A Di Đà Kinh Hợp Giải

A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI

Bửu Quang
tự đệ tử Như Hòa hợp dịch


Phần
Một 


Lời Trần Tình


 Trong các kinh điển Đại Thừa được lưu truyền rộng rãi, xét về mức độ được giảng
giải
, trì tụng, có lẽ kinh Di Đà chỉ kém Tâm Kinh Bát Nhã. Từ trước đến nay,
trong các tùng lâm, kinh Di Đà vẫn thường được tụng vào mỗi thời công phu tối
và hầu như bất cứ vị Tăng Ni thuộc truyền thống Bắc Tông nào cũng đều thuộc
lòng kinh Di Đà. Bổn Sư của mạt nhân kể rằng: Trong thời gian làm điệu, ngoài
bản Sa Di Tỳ Ni, Hòa Thượng viện chủ bắt các điệu phải học thuộc lòng Di Đà đến
nỗi có thể đọc từ chữ cuối ngược lên đầu kinh mà không vấp. Khi học chữ Hán,
văn bản đầu tiên Hòa Thượng dùng để dạy các điệu cũng là kinh Di Đà. Khi Hòa
Thượng
còn tại thế, dù tụng kinh gì đi nữa, mỗi ngày đại chúng trong chùa đều
phải tụng Di Đà ít nhất một lần


Tuy được lưu truyền, trì tụng rộng rãi
trong khắp các tùng lâm, đối với Phật tử nói chung, kinh Di Đà vẫn là một kinh
bị hiểu lầm nhiều nhất. Trong một lần trò chuyện với một Phật tử tu tại gia lâu
năm, cũng tu hạnh Tịnh Độ, mạt nhân đã sững sờ khi nghe vị ấy nói: “Cháu tụng
kinh
gì hằng ngày? Kinh Di Đà hả? Mỗi ngày tôi tụng một quyển Pháp Hoa hay kinh
Niết Bàn
kia, chứ những kinh nhỏ, sơ cơ như kinh Di Đà, kinh Địa Tạng chỉ khi
nào đi đám ma tôi mới thèm tụng đến mà thôi!” Tưởng chỉ mình vị ấy nghĩ như
thế, nào ngờ phần lớn những đạo hữu thường gặp hằng tuần tại ngôi chùa gần nhà
cũng đều cho rằng kinh Di Đà chỉ dành để đọc cho người chết nghe! Thật là đáng
buồn, bản kinh quý báu, tâm huyết của đức Thích Tôn, diệu dược cho đời Mạt Pháp
đã bị hiểu lầm, rẻ rúng đến thế ấy!


Sau này, khi đi nghe giảng, chúng tôi cũng
rất ngạc nhiên khi thấy không ít vị xuất gia cũng tỏ vẻ coi thường kinh Di Đà.
Theo họ, kinh Di Đà chỉ dành cho hạng ông già, bà cả, ít chữ trì tụng. Đối với
những vị giảng sư thao thao thuyết giảng, tự hào làu thông kinh điển Tam Tạng
ấy, kinh Di Đà chỉ là một thứ ngụ ngôn, một thứ phương tiện quyền biến, hay nói
khó nghe hơn là một thứ bánh vẽ để dẫn dụ những hạng sơ cơ nhập đạo. Thậm chí
có vị còn chê kinh Di Đà là kinh nặng tính van vái, cầu xin, quỵ lụy không
thích hợp với Phật pháp hiện đại! Một thầy còn tuyên bố thẳng thừng: “Còn trẻ
mà tu Tịnh Độ thì uổng quá! Tôi chỉ khi nào bịnh gần chết, không còn làm gì
được nữa, mới đành chịu nằm niệm Phật! Người tu Tịnh Độ lúc nào cũng nghĩ đến
cái chết, đôi vai trĩu nặng nỗi buồn. Thay vì cứ lẩm nhẩm niệm Phật, sao không
quán
tưởng cảnh giới mình đang sống đây chính là Cực Lạc”.


 Hậu quả tất nhiên là có không ít Phật tử mỗi Chủ Nhật đến chùa tụng một phẩm
Pháp Hoa hay Kim Cang, niệm Phật dăm câu lấy có; thế là đã an tâm mình đã “mua
sẵn vé” về cõi Cực Lạc, là đã tu nhiều lắm rồi! Chẳng ai bận tâm tìm hiểu giáo
nghĩa
kinh Di Đà chi cả. Người tự nhận mình là hạ căn chỉ mong khi chết được vãng
sanh
, nhưng mấy ai bận tâm đến Tín – Hạnh – Nguyện! Những người tự coi mình là
bậc thượng căn thì nếu có ai khuyên nên niệm Phật sẽ cười mũi, bảo chỉ có tham
thiền
hay quán tưởng, trì chú mới là pháp xứng đáng để họ tu tập thôi. Tiếc
thay, tuy nói thế, họ cũng chẳng dụng công tọa thiền, cũng chẳng dụng công quán
tưởng
, trì chú, chỉ luôn nhai nhải: “Duy Tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà! Cực Lạc
đây, lựa tìm đâu xa!”, rồi vẫn an nhiên mặc cho quang âm vùn vụt thoáng qua!


Pháp môn Tịnh Độ nói chung và kinh Di Đà
bị hiểu lầm như thế có phải vì kinh Di Đà không được giảng giải cặn kẽ hay
không? Hoàn toàn không, từ xưa đến nay, ngoài hai kinh Kim CangTâm Kinh, có
lẽ kinh Di Đà đã được giảng và chú giải nhiều nhất. Tính cho đến hiện tại, đa
số
các vị giảng sư dù ít hay nhiều đều đã từng giảng qua bản kinh này. Điều
đáng ngạc nhiên là ít có Phật tử nào chịu tìm đọc các bản chú giải kinh A Di
Đà
, đành phải hiểu kinh qua cách diễn giảng của các vị giảng sư không mặn mòi
với pháp môn Tịnh Độ. Do quá nhiệt tình đề xướng pháp môn của tông phái mình,
các vị giảng sư ấy đã nhìn kinh Di Đà qua lăng kính đầy thiên kiến, khiến thính
chúng
đã lầm càng lầm thêm. Điều đáng buồn là hai bản chú giải trác tuyệtDi
Đà
Yếu Giải và Di Đà Sớ Sao đã được phiên dịch sang Việt ngữ từ lâu, nhưng có
mấy người chịu đọc kỹ càng! Bao lẽ tinh yếu, sâu xa, huyền diệu của kinh Di Đà
đã được hai vị Tổ Sư Liên Trì và Ngẫu Ích phơi bày đến cùng cực. Theo mạt nhân
thấy biết, mỗi khi giảng kinh, các vị giảng sư hoằng dương Tịnh Độ không ít thì
nhiều đều phải dẫn trích ý kiến của nhị vị Tổ Sư.


 Năm 1984, trong một lần thọ Bát Quan Trai Giới, trong giờ nghỉ trưa, mạt nhân
nghe một cụ đạo hữu lớn tuổi than vãn là đã tốn nhiều công đọc bản Sớ Sao,
nhưng vẫn chưa thể lãnh hội nổi. Theo cụ, ý nghĩa của Sớ Sao quá uyên áo, quá
phức tạp; tiếc thay từ ngữ, câu văn được dùng trong bản dịch lại quá cổ, dịch
quá sát theo cú pháp Hán văn, nên rất khó cảm nhận được ý chỉ lời dạy của Tổ.
Khi đọc qua Yếu Giải, tuy lời văn trong sáng, giản yếu hơn, cụ vẫn cảm thấy khó
lãnh hội những phần Tổ luận về Chân Như, Thật Tướng… Cụ cho rằng để lãnh hội
được phần nào hai bản chú giải trên, người đọc phải hiểu biết khá nhiều về Phật
pháp
cũng như phải hiểu được một số thuật ngữ chuyên môn của Hoa Nghiêm, Thiên
Thai
lẫn Duy Thức. Do thế, những người mới học Phật sẽ dễ chán nản, khó thể
kiên nhẫn theo dõi toàn bộ hai bộ chú giải trên.


 Nghe lời than thở ấy, mạt nhân chợt suy nghĩ: sao mình không tổng hợp những lời
giảng của các vị giảng sư cận đại Trung Hoa để tạo thành một cuốn chú giải kinh
Di Đà dễ hiểu hơn, ngõ hầu các hành nhân sơ cơ, chưa biết nhiều về Phật pháp
thể đọc hiểu được. Khi đã có khái niệm căn bản về những thuật ngữ thường dùng
trong kinh, nắm được ý chính của kinh Di Đà, họ sẽ lãnh hội được các bản Yếu
Giải và Sớ Sao dễ dàng hơn.


 Ý định này nung nấu đã lâu, nhưng tháng ngày thoi đưa, mạt nhân vẫn chưa tìm
được tài liệu vừa ý. Khi ấy, trong tay mạt nhân chỉ có Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giải của lão cư sĩ Hoàng Trí Hải. Tiếc thay, tác phẩm này chỉ là viết lại ý
kinh theo thể văn Bạch Thoại, cũng như giải thích đôi ba thuật ngữ Phật giáo,
để những người không quen đọc cổ văn Trung Hoa có thể hiểu được nội dung kinh
Di Đà theo mặt văn tự, chứ không nêu lên kiến giảiđặc biệt. Đã thế, lời văn
lại quá rườm rà, chỉ thích hợp cho độc giả Trung Hoa, không bõ công dịch sang
tiếng Việt. Sau này được đọc thêm cuốn Di Đà Kinh Dị Giải của bà Hàn Anh, đổng
sự trưởng Tịnh Tông Học Hội Đài Loan, thì cuốn này cũng chỉ là bản rút gọn tác
phẩm
của cụ Hoàng Trí Hải, nên cũng không gợi lên một sự hứng thú nào. Khi sang
Mỹ, do bận rộn với sinh kế và việc học, ý nguyện xưa tưởng chừng như quên lãng
hẳn.


 Ngẫu hợp sao, giữa năm 2002, đạo hữu Minh Lập đã gởi tặng một loạt những bản
chú giải kinh Di Đà của các vị giảng sư cận đại như:


1) Phật thuyết A Di Đà Kinh Giảng Lục của
pháp sư Đạo Nguyên.


2)
Phật thuyết A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giảng Giải của Nam Đình Hòa Thượng.


3) Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu Thích của
Pháp Sư Bân Tông.


4) Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải Thân Văn Ký do pháp sư Bảo Tịnh
giảng.


Kế đó, đạo hữu Không Châu gởi tặng một
loạt sách Tịnh Độ. Trong ấy, có cuốn A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ của pháp sư Khuy
đời Đường. Đã thế, đạo hữu Huệ Trang lại còn cho mượn cuốn Phật Thuyết A Di
Đà Kinh
Giảng Nghĩa của pháp sư Văn Châu. Trong một lần đi niệm Phật tại chùa
Tịnh Độ, mạt nhân thỉnh được thêm cuốn Trùng Đính Nhị Khóa Hiệp Giải của pháp
Hưng Từ soạn (trong cuốn này, phần Di Đà Kinh Huyền Nghĩa cũng chứa đựng
nhiều kiến giải lý thú) và cuốn Tịnh Độ Tư Lương của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
(trong cuốn này, cụ Hoàng chỉ giảng sơ lược về kinh Di Đà qua bài viết A Di Đà
Kinh
Tông Yếu, Tín Nguyện Trì Danh).


Trước sự hiện hữu
cùng lúc của bao nhiêu tác phẩm chú giải ấy, ý nguyện xưa chợt sống lại mạnh mẽ
trong tâm trí. Tuy thế, mạt nhân vẫn băn khoăn không biết có nên tiến hành hợp
dịch ý kiến chú giải của chư sư hay không, chỉ e mình sẽ làm một việc thừa
thãi, vô ích. Sau khi thỉnh ý các vị đạo hữu Vạn Từ, Minh Tiến, Minh Lập, Huệ
Trang và đều được hứa khả, khuyến khích, mạt nhân đánh bạo gạn lọc những ý
chính trong những tác phẩm chú giải trên, chọn lấy những điểm đặc sắc, dịch
thành một tác phẩm vụng dại, tạm đặt tên là A Di Đà Kinh Hợp Giải.


Xét trong các bản
chú giải trên, bản chú giải của Pháp Sư Bân Tông chi tiết nhất, nhiều ý tưởng
độc đáo nhất, phân chia chương mục rõ ràng nhất, lại có cả phần hiển lý giống
như Sớ Sao, nên mạt nhân chọn bản này làm gốc. Bản chú giải của pháp sư Khuy Cơ
quá nặng về Duy Thức học nên không thích hợp lắm cho người sơ cơ. Vì thế, mạt
nhân chỉ chọn lấy những điểm thật đặc sắcdễ hiểu.


Bản của pháp sư
Văn Châu tuy không có nhiều ý tưởng độc đáo, nhưng cách phân chia thành mười
môn lớn để chú giải rất giống với cách thích kinh của tổ Liên Trì nên mạt nhân
tuân thủ cách phán định và phân chia chương mục của Văn pháp sư.


Khi chọn dịch,
những đoạn chư sư nhắc lại ý kiến của chư vị Liên Trì và Ngẫu Ích, mạt nhân đều
lược qua không dịch; bởi lẽ, những ý đó đã được phô diễn trọn vẹn trong hai bản
Yếu Giải và Sớ Sao. Để hiểu những tư tưởng đó, phải đọc trong ngữ cảnh của Sớ
Sao và Yếu Giải mới thấy chúng sâu sắc, tinh yếu tuyệt diệu đến dường
nào! 


cố gắng hết
sức
, nhưng với trí huệ nông cạn, trình độ Phật học thiển cận, chắc chắn trong
quá trình chọn lọc, chuyển ngữ, không thể nào tránh khỏi những lỗi lầm lẽ ra
không nên có. Chỉ mong dịch phẩm thô lậu này sẽ giúp cho những hành nhân sơ cơ
có được đôi chút kiến thức sơ cấp để làm hành trang tham cứu ban đầu hòng lãnh
hội
được những điểm u huyền, tinh túy trong Yếu Giải và Sớ Sao.


Nếu như việc làm liều
lĩnh
này đem lại chút lợi lạc nào thì xin hồi hướng đến khắp pháp giới chúng
sanh
, những ai thấy nghe kinh Di Đà đều khởi lòng tin kính sâu xa, đều chăm tu
Tịnh nghiệp. Nguyện tất cả những hành nhân đồng hạnh Tịnh nghiệp sẽ cùng được
hội ngộ nơi quê hương Cực Lạc.


Phật lịch
2547, tiết Lập Thu, Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa kính bạch


 


A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI 


I. GIÁO KHỞI NHÂN DUYÊN (nhân duyên phát khởi giáo pháp)


 Kinh Pháp Hoa dạy: “Chư Phật Thế Tôn chỉ vì
một đại sự nhân duyênxuất hiện trong thế gian… Muốn cho chúng sanh khai
Phật tri kiến, khiến cho họ được thanh tịnh nên xuất hiện trong đời. Vì muốn
chỉ bày cho chúng sanh tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời. Vì
muốn
cho chúng sanh ngộ được tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời. Vì muốn cho
chúng sanh chứng nhập đạo tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời”.


 Vì nhân duyên nào mà không ai hỏi, Đức Phật lại tự giảng ra bản kinh này? Nhân
duyên
Phật giảng kinh này gồm hai loại: Tổng và Biệt. 


1. Tổng nhân
duyên
:


Tổng nhân duyên
chẳng ngoài việc chỉ thẳng chúng sanh dùng tâm niệm Phật để nhập tri kiến Phật.
Tri kiến Phật chính là chân tâm của chúng sanh; nhưng từ vô thỉ đến nay, chúng
sanh
do vì mê chân, chạy theo ngụy, chẳng nhận thức được bản thể thanh tịnh của
tâm mình, nên tạo tác các nghiệp, trôi lăn mãi trong vòng luân hồi. Nay đức Thế
Tôn
dạy chúng sanh nhất tâm niệm Phật, tịnh niệm liên tục, tâm miệng xứng hợp
với nhau thì sẽ thể hội “tâm này chính là Phật, Phật cũng chính là tâm này”,
tâm và Phật chẳng hai. Đó chính là ý nghĩa chân thật của câu “Tự tánh Di Đà,
duy tâm Tịnh Độ”
. Niệm Phật đến mức “tâm, Phật chẳng hai” chính là “nhập
Phật tri kiến’ vậy.


 


2. Biệt nhân
duyên
:


Gồm có mười loại:


a. Lòng từ bi
nghĩ thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp của đức Thế Tôn:


Cõi Sa Bà vốn sẵn
đau khổ, nhưng đời Mạt Pháp, ngũ trược hỗn loạn, sự đau khổ ấy càng trầm trọng
hơn nữa. Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói
ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu
gặp được pháp môn này, thâm tín tu hành, phát nguyện vãng sanh, niệm Phật chắc
thật thì vẫn có thể vượt thoát tam giới, vãng sanh Cực Lạc.


b. Khai thị
pháp môn phương tiện thù thắng:


chúng sanh căn
vô lượng nên Đức Phật cũng phải thuyết ra vô lượng pháp môn; nhưng pháp môn
Niệm Phật
phương tiện thù thắng nhất vì:


* Dù chẳng gặp
Phật tại thế, vẫn thường được thấy Phật. Bởi lẽ, chúng sanh thâm tín pháp môn
này, chuyên tâm niệm Phật, phát nguyện vãng sanh liền được vãng sanh, thân cận
A Di Đà Phật


* Chẳng cần đoạn
hoặc
nghiệp vẫn thoát khỏi luân hồi: nhờ sức từ bi gia hộ của Phật A Di Đà,
người chân thành niệm Phật sẽ được đới nghiệp vãng sanh (do lúc vãng sanh, hoặc
nghiệp vẫn còn, chưa đoạn trừ hết nên gọi là “đới nghiệp”).
* Chẳng cần tu đủ các
môn Ba La Mật khác, vì: Nhất tâm niệm Phật, bỏ hết muôn duyên, đó là Bố Thí Ba
La Mật
. Nhất tâm niệm Phật, các ác đều dứt, đó là Trì Giới Ba La Mật. Nhất tâm
niệm Phật
, tâm tự nhu hòa, chính là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật,
vĩnh viễn chẳng thoái đọa, đó chính là Tinh Tấn Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật,
chẳng nghĩ đến điều gì khác, đấy chính là Thiền Định Ba La Mật. Nhất tâm niệm
Phật
, chánh niệm phân minh, chính là Bát Nhã Ba La Mật. Như vậy, nhất tâm niệm
Phật
là đầy đủ cả sáu Ba La Mật, nên không cần phải tu trọn lục độ, vạn hạnh.


 * Chẳng cần phải tu nhiều kiếp mà được giải thoát nhanh chóng: hễ nhất tâm niệm
Phật
cho đến mức nhất tâm bất loạn thì nhờ vào sức tiếp dẫn của đấng Từ Phụ, sẽ
được vãng sanh Tịnh Độ, không còn vướng mắc trong vòng sanh tử nữa.


 Trí Độ Luận chép: “Có các Bồ Tát tự nghĩ mình vì báng bổ Đại Bát Nhã sẽ bị
đọa vào ác đạo trong vô lượng kiếp, dẫu tu các hạnh khác vẫn chẳng diệt tội
nổi. Sau gặp được bậc thiện tri thức dạy niệm Phật A Di Đà, liền diệt được
chướng nạn, siêu sanh Tịnh Độ”.
 


c. Phô bày chốn
khổ, cõi vui khiến cho chúng sanh sanh tâm chán, ưa:


 Cõi Sa Bà này “thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, ngũ
ấm
vô ngã”
(kinh Bát Đại Nhân Giác); ba khổ, tám khổ dẫy đầy, vô lượng họa
hại
. Dù kẻ phước đức tận hưởng vinh hoa phú quý, sự sự như ý, vẫn khó giữ mãi
vẻ thanh xuân, tử thần đón sẵn. Tổ Thiện Đạo từng răn:


 Dẫu ai khoái lạc ngàn muôn,


 Rốt cục vô thường vẫn đến,


 Và:


 Vạn lượng gia tài đành bỏ mặc,


Thõng đôi tay
trắng nhập u minh
.


Cõi Sa Bà khổ sở
thế đó, nhưng chúng sanh vẫn ngu si, tham luyến, chẳng biết là khổ, chẳng cầu
xuất ly, nên đức Thế Tôn phải đặc biệt nói pháp môn Tịnh Độ, tán dương y báo,
chánh báo thù thắng của cõi Cực Lạc để chúng sanh nhàm lìa Sa Bà, ham thích Cực
Lạc
, phát nguyện vãng sanh, khẩn thiết niệm Phật.


d. Hóa đạo hàng
Nhị Thừa khiến họ được vãng sanh Tịnh Độ:


Hàng Nhị Thừa xem
tam giới như lao ngục, coi sanh tử như oan gia, nhưng một khi đã liễu sanh
thoát tử, chứng đắc Ngã Không, bèn sanh lòng đắm trước nơi quả vị, chẳng thể
tiến hướng Bồ Đề. Vì thế, đức Thế Tôn phải nói ra pháp này để hóa đạo hàng định
tánh
Thanh Văn, khiến cho họ khi được nghe mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm
tán dương A Di Đà Phật, sẽ bỏ tâm đoạn diệt, tu hạnh Tịnh Độ, thành tựu Phật
quả
.


 


e. Khích lệ
hàng sơ tâm thân cận Phật A Di Đà:


Hàng sơ tâm Bồ Đề
tuy đã phát đại tâm nhưng tâm chưa kiên định, hễ gặp phải nghịch cảnh hoặc bạn
ác sẽ khó tránh khỏi thoái thất tâm Bồ Đề. Hơn nữa, sanh tử chưa đoạn, hoặc
nghiệp chưa trừ, khó tránh khỏi nghiệp lực lôi kéo, lại bị đắm chìm trong ngũ
dục
, trôi lăn trong sanh tử. Vì thế, Đức Phật dạy họ phải thân cận Phật A Di Đà.
Bởi lẽ, được vãng sanh sẽ chứng ngộ Vô Sanh Nhẫn. Có chứng ngộ Vô Sanh Nhẫn thì
mới có thể trở vào Sa Bà giáo hóa chúng sanh, viên mãn nguyện Bồ Đề. Bởi thế,
Long Thọ Bồ Tát dù đã chứng Sơ Địa vẫn nguyện vãng sanh; thậm chí Phổ Hiền Bồ
Tát
, dẫu dùng mười đại nguyện vương giáo hóa chúng sanh, chung cục vẫn khuyên
phát nguyện vãng sanh Cực Lạc.


 f. Khiến cho mọi căn cơ dù độn hay lợi đều được độ thoát cả:


 Pháp môn này độ trọn ba căn, gồm thâu lợi, độn, đúng như Ngài Sư Tử Phong tán
dương
:


 Dù gái hay trai tu được cả,


 Trí ngu thì cũng có phần đây!  


g. Hộ trì khiến
cho chúng sanh chẳng bị thoái đọa:


 Chúng sanh đời mạt phước mỏng, chướng dày, huệ cạn, nghiệp sâu, tu hành vướng
phải ma chướng trùng trùng, chánh kiến yếu ớt nên bị hãm vào lưới ma, bị ác
nghiệp
lôi kéo, khó bề khỏi đọa tam đồ. Nhờ trì danh niệm Phật, hành nhân liền
được thấm đẫm từ ân nơi biển đại thệ của đức Di Đà, được đức Từ Tôn gia bị,
được mười phương chư Phật cùng hộ niệm, viễn ly ma chướng, chóng sanh Tịnh Độ,
vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ, bát nạn (1).


 h. Do hữu niệm chứng nhập vô niệm:


 Chân Như tự tánh ai nấy sẵn có, vốn dĩ vô niệm. Tiếc là từ vô thỉ đến nay, do
một niệm vọng động khiến cho bao tạp niệm trùng trùng, tạo tác mãi bao ác
nghiệp
, chết đây sanh kia, không lúc nào ngơi.


 Như sóng và nước vốn cùng một thể, chân cùng vọng danh khác thể đồng. Bởi đó,
chân tâm lẫn vọng tâm chẳng ngoài một niệm hiện tiền của chúng ta. Nay pháp môn
Niệm Phật
đây dùng tịnh niệm trừ khử vọng niệm, dùng tế niệm thay thế thô niệm,
dùng thiện niệm dứt ác niệm, dùng nhất niệm đối trị vạn niệm, tức là “dùng
độc trị độc, dùng quân dẹp quân, dùng niệm dứt niệm”.
Khi độc đã hết, giặc
đã bình, thuốc lẫn quân còn dùng chi nữa! Bởi thế, khi đã niệm đến mức nhất tâm
bất loạn
, thì sẽ niệm mà vô niệm; đấy chính là chân niệm. Chân niệm ấy chính là
chân như tự tánh, ta và Phật không còn phân biệt nữa!


 i. Dùng vãng sanh để ngộ nhập vô sanh:


 Về lý, tuy chúng sanh và Phật đồng một thể tánh, nhưng xét trên sự, thánh phàm
cách biệt muôn trùng.


Xét ra: Khi sanh
thì duyên sanh, nhưng pháp tánh chẳng hề sanh cùng với duyên. Khi diệt thì
duyên diệt nhưng pháp tánh cũng chẳng bị diệt theo duyên.


Vì thế, nếu còn mê
thì dù có nói là vô sanh nhưng vẫn sanh. Nếu luận theo pháp tánh thì dù có sanh
nhưng vẫn là vô sanh. Vì mê muội, chúng sanh lầm thấy có sanh diệt. Do đã ngộ,
chư Phật chỉ thấy vô sanh.


Đức Phật thương
xót
chúng sanh cõi này, nhận vọng là chân, mê tánh chạy theo cảnh, nên từ bi
nói ra pháp môn Niệm Phật, khích lệ đại chúng vãng sanh. Nếu hành nhân niệm đến
khi mọi vọng duyên đều tan sạch, tâm chỉ còn một khối, sẽ thể hội tâm ta chính
là Phật A Di Đà, A Di Đà Phật chính là tâm ta; nào còn thấy sanh hay vô sanh
nữa!


 j. Chỉ rõ con đường tắt trọng yếu trong đường tu hành:


 Trong các pháp tu hành, pháp môn Niệm Phật giản tiện, trực tiếp nhất; nhưng
trong các pháp Niệm Phật, pháp Trì Danh lại càng trọng yếu, giản tiện hơn cả,
nên được tôn xưng là “tiệp kính chi kính” (con đường tắt nhất trong các con
đường
tắt). Kinh đây giảng rõ: Chấp trì thánh hiệu chính là nhiều phước đức,
nhiều thiện căn, liền được đới nghiệp vãng sanh. Được vãng sanh liền chứng ngay
ba bậc Bất Thoái. So trong ba kinh Tịnh Độ, kinh này chú trọng cách thức tu tập
giản yếu, hiệu quả nhất.


 Do những nhân duyên tổng và biệt nói trên, đức Thích Tôn đã giảng ra bộ kinh vi
diệu
hy hữu này.  


II. HIỂN THỂ (minh định thể tánh của kinh này)


 


 “Thể” là thể tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh của một bản kinh được gọi là
Giáo Thể, đôi khi còn gọi một cách tổng quát là Lý Thể. Theo đại sư Bân Tông: “Lìa
hết thảy các tướng thì gọi là Tánh; chỗ hết thảy các nghĩa quy về gọi là Lý.
Nghĩa trọng yếu của các pháp gọi là Thể”.
Phô bày minh bạch yếu chỉ của một
bản kinh, nêu rõ chỗ quy hướng của các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy thì
gọi là “hiển thể”.


 Nói một cách khác, hiển thể một bản kinh chính là minh định chân lý sẽ được phô
diễn bởi bản kinh ấy. Một bản kinh nếu không có Thể thì thành ra ma thuyết,
như
một kẻ chỉ có cái tên, chẳng có thân thể thật. Mỗi một câu, một chữ trong
kinh Phật đều nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ, danh tự để người nghe lãnh hội
được chân lý. Bởi vậy, muốn thể hội được huyền nghĩa của kinh, điều tiên quyết
là phải nhận chân thể tánh của kinh ấy là gì.


 Nói chung, tất cả các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể.


Thật Tướng chính là cái tâm hiện tiền của chúng ta, vô hình,
tướng
, chẳng sanh, chẳng diệt, rỗng rang, bao trùm vạn pháp, không sót một mảy
gì. Muôn pháp sanh diệt chỉ là những điều hư vọng ảnh hiện trong tâm.


Chân tâm của ta dẫu suốt ngày ở trong vọng, nhưng luôn chân
thường
. Tâm ấy dẫu hằng tiếp xúc với muôn vật, muôn pháp, vẫn thường sáng tỏ,
phân biệt mọi sự, mọi pháp rõ ràng không chướng ngại. Kinh thường diễn tả bằng
câu “linh quang độc diệu, hồi thoát căn trần” (có thể tạm hiểu là: xét
về bản thể, tâm ấy thiêng liêng, sáng suốt, duy nhất, chiếu rực, không vướng
vào căn, trần. Gọi là thiêng liêngtác dụng nhận biết của tâm ấy luôn hiện
hữu
, không bị biến cải, không sai sót. Sáng suốt vì không bị trần cảnh làm ô
nhiễm
. Tâm ấy nhận thức rõ mọi pháp không ngăn ngại nên gọi bảo là chiếu rực.
Tâm Phật và tâm chúng sanh đồng một thể nên gọi là duy nhất)


Thật Tướng có thể chia thành hai loại:


1. Vô Tướng Thật Tướng: lìa hết thảy tướng điên đảo,
vọng
chính là Thật Tướng chân như, bình đẳng.


2. Vô Bất Tướng Thật Tướng: trong các pháp sanh diệt, tồn
tại
một tánh bất sanh, bất diệt. Tướng sanh diệt hư vọng ấy chỉ là biệt tướng
(tướng riêng của mỗi pháp). Những tướng sanh diệt hư vọng ấy dù thiên sai vạn
biệt, nhưng đều không có thực thể, cho nên gọi là “vô tướng”. Nhưng tánh bất
sanh
bất diệt lại chân thật chẳng hư vọng, chúng sanh và Phật đồng một thể,
thánh phàm chẳng hai. Cái Chân Như thật tánh bình đẳng ấy lại chẳng phải là
tướng
, nên gọi là “vô bất tướng”.


Để dễ hình dung xin mượn một thí dụ: sóng phát sanh từ nước, sóng
chính là nước. Sóng có to nhỏ, nhưng tánh ướt chẳng đổi. Cũng thế, tánh Chân
Như
bình đẳng bất biến, nhưng tùy duyên có thể sanh khởi những tướng trạng sai
biệt
cho vạn vật, tùy duyên nhưng bất biến. Bởi thế, xét đến bản chất thì mọi
tướng trạng sai biệt của vạn pháp, không tướng nào chẳng lấy tánh Chân Như bình
đẳng
làm thể.


Nếu xét tỷ mỉ, mỗi kinh lại lấy một khía cạnh của Thật Tướng làm
thể. Chẳng hạn, kinh Hoa Nghiêm lấy “nhất chân pháp giới” làm thể, kinh Lăng
Nghiêm
lấy Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh làm thể.


Riêng về kinh Di Đà, chư sư cùng đồng ý kinh này lấy Thật Tướng
làm tổng thể. Pháp sư Văn Châu giải thích:


“Kinh này chú trọng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, đấy chính là
Thật Tướng mà cũng chính là Chân Như. Vì thế, cũng giống như các kinh điển Đại
Thừa
khác, kinh này lấy Thật Tướng ấn làm giáo thể


Nếu xét trên phương diện sự tướng niệm Phật, phải lấy sự trang
nghiêm
của y báo, chánh báo cõi Cực Lạc làm Thể.


Đối với bậc thượng căn lợi trí, từ hữu tướng niệm Phật, họ sẽ đạt
đến
vô tướng niệm Phật, hiểu thấu suốt một niệm hiện tiền chẳng phải ở trong,
chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng
phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải ngắn dài, vuông, tròn, thậm chí vô phi, bất
phi, lìa hết thảy tướng tức là hết thảy pháp. Ngay khi đó, Pháp Thân hiển hiện,
Tịch Quang hiển hiện, còn phân biệt gì là y báo, chánh báo trang nghiêm nữa!
Bởi thế giáo thể của kinh này hoàn toànThật Tướng.


Y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Phật Di Đà đều phát xuất
từ Chân Như tự tánh, cho nên kinh này lấy Chân Như Bình Đẳng Thật Tướng làm
Thể”.


Riêng về biệt thể, pháp sư Bân Tông cho rằng kinh này lấy bốn đức
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh làm thể. Bân pháp sư giảng như sau:


“Vô sanh, vô diệt, thường hằng bất biến là Thường. Tịch diệt, vĩnh
viễn
an ổn, vĩnh viễn xa lìa các nỗi khổ là Lạc. Tự tại giải thoát, chân như
ngại
là Ngã. Lìa hết thảy trần, tuyệt các cấu nhiễm là Tịnh.


…Trước hết, minh định bốn đức của Y Báo:


– Cõi ấy không có thành, trụ, hoại không; ấy là Thường.


– Có lầu gác bảy báu, lưới giăng, cây báu mọc thành hàng, ao tắm,
chim quý, thiên nhạc v.v… vô lượng trang nghiêm, mỗi mỗi đều vừa lòng thỏa ý.
Đó là Lạc.


Thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng, việc gì cũng như ý, mọi
thứ hóa hiện, không có cảnh trái nghịch, luôn có niềm vui tùy thuận. Đó là Ngã
(Ngã có nghĩa là Tự Tại).


Thế giới Cực Lạc hoàng kim làm đất, bảy báu làm ao, tất cả mọi
vật
đều thanh tịnh trang nghiêm, có năm niềm vui thanh tịnh, không có nỗi khổ
ngũ trược. Đó chính là Lạc.


Tiếp đến minh định bốn đức của Chánh Báo:


Thọ mạng của Đức Phậtchúng sanh vãng sanh cõi ấy đều
lượng
, kéo dài bao kiếp chẳng tận. Đó là Thường.


– Hết thảy hữu tình sanh về cõi ấy liền được thân tâm tịch chiếu,
vĩnh viễn không có phiền não. Đó chính là Lạc.


– Một phen đã vãng sanh cõi ấy, liền đoạn diệt được ngũ trụ (2),
vĩnh viễn lìa khỏi nhị tử (phần đoạn và biến dịch sanh tử), được đại tự tại.
Đấy chính là Ngã.


– Trong thế giới Cực Lạc, chúng sanh niệm Phật được vãng sanh về
đấy đều là liên hoa hóa thân, thanh tịnh, nhiệm mầu thù thắng, tướng hảo trang
nghiêm
; tấm thân ô uế do tứ đại giả hợp thành của chúng sanh cõi Sa Bà làm sao
so sánh được! Đấy chính là Tịnh.


 Lại nên biết rằng: tứ đức (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh) là tự tánh Di Đà, mà cũng
chính là Phật tánh sẵn có của mỗi người chúng ta, còn gọi là Pháp Thân. Mê thì
chúng sanh, ngộ thì thành chư Phật. Nếu ai phát tâm niệm Phật, liền được
vãng sanh thế giới Cực Lạc, hoa nở gặp Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, thân chứng Pháp
Thân
.


Pháp Thân ấy bất sanh, bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, chính là
Thường đức. Pháp Thân rốt ráo tịch diệt, vĩnh viễn lìa khỏi sanh tử, tức là Lạc
đức
. Pháp Thân tự tại vô ngại, rốt ráo giải thoát, tức là Ngã đức. Pháp Thân
tuyệt các cấu nhiễm, vốn sẵn thanh tịnh, tức là Tịnh đức


Hơn nữa, kinh chép: ‘Đều được bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam
Miệu
Tam Bồ Đề’ là nghĩa Thường. Lại chép: ‘Không có các điều khổ, chỉ hưởng
các điều vui’ là nghĩa Lạc. Lại chép: ‘Tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm
Pháp
, niệm Tăng. Người ấy lúc mất tâm không điên đảo’ là nghĩa Ngã. Lại chép:
‘Nhất tâm bất loạn’ là nghĩa Tịnh”.


 


III. HIỂN MINH TÔNG THÚ (minh định tông thú của kinh này)


 


 Tông nghĩa là sùng phụng, là điều được kinh đề cao. Tông chính là đường lối
trọng yếu để tu hành. Mục đích của tu hành là khế hội bản thể; do đó, Tông
chính là mấu chốt để thực hiện mục đích ấy. Thú là chỗ Tông quy kết về.


 Trong phần trước đã biện minh về Thể, ấy là Tánh đức. Phần này luận về Tông
Thú, đấy chính là Tu đức. Từ tánh khởi tu, toàn tu tại tánh. Tánh đức là điều
ai cũng sẵn có, nhưng Tu đức là điều mỗi cá nhân phải nỗ lực tu tập để thành
tựu
.


 Kinh này lấy “Tín, Nguyện, Trì Danh” làm Tông; lấy việc “vãng sanh, viên chứng
ba thứ Bất Thoái” làm Thú.


 Ba thứ Tín, Nguyện, Trì Danh (hay còn gọi là Tín, Nguyện, Hạnh) thường được gọi
chung là Tư Lương. Đi xa cần phải dắt theo tiền bạc hòng chi dụng, đó gọi là
Tư. Mang theo thức ăn, nước nôi, đó là Lương. Như vậy, Tư Lương chính là những
phương tiện, vật dụng cần thiết cho bất cứ cuộc hành trình nào.


 Trong ba thứ Tư Lương nói trên, Tín là mấu chốt. Nếu niệm Phật tinh tấn nhưng
vẫn chưa thể tin chắc mình sẽ được vãng sanh, chưa tin chắc vào bi nguyện của
Phật Di Đà lẫn cõi Tịnh Độ thì chẳng thể phát nguyện chân thành, thiết tha. Nếu
tín, nguyện không có thì chẳng thể duy trì hạnh Trì Danh lâu dài được! Nếu thật
sự tin sâu, nguyện thiết thì tự nhiên sanh khởi diệu dụng Trì Danh.  


1. Tín:


Tín là đoạn trừ
hết thảy ngờ vực, nhưng lòng tin ấy do sự hiểu biết phát xuất từ trí, chứ không
phải là tin tưởng một cách mù quáng.


 Tín gồm có bảy điều sau:


 


a. Tin vào lời
Phật dạy
:


Tin rằng pháp môn
Niệm Phật
đây chẳng phải do tà ma, ngoại đạo, quỷ thần vọng thuyết, mà do chính
kim khẩu của đức Thích Tôn đích thân giảng ra. Đức Phậtđại đạo sư của tam
giới
, là cha lành của bốn loài, là bậc quyết định không dối trá. Cổ đức đã nói:
“Phật ngôn bất tín, thùy ngôn khả tín?” (chẳng tin lời Phật thì còn tin
lời ai được nữa?) Do vậy, phải tin vào lời Phật, đừng nhận lầm kinh này chỉ là
do Đức Phật giả lập phương tiện, Cực Lạccảnh giới tưởng tượng, để đến nỗi
tạo tội báng pháp như “tăng” Nhật Liên (khai tổ Tân Pháp Hoa Tông của Nhật Bản)
dám phỉ báng kinh A Di Đà này là ngụy tạo.


 Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật được đề cập đến rất nhiều trong các kinh khác. Các
pháp môn Tiểu Thừa, Quyền giáo đến thời Pháp HoaNiết Bàn đều bị bài xích,
nhưng chưa hề thấy trong kinh điển nào Đức Phật lại chỉ trích pháp môn này là
quyền tạm, là phương tiện cả!


Ngoài ra, khi Đức
Phật
thuyết kinh này, sáu phương chư Phật đều dị khẩu đồng âm xưng dương, tán
thán
. Ngay cả bản kinh được xưng tụng là “chúng kinh chi vương” (vua của mọi
kinh) là kinh Pháp Hoa cũng chép: “Người tụng kinh này (kinh Pháp Hoa) khi
mạng chung sẽ sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà”.
Vua trong Tam
Tạng
, được thế gian xưng tụng là mẹ của các kinh, tức là kinh Hoa Nghiêm, ngay
trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện cũng quy hướng vãng sanh Tịnh Độ. Kinh báu của
nhà Thiền là kinh Lăng Nghiêm, trong chương Thế Chí Niệm Phật Viên Thông cũng
dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, tương lai nhất định thấy Phật”.


Kinh Ban Châu Tam
Muội
chép: “Bồ Tát nhập tam muội này liền thấy A Di Đà Phật”. Kinh Mục
Liên
Sở Vấn chép: “Ta bảo cõi nước Vô Lượng Thọ dễ về, dễ sanh, mà không ai
chịu tu hành vãng sanh, ngược lại còn thờ phụng 96 phái ngoại đạo. Ta bảo kẻ ấy
[là hạng] không mắt, không tai!”
Các kinh Bi Hoa, Đại Vân, Đại Tập, Quán
Phật Tam Muội
, Thập Trụ Đoạn Kết, Văn Thù Bát Nhã, Bảo Tích, Tọa Thiền Tam
Muội
… đều đề xướng pháp môn Niệm Phật.


Các bộ luận Đại
Thừa
cũng đề xướng pháp môn Niệm Phật, chẳng hạn như Đại Trí Độ Luận chép: “Niệm
Phật diệt trừ được các thứ phiền não và các tội nghiệp từ đời trước… [cho
đến
] niệm Phật có đại phước đức, độ được chúng sanh…. phước đức của các tam
muội
khác chẳng bằng được phước đức của Niệm Phật Tam Muội”.
Tỳ Bà Sa Luận
gọi Niệm Phật là đạo dễ hành, mau thoát sanh tử. Luận chép: “Phật có
lượng
pháp môn, như đường đi trên thế gian có dễ, có khó. Đi bộ thì khó, ngồi
thuyền thì dễ. Muốn dễ được sanh hãy nên mau niệm A Di Đà Phật”.
Các bộ
luận khác như Đại Thừa Khởi Tín Luận của Bồ Tát Mã Minh, Vãng Sanh Tịnh Độ Luận
của Ngài Thế Thân, Thập Nghi Luận của tổ Trí Khải, Nhiếp Đại Thừa Luận, Niệm
Phật Tam Muội Bảo Vương Luận
… đều cực lực đề xướng pháp môn Niệm Phật.


Ngoài ra, trên thì
như các vị thượng thủ Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Mã Minh đều phát
nguyện
vãng sanh. Chư tổ sư như Ngài Lô Sơn Huệ Viễn, Bách Trượng thiền sư,
Thanh Lương Quốc Sư (Ngài Trừng Quán), Linh Chi Nguyên Chiếu luật sư, Tử Bách
Lão Nhân, U Khê đại sư, Trí Húc Linh Phong đại sư, Vân Thê Liên Trì đại sư, Hám
Sơn đại sư… đều nhiệt thành hoằng truyền, tán dương Tịnh Độ.


Cận đại, bậc cao
tăng
nhà Thiền là Hư Vân Hòa Thượng, ngôi Thái Sơn Bắc Đẩu của Thiên Thai tông
Đế Nhàn pháp sư (xem tập Khai Thị Niệm Phật Khẩn Yếu), đại sư Thái Hư thuộc
tông Duy Thức (xem Tịnh Độ Pháp Môn Tập), Hoằng Nhất đại sư bên Luật Tông (xem
tác phẩm Nhân Sanh Tối Hậu) ngoài việc hoằng dương tông mình, đều cực lực xiển
dương pháp môn Tịnh Độ.


Hãy thử nghĩ: Đại
Tạng Kinh
đầy dẫy kinh luận, ngữ lục tán dương Tịnh Độ, lịch đại hiền triết
đích thân tu tập, thành tựu vãng sanh; vậy thì Cực Lạc có phải là cõi tưởng
tượng hay không? Kinh Di Đà có phải là lời ngụ ngôn của đức Phật Thích Ca hay
không?


 b. Tin
vào Phật nguyện
:


Chữ Phật ở đây chỉ
đức A Di Đà Phật, nguyện là nguyện lực, tức biển thệ nguyện lực vô biên của đức
A Di Đà Như Lai chân thật, không dối. Chúng ta phải tin rằng: Y báo, chánh báo
trang nghiêm của cõi Cực Lạc chính là do lực dụng vĩ đại của Phật đại nguyện
lực
tạo thành. Trong quá khứ, Ngài đã phát thậm thâm hoằng nguyện, bao đời tu
hành khổ hạnh
, chẳng thoái thất tâm ban đầu, nguyện nguyện trang nghiêm Tịnh
Độ
, tạo thành thế giới Cực Lạc thù thắng khôn sánh. Phật là bậc đại thánh nhân,
tuyệt đối không thệ nguyện hư huyễn. Bốn mươi tám nguyện của Từ Phụ Di Đà siêu
tuyệt thệ nguyện của chư Phật, nên cổ đức tán thán: “Thập phương tam thế
Phật
, A Di Đà bậc nhất”.


 c. Tin
vào cõi Phật
:


Tin cõi Cực Lạc
thù thắng trang nghiêm, vượt trỗi hết thảy các cõi Tịnh Độ trong mười phương.
Mỗi mỗi sự tướng trong cõi ấy đều thù thắng khôn sánh, đều phát xuất từ lực
dụng A Di Đà Như Lai đại thệ nguyện hải.


d. Tin vào pháp
môn
:


Tin pháp
môn Niệm Phật
độ khắp ba căn, thượng căn là bậc Đẳng Giác như Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù v.v…, trung căn như chư tổ Tây Thiên, Đông Độ: Long Thọ, Mã Minh, Huệ
Viễn
, Ngẫu Ích, Liên Trì v.v… ; hạ căn như kẻ ngu phu, ngu phụ, ngũ nghịch,
thập ác, chim vẹt, chim sáo v.v… Hễ ai chịu phát tâm niệm Phật cầu được vãng
sanh
thì đều được đới nghiệp vãng sanh, được Phật từ bi rủ lòng tiếp dẫn. Dẫu
là hàng Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi tiếp độ của pháp môn
này. Bởi thế, pháp môn Niệm Phật chính là tu trọn muôn hạnh, một câu hồng danh
trọn đủ vạn đức. Hành nhân Tịnh Độ phải tin pháp môn này là tối thắng, tối
diệu, bất tất phải tu kèm các pháp môn khác. Pháp môn này chắc chắn độ chúng
sanh
vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử, rốt ráo thành Phật. Dù hành nhân còn đầy dẫy
phiền não vẫn có thể đới nghiệp vãng sanh, đắc bất thoái chuyển.


 e. Tin
vào tự tâm
:


Bổn tánh
của chúng ta linh giác bất muội, chân tâm ta thường trụ bất biến, chẳng hề khác
biệt gì với chân tâm của đức Di Đà. Nhưng từ vô thỉ đến nay, tâm ta bị phiền
não
che lấp, nên phải luân hồi sanh tử chẳng ngơi. Nhất tâm niệm Phật, dùng vạn
đức hồng danh
của Phật Di Đà huân tập tâm ta, sẽ tiêu diệt được nghiệp chướng
trong ức kiếp sanh tử. Khi hoặc chướng đã tiêu trừ hết thì sẽ tự nhiên chứng
đắc
Chánh Giác.


Kinh Hoa
Nghiêm
dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn đủ tướng đức, trí huệ của Như Lai,
nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì
Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều sẽ hiện tiền”
. Bởi đó, duy
tâm Tịnh Độ
ai cũng có phần, đừng tự khinh mình là phàm phu, nghiệp nặng cấu
dày, chẳng có duyên phận chi với cõi Cực Lạc. Tuy ta là phàm phu điên đảo
hoặc
, nhưng chân tâm này chẳng mất. Nếu một niệm hồi quang phản chiếu, giữ chắc
Phật hiệu, quyết sẽ được vãng sanh. Tâm tánh chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn, A
Di Đà Phật
lực chẳng thể nghĩ bàn, sáu chữ hồng danh cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Dùng tâm chẳng thể nghĩ bàn trì niệm danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn để vãng sanh
về cõi nước thù thắng do nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn tạo thành là chuyện thập
phần xác đáng, còn ngờ chi nữa!


 f. Tin vào sự lý:


 Tin vào sự lý viên dung.


* Tin Sự là tin ở phía Tây thế giới Sa Bà này, cách đây mười vạn
ức cõi Phật, quả thật có cõi Cực Lạc, chúng sanh cõi ấy không có các nỗi khổ, y
báo
, chánh báo trang nghiêm. Nếu chúng ta trong một đời này tin sâu, nguyện
thiết, chắc thật trì danh, sẽ chắc chắn được liên hoa hóa sanh, vĩnh viễn thoát
khỏi
khổ nạn, đắc đại giải thoát.


 Nếu có kẻ cật vấn:


Đại Thừa Bát Nhã dạy hết thảy pháp là không. Nếu hết thảy đã là
không, sao còn có thuyết “thật có cõi Tây Phương Cực Lạc?” Kinh luận còn dạy: “Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức”
thì làm sao ở ngoài tâm thức, lại có thể
tịnh độ của chư Phật được?


Đáp:


– Ôi chao! Lời nạn ấy thật là vì chưa hiểu rõ đạo lý “viên dung
nhất thật” của nhà Phật vậy! Phải biết rằng nhà Phật nói “không” đó là để phá
chấp
, tức là đối với Có mà nói Không. Nhưng Có mà chẳng phải Có mới là Diệu
Hữu
, Không chẳng phải là Không mới là Chân Không. Nên biết rằng hết thảy pháp
đều do nhân duyên sanh, vốn chẳng có tự tánh. Duyên sanh bèn có, duyên diệt
thành không. Do vô tự tánh nên bảo hết thảy pháp là không. Do vì duyên sanh nên
bảo hết thảy pháp là có. Bởi vậy mới bảo là Chân Không chẳng lìa Diệu Hữu, Diệu
Hữu
chẳng ngại Chân Không. Thế nên duy tâm chẳng ngại Tịnh Độ, Tịnh Độ cũng
chẳng phương ngại gì đến cái Không của duy tâm. Nếu bảo: “Duy tâm tịnh độ,
tịnh độ duy tâm”
thì còn đúng; chứ khăng khăng chỉ có chân không, chẳng hề
Tịnh Độ, thì sẽ thành ra mâu thuẫn.


Hơn nữa, một niệm hiện tiền của chúng ta chẳng thể cùng tận, mười
phương
thế giới do tâm ta biến hiện cũng chẳng thể cùng tận. Kinh dạy: “Hư
không vô tận, thế giới vô tận”.
Thế nên chẳng những chỉ cõi Tây Phương Cực
Lạc
tồn tại, mà cõi thế giới Lưu Ly ở phương Đông, vô lượng các thế giới cũng
mỗi mỗi đều chắc chắn tồn tại.


* Tin Lý là:


Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đây xét theo chiều dọc thì
trùm khắp ba đời, xét theo chiều ngang thì chứa trọn mười phương. Bởi thế mới
nói: “Vô biên cõi nước, tự – tha chẳng cách mảy lông”. Mười vạn ức cõi
nước khác gì ở ngay trước mắt! Phật tâm bao gồm khắp tất cả, tâm ta cũng bao
gồm
khắp tất cả, cõi nước cũng bao trùm khắp tất cả, như ánh sáng của ngàn ngọn
đèn
đặt trong một căn nhà, trùng trùng giao thoa, soi sáng lẫn nhau chẳng hề
trở ngại. Y báo, chánh báo, chủ – bạn cõi Tây phương đều hiện bóng trong một
niệm
tâm hiện tiền của chúng ta. Toàn thể sự chính là lý, toàn bộ vọng chính là
chân, toàn thể Tha chính là Tự, nào nhọc phải tìm cầu tự tánh đâu xa, chính nội
tâm
là Phật Di Đà.


Nhưng chẳng nên chấp lý bỏ sự, cũng chẳng thể chấp sự mê lý. Chấp
lý phế sự thì lý chẳng thể viên dung. Chấp sự mê lý thì công hạnh chẳng cao.
Nhưng thà cứ chấp sự mà siêng năng tu tập ắt sẽ chẳng uổng công, quyết được
vãng sanh! Nếu chấp lý, hoàn toàn không dụng công thực hành, chỉ e mắc phải họa
Thiên Không. Bởi vậy, nếu có thể viên dung giải ngộ lý sự một cách sâu xa thì
mới là tận thiện, tận mỹ vậy!


g. Tin vào nhân – quả:


Cái có khả năng sanh trưởng là Nhân, giống như hạt giống; cái do
nhân ấy được thành tựu gọi là Quả. Lại nữa, việc làm ban đầu là Nhân, cảm thọ
hậu báo là Quả. Nhân nào, quả nấy là lẽ tự nhiên. Mọi việc trên thế gian này
không việc gì chẳng do Nhân mà kết thành Quả cả.


Nay ta phát một niệm chân tâm, niệm Phật là Nhân, quyết định vãng
sanh
thế giới Cực Lạc, rốt ráo thành Phật là Quả. Dẫu tán tâm xưng danh vẫn kết
thành hạt giống Như Lai, vãng sanh Tịnh Độ; huống hồ là niệm được nhất tâm bất
loạn
, lẽ nào chẳng được vãng sanh ư?


2. Nguyện:


Nguyện là phát nguyện vãng sanh. Dẫu có lòng tin sâu đậm, nhưng
nếu chẳng phát nguyện vẫn khó lòng thành tựu, chẳng đạt được lợi ích thực sự.
Cũng như bệnh nhân nghe bác sĩ bảo có thứ thuốc nọ rất hay, cũng tin tưởng
thứ thuốc ấy rất tuyệt, nhưng chẳng chịu uống thuốc. Đã không chịu uống thuốc,
còn mong lành bệnh sao được!


Đã biết Sa Bà là khổ, là nhơ uế, thì cần phải buông bỏ, phải chán
lìa. Đã biết Tây Phương là vui, là thanh tịnh, thì phải nên cầu, nên ưa thích.
Đấy mới chính là mục đích của hành nhân Tịnh nghiệp.


Nguyện gồm có sáu điều:


a. Nguyện bỏ hết thảy các phiền não tham, sân, si… nhất tâm cầu
sanh Cực Lạc.


b. Nguyện từ nay trở đi vĩnh viễn chẳng khởi các ác nghiệp để khỏi
đọa vào tam ác đạo, cầu sanh Cực Lạc


c. Nguyện bao nhiêu thiện nghiệp đã tạo chẳng vì cầu sanh trong
cõi trời người thọ hưởng phú quý, chuyên tâm nhất ý hồi hướng, nguyện cầu vãng
sanh
Cực Lạc.


d. Nguyện dù gặp phải tai nạn, nghịch cảnh, bệnh khổ đến thế nào
đi nữa, trọn chẳng thay đổi tấm lòng niệm Phật.


e. Nguyện bao nhiêu công đức do trì giới, bố thí, tụng kinh, lễ
Phật
… đều hồi hướng về Tịnh Độ, để làm trợ duyên cho việc vãng sanh.


f. Nguyện pháp giới hết thảy chúng sanh cùng phát tâm niệm Phật,
cùng sanh Cực Lạc.


Nói tóm lại, nguyện tâm tha thiết, vãng sanh chẳng khó gì! Nếu
chẳng phát nguyện, hoặc nguyện tâm chẳng tha thiết sẽ trọn chẳng được sanh về
thế giới Cực Lạc. Dẫu có lòng tin thì lòng tin ấy cũng chỉ là hư dối, chẳng thọ
hưởng
lợi ích thật sự nào; bởi thế phải nên phát nguyện chân thành, tha thiết.


3. Trì Danh: 


 Trì là chấp trì (nắm giữ), Danh là danh hiệu. Vì sao cần phải trì danh? Trì
niệm
một câu hồng danh A Di Đà Phật thì sẽ được đầy đủ mọi đức, thâu tóm trăm
hạnh (đấy là vì danh hiệu A Di Đà bao gồm vạn đức, trong phần giải thích danh
hiệu
A Di Đà sẽ luận rõ hơn). Đấy là do công đức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà
Như Lai vậy. Nếu chỉ đủ tín nguyện mà chẳng chân thật tu trì vẫn chẳng được
vãng sanh; khác nào bánh vẽ chẳng thể đỡ đói, khác nào suốt đời đếm của báu cho
người, tự mình chẳng được lợi lạc gì!


 Trong bốn pháp niệm Phật (Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, Trì Danh), Trì
Danh
là pháp tu rộng rãi nhất (vì mọi căn cơ đều tập được), hạ thủ dễ dàng,
nhanh chóng, là pháp tu phương tiện bậc nhất trong các pháp phương tiện, là
pháp viên đốn tối cực, là pháp vô thượng liễu nghĩa. Kinh này chuyên dạy pháp
Trì
Danh, nên chúng ta phải tận lực trì danh chẳng phân biệt ngày đêm, chẳng
luận bận, rảnh, chỉ khăng khăng chấp trì sáu chữ Di Đà hồng danh chẳng quên,
thì sẽ tự nhiên đạt được nhất tâm bất loạn, lâm chung quyết định được Phật tiếp
dẫn
vãng sanh. Nếu tâm niệm Phật lơ là, hời hợt, quyết chẳng được vãng sanh. Dù
chẳng được vãng sanh, vẫn gieo trồng thiện căn thành Phật trong đời tương lai.
Bởi thế cổ đức bảo: “Tán xưng vi Phật chủng, chấp trì đậu bất thoái”
(tán tâm xưng danhchủng tử Phật, chấp trì [danh hiệu] sẽ đạt được bất
thoái
).


 Hành nhân niệm Phật phải có tín tâm kiên cố, chẳng bị hết thảy tà ma, ngoại
đạo
, tà sư khuấy động, đến nỗi hủy báng đánh mất đạo tâm. Đại nguyện phải kiên
cố
, chẳng bị lay động bởi nghịch cảnh, danh lợi, quyền thế, đến nỗi thoái thất
đạo tâm. Trì danh phải chuyên tâm thiết tha, đừng nên tạp tu, lơ là, chớ có hễ
gặp chuyện bất như ý liền buông xuôi chẳng niệm.


IV PHƯƠNG TIỆN LỰC DỤNG


 Lực dụng còn gọi là công dụng hay gọi tắt là Dụng của một bộ kinh. Hiệu quả
thành tựu do việc tu hành gọi là Công, những ứng dụng phong phú từ việc thành
tựu
ấy gọi là Dụng. Hết thảy kinh điển nếu khôngcông dụng mầu nhiệm (diệu
dụng
) thì còn có ai chịu nhọc nhằn tu hành nữa ư?


Mỗi một
bản kinh có một lực dụng riêng biệt. Chẳng hạn như Lăng Nghiêm lấy “ly ái đắc
độ” (lìa ái nhiễm được độ thoát) làm dụng, kinh Bát Nhã lấy “thoát khổ phá
vọng” làm dụng. Kinh này lấy “vãng sanh Cực Lạc, đắc bất thoái chuyển” làm
dụng.


1. Luận về vãng sanh:


Do hành
nhân
niệm Phật có siêng – lười, định – tán, sự – lý, mê – ngộ, đới nghiệp – bất
đới nghiệp sai khác, nên vãng sanh về bốn cõi Tịnh Độ sai khác, phẩm vị đại
lược
chia thành chín phẩm vãng sanh.


– Nếu chấp trì
danh hiệu
, nhưng chưa đoạn được Kiến hoặcTư hoặc, đới nghiệp vãng sanh, thì
chỉ có thể sanh vào Đồng Cư Tịnh Độ, thấy hóa thân của Phật A Di Đà, nghe giảng
ba mươi bảy đạo phẩm sanh diệt, ngộ được Phật tánh thiên không. Đây là căn tánh
được hóa độ bởi Tạng Giáo. Lại tùy theo tín tâm sâu hay cạn, nguyện lực lớn hay
nhỏ, công hạnh siêng hay lười mà phân thành ba bậc chín phẩm.


– Nếu trì niệm danh
hiệu
đến mức sự nhất tâm bất loạn, tùy phần đoạn được một trong hai thứ Kiến
Hoặc
Tư Hoặc, sẽ sanh về cõi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, thấy được Liệt Ứng
Thân
của Phật A Di Đà, nghe giảng ba mươi bảy đạo phẩm vô sanh, ngộ được chân
không
Phật tánh. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Thông Giáo.


– Nếu niệm đến mức
nhất tâm bất loạn, phá rỗng toang từ một phẩm cho đến bốn mươi mốt phẩm
minh
thì sẽ sanh về cõi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, cũng chứng được một phần
Thường Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Thắng Ứng Thân của Phật A Di Đà, nghe giảng
lượng
ba mươi bảy đạo phẩm, ngộ trung đạo Phật tánh. Đây là căn tánh được hóa
độ
bởi Biệt Giáo.


– Nếu đã đoạn sạch
hết vô minh, thì sẽ rốt ráo sanh về cõi Thường Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Pháp
Thân Phật
, nghe giảng vô tác ba mươi đạo phẩm, giác ngộ Trung Đạo Phật tánh
viên mãn. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Viên giáo.


Điều cần lưu ý
Tịnh Độ tuy phân bốn cõi như thế, nhưng chẳng phải thật sự có bốn cõi Tịnh Độ
riêng biệt. Cùng một cõi Tịnh Độ, do mức độ chứng đắc khác nhau mà thấy thành
bốn cõi Tịnh Độ.


Ba bậc chín phẩm
vãng sanh như Quán kinhkinh Vô Lượng Thọ đã rộng giảng.


Theo Ngài Quán Nguyệt Tử
Hưng Từ Pháp Sư phán định trong Nhị Khóa Hiệp Giải, chín phẩm vãng sanh có thể
phán định theo biểu đồ sau:


Phẩm vị vãng sanh

Công hạnh

Đoạn hoặc

Địa vị

Viên giáo

Biệt giáo

Thượng thượng

Đại Thừa hạnh

Phá Kiến, Tư hoặc

Thập Tín

Đạo Chủng Tánh Thập Hướng

Thượng trung

Bát Tín, Cửu Tín

Tánh Chủng Tánh Thập Hạnh

Thượng hạ

Từ Thất Tín trở xuống

Tu tập tánh Thập Trụ

Trung thượng

Nhị thừa hạnh

Đã chế phục hoặc

Quán Hạnh ngũ phẩm

Thập Tín

Trung trung

Trung hạ

Thiện hạnh thế gian

Hạ thượng

Chỉ làm ác

Chưa đoạn hoặc

Danh tự

 

Hạ trung

Hạ hạ


2. Luận về bất
thoái chuyển
:


Thoái chuyển nghĩa
là lui sụt công hạnh, đánh mất đạo tâm ban đầu. Người vãng sanh cõi Cực Lạc sẽ
chứng được ba loại bất thoái chuyển:


1. Vị bất thoái:
Người đới nghiệp vãng sanh về cõi Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ, gởi thân nơi hoa
sen
, vĩnh viễn chẳng còn bị đọa trở lại vào nhân gian nữa, nên địa vị sẽ không
bị lui sụt.


2. Hạnh bất
thoái
: Đã đoạn được Kiến hoặc, Tư hoặc, cũng phá được cả Trần Sa hoặc thì
mới sanh lên cõi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, hướng thẳng đến cực quả, vĩnh viễn
chẳng lui sụt xuống cõi Đồng Cư.


3. Niệm bất
thoái
: Phá vô minh, hiển Pháp Thân, sanh lên cõi Thật Báo Trang Nghiêm,
chứng đắc một phần cõi Tịnh Quang của Như Lai, tâm tâm lưu nhập vào biển Nhất
Thiết Trí
.


Lại còn
có một loại gọi là Cứu Cánh Bất Thoái, nghĩa là chẳng cần biết là tán tâm, định
tâm
, tin hay không tin v.v… chỉ cần niệm một câu A Di Đà hoặc nghe danh hiệu
Ngài thoảng qua tai, dẫu trong đời này chưa được vãng sanh thì trong trăm ngàn
vạn kiếp sau, rốt ráo cũng nhờ công đức ấy sẽ được độ thoát, sẽ được vãng sanh.
Khác nào kẻ nuốt chất kim cang vào bụng chẳng thể tiêu trừ nổi, công đức niệm
Phật
cũng giống như thế!


Tóm lại, do căn cơ
là lợi hay độn, do nghiệp là nặng hay nhẹ, do hạnh có sâu hay cạn sai khác mà
đạt quả báo địa vị có hơn kém, cao thấp như thế. Nhưng cứ hễ đã được vãng sanh
thì sẽ vĩnh viễn chẳng bị thoái chuyển, sẽ thành tựu quả Bồ Đề rốt ráo viên
mãn
. Kẻ đới nghiệp vãng sanh sanh vào cõi Đồng Cư liền chứng Vị Bất Thoái, thọ
mạng
dài lâu vô tận nên có thể trong một đời chứng được Nhất Sanh Bổ Xứ. Hễ đã
được sanh về cõi Đồng Cư, chắc chắn sẽ tiến lên ba cõi kia. Nói cách khác, một
phen đã chứng được Vị Bất Thoái, sẽ lần lượt chứng được hai thứ Bất Thoái kia.


Như vậy, được vãng
sanh
cõi Cực Lạc thì không hạnh nào chẳng thành tựu, không việc gì chẳng hoàn
thành
. Lực dụng như thế, thiên kinh vạn quyển chưa hề thấy có. Nếu chẳng phải
là do đại nguyện lực của Phật A Di Đà, làm sao có được công đức chẳng thể nghĩ
bàn như vậy? Xin hãy siêng gắng tu tập để khỏi cô phụ tấm lòng bi mẫn vô lượng
của đấng Từ Phụ!


V. TẠNG GIÁO SỞ NHIẾP (phân định kinh này thuộc về tạng nào,
thời giáo nào)


Tạng có nghĩa là
tích chứa, tàng trữ. Giáo pháp một đời đức Phật đã thuyết được kết tập thành
tạng. Tạng có hai loại: Nhị TạngTam Tạng.


 – Nhị TạngBồ Tát tạngThanh Văn tạng.


 – Tam TạngKinh Tạng, Luận TạngLuật Tạng.


1. Phán định về
Tạng
:


Kinh này từ đầu
đến cuối không đề cập đến việc trì giới, cũng chẳng luận nghị, chỉ chuyên dạy
niệm Phật, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ nên phải thuộc về Kinh Tạng.


Kinh này lại hoằng
dương Đại Thừa, tuyên dương đấng Giáo Chủ cõi Cực Lạc, dù dạy chúng sanh chán
khổ ưa vui, cầu sanh Cực Lạc, nhưng cốt yếu là để gặp Phật nghe pháp, ngộ
Sanh Nhẫn
rồi sẽ trở lại Sa Bà, giáo hóa chúng sanh. Đấy đều là hạnh Bồ Tát, cho
nên kinh này phải thuộc về Bồ Tát Tạng.


2. Phán định
giáo tướng
:


Những lời chư
Phật, chư thánh giảng dạy được gọi là Giáo. Việc phân định, xếp loại thứ tự
thánh giáo của đức Như Lai thường được gọi là “phán định giáo tướng” hay gọi
tắt là “phán giáo”.


 * Theo đại sư Khuy Cơ, tính cho đến thời Đại Sư, đã có những thuyết phán giáo
sau đây:


a. Thuyết Nhất
Thời
Giáo
: do Ngài Tam
Tạng
Bồ Đề Lưu Chi (Tàu dịch là Giác Thọ) đời Bắc Ngụy đề xướng. Nghĩa là tuy
giáo pháp của đức Phật chỉ có một thời, nhưng vì có hai ý nghĩa bất đồng nên
tựa hồ có nhiều giáo pháp:


 a.1. Giáo đồng căn dị: Như nước mưa chỉ có một vị, nhưng ba loại dược
thảo
, hai loại cây cối được thấm nhuần sai khác. Tức là giáo pháp vốn chỉ là
một, nhưng chúng sanh ngộ giải bất đồng, do căn cơ chúng sanh khác nhau nên tựa
hồ có nhiều giáo pháp khác nhau.


 a.2. Lý đồng chứng dị: Lý tuy chỉ một nhưng sự chứng đắc của tam thừa
sai khác, như cùng một dòng sông, ba loài thú cùng lội qua, chân đạp xuống nước
sâu cạn sai khác.


b. Thuyết Tiệm Đốn Giáo: do Ngài Đàm
Vô Sấm
đời Tống lập ra.


 b.1. Đốn giáo là những thuyết như nhị không, tam tánh, tam vô tánh, bát thức,
nhị vô ngã v.v…


 b.2 Tiệm giáo là những giáo pháp như Tứ Đế, Duyên Sanh, Ngũ Giới, Bát Giới
v.v…


c. Thuyết Tam Thời Giáo (còn gọi là
Tam Giáo): do Ngài Chân Đế Tam Tạng Pháp Sư thời Lương đề xướng. Tam thời giáo
là:


 c.1. Hữu giáo: trong vòng 7 năm đầu kể từ khi thành Phật, đức Thế Tôn
nói ra Hữu giáo, dùng pháp Thanh Văn để độ các vị như năm anh em Kiều Trần Như,
Xá Lợi Phất, Ca Diếp v.v… 


 c.2. Không giáo: Từ năm thứ tám đến năm thứ ba mươi tám, Đức Phật chuyên
giảng về học thuyết Bát Nhã. Đó là Không Giáo.


 c.3. Phi hữu phi không giáo: Từ năm thứ 39 cho đến khi Phật nhập Niết
Bàn
, Ngài chuyên giảng về giáo pháp phi hữu phi không như các kinh Pháp Hoa,
Lăng Già, Tư Ích


d. Thuyết Tứ Thời Giáo: do Khuất Đa
Cấp Đa Tam Tạng đề xướng; chia một đời giáo hóa của đức Như Lai thành bốn thời:


 d.1. Sanh không giáo: tức là thời gian trong 12 năm đầu sau khi thành
Phật
, đức Thế Tôn giảng thuyết các bộ kinh giảng về nhân không như A
Hàm
… 


 d.2. Pháp không giáo: Từ năm thứ 13 đến năm thứ 38, Phật giảng các bộ
kinh
dạy về pháp không như tám bộ Bát Nhã v.v…


 d.3. Pháp tướng giáo: Từ năm thứ 39 đến năm thứ 49, Phật giảng các kinh
như Lăng Già, Tư Ích, Pháp Hoa v.v… chỉ bày các pháp như bách pháp, tam tánh,
tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngã v.v… Do chú trọng đến phân chia danh mục,
số loại của các pháp nên gọi là Pháp Tướng.


 d.4. Quán hạnh giáo: tức là thời gian giảng về pháp môn Pháp Giới Quán
của kinh Hoa Nghiêm


e. Thuyết Ngũ
Thời Giáo
: do Lưu Cư Sĩ
đời Tấn đề xướng, chia giáo pháp thành năm thời:


 e.1. Nhân thiên giáo: là những giáo pháp được giảng trong 21 ngày sau
khi Đức Phật thành đạo; gồm các giáo pháp như Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện
v.v… vì thính chúng chưa có thiện căn xuất thế. Thuyết này bị Ngài Giác Thọ
(Bồ Đề Lưu Chi) bắt bẻ: “Kinh Đề Vị nói nhóm năm trăm người lái buôn như Đề
Vị v.v… thọ Ngũ Giới, Phật dạy họ trước hết phải sám hối các tội Ngũ Nghịch,
Thập Ác. Thế Tôn dạy: ‘Tứ đại vốn tịnh, cái Ta vốn tịnh’, Đề Vị liền đắc
Sanh Nhẫn
; năm trăm người lái buôn đắc Nhu Thuận Nhẫn. Lẽ nào đấy chỉ là giáo
pháp
thuộc nhân thiên ư?”


 e.2. Sanh không giáo: tức là giáo pháp Nhị Thừa được giảng trong mười
hai năm đầu tiên.


 e.3 Pháp không giáo: là những giáo pháp được giảng trong mười tám năm kế
đó.


 e.4. Câu không giáo: tức là thời gian giảng tám bộ Bát Nhã.


 e.4. Phi hữu phi không giáo: tức là thời gian từ năm thứ 49 sau khi Đức
Phật
thành đạo trở đi. Thời gian này Ngài giảng các kinh như Lăng Già, Pháp Hoa
v.v…


 Đại Sư Khuy Cơ chỉ nêu ra các giáo như thế nhưng không khẳng định kinh này
thuộc về giáo nào trong những thuyết trên. Tuy thế, những thuyết phán giáo trên
đây không được phổ biến và vận dụng rộng rãi bằng hai thuyết Ngũ Thời Bát Giáo
của tông Thiên ThaiNgũ Giáo của tông Hoa Nghiêm.


a. Ngũ thời Bát
giáo
:


a.1. Bát giáo:


Bát giáo gồm “hóa nghi tứ
giáo” (bốn phương pháp hóa độ thuận theo căn cơ) và “hóa pháp tứ giáo” (bốn
phương pháp giáo hóa dựa theo mức độ giải ngộ).


Hóa nghi tứ giáo
gồm: Đốn, Tiệm, Bất Định, Bí Mật. Hóa pháp tứ giáo gồm Tạng (Tiểu Thừa), Thông
(bao gồm cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, nhưng mới chỉ là những giáo pháp sơ khởi
của Đại Thừa), Biệt (giáo pháp Đại Thừa dành riêng cho hàng Bồ Tát), và Viên
(những giáo pháp viên dung vô ngại, hàm nhiếp trọn vẹn tất cả các giáo pháp, là
giáo pháp cao tột nhất trong các giáo pháp Đại Thừa).


a.2. Ngũ thời:


Thời Hoa
Nghiêm
: Phật hiện thân to lớn, giảng kinh Hoa Nghiêm cho những bậc căn cơ
Đại Thừa viên đốn, chuyên giảng về Viên Giáo, nhưng đôi chỗ có kèm Biệt giáo.


Thời A Hàm:
Phật hiện thân trượng sáu, giảng pháp cho thính chúng căn cơ Tiểu Thừa, chỉ dạy
về Tạng GiáoNhị Thừa Tiểu Quả.


 – Thời Phương Đẳng: đối với căn cơ Tiểu Thừa, Phật giảng Tạng Giáo; đối
với căn cơ Đại Thừa, Phật dạy Viên, Thông, Biệt Giáo.


 – Thời Bát Nhã: dù kiêm thuyết lý tánh quyền hiện, nhưng chủ yếu là Thật
viên mãn của Viên Giáo.


 – Thời Pháp HoaNiết Bàn: quy nhiếp Tam Thừa về Nhất Thừa, khai thị
tri kiến Phật.


b. Ngũ Giáo


Tức là:


– Tiểu (Tiểu
Thừa
): chỉ giảng pháp không, chưa giảng Ngã Không.


– Thỉ (Đại Thừa
Thỉ Giáo): căn cứ trên sự sanh diệt của tám thức, kiến lập những giáo nghĩa
sanh tử, Niết Bàn, bàn rộng pháp tướng, nhưng chỉ mới luận đôi phần về pháp
tánh
. Tuy đã giảng về Tam Thừa, nhưng chưa hứa khả hàng định tánh Thanh Văn
Nhất Xiển Đề có khả năng thành Phật. Vì chưa bàn cùng tột giáo lý Đại Thừa nên
gọi là Thỉ (bắt đầu).


– Chung (Đại Thừa
chung giáo): bàn cùng tận giáo nghĩa Đại Thừa, căn cứ vào bát thức của Như Lai
Tạng
tùy duyên bất biến để lập giáo nghĩa, chú trọng đến pháp tánh, nhưng chỉ
luận đôi chút về pháp tánh, chưa giảng chi tiết. Dù có giảng pháp tướng đi nữa,
cũng đều quy về pháp tánh. Chung Giáo công nhận Xiển Đề có khả năng thành Phật.


– Đốn: Chỉ luận về
Thật Tướng. Một niệm bất sanh thì gọi là thành Phật. Không cần bận tâm đến thứ
tự tu tập từng bước nên gọi là Đốn (nhanh chóng).


– Viên: Viên Giáo
bao trùm cả bốn giáo trên, viên dung đầy đủ muôn pháp, duyên khởi vô ngại, pháp
giới
vô tận, không còn phân biệt giữa sự và lý nữa nên gọi là Viên (trọn vẹn).


3. Phán định
giáo tướng của kinh này:


Nếu xét theo cách
phán giáo của tông Hoa Nghiêm, kinh này thuộc về Viên Giáo lẫn Đốn Giáo. Xét
theo cách phán giáo của tông Thiên Thai, kinh này tuy nằm trong thời Phương
Đẳng
, nhưng lại thuộc về Viên Giáo.


Bởi Tạng giáo
Thông Giáo chẳng đề cập đến danh hiệu chư Phật ở phương khác, nên kinh A Di Đà
chẳng thể thuộc về Tạng và Thông giáo.


Người niệm Phật
lại có thể vượt ngang ra khỏi ba cõi, vãng sanh Cực Lạc, đồng chứng ba thứ bất
thoái
nên kinh này phải thuộc về Đốn Giáo.


Trong năm thời,
thời Hoa Nghiêm nhằm lúc Phật mới thành đạo, Ngài vì hàng pháp thân đại sĩ
giảng giải cảnh giới Như Lai, chúng Thanh Văn ngồi dự pháp hội như đui, như
điếc, chẳng lãnh hội được gì. Kinh này lại chuyên dạy chúng sanh đời mạt, ác
thế
ngũ trược, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nghĩa là: đối tượng được hóa độ của
kinh này là hết thảy hữu tình, nên kinh này không thể nào thuộc về thời Hoa
Nghiêm
được.


Trong thời A Hàm,
Phật chuyên dạy pháp Tiểu Thừa. Thế nhưng kinh này luận về công đức trang
nghiêm
y báo, chánh báo cõi Cực Lạc, cũng như ý chỉ huyền nhiệm rốt ráo thành
Phật
, nên cũng không thể nào thuộc về thời A Hàm được.


Trong thời Bát
Nhã
, Đức Phật chuyên luận về những pháp mà Bồ Tát phải học. Kinh này chẳng phân
biệt
căn cơ chúng sanh, bất cứ ai nếu chí thành niệm Phật đều có thể được vãng
sanh
. Bởi đó, kinh này chẳng thể thuộc về thời Bát Nhã.


Thời Pháp Hoa khai
quyền hiển thật
(vạch rõ những pháp phương tiện, trực chỉ thật lý Nhất Thừa),
khai thị tri kiến Phật; thế nhưng kinh này chỉ chuyên dạy Trì Danh, nên chẳng
thuộc về thời Pháp Hoa được.


Bởi những lẽ trên,
kinh này phải thuộc về thời Phương Đẳng.


Hơn nữa, kinh Di
Đà
bao hàm diệu lý viên đốn, trước thì thông tiếp kinh Hoa Nghiêm, sau thì
thông tiếp kinh Pháp Hoa; cho nên phán định kinh này thuộc về thời Phương Đẳng
rất hợp lý


VI. CĂN TÁNH SỞ BỊ (những căn tánh được tiếp độ bởi kinh
này)


 Những nghĩa lý được diễn giảng trong kinh này tuy là chí viên, chí đốn, là pháp
để giáo hóa Bồ Tát, nhưng cũng là pháp kiêm dạy Nhị Thừa. Bất luận căn cơ
thượng, trung hay hạ đều có thể niệm Phật, đều được vãng sanh. Chỉ trừ kẻ chẳng
tin, chẳng nguyện, chẳng hạnh là đành chịu vô phần. Nếu có tín, hạnh, nguyện
thì dù đang ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vẫn là căn cơ sẽ được hóa độ
bởi kinh này.


 Kinh chép: “Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và
lời chư Phật nói”
là khuyến tín. Lại chép: “Nếu có kẻ tin hãy nên phát
nguyện
sinh sang cõi ấy”
là khuyên phát nguyện. Lại chép: “Nếu có thiện
nam tử
, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc một
ngày… hoặc bảy ngày nhất tâm bất loạn”
là khuyên nên hành trì.


VII. BỘ LOẠI SAI BIỆT


 Thuộc cùng một Bộ là những kinh cùng phô diễn một tông thú, nhưng diễn giảng
rộng lược khác nhau. Thuộc cùng một Loại là những kinh có tông thú liên quan
mật thiết với nhau.


 Xét về Bộ, hai kinh cùng Bộ là kinh này và kinh Vô Lượng Thọ (không đề cập đến
kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ vì nó chỉ là bản dịch khác của kinh này).


 Cùng Loại với kinh A Di Đà đây có kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Thanh
Vương, A Di Đà Kệ Kinh.


 Được xếp vào Phi Bộ Phi Loại là những kinh có nói kèm đến pháp môn Tịnh Độ như
kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhã, Bi
Hoa, Quán Âm Bồ Tát Thọ Ký, Phật Thuyết Như Huyễn Tam Ma Địa Vô Lượng Ấn Pháp
Môn


 Nếu kể cả những kinh Mật Giáo dạy thần chú, cách lập đàn, vẽ mạn đà la, quán
tưởng
Phật A Di Đà thì phải kể thêm:


1. Vô Lượng Thọ
Như Lai
Tu Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ do Ngài Bất Không dịch vào đời Đường,
chủ yếu dạy cách quán tưởng và các nghi thức cúng dường.


 2. Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú do Ngài Cầu
Na Bạt Đà La
dịch vào đời Lưu Tống (bản này chỉ ghi bài thần chú)


 3. Cửu Phẩm Vãng Sanh A
Di Đà
Tam Ma Địa Tập Đà Ra Ni kinh do Ngài Bất Không dịch vào đời Đường.


4.. Đại Thừa Vô
Lượng Thọ Kinh
do Ngài Pháp Thành dịch vào đời Đường.


5. Vô Lượng Thọ
Đại Trí Đà Ra Ni, do Ngài Pháp Hiền dịch vào đời Triệu Tống. Kinh này chỉ có
bài chú. Bản dịch khác của kinh này đầy đủ hơn là kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng
Thọ
Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà Ra Ni.


VII. DỊCH TRUYỀN CẢM THÔNG (các bản dịch, bản được lưu truyền, những
sự cảm ứng do tụng trì kinh này)


A. Các bản dịch:


Từ Phạn ngữ, dịch
sang Hán văn có hai bản dịch:


 1. Bản thứ nhất mang tên Phật Thuyết A Di Đà Kinh, do Ngài Tam Tạng Pháp
Cưu Ma La Thập dịch vào thời Dao Tần (394-415).


 2. Bản thứ hai mang tên Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh do Ngài Tam
Tạng Pháp Sư
Huyền Trang dịch vào đời Đường.


 Hai bản dịch này đại đồng tiểu dị, bản dịch của Ngài Huyền Trang chi tiết hơn,
nhưng kém phần bóng bẩy hơn so với bản dịch của Ngài La Thập. Hiện tại, bản
được lưu truyền rộng rãi hơn cả là bản dịch của Ngài La Thập (thường gọi là bản
Tần dịch).


 Ngoài hai bản dịch này, hiện còn một bản hội tập hai bản kinh trên do cư sĩ Hạ
Liên Cư soạn. Ngoài Tịnh Độ Cư Sĩ Lâm Trung Hoa, bản hội tập này không được sử
dụng
phổ biến cho lắm. Theo Chúng Kinh Mục Lục, vào đời Lưu Tống, kinh này cũng
được Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch với tựa đề Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh nhưng đã thất
truyền.


 Khi chú giải các kinh này, từ xưa đến nay, các nhà sớ giải kinh đều dùng bản
của Ngài La Thập. Ngay cả đại đệ tử của pháp sư Huyền Trang là Ngài Khuy Cơ khi
sớ giải kinh cũng dùng bản của Ngài La Thập, có lẽ vì bản này phổ biến hơn cả.


 B. Các bản chú giải:


Từ xưa đến nay,
kinh này được chú sớ rất nhiều, nhưng bị thất truyền rất nhiều. Hiện tại, chỉ
còn giữ lại được một số bản chú giải như sau:


 1. A Di Đà Kinh Nghĩa Ký, 1 quyển, do Ngài Trí Khải soạn thuật vào đời Tùy.


 2. A Di Đà Kinh Nghĩa Thuật, 1 quyển, do Ngài Huệ Tịnh soạn vào đời Đường.


 3. A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ, 3 quyển, do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.


 4. A Di Đà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Khuy Cơ đời Đường soạn.


 5. A Di Đà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Hải Đông Nguyên Hiểu người xứ Tân La soạn.


 6. A Di Đà Kinh Sớ, do Ngài Trí Viên soạn vào đời Tống.


 7. A Di Đà Kinh Nghĩa Sớ do Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu đời Tống soạn.


 8. A Di Đà Kinh Cú Giải do Ngài Tánh Trừng soạn vào đời Nguyên.


9. A Di Đà Kinh
Lược Giải của Ngài Đại Hựu thời Nguyên.


 10. A Di Đà Kinh Sớ Sao do Ngài Vân Thê Liên Trì soạn vào thời Minh.


 11. A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao, 2 quyển, do Ngài U Khê Truyền Đăng
soạn.


12. A Di Đà Kinh Yếu Giải do Ngài Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc soạn
vào cuối đời Minh.


 13. A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Nghĩa của Viên Anh Pháp Sư đời Thanh.


14. A Di Đà Kinh Thiệt Tướng của Ngài Tịnh Đĩnh soạn.


 15. A Di Đà Kinh Trực Giải Chánh Hạnh của Liễu Căn Toản soạn.


 16. A Di Đà Kinh Lược Chú của Ngài Tục Pháp soạn.


 17. A Di Đà Kinh Trích Yếu Dị Giải do Ngài Chân Tung soạn.


 18. A Di Đà Kinh Ước Luận của cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh.


 19. A Di Đà Kinh Thích và A Di Đà Kinh Chú của Trịnh Trừng Đức và Đặng Trừng
Nguyên hợp soạn.


 20. A Di Đà Kinh Tiên Chú của cư sĩ Đinh Phước Bảo (ông này cũng là tác giả của
bộ Phật Học Đại Từ Điển).


Từ bản A Di Đà Kinh Sớ Sao, Ngài Trí Nguyện tổng kết những lời
giảng của chư cổ đức đời Minh soạn ra ba tác phẩm: A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự
Nghĩa, A Di Đà Kinh Sớ Sao Vấn Biện, A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa.


Ngài Đạt Mặc
(không rõ thời đại) soạn lời Sao cho cuốn Yếu Giải của Tổ Trí Húc, đặt tên là A
Di Đà Kinh
Yếu Giải Tiện Mông Sao,


 Trong các bản chú giải kinh trên đây, bản Yếu Giải của Ngài Ngẫu Ích được Tổ Ấn
Quang tán dương như sau: “Lý sự đều đạt đến chỗ tuyệt diệu, kể từ khi Phật
thuyết
kinh này đến nay, Yếu Giải là bản chú giải bậc nhất, khéo léo nhất, xác
thực nhất. Ví dù cổ Phật xuất thế chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn
được nữa”
. Vì thế, trong các bản chú giải kinh A Di Đà, tác phẩm A Di Đà
Kinh
Yếu Giải được lưu truyền mạnh mẽ nhất.


 Cho đến hiện tại, chư tôn cổ đức vẫn tiếp tục diễn giảng kinh A Di Đà và trước
tác rất nhiều tác phẩm mới để phu dương mật nghĩa của kinh này nhưng kiến giải
đa phần vẫn dựa theo hai tác phẩm Yếu Giải và Sớ Sao là chính.


 C. Sự cảm ứng của việc trì kinh


Từ xưa đến nay,
người trì tụng kinh này được cảm ứng rất nhiều, xin lược thuật một vài chuyện:


Theo Trí Độ Luận,
có một vị tỳ kheo trì tụng kinh A Di Đà, lúc sắp mạng chung, bảo đệ tử rằng: “A
Di Đà Phật cùng các thánh chúng đều đến đón ta”. Mất rồi, đệ tử làm lễ trà tỳ,
thấy cuống lưỡi của vị tỳ kheo ấy chẳng cháy, hình dáng, màu sắc vẫn tươi
nguyên như khi còn sống.


Ông Đường Thế
Lương đời Tống tụng kinh Di Đà đến mười vạn biến. Một ngày nọ bảo người nhà:
“Phật đến đón ta”. Nói xong, làm lễ mà tịch. Đêm ấy có kẻ đi buôn, ngụ bên núi
Đạo Vị, mộng thấy ánh sáng lạ lùng ở Tây Phương, phan, hoa vần vũ, âm nhạc réo
rắt, trên không rền vang tiếng nói: “Ông Đường Thế Lương đã sanh về Tịnh Độ”.


Đời Tống, kẻ thảo
dân Bằng Mân, thuở trẻ thích săn bắn. Một ngày nọ, đi săn gặp một con rắn to
liền cầm giáo xông đến đâm. Khi ấy, rắn đang núp một gộp đá lớn, toan mổ một
con bò vàng. Bằng Mân xô đá đè chết rắn. Khi được tái sanh, rắn nhiều phen tính
trả thù, nhưng họ Bằng đã tu sám, niệm Phật đã lâu nên rắn chẳng làm gì được.
Đến một ngày nọ, ông thỉnh các bạn đồng tu Tịnh nghiệp tụng kinh Di Dà, ngồi
chắp tay qua đời.


Đời Tống, pháp sư
Trí Tiên, hiệu Chân Giáo, trụ trì chùa Bạch Liên, suốt mười ba năm hướng về Tây
niệm Phật, trong 12 thời chưa từng thiếu sót công phu. Một chiều nọ, Sư mỉm
cười
, sai quán đường hành nhân tụng kinh A Di Đà. Tụng chưa xong, Sư đã an
nhiên
tọa hóa.


Ngài Thích Xử
Khiêm đời Tống chuyên tu Tịnh Độ. Một tối nọ, tụng kinh A Di Đà xong, Ngài khen
ngợi Tịnh Độ rồi bảo với đại chúng rằng: “Tôi đã đạt vô sanh mà sanh Tịnh Độ”.
Liền như nhập thiền định, lặng lẽ mà hóa.


Đời Tống, bà lão
họ Chung ở quận Gia Hòa, mỗi ngày tụng kinh Di Đà mười biến, niệm Phật chẳng bỏ
sót
ngày nào. Một ngày nọ bà bảo con: “Ta thấy hoa sen trắng vô số, thánh chúng
đến đón ta”. Rồi ngồi ngay ngắn, lặng lẽ qua đời.


Hoài Ngọc thiền sư
người Đài Châu, chuyên mặc áo vải, ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, tinh
tấn
niệm Phật, tụng kinh Di Đà đến ba mươi vạn biến. Một ngày kia thấy Tây
Phương
thánh chúng nhiều như cát sông Hằng. Một vị tay cầm đài bạc, theo cửa sổ
mà vào. Sư hỏi: “Tôi một đời tinh tấn, thề lấy được đài vàng, sao lại như thế
này?” Đài bạc liền ẩn mất. Sư càng cảm khích, tinh tấn gấp bội. Hăm mốt ngày
sau, thấy Phật hiện chật cả không trung, bèn bảo đệ tử: “Kim đài đã đến đón, ta
sanh về Tịnh Độ đây!” Rồi đọc kệ, mỉm cười mà tịch.


Năm Đại Lịch thứ
chín đời Nguyên, Tử Hoa thiền sư trụ tại chùa Quán Âm ở Nhuận Châu, tụng kinh
Di Đà suốt sáu tháng, chợt mắc bệnh. Đêm ngửi thấy mùi hương, nghe tiếng âm
nhạc
, trên không có tiếng bảo: “Sự vui thô thiển đã qua, sự vui tinh tế sẽ tiếp
nối
. Ngài sẽ vãng sanh”. Chẳng lâu sau, sư niệm Phật viên tịch, mùi hương ngào
ngạt suốt mấy ngày chẳng tan.


Ngay cả cầm thú
cũng được lợi lạc do việc trì kinh này. Quán công ở chùa Chánh Đẳng tại Hoàng
Nham, có nuôi một con nhồng (tên một loài chim), thường dạy nó niệm Phật chẳng
ngớt. Về sau, con nhồng chết đứng trong lồng. Quán công đem chôn, ít lâu sau,
trên mộ chim mọc lên một đóa hoa sen tím. Bới đất để tìm gốc sen, thấy hoa sen
ấy mọc ra từ lưỡi con nhồng.


 Sự
cảm ứng của kinh Di Đà rất nhiều, chẳng thể thuật trọn. Chúng ta là hạng phàm
phu
khổ não chúng sanh, muốn thoát ly biển khổ, mong vượt khỏi tam giới, thật
phải nên buông bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật thì đương nhiên sẽ hữu cầu tất
ứng, vô cảm bất thông vậy!


Phần Hai


IX. TỔNG THÍCH KINH ĐỀ (giải thích chung về danh hiệu của bản
kinh


 


A. Kinh danh
sai biệt
(những tên gọi
khác nhau của kinh)


 


Kinh này
mang tên là Phật Thuyết A Di Đà Kinh, nhưng trong kinh văn ghi rõ kinh này tên
là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh
(kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn, được hết thảy chư Phật hộ niệm).
Vì thế, Ngài Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh.


 


B. Lập
danh
phương thức
(cách
thức đặt tên kinh)


 


Phàm tên kinh được
đặt không ngoài vận dụng ba yếu tố: nhân, pháp, dụ. Ba yếu tố ấy dùng riêng lẻ
hay ghép với nhau, tạo thành bảy loại như sau:


1. Đơn nhân lập
danh
(chỉ dùng người để đặt tên): như Phật thuyết A Di Đà Kinh, Ương Quật
Ma La Kinh
v.v…


2. Đơn pháp lập
danh
: như Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Thật Tướng Bát Nhã kinh, Đại
Thừa
Lý Thú Lục Ba La Mật Kinh…


3. Đơn dụ lập
danh
(chỉ dùng thí dụ để đặt tên): như Phạm Võng Kinh, Bửu Tích kinh, Bửu
Vân kinh… thuần dùng thí dụ để đặt tên kinh.


4. Nhân pháp
lập danh
: như Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện kinh, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai
Bổn Nguyện Công Đức Kinh
, Văn Thù Sở Vấn Bát Nhã kinh,Thắng Thiên Vương Bát Nhã
Kinh v.v…


5. Pháp dụ lập
danh
: như Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La
Mật
là pháp), Diệu Pháp Liên Hoa Kinh


6. Nhân dụ lập
danh
: như Như Lai Sư Tử Hống Kinh. Như Lai là nhân, Sư Tử Hống là dụ.


7. Nhân pháp dụ
lập danh
: như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại Phương Quảng
pháp, Phật là nhân, Hoa Nghiêm là dụ. Một ví dụ là Như Lai Đại Phương Tiện Nhất
Thừa
Thắng Man Sư Tử Hống Kinh cũng dùng cả ba nhân, pháp, dụ để đặt tên kinh.


Kinh A Di Đà này
chỉ dùng nhân để đặt tên.


 


C. Biệt thích
kinh đề
(giải thích riêng
về tên kinh này)


 


Tên kinh gồm có hai phần:
Thông và Biệt. Thông là “Kinh”, biệt là “Phật Thuyết A Di Đà”.


 


C.1. Phẫu tự biệt
thích
(giải thích theo lối phân tích từng
chữ trong tên kinh) 


 


Kế tiếp
đây là phần giải thích từng chữ trong tên gọi của kinh:


1. Phật:


 


Chữ Phật phải hiểu
theo bốn khía cạnh: Sự, lý, nhân, quả.


 


1.1. Ước về Sự:
Phật là hiệu chung của mười phương tam thế hết thảy chư Phật. Nói chính xác,
Phật là một trong mười hiệu của chư Phật Thế Tôn. Trong kinh này, chữ Phật
riêng chỉ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


 


1.2. Ước theo
Lý:
Phật gọi đủ theo tiếng Phạn là Phật Đà, thường dịch là Giác Giả (bậc
giác ngộ) hay còn dịch là Đại Giác. Giác bao hàm ba nghĩa: tự giác, giác tha,
giác hạnh viên mãn.


Hiểu theo nghĩa
thông
thường, Giác là giác ngộ, hàm nghĩa Phật là người giác ngộ. Thế sao không
dịch là Giác Nhân mà lại dịch là Giác Giả? Chữ Giả có nghĩa rộng hơn, ngụ ý bao
gồm
hết thảy hữu tình chứ không chỉ hạn cuộc trong loài người. Kinh nói: “Phàm
hết thảy những ai có tâm
(tri giác) đều sẽ có thể thành Phật”. Bởi
thế, nếu dịch là Giác Nhân thì hóa ra chỉ riêng nhân loại mới có khả năng thành
Phật! Trong kinh Pháp Hoa nói: long nữ tám tuổi thành Phật, chẳng lẽ lại gọi vị
Phật ấy là giác long hay sao?


Vị thánh nhân ấy
giác ngộ chân lý vũ trụthật tướng của nhân sinh. Chân lý vũ trụThật
Tướng
của nhân sinh thật ra chẳng ngoài duyên khởi tánh không. Hết thảy hữu
tình
mê muội nơi duyên khởi tánh không, nhận lầm vũ trụ thật có vạn pháp, thân
do tứ đại giả hợp là thật có, nên mê say đắm đuối, trầm luân sanh tử. Đức Phật
nhận thức minh bạch duyên khởi tánh không nên đốn phá vô minh, siêu xuất sanh
tử
.


Tự Giác:
ngoài thì giác ngộ hết thảy các pháp đều là huyễn hóa, vô thường, là pháp sanh
diệt
; trong thì nhận rõ ai nấy đều có Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt.


Giác Tha:
chúng sanh chẳng được giải thoát chỉ vì chưa giác ngộ, Đức Phật chẳng nỡ riêng
mình thọ hưởng sự giải thoát an vui mà bỏ mặc chúng sanh chìm đắm trong biển
khổ sanh tử. Vì thế, Ngài vận dụng mọi phương tiện thiện xảo để khiến đại địa
chúng sanh đều được giác ngộ như mình.


Giác Hạnh
Viên Mãn:
Tự Giáchuệ mãn, Giác Tha là phước mãn.


* Huệ mãn là từ lúc ban
phát Bồ Đề tâm, nương vào Thỉ Giác trí (3) để đoạn trừ trọn vẹn ba thứ kiến
hoặc
, tư hoặc, trần sa hoặc, chứng ngộ trọn vẹn ba trí, thấu rõ nguồn cội bản tâm
nên trí huệ viên mãn. Đó là “huệ mãn”.


* Phước mãn là sau
khi tự giác, bèn nương vào tối thượng thừa, chỉ lấy việc lợi sanh làm sự
nghiệp
, lấy hoằng pháp làm việc nhà, trải ba A-tăng-kỳ kiếp tu trọn lục độ, vạn
hạnh
, khai thị pháp giới hữu tình, công đức viên mãn nên gọi là “phước
mãn”. 


Tự Giác là khác
với phàm phu si mê bất giác, Giác Tha là khác với Nhị Thừa chỉ chuyên tự giác;
Giác Hạnh Viên Mãn là khác với Bồ Tát chỉ mới đạt phần chứng (chứng ngộ chưa
trọn vẹn). Nói cách khác, thành đạotự giác, giáo hóa chúng sanhgiác
tha
, tự giácgiác tha đạt đến mức triệt để tối cực nên gọi là “giác hạnh
viên mãn”.


Hơn nữa,
tự giác là luận trên phương diện Lý Trí, giác tha là luận về phương diện Bi
hạnh, giác mãn là “tri hành hợp nhất”, lấy tự lợi, lợi tha, phước huệ viên mãn
làm mục đích duy nhất.


Vì sao chỉ mình
Đức Phật đầy đủ ba ý nghĩa giác ngộ ấy? Vì Nhị Thừa thiên chấp Thiên Không chân
nên tự giác chưa viên mãn, công đức của Bồ Tát chưa trọn vẹn (phước chưa
đủ), đồng thời vẫn còn chút phần vi tế vô minh, sở chứng chưa viên mãn (huệ
chưa viên mãn) nên chẳng thể sánh bằng Phật được!


 


1.3. Ước về
nhân
: chữ Nhân chỉ nhân địa (quá trình tu nhân, ở đây chỉ nhân địa hiện
tại
).


Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni
đã thành Phật trong vô lượng kiếp nhiều như vi trần từ trước, do vì giáo
hóa
chúng sanh cõi này nên thị hiện tu nhân trong cõi Sa Bà. Đức Thế Tôn đã thị
hiện
giáng sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni làm thái tử dòng họ Thích Ca. Năm mười chín
tuổi, thị hiện xuất gia, sáu năm tu hành khổ hạnh tại núi Già Da (tại thôn Tư
Na, ở phía nam sông Ni Liên Thiền), hàng phục ma quân, thành đạo, giáo hóa
chúng sanh. Đến rằm tháng Hai năm Ngài tám mươi tuổi, cơ duyên hóa độ đã mãn,
bèn thị hiện Niết Bàn tại rừng Ta La Song Thọ.


 


1.4. Ước về Quả:
tức là rốt ráo chứng đắc cực quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Trong phần
giảng về kinh văn, sẽ giải thích tỉ mỉ ý nghĩa chữ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề
.


 


2. “Thuyết”: có nghĩa là giảng nói.
Ý nói: kinh này do chính nơi kim khẩu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên
thuyết
.


Thuyết còn có
nghĩa là Duyệt (vui vẻ). Thấy đã đến lúc cơ duyên thành thục để diễn nói bản
hoài
cứu độ chúng sanh, biết rõ chúng sanh đời mạt sẽ do pháp môn này mà được
độ thoát, cho nên Phật vui sướng, không ai thỉnh mà tự giảng ra bản kinh này.


 


3. A Di Đà:
dịch là Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ. Đức Phật ấy quang minh vô lượng, thọ
mạng
vô lượng. Thật ra công đức, trí huệ, thần thông v.v… của Ngài mỗi mỗi
đều vô lượng, nhưng ở đây lấy quang minhthọ lượng làm tiêu biểu.


 Có hai thứ vô lượng: Vô lượng vô lượng (nghĩa là vô lượng tuyệt đối, hoàn toàn
không thể nào tính đếm được) và hữu lượng vô lượng (vô lượngthể tính đếm
được, tức là một con số rất lớn như kinh Hoa Nghiêm một trăm lạc xoa (một trăm
ngàn) là một câu chi, câu chi lần câu chi làm một a du đa…. cho đến a tăng kỳ
lần a tăng kỳ làm một a tăng kỳ chuyển. A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển
làm một vô lượng. Như vậy, con số vô lượng rất lớn, nhưng vẫn là hữu hạn vì vẫn
thể tính đếm được).


 Pháp Thân của Phật A Di Đà vô thỉ vô chung (không có khởi đầu, không có kết
thúc
), Báo Thân của Ngài hữu thỉ vô chung, đều thực sự là “vô lượng vô lượng”.
Còn như Ứng Thân của Phật, ứng hiện tùy theo căn cơ, khi duyên hóa độ đã hết
liền diệt. Đó là hữu thỉ hữu chung. Ứng Thân của Phật A Di Đà tuy thọ mạng
lượng vô biên a tăng kỳ kiếp
nhưng vẫn có ngày nhập diệt, đó là ý nghĩa của chữ
“hữu lượng vô lượng”.


 Pháp Thân của Phật A Di Đà thường trụ bất biến, đấy chính là ý nghĩa “vô lượng
thọ”. Căn Bản Trí của Phật chiếu khắp mười phương; đấy chính là ý nghĩa “vô
lượng quang”. Như vậy, vô lượng thọvô lượng quang của Phật cũng là kết quả
của sự tu tập. Kinh chép, trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp về trước, tỳ kheo
Pháp Tạng từng làm Chuyển Luân Thánh Vương, nghe đức Thế Tự Tại Vương Phật
thuyết pháp, bèn phát nguyện xuất gia, được đặt pháp danhPháp Tạng, phát
bốn mươi tám nguyện, tận lực tu tập những hạnh khó làm trong vô lượng kiếp nhằm
trang nghiêm y báochánh báo của cõi Phật. Do đó, đến khi nhân viên quả mãn,
thành Đẳng Chánh Giác, Ngài cảm được thọ lượng, quang minh mỗi thứ đều
lượng
, nên được hiệu là A Di Đà.


 Lại nữa, lúc chúng ta niệm Phật, từng câu phân minh, tương ứng với Phật, đó
chính là ý nghĩa chữ Quang. Từng câu không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, đấy
chính là ý nghĩa chữ Thọ. Quang là trí của Như Lai, Thọ là lý của Như Lai. Trí
chiếu soi Lý, Lý hiển thị Trí, Lý – Trí nhất như, quang – thọ chẳng hai. Tự
tánh
Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, niệm niệm chiếu soi cùng tột, niệm Phật đến mức
như thế thì Quang lẫn Thọ luôn hiển hiện nơi tự tâm.


 Nếu phán định theo thuyết Lục Tức Thành Phật của tông Thiên Thai thì:


Chúng sanh luôn
sẵn đủ Quang lẫn Thọ nơi tự tâm nhưng mê muội chẳng hề chứng biết. Đấy gọi là
Xứng Lý Tức Quang Thọ (tức là chỉ có Quang lẫn Thọ về mặt Lý, chưa thực sự
chứng ngộ).


– Nghe hiểu pháp
môn
Tịnh Độ, hiểu ý nghĩa của danh hiệu Phật A Di Đà. Đấy là Danh Tự Tức Quang
Thọ.


– Đã nghe biết,
tin hiểu, bèn chấp trì danh hiệu, đấy là Quán Hạnh Tức Quang Thọ. 


– Những phiền não,
cấu trược thuộc về phần thô đã đoạn thì gọi là Tương Tự Tức Quang Thọ.


– Phá được một
phần vô minh, hiển hiện tự tánh Phật, thì gọi là Phần Chứng Tức Quang Thọ.


– Phá sạch toàn bộ
vô minh, lý trí viên mãn đến cùng cực, đấy là Cứu Cánh Tức Quang Thọ.


 


4. Kinh:
gọi đủ là Khế Kinh, tiếng Phạn là Tu Đa La. Khế nghĩa là “khế hợp” (phù hợp,
tương xứng), bao hàm ý nghĩa: Trên khế hợp với đạo lý của chư Phật đã nói, dưới
khế hợp với căn cơ của tất cả chúng sanh được độ.


Chữ Kinh có năm
nghĩa:


Xuất sanh:
Nếu chúng sanh tu hành đúng theo lời Phật dạy thì sẽ sanh khởi được tất cả nhân
quả
của thiện pháp. Đấy là ý nghĩa của chữ Xuất Sanh. 


Hiển thị:
Kinh của Đức Phật thuyết có khả năng chỉ rõ các pháp xuất thế gian, sự, lý,
tánh, tướng, nhân, quả, tu, chứng v.v… Đấy là ý nghĩa của Hiển Thị


Dũng tuyền
(suối phun): Mỗi một chữ trong kinh chứa đựng hết thảy pháp, dung hàm vô lượng
nghĩa
, như nước vọt ra từ mạch suối, dù có dùng bao nhiêu vẫn chẳng cạn. Đấy là
ý nghĩa của Dũng Tuyền.


Thằng mặc
(mực thước): Kinh Phật giảng giải đạo lý khiến cho chúng sanh phân biệt được
đâu là tà, đâu là chánh, hiểu rõ sự lý, biết nhân rõ quả, bỏ ác tu thiện, như
thợ mộc dùng dây nhúng mực để đo lường sự cong ngay của cây gỗ trước khi cưa
đục cho đúng.


Kết man
(kết thành tràng hoa): Kết man là dùng chỉ xỏ các bông hoa thành tràng để tạo
ra vật trang sức đẹp đẽ. Kinh Phật xuyên suốt sự, lý, nhân quả, khiến chúng
chẳng bị lạc mất. Đấy là ý nghĩa của chữ Kết
Man.


Thông thường, chữ
Kinh thường được hiểu theo nghĩa “quán nhiếp thường pháp”:


– Quán là xâu kết
lại, dính kết lại theo thứ tự, là thâu tóm, hệ thống hóa, tập hợp lại những
pháp đã thuyết giảng, chẳng để bị tản mác.


– Nhiếp là giống
như nam châm hút mạt sắt. Kinh điểncông năng thu hút những chúng sanh
khả năng hóa độ chẳng để cho họ bị đọa lạc.


– Thường là đạo lý
chẳng biến đổi trong suốt cả ba đời. Những pháp Phật đã thuyết đều phát xuất từ
lòng đại bi vô tận, giảng ra những pháp phù hợp với pháp tánh, bàn luận đến
những điểm cùng tột vi diệu của chân lý, nên thường gọi là “xứng tánh cực đàm”.
Những pháp đức Phật đã giảng đều là lý chân nghĩa thật, dẫu ngàn đời muôn kiếp,
vĩnh viễn chẳng thể thay đổi được, nên gọi là Thường.


– Pháp nghĩa là
mười pháp giới đều phải tuân theo khuôn phép ấy. 


Kinh còn có thể
hiểu là đường lối; nghĩa là Kinh chính là con đường để tu hành thành Phật. Có
thuyết nói Kinh còn có nghĩa là thuyền bè, ngụ ý: kinh Phật có thể dẫn dắt, độ
chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử.


Kinh Phật được gọi
là “Khế Kinh” vì gồm đủ bốn điều khế hợp: khế sự, khế lý, khế giáo, khế cơ.


 


a. Khế sự:


Đức Phật dùng
Phương Tiện Quyền Trí giảng giải nhân quả của trời người, các pháp tu chứng của
Nhị Thừa v.v… đều tương xứng với sự tướng thế tục, nên gọi là Khế Sự.


 


b. Khế lý


Phật dùng
Thật Trí giảng ra đệ nhất đế lý. Bất cứ điều nào Đức Phật đã giảng xét về sự
hay lý đều xứng hợp với Đệ Nhất Nghĩa Đế nên gọi là Khế Lý.


 


c. Khế giáo:


Khế giáo
là dù thị hiện trong cõi ngũ trược ác thế để thuyết pháp lợi sanh, chúng sanh
căn
tánh ương ngạnh khó độ, những giáo pháp của Đức Phật đã thuyết đều hoàn
toàn
giống hệt như những giáo pháp của mười phương chư Phật đã thuyết.


Trong hội Hoa
Nghiêm
, khi chư Bồ Tát trước sự chứng minh của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca, giảng
về thứ tự tu chứng Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng v.v… xong thì có các
đại Bồ Tát nhiều như số vi trần trong bất khả thuyết các cõi Phậtmười
phương
, đồng danh đồng hiệu hiện ra tán dương: “Lành thay! Lành thay! Hàng
Phật tử các ông! Nói ra những pháp chân thật chẳng dối… Trong cõi nước của
chúng tôi cũng thuyết pháp này, thậm chí văn tự, danh tự, câu chữ cũng đều
tương đồng”.


 


d. Khế cơ:


Cơ là căn
của chúng sanh. Căn tánh của chúng sanh tuy có đại, tiểu bất đồng, nhưng cứ
nương theo kinh tu tập thì không ai là chẳng được lợi ích. Đấy gọi là “khế cơ”.


 


 Trong tựa đề Phật Thuyết A Di Đà Kinh đây, Phật là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
là vị đã chứng cực quả, là chủ thể thuyết pháp. A Di ĐàCực Lạc giáo chủ, là
bậc chứng ngộ cực quả được đề cập đến. Phật Thích Ca và Phật Di Đà cùng chứng
cực quả, vì sao Phật Thích Ca lại phải thuyết ra pháp này để xưng tán Phật A Di
Đà? Đó là vì cõi Sa Bà uế ác, y báo lẫn chánh báo cõi này đều do vọng tưởng
hoặc nghiệp chiêu cảm, huyễn khởi sanh tử vô cùng, khó tìm được chỗ cậy nhờ, nương
tựa. Dù đức Phật Thích Ca mẫn niệm ứng cơ nhiếp hóa, nhưng khi duyên hóa độ đã
hết, liền nhập diệt, chúng sanh không cách nào gặp gỡ được nữa. Còn y báo,
chánh báo cõi Cực Lạc đều là do những công đức sẵn có trong bản tâm thanh tịnh
hiển hiện, hữu tình, vô tình cõi Cực Lạc đều thuyết pháp bất tuyệt. Chúng sanh
nghe pháp ấy tăng trưởng đạo tâm, phiền não tiêu trừ, quyết chứng Bồ Đề. Bởi
những lẽ ấy, Phật Thích Ca phải tán dương cõi Cực Lạc và Phật A Di Đà, đấng
giáo chủ cõi ấy, để chúng sanh phát tâm ưa thích, nhàm chán sanh tử, phát
nguyện
vãng sanh, vĩnh thoát khổ hải.


 


 D. Giáo lý hạnh quả phán thích (phán định về giáo lý hạnh quả của
kinh này)


 


1. Định nghĩa:


 


 Những lời dạy bảo của thánh nhân được lưu truyền lại gọi là Giáo. Chỉ thú,
nghĩa lý của những lời dạy ấy là Lý. Từ Lý khởi tu là Hạnh. Do hạnh quyết định
chứng đắc là Quả.


 Bất cứ bộ kinh nào của Phật đã thuyết ra đều có đủ bốn phần Giáo, Lý, Hạnh, Quả
này. Nếu không có đủ bốn phần này, chúng sanh do đâu mà tuân theo lời dạy để
hiểu rõ Lý, từ lý khởi hạnh tu tập mà chứng cực quả. Hóa ra, những lời giảng
thuyết
ấy biến thành hý luận hư huyễn hay sao?


 


2. Phán định:


 


Trong kinh này,
toàn bộ kinh văn từ câu “như thị ngã văn” cho đến câu “tác lễ nhi khứ” là thuộc
về Giáo. Giáo pháp được phô diễn bởi kinh này là giáo pháp phương tiện tối
thắng
, chí diệu viên đốn.


Lý được hiển thị
bởi kinh này chính là lý Thường – Lạc – Ngã – Tịnh.


Pháp môn Trì Danh
Niệm Phật dạy trong kinh này chính là Hạnh.


Do tu tập
pháp môn này sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đó chính là Quả.


 


E. Kinh đề tổng
luận
(luận chung về tên
kinh này) 


 


Trong kinh này,
Phật là thuộc về Lý, về Quả, tức là Pháp Thân đức. A Di Đà là Hạnh. Kinh này
đặc biệt chỉ dạy diệu hạnh Trì Danh, đấy tức là Bát Nhã đức. Chữ Thuyết và chữ
Kinh thuộc về Giáo, tức là Giải Thoát Đức.


Nếu phối hợp với
Tam Bát Nhã để giải thích thì: Phật là Thật Tướng Bát Nhã, A Di ĐàQuán
Chiếu Bát Nhã
, Thuyết và Kinh là Văn Tự Bát Nhã.


Tên gọi
của kinh này có những nghĩa lý như thế, văn nghĩa của kinh này cũng có vô lượng
nghĩa
như thế, chẳng thể luận bàn trọn vẹn được.


 


F. Phiên dịch
kinh nhân
(người phiên
dịch
kinh)


 Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch


 


1. Dao Tần:


 


Trong lịch sử
Trung Hoa có nhiều triều đại cùng mang danh xưng là Tần nên để phân biệt, ta
thường thêm họ của người sáng lập vương triều ấy vào trước tên triều đại.


 Vào đời nhà Chu, Chu Hiếu Vương phong đất Thiểm Tây cho Phi Tử, đặt hiệu cho
đất phong là Tần. Phi Tử là hậu duệ của Bá Ích, rất tinh thông về thuật luyện
ngựa nên được nhà vua rất yêu quý. Hậu duệ của Phi Tử là Doanh Chính thôn tính
lục quốc, thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tần, xưng đế hiệu là Tần Thủy Hoàng
Đế, truyền được ba đời. Đấy là nhà Doanh Tần (246-206 trước công nguyên). 


 Đến thời Tam Quốc, Tư Mã Viêm thôn tính Đông Ngô, Bắc Ngụy, Tây Thục; lập ra
nhà Tấn. Truyền đến đời Tấn Nguyên Đế (húy là Tư Mã Duệ 317-323), triều đình
suy yếu, các tướng lãnh nổi lên cát cứ mỗi phương, lập ra những triều đại song
hành với nhà Đông Tấn. Sử gọi là thời Nam Bắc Triều. Phương Nam có bốn triều
đại
của Hán tộc là Tống, Tề, Lương, Trần. Phía Bắc có nhà Hậu Ngụy (chia làm
Đông Ngụy và Tây Ngụy), Bắc Tề, Bắc Lương, Tiền Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần, Lưu
Tống, Tiền Yên, Hậu Yên… Đông Ngụy bị nhà Bắc Tề diệt, Bắc Tề và Tây Ngụy bị
nhà Bắc Chu soán ngôi.


 Nhà Tiền Tần còn gọi là Phù Tần, do Phù Kiên lập ra ở đất Quan Trung. Vì Quan
Trung thuộc đất Thiểm Tây (đất Tần cũ), nên xưng quốc hiệu là Tần. Do tham
vọng
, Phù Kiên xua quân đánh chiếm Đông Tấn, nhưng bị thất trận. Trên đường rút
lui, Phù Kiên bị một bộ tướng là Dao Trành hạ sát, soán đoạt vương vị. Dao
Trành vẫn xưng quốc hiệu là Tần. Sử gọi là triều đại ấy là nhà Hậu Tần hay Dao
Tần
.


 Nhà Hậu Tần truyền được ba đời, tổng cộng 34 năm. Ngài La Thập dịch kinh ở kinh
đô Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay) của nhà Hậu Tần dưới thời Dao
Hưng
, nên Ngài đề thời đạiDao Tần


 


b. Tam Tạng Pháp
:


 b.1. Tam Tạng:


Tam Tạng
là danh xưng chung của hết thảy kinh điển Phật giáo.


Hiểu tổng quát,
Tam là số lượng (ba thể loại: Kinh, Luật, Luận). Tạng là hàm tàng (chứa đựng),
ngụ ý: về mặt hình thức, Tam Tạng hàm chứa rất nhiều văn tự, quyển, bộ; về mặt
thực chất, Tam Tạng hàm chứa hết thảy nghĩa lý.


Hiểu chi tiết,
toàn bộ kinh điển Phật giáo được chia thành ba tạng:


Kinh Tạng: ghi
chép toàn bộ những lời thuyết pháp của đức Thế Tôn


Luật Tạng: ghi
chép những cấm giới dành cho thất chúng Phật tử do Phật đã chế lập.


Luận Tạng: là
những điều biện luận về giáo lý giữa Phật và chư đại đệ tử, cũng như những
trước thuật của lịch đại tổ sư nhằm xiển minh giáo nghĩa. 


Những điều được
thuyết minh trong Tam Tạng không ngoài tam học: Giới, Định, Huệ. Kinh Tạng minh
thị
nhất tâm, hiển thị pháp tánh nên thuộc Định học. Luật tạng thúc liễm tam
nghiệp
nên thuộc về Giới học. Luận tạng phân biện tà chánh, nên thuộc về Huệ
học
.


 


b.2. Pháp sư:


Chữ Pháp Sư có thể
giải thích theo ba mức độ:


 


* Giải thích
theo mặt chữ
:


Pháp nghĩa là quy
tắc
, Sư nghĩa là đạt đến trình độ bậc thầy. Mọi sự phải có quy tắc làm khuôn
mẫu thì mới có thể hợp tình, xứng lý. Một vật phải qua tay nhà nghề bậc thầy
gọt giũa, đào luyện mới có thể đạt đến mức tận thiện, tận mỹ.


 Học Phật cũng thế. Nếu dùng những quy tắc Phật pháp để chỉ đạo hành vi của mình
lẫn người, khiến cho mọi hành vi đều xứng hợp với khuôn mẫu chánh đáng; dùng
gươm trí huệ Phật pháp chạm trổ, gọt giũa nhân cách của mình lẫn người thì cả
mình lẫn người mới trở thành những con người tận thiện tận mỹ. Bậc có khả năng
làm được như vậy gọi là Pháp Sư.


 


 * Căn cứ theo Phật pháp để giải thích:


Pháp là chánh pháp
do đức Phật đã giảng. Sư nghĩa là khuôn phép. Người xuất gia tinh thông Tam
Tạng
, đáng làm khuôn phép cho trời người noi theo thì được gọi là Pháp Sư.


 


* Căn cứ trên
hạnh tự lợi, lợi tha:


 Nếu tự mình có thể tuân phụng Tam Tạng giáo pháp của chư Phật thì gọi là Sư.
Dùng giáo pháp ấy để tu trì cho chính mình thì gọi là Tự Lợi Pháp Sư. Diễn
thuyết
những giáo pháp ấy để hóa độ, dìu dắt chúng sanh thì gọi là Lợi Tha Pháp
.


 Ngài Cưu Ma La Thập được tôn xưng là Tam Tạng Pháp Sư vì không những Ngài thông
suốt
tinh tường cả ba tạng mà còn là bậc thật tu Giới Định Huệ, là bậc pháp sư
tự mình phụng trì Phật pháp, lại còn có khả năng dùng Phật pháp hóa độ, dìu dắt
chúng sanh, đầy đủ hạnh tự lợi, lợi tha, kham làm bậc gương mẫu cho cả trời lẫn
người noi theo.


 


 c. Cưu Ma La Thập:


 


Đọc cho đủ âm phải
Cưu Ma La Kỳ Bà (Kumarajiva), Hán dịch là Đồng Thọ, hàm ý: tuổi nhỏ nhưng đã
đức hạnh của một bậc lão thành. Cha Ngài là Cưu Ma La Viêm, dòng dõi đời đời
làm tướng quốc ở Trung Thiên Trúc. Ông La Viêm chẳng muốn làm Tể Tướng bèn xin
vua cho phép đi thăm các nước, đi đến xứ Quy Tư (hoặc còn đọc là Cưu Ty, nay là
huyện Khố Xa, Tân Cương).


 Quốc vương Quy Tư hâm mộ đức hạnh, học vấn của Ngài nên thỉnh ông làm quốc sư,
gả em gái cho. Họ sinh được người con tài danhPháp Sư La Thập.


 Năm bảy tuổi, Sư theo mẹ lên chùa lễ Phật, thấy một cái bát sắt đặt trước
tượng. Sư cầm giở lên xem, chợt nghĩ: “Mình còn nhỏ làm sao đủ sức giở nổi cái
bát to như thế này?”, bèn cảm thấy bát nặng giở lên không nổi. Do vậy, Ngài đại
ngộ
diệu chỉ “vạn pháp duy tâm”. Chẳng lâu sau, cha mất, Ngài theo mẹ xuất gia.
Từ năm lên chín tuổi, Sư đã theo mẹ đi khắp các xứ trong Thiên Trúc học đạo.
Thoạt đầu, Ngài học các kinh luận Tiểu Thừa với Ngài Bàn Đầu Đạt Đa
(Bandhudatta) xứ Kế Tân. Rồi theo Ngài Tu Lê Da Tô Ma (Suryasoma) học kinh Đại
Thừa
, theo Ngài Tỳ Ma La học Luật.


 Ngài La Thập thông minh dị thường, mỗi ngày tụng thuộc cả ngàn bài kệ, nên
nhanh chóng bác thông Tam Tạng, thâm đạt nghĩa lý Đại Thừa. Ngài tinh thông cả
những ngoại điển như Tứ Vi Đà, Ngũ Minh v.v… Pháp Sư biện tài vô ngại lại
thêm học thức siêu tuyệt nên từng hàng phục nhiều tay ngoại đạo trứ danh đương
thời. Bởi đó, danh tiếng Ngài chấn động khắp toàn xứ Ấn Độ. Khi các quốc vương
Tây Vực thỉnh Ngài thuyết pháp, họ thường bày pháp tòa sư tử bằng vàng, thỉnh
Ngài đăng tọa, rồi quỳ gối nghe giảng. 


 Khi lâm chung, mẹ Ngài dặn dò: “Duyên hóa độ của con ở tại phương Đông, Phật
pháp
tại đó sẽ nhờ con mà được hưng thịnh”. Tuân theo di huấn, Ngài trở về
phương Đông, trụ tại nước Quy Tư, được quốc vương rất mực ưu đãi, kính trọng.


 Khi ấy, Phù Kiên đã chiếm cứ Thiểm Tây, lập ra nhà Tiền Tần. Người dân trong
nước ấy mỗi đêm thường thấy ở phương Tây Nam có hào quang ngất trời, ai nấy đều
lấy làm lạ. Quan Thái Sử tâu với vua: “Phương Tây Nam có bậc đại trí huệ thánh giả.
Theo phương hướng mà suy, vị ấy ắt đang ở trong nước Quy Tư”. Vua bảo: “Ta nghe
tiếng Pháp Sư Cưu Ma La Thập đã lâu. Ngài trí huệ hơn người, học vấn xuất
chúng. Ông nên đem binh qua đó thương nghị với vua xứ Quy Tư, được thì tốt.
Không được thì diệt luôn nước ấy”.


 Nói xong, vua sai Lữ Quang lãnh mấy vạn binh rầm rộ kéo sang Quy Tư. Nhận thấy
Quy Tư binh ít, thế cô, khó lòng bảo tồn đất nước, Ngài La Thập khuyên quốc
vương
nên để cho Ngài theo Lữ Quang sang Trung Hoa. Trong khi ấy, nhân dịp Phù
Kiên
chinh phạt Đông Tấn thất bại, Dao Trành làm phản giết chết vua, tự xưng
đế. Lữ Quang đi đến Lương Châu, nghe tin đó, bèn chiếm cứ Lương Châu, tự xưng
Tam Hà Vương, đặt quốc hiệu Lương. Trong thời gian bị giữ tại Lương Châu,
Pháp Sư La Thập dành trọn thời gian học hỏi văn hóa, triết học Trung Quốc.


 Sau khi Dao Trành chết, Dao Hưng kế vị, bèn cử binh công hãm Lương Châu, tiêu
diệt
vây cánh của Lữ Quang, đón được Ngài La Thập về Tần, tôn làm Quốc Sư, dành
riêng vườn Tiêu Dao làm đạo tràng dịch kinh cho Ngài La Thập. Người tham dự đạo
tràng
dịch kinh có khi lên đến cả ba ngàn người. Những vị hữu danh là Tăng
Triệu
, Tăng Duệ, Đạo Sanh, Đạo Dung, thường được xưng tụng là “Thập môn tứ
kiệt” (bốn tay kiệt hiệt dưới trướng Ngài La Thập). Những bản kinh Ngài dịch
được lưu hành rộng rãi nhất là Pháp Hoa, Duy Ma Cật, Kim Cangkinh A Di Đà
này.


Lúc gần viên tịch,
Pháp Sư từng phát nguyện: “Nguyện những bản kinh luận tôi dịch được lưu truyền
rộng rãi trong thế gian. Nếu những bản dịch ấy không trái với Phật ý, thì sau
khi tôi chết, dù thiêu thân lưỡi tôi vẫn không nát”. Ngài viên tịch vào ngày 12
tháng Tám năm Hoằng Thỉ thứ mười lăm (sách Nhị Khóa Hiệp Giải ghi là năm Hoằng
Thỉ thứ 18), thọ 74 tuổi. Khi đại chúng cử hành lễ trà tỳ nhục thân Ngài ở vườn
Tiêu Dao, toàn thân cháy tan, riêng cái lưỡi còn nguyên vẹn, màu sắc tươi nhuận
như khi sống. Tương truyền, Ngài là bậc dịch kinh của cả bảy đức Phật.


 


3. Dịch:


 


Dịch là phiên
dịch
, tức là chuyển dịch ý nghĩa từ tiếng Phạn sang Hoa văn. Ở Trung Hoa vào
thời cổ, vua đặt các chức quan ở bốn phương đặc trách việc chuyển dịch ngôn ngữ
của các lân quốc sang tiếng Hán. Chức quan này ở phương Nam gọi là Tượng, ở
phương Bắc gọi là Dịch, ở phương Tây gọi là Địch Đề, ở phương Đông gọi là Ký.


Kinh Phật từ
phương Tây Trung Hoa truyền vào, lẽ ra phải dùng chữ Địch Đề, nhưng sao lại
dùng chữ Dịch? Ấy là do hai vị Ca Diếp Ma ĐằngTrúc Pháp Lan là những bậc
dịch kinh tiên khởi của Trung Hoa đã theo đường phương Bắc vào Tàu. Các bản
dịch của hai Ngài được quan đặc trách ngôn ngữ phương Bắc phê duyệt nên dùng
chữ Dịch. Từ đó, các thế hệ sau đều tuân theo cách gọi này.


Bản kinh A Di Đà
này được Ngài La Thập dịch vào ngày mồng Tám tháng Hai năm Hoằng Thỉ thứ tư
(402) tại chùa Thảo Đường.


 


X. CHÁNH THÍCH KINH VĂN (phần giải thích kinh văn)


 


Người đầu
tiên đề xướng khái niệm phân chia kinh văn thành ba phần: Tự, Chánh Tông, Lưu
Thông
là Ngài Thích Đạo An (313-385). Đương thời, Ngài bị các bậc học giả đả
kích
quyết liệt. Họ công kích Ngài là tự thị thông minh, thiện tiện phân chia
kinh văn khiến thánh giáo bị rối loạn.


Mãi đến
đời Đường, khi bản Phật Tâm Địa Luận của Thân Quang Bồ Tát được truyền vào Tàu,
trong luận ghi rõ: “Phàm là kinh Phật, chẳng luận Đại Thừa, Tiểu Thừa, đều
có đủ ba phần”
, các học giả đương thời mới mô phỏng theo cách Ngài Đạo An
đề xướng để giải thích kinh điển.


Tự phần trình bày
duyên do phát khởi bản kinh, Chánh Tông là phần xiển minh yếu chỉ của kinh, Lưu
Thông
là phần tường thuật danh đề, sự lưu truyền của kinh.


Từ “như thị ngã
văn” cho đến “kim hiện tại thuyết pháp” là Tự Phần.


Từ “Xá Lợi Phất!
Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” cho đến “nguyện sanh bỉ quốc” là phần Chánh Tông.


Từ “Xá Lợi Phất!
Như ngã kim giả tán thán A Di Đà Phật” cho đến “tác lễ nhi khứ” là phần Lưu
Thông
.


 


A. TỰ PHẦN


Gồm hai
phần: Thông tự (chứng tín tự) và Biệt Tự.


 


1. THÔNG TỰ:


1.1. Lục chủng
thành tựu:


 


Gọi là Thông vì
kinh nào cũng gồm đủ sáu điều. Sáu điều như thế nhằm xác chứng bản kinh này
đích xác từ kim khẩu của Đức Phật thuyết ra, nên còn gọi là Lục Chủng Thành Tựu
(sáu điều thành tựu): Tín Thành Tựu, Văn Thành Tựu, Thời Thành Tựu, Chủ Thành
Tựu
, Xứ Thành Tựu và Chúng Thành Tựu.


Biển cả Phật pháp
do tín tâm mà được vào; nên nếu khôngtín tâm thì làm sao pháp hội thành tựu
được? Vì vậy, Lục Chủng Thành Tựu lấy Tín làm đầu.


Trong các căn, nhĩ
căn
của chúng sanh tại cõi Sa Bà này lanh lợi nhất, nên để hóa độ chúng sanh,
Đức Phật phải thuyết pháp. Nếu không có kẻ nghe, pháp hội cũng chẳng thể thành
tựu
được, nên phải có Văn Thành Tựu.


Đã thuyết pháp thì
phải có thời gian thuận tiện, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt hay khi đang ly
loạn, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Thời Thành Tựu.


Nếu không có người
đứng đầu thuyết pháp thì dù có đủ cả năm nhân duyên kia, pháp hội vẫn không thể
thành tựu được. Vì thế, phải có Chủ Thành Tựu.


Nếu không có nơi
chốn để thuyết pháp thì pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Xứ
Thành Tựu.


Giảng kinh, thuyết
pháp
để cho đại chúng nghe. Nếu khôngđại chúng nghe pháp thì giảng pháp cho
ai. Vì thế phải có Chúng Thành Tựu.


 


1.2. Tiền ngũ
chủng thành tựu
(năm thứ
thành tựu đầu)


 


Chánh kinh:


 


Như thị ngã
văn
: Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.


 


 Giải:


Câu kinh này không
phải là lời Đức Phật nói mà là do người kết tập kinh thêm vào. 


“Như thị” là Tín
Thành Tựu, “ngã văn” là Văn Thành Tựu.


 


1.2.1 Như thị:


Chữ “như thị” ngụ
ý việc gì đúng đắn, đáng tin tưởng được. Việc gì đáng tin thì gọi là Như Thị,
chẳng đáng tin gọi là Bất Như Thị.


Chẳng khác là Như,
chẳng sai là Thị. Nghĩa là sau khi Đức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển,
Phật dạy sao, Ngài A Nan cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may.
Đó là Như. Lời Phật dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là
Thị.


Hơn nữa, khi kết
tập
Kinh Tạng, đại chúng cung thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hãy nói
đúng
như thế ấy”
; Ngài A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi
đã được nghe”.
Vì thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ý tín thuận.


Chữ Như Thị còn có
thể hiểu theo hai nghĩa Thông và Biệt như sau:


a. Về Thông nghĩa,
chữ Như Thị chỉ về Thật Tướng. Xét về Lý, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi
Như. Xét về Thể, Thật Tướng lìa hết thảy hư vọng, hý luận. Đó là Thị. 


b. Nếu ước theo
Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm
Bất Loạn
là Như, Quyết Định Vãng Sanh là Thị.


Hơn nữa, tâm chẳng
khác Phật, Phật chẳng khác tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy
chính là tâm này nên gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng
nhất thể, duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà nên gọi là Như Thị.


Nếu ước theo chúng
sanh
niệm Phật thì đạt được nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định vãng
sanh
Cực Lạc là Thị.


Nếu ước theo cảnh
giới Cực Lạc
thì cõi Cực Lạc chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại,
không” nên là Như; cảnh giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư
huyễn nên gọi là Thị.


Hơn nữa, xét theo
chánh báo, chúng sanh cõi Cực Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng
giống với huyễn thân của chúng sanh cõi Sa Bàsanh tử; cho nên gọi là Như.
Hoa nở gặp Phật, chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.


Nếu ước theo đức
Di
Đà Như Lai mà nói thì bốn mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu
kiếp tu hành đúng như thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như.
Nay đã thành tựu, thỏa mãn sở nguyện, tạo thành cõi Cực Lạc để độ khắp chúng
sanh
niệm Phật, từ khi thành Phật đến nay đã là mười kiếp, thật chẳng phải là
chuyện hư vọng nên gọi là Thị.


Hơn nữa, y báo,
chánh báo cõi Cực Lạc đều là chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù
thắng
trang nghiêm trong cõi Cực Lạc, không điều gì chẳng phải do công đức
nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành và do tâm niệm của
chúng sanh niệm Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.


Hơn nữa, pháp môn
Niệm Phật
thù thắng bậc nhất, không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như.
Tuân lời Phật dạy, niệm Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.


 


 1.2.2. “Ngã văn”


 


“Ngã văn” là Văn
Thành Tựu
, ngụ ý: pháp như thế ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.


Phàm những lời Đức
Phật
đã giảng, Ngài A Nan đều lãnh hội, chẳng quên một câu nào, nên Đức Phật
từng tán thán: “Phật pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.


 Chữ Ngã ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt
bẻ: “Phật pháp coi Ngã Chấp là căn bịnh chấp trước lớn và là căn bản của mọi sự
ác. Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả sao còn chấp ngã tướng như vậy?” Xin trả lời:
Ngã có nhiều thứ bất đồng:


 – Vọng ngã: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc thân tứ đại chẳng phải là Ngã
vọng chấp là Ngã.


 – Thần ngã: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấmThần Ngã.


 – Giả ngã: Nhị Thừa hiểu rõ Ngũ Ấm chẳng phải là Ngã, nhưng giả nói có Ngã.


 – Chân ngã: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp Thân, gọi là Chân Ngã.


Tự tại ngã: Từ
quả khởi dụng, hoằng pháp lợi sanh, gọi là Tự Tại Ngã.


 Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả, đã đoạn sạch phiền não trong tam giới, đã trừ khử
được ngã chấp lầm lạc của phàm phu, không còn dính mắc nơi tà kiến chấp ngã của
ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngã giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta
cùng A Nan ở chỗ Phật Không Vương đồng thời
phát Bồ Đề tâm”,
cho thấy Ngài A Nan chỉ quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ
công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo
thế tục giả xưng là Ngã. Đấy là phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp
Thân đại sĩ
đó thôi.


 Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngã, chẳng nói là Vô Ngã là vì các nguyên nhân sau:


 – Vì dễ nói: Nếu nói là Vô Ngã thì trong ba thứ Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối
tượng lãnh thọ kinh này?


 – Thuận theo thế gian mà nói Ngã.


 – Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi nghe nói Vô Ngã. Đại chúng nghe
nói Vô Ngã sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?


 Nếu vậy, tại sao không nói rõ là “A Nan tôi nghe” mà lại chỉ chép là “ngã văn?”


 Vì các lý do sau đây:


 – Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân Đế, nhưng trong Tự Phần chẳng
dùng văn tự trái nghịch với Tục Đế. Về lý tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ
chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói chung là: Tuy hiển thị Chân Đế nhưng chẳng
rời Tục Đế vậy. 


 – Chữ Ngã có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện ghi: “Có ba A Nan: Một là A
Nan Đà
(Khánh Hỷ) trì Thanh Văn Tạng; hai là A Nan Bạt Đà (Hỷ Hiền) trì Độc
Giác
Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải) trì Bồ Tát Tạng”.
Thật ra chỉ có một
vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra ba tên như
thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn nghĩa đều trọn đủ,
lại tổng trì Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh thì đối với các pháp sẽ
chẳng được tự tại (vì còn hạn cuộc vào một pháp nhất định). Vì thế, Ngài phải
xưng là Ngã để trọn đủ nghĩa “tự tại”.


 – Chữ “Ngã” ngụ ý là đích thân. Thế gian hay nói “đích thân tôi nghe thấy” sự
như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe
nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được nghe từ nơi Thế Tôn.


 Nhĩ căn nhận lãnh âm thanh gọi là Văn (nghe). Tai nghe nhưng lại bảo là “ngã
văn” vì Ngã là chủ thể, Nghe là công dụng của nhĩ căn, mà thân lại chính là
tổng thể của sáu căn. Vì thế, dựa theo tổng thể mà nói nên chép là “ngã văn”.


 Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lý,
trước hết phải nghe pháp. Cõi Sa Bà này dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng
Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được
công dụng để thành tựu đạo xuất thế.


 Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngã ở đây là Chân Ngã nơi tự tánh. Dùng cái chân ngã nơi
tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ
căn
công dụng thô phù, chỉ lãnh nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa
phải là “nghe” một cách chân thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân
tâm
để lắng nghe nên gọi là “ngã văn”. 


 


1.2.3. Tín văn
duyên do
(nguyên do phải
có Tín Thành TựuVăn Thành Tựu)


 Tín Thành TựuVăn Thành Tựu nhằm phát khởi tín tâm nơi thính giả. Tín tâm
phát khởi mới có thể y giáo tu hành, đạt được lợi ích chân thật.


 Nói tổng quát, đầu các kinh phải đề bốn chữ “như thị ngã văn” vì:


 


a. Tuân thủ lời
di chúc của Phật
:


 


Hết thảy kinh điển
đều do đích thân Đức Phật thuyết ra; nhưng lúc Phật còn tại thế kinh điển chưa
được ghi chép lại. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan bi cảm, khóc lóc thảm
thiết
. Trưởng lão A Na Luật khuyên A Nan nên nén lòng, hỏi Phật bốn điều: “Lúc
Phật còn tại thế, chúng con nương vào Phật mà trụ. Khi Phật đã nhập diệt rồi,
nên nương vào đâu? Lúc Phật còn tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật nhập diệt rồi,
lấy gì làm thầy? Phật còn tại thế, Ngài tự điều phục ác tánh tỳ kheo; nay Phật
mất đi, làm sao
điều phục? Hết thảy kinh giáo Đức Phật đã thuyết, đến
khi kết tập nên để thế nào, để cho hậu thế dốc lòng tin tưởng?”


Phật dạy: “Nên
lấy giới làm thầy, y theo Tứ Niệm Xứ mà trụ. Bọn tỳ kheo khác nên dùng biện
pháp
mặc tẫn để trị phạt
(“mặc tẫn” là im lặng, không chuyện trò, giao
thiệp
với họ để cô lập họ). Đầu hết thảy các kinh nên để “như thị ngã văn
nhất thời Phật tại mỗ xứ dữ đệ tử nhược can câu”
(tôi nghe đúng như thế
này: Một thời Đức Phật ngự tại chỗ mỗ), cùng với bao nhiêu đệ tử nhóm họp).


 


b. Đoạn nghi
hoặc
:


 


Lúc kết tập kinh
điển
, A Nan lên pháp tòa, đột nhiên tướng hảo trang nghiêm giống hệt như Phật,
khiến cho thính chúng phát khởi ba thứ nghi vấn: Một là nghi Phật sống lại, hai
là nghi Phật từ phương khác đến, ba là nghi A Nan đã thành Phật. Khi Ngài A Nan
xướng to “như thị ngã văn”, ba mối nghi ấy đều trừ sạch.


 


c. Dứt tranh
cãi:


 


Khi kết tập, Ngài
A Nan thị hiện mới chứng Sơ Quả, đức hạnh còn thua các trưởng lão A La Hán
khác, huống hồ là các bậc địa thượng Bồ Tát (địa thượng Bồ Tát là các vị Bồ Tát
đã chứng từ Sơ Địa trở lên)? Nếu chẳng nói “như thị ngã văn’, ắt sẽ có vị bắt
bẻ, cho rằng những kinh pháp đó do A Nan tự ý nói ra. Nay nói những pháp ấy đều
do đích thân Ngài nghe từ Đức Phật thì đại chúng đều công nhận A Nan là bậc đa
văn đệ nhất
, nghe qua tai chẳng hề quên mất, nên sẽ không tranh biện nữa.


 


d. Khác với
kinh điển ngoại đạo:


 


Kinh
ngoại đạo thường bắt đầu bằng hai chữ “A Ưu”. A là không, Ưu là có. Họ dùng hai
chữ ấy với ngụ ý có và không đều đủ cả chẳng khuyết. Nay dùng sáu thứ thành tựu
để giúp người học Phật phân biệt giữa kinh Phật và kinh ngoại đạo.


 


1.2.4. Nhất
thời


 


“Nhất thời” là
Thời Thành Tựu (thời tiết nhân duyên chưa đến thì chưa ban đại pháp, đúng thời
mới thuyết pháp nên gọi là Thời Thành Tựu).


Thời không có thực
thể
nhất định, chỉ là từ sự mà đặt tên, chẳng hạn như thời thuyết pháp, thời
làm việc v.v… Đức Phật thuyết pháp trên cõi trời, hoặc ở long cung, hoặc nơi
chốn quỷ. Do xứ sở sai khác nên thời gian cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn năm
mươi năm trên cõi người chỉ bằng đúng một ngày nơi cõi Tứ Thiên Vương, ở Nam
Thiệm Bộ Châu
vừa đúng ngọ, Bắc Câu Lô Châu đã sang canh ba; lịch pháp của Đông
phương
khác với lịch Tây Phương. Bởi thế chẳng thể xác quyết là năm tháng nào,
ngày giờ nào.


Hiểu theo Duy
Thức
, chữ Thời có hai nghĩa:


 – Một là “đạo lý thời”: Trong từng sát na, ngũ uẩn của người nói lẫn kẻ nghe
sanh diệt liên tục, thành ra dường như có trước, có sau, nên mới giả lậptam
thế
. Cứ mỗi một khoảng sanh diệt ấy gọi là Nhất Thời vậy.


 – Hai là “duy thức thời”: nơi tâm thức của người nói, kẻ nghe sanh khởi tướng
trạng ba thời. Do tâm tưởng phân biệt của chúng sanh mà thấy có thời gian dài
ngắn, khi sự việc kết thúc thì gọi là “nhất thời”. Khác nào như nằm mộng tưởng
là đã trải qua nhiều đời, tỉnh giấc mới biết toàn là những sự biến hiện trong
tâm chứ chẳng có cảnh thật. Tâm của người nghe sanh khởi ý niệm tam thế cũng
như vậy.


 Như vậy, cứ mỗi khi người nghe căn cơ thuần thục sẽ cảm được Đức Phật thuyết
pháp
. Đức Phật từ bi ứng cơ, nói và vừa xong thì gọi là Nhất Thời.


 


 1.2.5. Phật:


 Phật là Chủ Thành Tựu (nếu thuyết pháp không có người làm chủ thì biết nhờ vào
ai để khai hiển giáo pháp). Phật ở đây là đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Phật
đầy đủ ba thứ giác như phần trên đã giảng. Ngài là bậc đại giác thánh nhân,
công đức viên mãn tột bậc.


 


 1.2.6. “Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên”:


 


Đây là Xứ Thành
Tựu
.


a. “Tại” có nghĩa
là trụ. Pháp thân chư Phật vô trụ, vô bất trụ. Pháp thân vốn vô hình vô tướng
nên bảo là “vô trụ”. Tâm lượng bao trùm trọn khắp pháp giới nên bảo là “vô bất
trụ”. Báo thân chẳng trụ, hễ gặp đại căn cơ cảm phát thì trụ, như trong hội Hoa
Nghiêm
Phật hiện thân Tỳ Lô Giá Na (Hán dịch là Quang Minh Biến Mãn) để thuyết
giáo pháp viên đốn. Ứng thân cũng chẳng trụ, toàn là do căn cơ của chúng sanh
cảm ứng mà được thấy, tùy từng loại chúng sanh mà thấy thân Phật khác nhau.


Ứng thân ứng hiện
theo căn cơ để thuyết pháp thì giả gọi là Trụ. Chẳng hạn như đức Bổn Sư trụ thế
tám mươi năm, khi căn cơ hóa độ đã hết, ứng thân liền diệt. Nay trong kinh này,
Phật trụ tại nước Xá Vệ, ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.


b. Xá Vệ là tên
một thành phố, gọi cho đúng là Thất Lợi La Phiệt Tất Để, chính là đô thành của
nước Kiều Tát La (Hán dịch là Công Xảo). Kiều Tát La là một trong mười sáu nước
lớn ở Trung Ấn Độ thời ấy. Ở đây nói “Xá Vệ Quốc” là gọi tên nước theo kinh đô
vậy. 


Xá Vệ, Hán dịch là
Văn Vật hoặc Phong Đức, ngụ ý sản vật tươi tốt, dồi dào nổi danh khắp các nước.
Nước có nhiều của cải sản vật là Phong, dân trong nước có nhiều người giải
thoát
đa văn là Đức. Theo kinh Kim Cang Bát Nhã, thuở xưa có hai anh em tu tiên
đắc quả tại đó nên thành ấy được mang tên là Xá Đề Bà (cách phiên âm khác của
chữ Xá Vệ). Cách thành ấy sáu dặm có một hoa viên lớn, thuộc quyền sở hữu của
thái tử Kỳ Đà.


c. Chữ Kỳ trong
“Kỳ thọ” chỉ thái tử Kỳ Đà (còn phiên âm là Thệ Đa – Jeta, nên vườn Kỳ Đà còn
gọi là Thệ Đa Lâm. Thái tử là con vua Ba Tư Nặc (Hán dịch là Hòa Duyệt hay
Thắng Quân). Kỳ Đà nghĩa là Chiến Thắng vì khi vua Ba Tư Nặc giao tranh cùng
lân quốc, chiến thắng hồi triều nhằm đúng lúc Thái Tử sanh ra nên đặt tên con
như thế. Thọ là cây cối.


Cấp Cô Độc là tên
một vị Trưởng Giả, là một đại thần của vua Ba Tư Nặc, tên thậtTu Đạt Đa
(còn gọi tắt là Tu Đạt, Hán dịch là Thiện Thí). Cấp có nghĩa là chu cấp, chẩn
tế
. Trẻ nhỏ không cha gọi là Cô, người già không con gọi là Độc. Già không vợ
gọi là Quan, già không chồng gọi là Quả. Đó là bốn hạng người khốn khổ trong
hội
. Ở đây chỉ dùng hai chữ “Cô Độc” để bao gồm cả hai loại kia, cũng như tất
cả những người bần cùng, khốn khổ khác. Ông Tu Đạt Đa thường đem của cải chu
cấp
, cứu giúp những người nghèo cùng khốn khổ, cô đơn, nên được mỹ hiệu là Cấp
Cô Độc
.


Khi Đức Phật còn
ngự tại nước Ma Kiệt Đà, chưa đến Xá Vệ, ông Tu Đạt Đa vì cưới vợ cho con phải
qua thành Vương Xá, ở tại nhà trưởng giả San Đàn Na, thấy ông San Đàn Na nửa
đêm thức dậy, đốc thúc gia nhân sửa soạn tiệc chay. Ông Tu Đạt Đa hỏi bạn:
“Ngài muốn thỉnh quốc vương đến nhà hay là làm tiệc chúc thọ vậy?” Ông kia đáp:
“Đâu phải! Tôi muốn thỉnh Phật Đà đến cúng dường”. Tu Đạt Đa nghe đến hai chữ
Phật Đà, lông trên thân dựng cả lên, trong lòng khoan khoái, hỏi: “Phật Đà là
ai?” San Đà Na liền thuật tỉ mỉ các công đức của Phật.


Tu Đạt Đa nghe
xong, thiện căn đời trước lập tức phát khởi, hoan hỷ, náo nức, sanh lòng kính
mộ sâu xa, liền hỏi Phật đang ở đâu? Khi biết đức Thế Tôn đang ở Trúc Lâm Tinh
, ông mong được đến gặp Phật ngay. Phật biết tâm ông khát ngưỡng thiết tha
nên từ bi phóng đại quang minh khiến đêm đen sáng trưng như ban ngày. Theo ánh
sáng, ông tìm đến Trúc Lâm cách nhà trưởng giả San Đàn Na hơn năm mươi dặm.


Trong khi đi đường, ông
thấy miếu thờ trời bèn tạt vào làm lễ. Ánh quang minh liền tắt phụt. Tu Đạt Đa
sanh lòng hổ thẹn, ánh Phật quang lại rạng ngời như cũ, Đến nơi, ông thấy Phật
đang đi kinh hành trong sân. Thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật, ông càng
thêm kính ngưỡng, nhưng chưa biết lễ kính thế nào. Khi ấy, Thủ Đà Thiên trên
không
liền hóa ra bốn người đến trước Thế Tôn đầu mặt lạy chân Phật, nhiễu theo
chiều phải ba vòng, hồ quỳ, chắp tay thưa hỏi. Tu Đạt Đa theo đúng cách thức đó
lễ Phật.


Phật giảng pháp Tứ Đế,
ông xiết bao hoan hỷ, cảm ngộ, chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, bèn thỉnh Phật quang
lâm Xá Vệ. Phật bảo phải có tinh xá để chứa đựng chúng Tăng, ông bèn thỉnh Phật
chỉ dạy cách thức kiến thiết tinh xá. Phật sai Ngài Xá Lợi Phất theo ông qua
Vệ
để hướng dẫn việc lập tinh xá.


Xem khắp trong
nước, Ngài Xá Lợi Phất thấy chỉ mỗi hoa viên của thái tử Kỳ Đà là nơi thích hợp
hơn cả. Tu Đạt Đa bèn đến xin mua lại hoa viên của Thái Tử, Thái Tử nghe vậy
bèn nói giỡn: “Nếu khanh đem vàng lót kín đất, ta sẽ nhượng cho khanh”. Trưởng
giả
tức thời chở vàng đến lót kín vườn. Cảm động trước tấm chân thành ấy, Thái
Tử Kỳ Đà
xin dâng cúng cây trong vườn để góp công đức. Theo kinh Hiền Ngu, Đức
Phật
bảo A Nan: “Khu rừng vườn này do ông Tu Đạt mua, cây cối hoa cỏ trong
rừng thuộc sở hữu của thái tử Kỳ Đà. Hai người đồng tâm cùng lập tinh xá nên
đặt tên nơi này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên”.


 Khu tinh xá này ở phía Nam
thành Xá Vệ, gồm mười hai ngôi chùa, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm
phòng ốc, năm trăm lầu gác, được kiến lập đúng vào lúc Đức Phật đã thành đạo
được sáu năm.


 


 1.2.7. Tiền ngũ chủng thành tựu đích hiển lý (thuyết minh về mặt
lý năm điều thành tựu trên)


 


“Như thị” biểu thị
tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ: không khiếm khuyết là Như, ai cũng sẵn có là
Thị; đấy là nghĩa “tự tánh Di Đà”. Chẳng lìa ngay đương xứ là Như, toàn thể
không gì là chẳng sai sót là Thị, đấy là nghĩa “duy tâm Tịnh Độ”. 


 “Ngã văn” là tự tánh thấu suốt cùng tột mười phương. “Nhất thời” là sáu căn quy
nguyên
, Thể và Dụng dung hợp lẫn nhau. Phật ngự tại Kỳ Viên biểu thị tự tánh
chẳng lìa đương xứ. Giảng pháp này tại nước Xá Vệ là nước thù thắng, biểu thị
pháp môn Tịnh Độ rộng lớn sâu xa, là pháp tối thượng. Trong vườn ấy, cây thuộc
về Thái Tử Kỳ Đà nên cây cối nơi ấy cũng thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ
lợi lạc quần sanh, khiến họ vĩnh viễn lìa khỏi nhiệt não. Vườn ông Cấp Cô Độc
là ngôi vườn thù thắng trong các tịnh xá thời đó, biểu thị Tịnh Độ thù thắng
trang nghiêm, chúng sanh nhờ đó luôn hưởng thọ các sự an lạc.


Hơn nữa, thái tử
Kỳ Đà
thuộc giòng dõi thù thắng, biểu thị người được vãng sanh Tịnh Độ rốt ráo
thành Phật, tiếp nối giòng dõi Phật. Trưởng giả Tu Đạt là hạng người thù thắng,
biểu thị người sanh trong Tịnh Độ đều là bậc thượng thiện nhân.


 


 1.3. Chúng thành tựu


 1.3.1. Thanh Văn chúng (chúng
Thanh Văn)


 1.3.1.1. Minh hiển tiêu số (nêu rõ đức hạnh và số lượng của chúng Thanh
Văn
)


 


 Chánh kinh:


 


Dữ đại tỳ kheo tăng
thiên nhị bách ngũ thập nhân câu
.


 (Cùng với chúng đại tỳ kheo tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị cùng họp lại).


 


 Giải:


 Từ câu “Đại tỳ kheo tăng” cho đến “chư thiên đại chúng” là thuộc về Chúng Thành
Tựu
. Phải nêu rõ đại chúng nghe pháp gồm những ai là vì:


 – Để chứng tín: không phải riêng mình Ngài A Nan được nghe pháp này mà còn có
những vị như thế hiện diện, chứng thực tính chân xác của kinh.


 – Để minh định rõ đại chúng nghe pháp, ai là Quyền, ai là Thật. Phật Địa Luận
chép: “Hóa thân Phật thuyết pháp trong uế độ thì Thanh Văn là thật, Bồ Tát
là quyền. Báo thân Phật thuyết pháp trong Tịnh Độ thì Bồ Tát là thật, Thanh Văn
là quyền”
. Cõi Sa Bà này là uế độ, đương nhiên chúng Bồ Tát là quyền.


 Thính chúng nghe pháp gồm có năm loại: một là chúng đạo hạnh cao quý, hai là
chúng bi tâm rộng lớn, ba là các chư thiên ưa thích Phật pháp, bốn là nhân loại
trong Dục giới, năm là chúng phi thiên, a tu la v.v…


 Ở đây chúng Thanh Văn là những bậc đức hạnh cao quý nên được nêu trước hết.


 Hỏi: Vì sao trong các kinh khác đều kể rõ có thiên long bát bộ nghe pháp, kinh
này chỉ nói đến ngũ chúng?


 Đáp: Pháp môn Tịnh Độ đây, nếu chẳng phải là bậc thượng đức, thượng hiền thì
chẳng thể nào tin nhận nổi. Vì thế chỉ nêu năm chúng, chẳng nêu các chúng khác.


 Năm chúng đây lại có thể chia thành hai loại: nội hộ chúng và ngoại hộ chúng.
Nội hộ chúng là Thanh Văn, Bồ Tát; ngoại hộ chúng là chư thiên, nhân loại, phi
thiên


 Theo Phật Địa Luận, chúng Thanh Văn được nêu trước chúng Bồ Tát vì những nguyên
nhân
sau đây:


 – Hình tướng bất đồng: Thanh Văn là bậc xuất gia, hình tướng giống như Phật,
trì xuất gia giới. Bồ Tát không giống như vậy.


– Xét về nơi chốn
có gần hay xa: Thanh Văn gần Phật, Bồ Táthóa độ chúng sanh nên không thể
thường xuyên gần gũi Phật được.


 – Giới đức sai khác: Thanh Văn xuất gia trì giới xuất gia, Bồ Tát chẳng giống
vậy vì phải tùy thuận để hóa độ chúng sanh.


– Muốn cho hàng Bồ
Tát
chẳng sanh tâm kiêu mạn đối với chúng Thanh Văn.


 


“Một ngàn hai
trăm năm mươi người”

nói về số lượng của các vị đại đức xuất gia. “Dữ” nghĩa là cùng với.


Dùng chữ “Đại” để
phân biệt với tiểu, hàm ý những vị hiện diện trong pháp hội này chẳng phải là
hạng tiểu căn cơ, sơ tâm tỳ kheo. Trong tiếng Phạn, Đại là Ma Ha. Chữ Ma Ha gồm
đến ba nghĩa: lớn, nhiều, thù thắng. Nay chỉ dùng chữ Đại để đại diện cho cả
ba đức.


 – Các tỳ kheo được trời người kính ngưỡng, đức cao trọng vọng nên gọi là Đại,
hàm nghĩa chẳng phải là Tiểu đức. Chẳng hạn như Ngài Mục Liên là thầy của Đế
Thích
, Ngài Ca Diếp là thầy của Phạm Vương.


 – Trí huệ sâu thẳm, thông đạt thấu suốt nội điển, ngoại tịch, nên bảo là Đa,
tức chẳng phải là kẻ học thức kém cỏi.


 – Hơn hẳn chín mươi sáu thứ ngoại đạo nên bảo là Thắng, chẳng phải là căn cơ
hèn kém vậy.


 


Bồ Tát Long Thọ
lại bảo chữ Đại được dùng ở đây để ngầm nêu năm nghĩa:


 – Số đại: vì có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo dự pháp hội.


 – Ly đại: vì đã đoạn được đại chướng (phiền não).


 – Vị đại: vì họ đều là bậc đại A La Hán.


– Danh đại: tên
tuổi
lẫy lừng khắp nơi.


– Thức đại: được
bậc đại nhânđại chúng cùng biết đến.


 


Các vị tỳ kheo dự
hội đây đều là hạng mật hạnh Bồ Tát, thị hiện hình tướng Thanh Văn để hóa độ
chúng sanh. Các Ngài là bậc thường du hóa cõi Phật, trang nghiêm tịnh độ, trên
thì vận dụng trí để cầu thượng quả, dưới thì vận lòng bi để tiếp độ chúng sanh.


 


Chữ “tỳ kheo” (còn
phiên âm là Bật Sô hay Bí Xu) có năm nghĩa:


 


a.Khất sĩ:


Khất là cầu xin.
Đức Phật chế định tỳ kheo phải hành hạnh khất thực (tiếng Phạn là Phần Vệ), vì
có năm điều lợi ích: trừ tâm kiêu mạn; giúp thế nhân gieo trồng phước điền;
chẳng bị việc kinh doanh làm phiền lụy; chẳng sanh khởi ý niệm cất chứa, tham
cầu; rảnh rang để nhất tâm chuyên tu.


 “Khất” còn có nội nghĩa và ngoại nghĩa. Nội nghĩa là khất pháp nơi Đức Phật để
nuôi dưỡng huệ mạng, ngoại nghĩa là khất cầu nơi đàn việt (thí chủ) để duy trì
sắc thân


 


b. Phá ác:


Phá là trừ diệt,
Ác là kiến hoặc, tư hoặc phiền não. Như vậy, “phá ác” là diệt ác pháp phiền
não
, diệt ác nhân sanh tử trong tam giới.


 


c. Bố ma:


Hễ có người phát
tâm
xuất gia, Ma vương nghe biết rất sợ hãi, chỉ sợ người ấy thành đạo xuất thế
khiến ma chúng bị giảm bớt. Vì thế, gọi là Bố Ma (làm cho ma sợ hãi).


 


d. Trì tịnh
giới
.


 


e. Tịnh mạng:


Đã thọ giới nên
những hành vi, ngôn ngữ, ý niệm chẳng còn phát khởi từ tham tâm nữa cũng như
chẳng dùng những phương cách dâm tà để nuôi sống thân mình. 


 


“Tăng”
gọi đủ là Tăng Già, dịch là Hòa Hợp Chúng. Hòa Hợphai nghĩa Lý Hòa và Sự
Hòa:


– Đồng chứng vô vi
giải thoát là Lý Hòa.


– Sự Hòa gồm sáu
điều: Thân hòa đồng trụ (thân hòa hợp cùng trụ một chỗ), khẩu hòa vô tranh
(miệng hòa hợp không tranh cãi), ý hòa đồng duyệt (ý hòa hợp vui vẻ cùng nhau),
kiến hòa đồng giải (cùng hòa hợp chia sẻ kiến giải với nhau), giới hòa đồng tu
(cùng hòa hợp giữ giới với nhau), lợi hòa đồng quân (hòa hợp chia xẻ lợi dưỡng
đồng đều cho nhau). Đủ sáu điều hòa hợp như thế mới đáng gọi là Tăng.


 


“Một
ngàn hai trăm năm mươi người”:
Khi Đức
Phật
mới thành đạo, độ năm anh em Kiều Trần Nhưvườn Lộc Uyển (năm vị này có
quan hệ huyết thống với Phật. Mã Thắng, Tiểu Hiền, Ma Ha Namanh em
họ
bên nội; Thập Lực Ca Diếp, Kiều Trần Nhưanh em họ bên ngoại). Tiếp đó,
độ con trai của trưởng giả Da Xá và bạn bè (Da Xá đây là con trai của một vị
trưởng giả họ Câu Lê ở thành Tỳ Xá Ly thuộc nước Ba La Nại, nên gọi là Da Xá
trưởng giả tử), tổng cộng là năm mươi lăm người.


Tiếp
đó, ở rừng Mộc Qua, độ thầy trò Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tất cả là năm trăm
người. Độ thầy trò Già Da Ca Diếp ở núi Tượng Đầu và thầy trò Na Đề Ca Diếp bên
sông Ni Liên Thiền, tổng cộng là 500 người (Ca Diếp là họ, Ưu Lâu Tần Loa
rừng Mộc Qua, Già Da là núi Đầu Voi, Na Đề tức là tên gọi khác của sông Ni Liên
Thiền
. Ba anh em nhà này cùng theo ngoại đạo thờ lửa, tên đặt theo chỗ ở. Đức
Thế Tôn
độ họ sau khi Ngài đã thành đạo được ba năm).


 Kế tiếp hóa độ thầy trò của các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên gồm hai trăm
người.


 Tính chung lại tất cả gồm một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Ở đây chỉ kể
“một ngàn hai trăm năm mươi người” là tính tròn.


 Hỏi: Phật độ vô lượng chúng sanh, sao lại chỉ nêu tên một chúng này?


 Vì nhiều lý do: họ là những người quy hướng Phật giáo trước tiên, được chứng
đắc
thánh quả trước tiên, vì họ thường theo hầu Phật.


 “Câu”cùng lúc họp lại. 


 


1.3.1.2. Biểu
vị thán đức
(nêu địa vị,
khen ngợi đức)


 


Chánh kinh:


 


Giai thị đại
A La Hán
, chúng sở tri thức
.


 (Đều là đại A La Hán, [đức hạnh, nhân phẩm, đạo học của họ đều] được mọi người
hay biết (công nhận)).


 


Giải:


Câu “Đại A La
Hán”
là nêu địa vị, câu “chúng sở tri thức” nhằm tán thán đức của
các vị ấy.


Chữ “giai thị”
ngụ ý: một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo trên đây, không vị nào chẳng phải
Đại A La Hán.


Quả vị của chúng
Thanh Văn gồm có bốn bậc:


Sơ Quả Tu Đà
Hoàn
(Hán dịch là Dự Lưu), vừa mới dự vào dòng thánh.


Nhị Quả Tư Đà
Hàm
(Hán dịch là Nhất Vãng Lai hay Nhất Sanh): trong chín phẩm Tư Hoặc của