Làm chủ cái tâm

LÀM CHỦ CÁI TÂM 
Piyadassi Manhāthera | Phạm Kim Khánh dịch

 

Phat Giao Nhin Toan DienNgười học Phật một cách vô tư đã thận trọng đọc suốt những kinh điển thời nguyên thủy, sẽ luôn luôn gặp phải một nhân vật tích cực cương quyết, một con người đã thành đạt Giác Ngộ tối thượngtrạng thái châu toàn vượt khỏi mọi trói buộc, bằng cách kiện toàn những phẩm hạnh luân lý, trí thứcđạo đức đến mức tuyệt đối hoàn hảo, một vị thầy hăng say làm việc không biết mệt với ý chí sắt đá, quyết định phổ truyền chân lý mà mình đã chứng ngộ. Nhân vật tích cực hăng say ấy là Đức Phật.

Đức Phật không phải chỉ là một triết gia khác, giữa nhóm các triết gia, mà là vị hiền triết giác ngộgiáo huấn ban truyền sẽ cách mạng hóa tư tưởngđời sống nhân loại. Lòng hy sinh cao cả, tâm từ vô lượng, tâm bi vô biên và đức khoan hồng đại độ, phối hợp với phẩm cách đặc biệt cao cả của Ngài, nâng cao những ai, từ đám mây mờ vô minh bước theo dấu chân Ngài, và khai ngộ, soi sáng chân lý cho họ. Giáo huấn của Ngài phát xuất từ miền Bắc xứ Ấn Độ, nhưng lời kêu gọi trong bức thông điệp của Ngài được phổ cập đại đồng. Đức Phật ngỏ lời cùng toàn thể nhân loại ở mọi thời đại. Giáo PhápGiới Luật(dhamma-vinaya) được ban truyền cho tất cả mọi người, dầu nói ngôn ngữ gì, ăn mặc như thế nào, dầu tự mình gọi quốc gia nào là “quê hương”. Ngôn ngữ của Đức Phậtchân lý, Ngài ở bên trong bộ y phục chân lý, và toàn thể thế gian là “quê hương” của Ngài, bởi vì chân lý ở khắp nơi, vào mọi thời đại, mỗi cá nhân phải tự mình chứng ngộ. Đó là ý nghĩa của lời nói rằng Giáo Pháp của Đức Phật phổ cập đại đồng. Chân lý được đề cập đến trong Phật Giáo không có tánh cách khái niệm, và như thế không thể chỉ truyền thông bằng ngôn ngữ suông. Trong khi một vị Toàn Giác có thể hướng dẫn, rọi sáng cho chúng ta con đường dẫn đến chân lý, tự chúng ta phải thực hành phương pháp thiền tập để chứng ngộ chân lý và làm cho chân lý trở thành của chính ta.

Đức Phật hoàn toàn làm chủ cái tâm. Xuyên qua nhiều kiếp sống liên tiếp Ngài đã chặt chẽ nắm vững, trau giồi và phát triển tâm mình bằng pháp hành thiền và nhiều hình thức khác, nhằm nâng cao phẩm giá tinh thần. Do đó Ngài có thể thấu đạt và tuyên dạy những chân lý thâm sâu của đời sống, ý nghĩa, và mục tiêu của cuộc sống. Nhưng con người thông thường ngày nay lưu tâm đến Phật Giáo không phải vì chú trọng đến chính những chân lý thâm sâu cao diệu ấy, mà vì muốn học hỏi để biết làm thế nào tìm ra một giải pháp thực dụng cho những hoài nghi và những khó khăn làm họ bối rối và nhầm lẫn trong sự cố gắng thành đạt hạnh phúc.

Khi giải đáp thắc mắc cho một đệ tử, Ngài mạnh mẽ thuyết giảng chân lý này như sau: “Tâm hướng dẫn thế gian, tâm lôi kéo thế gian; tất cả đều diễn tiến dưới sức lôi cuốn của tâm.[1]“

Khoa học chưa khám phá đầy đủ, nhưng hơn 2,500 năm về trước Đức Phật đã chứng ngộ quyền năng tối trọng yếu của tâm, trên tất cả mọi khía cạnh của đời sống. Phật Giáo thời nguyên thủy chủ trương rằng năng lực của tâm rất rộng lớn và ta phải trau giồi đúng mức để thành đạt mục tiêu tối hậuNiết Bàn. Trong khi không phủ nhận giá trịảnh hưởng lớn mạnh của thế gian vật chất trong đời sống tâm linh, Phật Giáo chú trọng nhiều hơn đến tầm mức quan trọng của tâm. Năng lực của tâm thật sự quả là một thực tại.

Nhiều người tìm nguồn cảm hứnghạnh phúc từ bên ngoài, và thất vọng. Chỉ khi nào nhận thức năng lực tối thượng của tâm và thấu hiểu rằng chính cái tâm của mình có thể biến đổi thế gian này thành một cõi thiên đàng hay một cảnh địa ngục cho mình, chừng đó ta mới học được phương cách phải làm thế nào để thành đạt hạnh phúc.

Đức Bổn Sư, người hoàn toàn làm chủ cái tâm, giải thêm trong Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 165:

“Làm điều ác do ta, và
Làm cho ta ô nhiễm, cũng do ta.
Do ta, không làm điều ác, và
Làm cho ta trong sạch, cũng do ta.
Trong sạch hay ô nhiễm đều tùy nơi ta.

Không ai có thể làm cho người khác trong sạch.”

Lại nữa, Đức Bổn Sư dạy: “Chính tự các con phải kiên trì cố gắng, chư Phật chỉ hướng dẫn trên con đường.[2]“

Những chân lý vàng ngọc vô cùng quý giá trên dạy con người nên tìm hạnh phúc ở bên trong mình, bằng cách tự lực chứng ngộ.

Một chân lý thâm sâu khác mà Đức Bổn Sư dạy là:

“Tất cả các pháp hữu lậu đều vô thường
Phát sanh và hoại diệtbản chất thiên nhiên của chúng;
Được sanh ra rồi tan biến, 
Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng.3 “

“Tất cả những gì có bản chất phát sanh ắt có bản chất hoại diệt4“. Đặc tướng vô thường ấy là tinh chất chánh yếu của tất cả mọi sự vật. Con người đau khổ bởi vì tất cả những gì con người thương yêu quý mếnvợ con, tài sản, và quyền thế — không mãi mãi vĩnh tồn. ở bất luận tầng lớp nào trong xã hội, vẫn có lo âu phiền lụy để bảo tồn cho được vĩnh cửu những gì ta quý mến và ấp ủ thân yêu. Chỉ khi nào chứng ngộ chân lý thâm sâu về đặc tướng vô thường của vạn hữu con người mới học được bài học buông bỏ ái dục, bởi vì chính ái dục gây đau khổ cho con người. Về điểm này sau đây là một lời dạy thâm sâu khác của Đức Bổn Sư, người đã vững chắc làm chủ cái tâm:

“Ái dục sanh sầu muộn.
Ái dục sanh lo sợ;
Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục
Không còn sầu muộn,
Càng ít lo sợ.”
(Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 216)

Đôi khi Đức Phật chú trọng đến mục tiêu chữa trị hơn là khách quan phân tách sự vật. Nhưng điều trọng yếu là Ngài thật sự quan tâm đến quan kiến phân tách sự vật, bởi vì chỉ có cách t