗi hột của Ôn ngày xưa. Cháu đã lén lấy về, thiệt là rất có lỗi. Và nay chú niệm Phật thì cho con xin hoàn lại!

Đôi mắt chú bừng lên, hân hoan, rạng rỡ:

– Rứa hả? Lâu ni tui cũng quên đi mất!

Có lẽ đôi mắt của tôi cũng sáng bừng lên, cũng hân hoan kể mấy cho vừa, và cũng rạng rỡ như nghe tin thi đậu.

Như vậy, vật đã về chủ cũ. Thật may mắn làm sao. Thoát được ám ảnh phạm giới, khiến lòng tôi thanh thảnhạnh phúc khôn cùng!

          * * *

CƯ SĨ TRẺ CÓ CẦN GIỮ GIỚI KHÔNG?

          * * *   

          Từ đó, tôi mới biết, giữ giới sao cho hoàn hảo và đúng như lời đức Phật dạy, quả là thiên nan vạn nan!

          Nhiều việc mình tưởng là nhỏ và mình không quan tâm, nhưng ông Vương Dương Minh bảo rằng: “Đừng coi thường việc nhỏ, bởi vì lổ nhỏ nhưng có thể làm đắm thuyền!”. Huống chi, người tu theo đức Phật thì không có việc nào nhỏ cả, vấn đềchúng ta phải làm một người trung thực đúng nghĩa!

Kinh dạy:

Đừng khinh tội lỗi nhỏ, 
cho là không tai họa
giọt nước tuy là ít, 
chảy mãi đầy hồ lớn. 

Tội lỗi gây chốc lát, 
họa ở vô gián ngục
một khi mất thân người, 
muôn kiếp khó được lại. 

Sự khỏe đẹp không bền, 
qua mau như ngựa chạy; 
mạng người vốn vô thường
quá hơn nước núi đổ: 
hôm nay dẫu còn đó, 
ngày mai khó bảo tồn

          Nhờ vào việc niệm Phật chuyên cần, chúng tôi trở nên thức tỉnh hơn và tự tâm thường căn dặn chính mình: Phải giữ giới luôn luôn. Nếu lỡ vi phạm thì phải thường xuyên sám hối thật chí thành thống thiết….

          * * *

          GỈA VỜ QUÊN LỬNG

          * * *  

          Chị Hải, một người chị bên ngoại nhưng rất thân tình, tuy tuổi tác cách biệt nhau, nhưng có quá khứ chơi đùa tinh nghịch cùng nhau, chung một khung cảnh nhà quê, nên chúng tôi gắn bó nhau không phải vì liên hệ bà con mà thôi. Lớn lên chị lấy chồng cũng ở gần nhà tôi nên tình cảm càng trở nên sâu đậm hơn. Vào tuổi trung niên, chị xuất cảnh theo diện H.O của chồng và ba năm sau chị đã khoác bộ vó Việt kiều trở về. Dĩ nhiên là phải ghé thăm gia đình tôi.

          Lúc chị sang nhà để thăm viếng thì cả nhà xúm xít hỏi han lung tung. Chị vừa trả lời những câu hỏi của các anh chị em gia đình tôi, vừa tíu tít tặng quà cho người này người nọ, khiến tôi xem như bị ra rìa. Đành thui thủi ngồi ở góc nhà, uống trà một mình và ngắm cảnh tượng sum vầy của gia tộc đông người! Mạ tôi hỏi:

          – Này, con Hải răng đi lâu quá, kể ra hơn ba bốn năm mới chịu về làng thăm viếng bà con lối xóm. Tau tưởng hắn biệt tích luôn chứ?

          Chị Hải vừa bày đồ đạc la liệt đầy bàn, vừa phân trần:

          – Mợ cứ noái như rứa e tội nghiệp con. Qua bên đó, hai vợ chồng đi làm đầu tắt mặt tối, đến nỗi không có thời gian để ăn uống cho đàng hoàng nữa, mần răng nghĩ được điều chi!

          Uả, thằng Long mô rồi?

          Tôi lật đật giong tay lên cao:

          – Có mặt. Em là thằng Long đây nè!

          – May không thôi chút nữa chị quên. À, em có quen thằng Hối, con trai ông “Phương Lọ Nồi” không?

          – Có. Hắn là bạn nối khố của em. Mà chuyện chi rứa?

          – Thằng Hối có gởi tặng em một trăm đô. Này, chị đưa liền kẻo nhiều việc rồi quên.

          Tôi chìa tay ra nhận một tờ giấy bạc mới toanh:

          – Cảm ơn chị!

Chị Hải vừa trao tiền cho tôi vừa quay sang mạ, nói:

– Con tặng mợ xấp vải ni. Bằng lụa Thượng Hải, để mùa hè mợ mặc cho mát.

Tôi thấy mọi người đang bận rộn, bèn vội vã chuồn êm. Bữa khác gặp riêng chị có lẽ chuyện trò vui vẻ hơn.

Chuyện như rứa tưởng là đã xong. Tôi có được tiền đóng học phí và mua các tài liệu học tập, khỏi phải xin mạ cho rầy rà. Nhưng ba ngày sau, nhà chị Hải có giỗ mẹ chồng, dù mình không ưa mấy việc tụ tập đông đúc mất nhiều thì giờ, nhưng tôi bắt buộc phải tham dự. Vừa bước vào ngay cửa, bỗng chị Hải lù lù xuất hiện, nắm ngay tay áo tôi và hô lớn:

– Kìa! Thằng Long vừa tới đây nì. Hôm trước tau đi Bolsa gặp một người đàn ông đen thùi lùi, bạn của Anh Vĩ chồng chị, tên là Phương Lọ Nồi. Nói chuyện một hồi mới biết con ổng là bạn thân của em. Ông Phương nói qua đây cực lắm, cho nên thằng Hối quên cả bạn bè ở Việt Nam. Nhân tiện, tau noái sắp về thăm làng xóm, thằng Hối mới gởi cho em trăm đô. Nì, cầm tiền mau lên để chị còn lo nhiều công việc…

Tôi nói: “Chị đã đưa số tiền đó cho em rồi mà!” nhưng khi ấy mọi người ăn nói cười cợt rầm trời nên chị không có nghe gì hết. Chị vội nhét tờ giấy bạc trăm đô vào tay tôi, rồi bỏ đi.

Bản tính tham lam nổi dậy, tôi thầm nhủ: Thôi, mặc kê. Chính chị đưa cho mình mà. Mình cứ cất đây, tha hồ mà tiêu xài cho sướng. Dại chi mà trả lại? Việt kiều chắc có nhiều tiền lắm. Chị không biết mô mà sợ.

Rứa là bỗng nhiên có được một số tiền quá lớn đối với một sinh viên nghèo như mình!

* * *

          Mọi chuyện rồi qua đi như con nước trong hay đục đều tuôn về biển cả. Tất cả rơm rác hoặc vật gì quý hiếm đều trộn lẫn trong dòng phù sa màu vàng nguệc rồi chảy ra đại dương. Đại dương thì vẫn muôn đời thinh lặng, nhưng, lại nhưng, lòng ta thì mãi mãi ồn náo như bị thủy triều vùi dập, và bị cuộn sóng đẩy lên liên miên.

          Tôi không quên được tờ bạc ấy.

          Thỉnh thoảng tờ bạc trăm đô như từ vũng sâu tâm thức chợt ngoi lên, khiến tâm hồn như bị sóng cuốn trào, và dòng nước đẩy lên cao ngút ngàn. Tôi loay hoay ban ngày. Tôi thẫn thờ ban đêm. Lòng không yên nên trí tuệ ngu ngơ, đờ đẫn.

Chị Hải thong dong trở lại Mỹ, nhưng tôi còn nằm yên trong tù ngục của sự ăn năn. Chỉ vì không giữ giới và thiếu thức tỉnh, cho nên lòng tham điều động con người mình, đánh mất cả những gì tu học bấy nay. Làm răng bây chừ?

* * *

TÌM GẶP THIỆN TRÍ THỨC

* * *

GẦN NỬA THÁNG TRĂN TRỞ, tôi như đánh vật cùng tờ giấy bạc ấy, sau rốt, tôi quyết định gặp Chú Quang để giãi bàycầu xin một cách giải quyết cho tâm hồn an tịnh, cho đường hành trì chẳng còn vướng bận gì. Nói là làm. Buổi sáng nọ, không còn biết bầu trời xanh hay trắng, tôi đạp xe qua chùa Phú Lâu. Cửa chính khép kín, đành phải vào chùa bằng cánh cửa hông, gặp Chú Quang đang sửa soạn đi đâu, chiếc túi đựng áo tràng đeo ở ghi-đông xe đạp.

A di đà Phật! Anh Long đi đâu giờ này? Có việc chi không?

– Thưa chú, con có chút việc cần gặp để…

Chú Quang nói nhanh:

– Tôi sáng ni bận họp trên chùa Từ Đàm nhân dịp Lễ Phật Đản sắp tới. Anh có thể trình bày trong mười lăm phút.

– Hay là… con đi cùng với chú, vừa đi vừa nói chuyện có lẽ tiện hơn?

– Cũng được!

Vậy là tôi vừa đạp xe vừa nói chuyện với Chú Quang. Thời buổi cả nước còn nghèo, trên đường toàn là xe đạp và khách bộ hành, cho nên chúng tôi chẳng ngại cản trở giao thông gì cả.

Tôi kể lể vắn tắt đầu đuôi và khẩn cầu:

– Con nên làm chi bây giờ, thưa chú?

A di đà Phật. Chuyện như rứa thôi à?

– Vâng. Nhưng con không biết làm chi cho đúng!

Chú Quang cười vui:

– Trước hết, anh Long này. Anh hãy kiếm vài chục bạc, rồi ra bưu điện gọi điện thoại cho chị Hải. Nhớ nói cho gọn kẻo tốn tiền. Sinh viên như anh mà không biết phải ăn nói với bà chị thân tình ra sao? – tôi khỏi cần chỉ bày cho anh. Để làm chi? Để xóa tan mọi ám ảnh của mình đã trót phạm giới và cầu mong chị Hải tha thứ, bỏ qua.

Nói về việc giữ giới thì anh xem như đã cố ý phạm giới thứ hai trong Ngũ Giới.

Anh nên sám hối vì đã phạm giớiVật mà người ta không cho, dù cây kim, cọng lá, sợi chỉ… cũng không được lấy. Huống chi anh đã cố ý “cầm nhầm” một số tiền khá lớn. Số tiền đó tôi có thể ăn uống hơn ba bốn tháng chứ không phải ít đâu!

Những người cư sĩ trẻ như anh chẳng hạn, thường ít quan tâm giữ giới. Tu hành mà chỉ lo đọc tụng các bộ kinh cao, không bao giờ đặt nặng phải nên giữ giới như thế nào? Họ cho rằng, kẻ mà cứ lo giữ giới thì bị ràng buộc và không làm nên việc chi được. Họ đâu biết rằng: Giữ giới là dùng tất cả năng lực bên trong để biến những hành vi của mình trở thành đức hạnh của một vị Phật.

Giữ giới còn làm cho tham sân si không có cơ hội phát triển. Ngoài việc tham thiền, hoặc tụng kinh niệm Phật, phần nhiều  thời gian, chúng ta sống theo bản năng tự nhiên, mà Giữ giớisử dụng ý thức để làm giảm thiểu bản năng tự nhiên ấy. Bản năng tự nhiên là tên gọi khác của tham, sân, si, mạn, nghi, và ác kiếnchúng nó luôn luôn mai phục đêm ngày, chỉ chờ dịp thích hợp là dấy khởi mãnh liệt, hung hãn.   

Nói cách khác,  Giới có thể hiểu là: Năng lực kiềm chếngăn ngừa điều sai trái, chặn đứng việc xấu ác, gia tăng những hành động thiện lành khiến cho cuộc sống của người trì giới được giải thoát ra khỏi vô minh phiền não.  Hễ giữ được giới nào thì giải thoát được giới đó. Cho nên càng giữ được nhiều giới bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Như vậy tu tập Giới là nâng cao phẩm chất, hoàn thiện tư cách của chính con người mình. Đó chính là đạo đức, cái làm nên giá trị con người(GIỚI LUẬT THEO TINH THẦN PHẬT GIÁOThích Nữ Hằng Như)

tu hành là chi, nếu chúng ta không thành Phật trong mỗi phút, mỗi giây?

Giữ giới, chính là sức mạnh vô biên của Phật giáo. Người ta thường sa đà trong việc hành thiện, cúng dường, đọc tụng kinh điển mà quên rằng, tu hành chân chính là trước nhất phải giữ giới. Ngày nào chúng ta còn lưu tâm giữ vững các cấm giới – thì ngày ấy Phật Pháp mới tồn tại.

Chúng ta đã biết, trong kinh Di Giáođức Phật đã từng khẳng định:

“Giới là bậc Đạo sư của các tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, cận sự namcận sự nữ. Nếu Ta có ở đời, cũng không khác gì giới vậy”.

Vai trò của giới luật trong đạo Phật rất quan trọng và là nền tảng của các pháp lành, nên người Phật tử cần phải hiểu rõ tầm quan trọng này để khỏi phải sai phạm.

Vì thế, ngũ giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ý nghĩa văn minh của nhân loại. Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộgiải thoát. Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có tụng những cuốn kinh cao siêu như Kim Cương, Hoa Nghiêm vân vân, mà chúng ta không thể giữ năm giới căn bản của người Phật tử, thì… kém lợi lạccông đức bị sút kém rất nhiều.   

Người bình thường nghĩ rằng giữ giới là bị trói buộc, cứng nhắc và mất tự do, thoải mái. Đâu biết rằng: Giới Luật chính là nấc thang để chúng ta bước lên con đường niết bàn – tức là hạnh phúc thực sự!

Con người là đối tượng của đạo Phật, cho nên đức Phật chế bao nhiêu luật, bao nhiêu pháp môn, đều vì con người mà lập bày. Đem lại sự an vui hạnh phúc cho con người, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật.

Song quan niệm đạo Phật, không phải được nhiều của cải, nhiều tình yêu v.v… là con ngườihạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là biết tôn trọng sanh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người.

Câu nói đáng ghi nhớ của cuốn Tại gia Bồ-tát giới:

“Giới luật chính là nấc thang đưa mọi người trên con đường giải thoát”.

* * *

THÊM VÀI Ý TƯỞNG VỀ GIỚI

* * *  

Đưa Chú Quang lên thấu chùa Từ Đàm, đứng dưới cội bồ-đề rợp mát, tôi muốn nghe nữa, nhưng chú bảo:

– Thôi! Vậy là vừa đủ cho anh. Chú bận họp, hôm khác chú sẽ nói nhiều về đề tài Giữ Giới cho các anh chị em cùng thảo luận để tiến bộ trên con đường đầy khó khăn mà thú vị này!

Tôi quày xe lại và trở về. Biển đã lặng và trời đã trong. Phố phường không có mưa mà như thấm ngọt. Chợt thấy rằng, giữ giới là niềm hạnh phúc vô cùng!

Sau khi gọi điện cho chị Hải và lạy ba bộ Lương Hoàng Sám, tôi lục lọi tất cả sách kinh về Giới Luật để tự mình học và nghiên cứu thêm. Thú thiệt, theo đạo Phật đã lâu mà mình quên khuấy chuyện giữ giới!  

Sau đây, là những bài kinh ngắn, có thể quý bạn đã từng nghe qua, nay xin đọc lại:

Giới: Tiếng Phạn Sila, theo nghĩa, dịch là giới. Giới [theo nghĩa hẹp] là những điều cấm chế, có công năng làm cho hành giả đề phòng, chế ngự thân, tâm, không cho phạm vào lỗi lầm (Hán: phòng phi chỉ ác). Giới là tiêu chuẩn quy định đệ tử Phật hành động thế nào là đúng pháp, hành động như thế nào là không đúng pháp.

Giới còn có nghĩa là “mát mẻ (Hán: thanh lương)”. Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) giống như cơn lửa phiền não đốt cháy hành giả, còn giới thì có thể dập tắt cơn lửa phiền não, làm cho hành giả mát mẻ, cho nên gọi là “thanh lương”.

Giới là bậc thang cho tất cả pháp lành, trong đó có bốn giai tầng là ngũ giới, bát giới, thập giới, và cụ túc giới. Phật tử