48 Tọa Đàm Về Hộ Niệm: Khế Lý Khế Cơ

 48 TỌA ĐÀM

KHẾ LÝ
KHẾ CƠ

(Trọn Bộ)

Tác Giả: Cư Sĩ
Diệu Âm (Úc Châu)

LỜI TRẦN BẠCH

Kính bạch chư Tôn Phẩm,

Kính thưa chư thiện hữu tri thức,

Những trang sách “HỘ NIỆM: KHẾ LÝ – KHẾ
” này được chư vị phát tâm ghi chép lại từ những buổi tọa đàm ngắn trong
những buổi cộng tu tại Niệm Phật Đường A-Di-Đà ở vùng Brisbane Úc-Đại-Lợi.

Bàn về vấn đềKhế Lý – Khế Cơ
thành thực xin thưa rằng, chỉ nói được với những người hiền lành hạ căn. Cụ thể
là nhắc nhở các vị Đồng Tu hữu duyên cố gắng giữ gìn tâm hồn Thanh Tịnh,
tư cách Khiêm Nhường để tu hành, hầu tránh bớt những chướng nạn của thời
mạt pháp
, vì toàn thể đồng tu chúng ta đều là hàng phàm phu, căn tánh hạ liệt,
nếu sơ ý thì đường tu có thể gặp nhiều trở ngại.

KHẾ LÝ” là đúng theo lý đạo của
Phật. “KHẾ CƠ” là cách hành trì phải hợp căn cơ của chính mình.

Bậc Thượng Căn Thượng Trí thì không cần gì
phải phân biệt vấn đềKHẾ LÝ – KHẾ CƠ”, nhưng hàng hạ căn trí cạn thì
vấn đề này rất hệ trọng.

Vì thế, người tu hành trong thời mạt pháp
này muốn được thành tựu cần phải nghiêm khắc tự xem xét cho rõ căn cơ của chính
mình.

Nếu đã cố gắng xem xét mà cũng không rõ
được căn cơ của mình là đâu, thì xin chư vị hãy nghĩ rằng chắc chắn mình phải
thuộc vào hàng hạ căn trí độn, phước mỏng chướng sâu, nhất định không dễ gì có
ngày tự chứng đạo!

Nếu quả là hàng phàm phu tội chướng sâu
nặng mà lơ là việc trạch pháp, tâm ý hiếu kỳ, ham mê chứng đắc thì rất dễ bị
chướng nạn trên con đường tu hành!

Niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ là đại pháp môn
thích ứng với mọi căn cơ. Nói như vậy không có nghĩa là người có tâm ý vọng
động, tâm ý không thanh tịnh Niệm Phật cũng được thành tựu!

Hộ Niệmpháp ứng dụng triệt để pháp
Niệm Phật, thực hiện đầy đủ ba tư lương TÍN-NGUYỆN-HẠNH, giúp người phàm phu
tội nặng, trí cạn một đời này có cơ duyên vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, viên
thành
Phật đạo.

Vậy thì, NIỆM PHẬTHỘ NIỆMVÃNG SANH
là vừa “Khế Lý” vừa “Khế Cơ” và là “Đại Cứu Tinh” cho
người hạ căn học Phật trong thời mạt pháp được thành tựu vậy.

Đây chính là nội dung của những lời tọa đàm
này.

Diệu Âm chỉ đem lòng chân thành ra trình
lên cùng chư vị, với tâm trí mộc mạc, thấp thỏm nói ra những gì thật gần gũi
với chư vị Đồng Tu quen biết và người hữu duyên, những người cùng nhận với nhau
là hàng căn cơ hạ liệt, chứ không có ý tưởng gì gọi là cao siêu cả.

Đây là bộ sách thứ hai được ghi chép lại
từ lời tọa đàm ngắn, những chuyện tọa đàm được ghi lại thành câu văn nên chắc
chắn
có nhiều lời văn thô kệch, cách diễn tả luôm thuộm, nhiều ý tưởng chưa
được thông suốt… Kính mong chư Tôn Phẩm, cùng chư Thiện Hữu Tri Thức từ bi
chỉ dạy sửa sai. Diệu Âm xin thành tâm cảm tạ, và luôn luôn kính cẩn lắng nghe,
nghiêm chỉnh suy nghiệm để sửa chữa.

Thành tâm cảm niệm công đức của tất cả chư
vị phát tâm. Công việc lắng nghe từ đĩa MP3 thiếu chất lượng để ghi chép lại
từng câu rồi in ra thành sách thật là khó khăn, nhiều thử thách không nhỏ! Ấy
thế mà chư vị đã làm được. Diệu Âm xin thành tâm tri ân sâu sắc…

Tập sách này nếu có được chút công đức
nào, xin hồi hướng trọn vẹn đến khắp pháp giới chúng sanh. Nguyện cầu cho “Tình
dữ vô tình, đồng viên Chủng Trí
”. Nguyện cầu cho thế giới hòa bình,
chúng sanh an lạc, tiêu tai giải nạn. Hồi hướng đến tất cả chư vị phát tâm, cầu
cho tất cả hết báo thân này đều được vãng sanh Tịnh-Độ, viên mãn đạo quả.

A-Di-Đà Phật.

Kính Bái Bạch

Diệu Âm Minh Trị

(Úc Châu)

LỜI CỦA BAN ẤN TỐNG

Nam Mô A Di-Đà Phật,

Ban Ấn Tống bộ sách “HỘ
NIỆM
: KHẾ LÝ – KHẾ CƠ
” xin thành tâm cảm ơn:

– Quý Thầy Thích Chí Giác Châu, Thầy Thích Hạnh Phú đã khuyến tấn,
hướng dẫn, chỉ đạo nhiều mặt cho chúng con phần in ấn.

– Chư Liên Hữu: Kim Bình, Anh Tuấn, Gia Hổ, Khánh Ngọc, Liên
Phương, Hiếu Ngọc, Chính nguyễn, Xuân Ngọc, Minh Thịnh, Đồng Liễu, Liên Hương,
Diệu Tịnh, Ngọc Chương, Thu Hương… Cùng một số Liên Hữu đã tham gia đóng góp
nhiều công sức, tịnh tài, kiểm bài mà không để tên lại.

Cư sĩ Diệu Âm (Úc Châu) có nhắc nhở rằng, những bộ sách do Cư Sĩ
viết ra khi được ấn tống nên theo đúng ba đều:

1-
Không giữ bản quyền,

2-
Không lập phương danh ấn tống,

3-
Không viết lời hồi hướng công đức riêng.

Cư sĩ nương theo hạnh “Bố thí Ba-la-mật”. Nghĩa là “Làm mà không
làm. Hãy quên đi…”. Đúng ra Ban Ấn Tống cũng không dám nêu tên quý Thầy cùng
chư vị phát tâm. Nhưng đầu tiên khi cư sĩ Diệu Tịnh đơn độc phát tâm viết bài “Hộ
Niệm
Là Pháp Tu
” thì chư vị Liên Hữu vừa thoáng nghe tin đã phát tâm tham
gia
, tích cực ngày đêm cùng nhau viết, vô tình tự lập ra một nhóm: “Ban Ấn
Tống
”. Chúng ta đã thực hiện
xong bộ “Hộ Niệm Là Pháp Tu”, bây giờ đến bộ “Khế Lý – Khế Cơ”,
và chư vị cũng đang say sưa viết tọa đàm “Hướng Dẫn – Khai Thị”.

Phải chăng đây là một cái Duyên thật khá đặc biệt đưa đẩy chúng ta
làm việc chung với nhau trong một Nhóm bằng Email qua lại mà nhiều người chưa
biết mặt nhau, chưa rõ đang ở nước nào trên thế giới. Lập nên Nhóm Liên Hữu
chưa biết ai là người trưởng nhóm, chúng ta chỉ biết kết thành Bạn Lữ nguyện đi
chung một đường Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc. Thật là hạnh ngộ! Thật là kỳ thú.

Chúng tôi rất cảm động! Xin đại diện cho Ban Ấn Tống nói lên sự
cảm xúc lớn lao này để chia sẻ tới từng người đã lặng lẽ qua những ngày giờ
lắng nghe MP3 và ghi lại thành câu văn, rồi Email đến nhau cùng kiểm bài…

Xin đem tất cả công đức có được cúng dường cho pháp giới chúng
sanh
, cho tất cả chư vị. Nguyện một báo thân này vãng sanh Tịnh độ.

 

BAN ẤN TỐNG

KHẾ LÝ
KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 1)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong thời gian qua, ở tại Niệm Phật Đường
chúng ta, thường nhắc nhở về vấn đề tu học. Hôm nay Diệu Âm xin thông tin với
chư vị có một vấn đề liên quan đến sự tu học khá là quan trọng, cho nên thay vì
những ngày này chúng ta nghe những lời trích đoạn khai thị của Hòa Thượng
Tịnh-Không, thì hôm nay Diệu Âm xin dành giờ phút này để phổ biến cho chúng ta
biết được cái thông tin này, hầu mong cho sự tu học của chúng ta tránh được
những trở ngại đáng tiếc xảy ra.

Cái thông tin như thế này, vừa mới đây
trong nước có một vị niệm Phật cho biết đã đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn,
biết được ngày giờ vãng sanh, và tin này đã phổ biến rất là rộng rãi, toàn quốc
đều hay biết và người ta chuẩn bị cho cuộc đưa tiễn vãng sanh rất rầm rộ
trang nghiêm. Nhưng đến sau cùng rồi thì việc vãng sanh đó không xảy ra! Bị trở
ngại! Sự việc gây xáo trộn rất lớn trong tinh thần người tu học. Có một điều
đáng tiếc hơn nữa là tin này đã tung lên tới thế giới rồi, trên những cái mạng
có tầm vóc quốc tế đã đăng lên rồi. Chính vì vậy mà nó ảnh hưởng cũng khá sâu
đậm trong làng Phật Giáo Việt Nam chúng ta.

Xin thưa với chư vị, tại sao lại có những
chuyện như vậy? Chúng tôi có điện thoại về hỏi những vị rất là thân cận có trực
tiếp tiếp xúc với chuyện đó. Thực ra, không có gì gọi là xa lạ lắm, mà chính là
vấn đề tu học cần phảiKHẾ CƠ – KHẾ
”.

Khế Lý” là tu học đúng theo Pháp Phật, không sai với lời
Phật dạy
.

– “Khế
” là phải biết ứng dụng cho đúng hợp với căn cơ của người tu học.

Nếu căn cứ vào kinh mà quên đi vấn đề căn
của chính người tu học, thì có thể rất dễ dàng dẫn đến chỗ gọi là vọng
tưởng
, không thực hiện được!

KHẾ LÝ là nói về “”. KHẾ CƠ là nói về “SỰ”.
Hai điều này rất là quan trọng. Chính vì vậythời gian qua, trong những cuộc
tọa đàm, Diệu Âm cũng thường nhắc nhở chư vị đồng tu là riêng Niệm Phật Đường
chúng ta ở đây mong muốn chư vị kết hợp lại thành một nhóm nhỏ, tu hành với
nhau
, học hỏi với nhau, rồi sau cùng chúng ta nương dựa nhau, hộ niệm cho nhau,
giúp đỡ nhau để vãng sanh. Đây là điều rất chính xác và hợp với tình trạng của
chúng ta.

Hòa Thượng Tịnh-Không thường nhắc rằng
thời mạt pháp này không được đóng cửa tự tu một mình. Lý do đầu tiên là thường
thường
tu một mình, không có thời khóa, giải đãi! Đây là nói về điều gần gũi
nhất. Nói về xa là tại vì căn cơ chúng ta quá yếu, chúng ta chưa ngộ được lý
đạo cao siêu của Phật, nên Ngài sợ chúng ta ứng dụng bừa bãi. Dù là ứng dụng
kinh Phật nhưng không hợp lý, không hợp lúc, không hợp căn cơ thì chúng ta dễ
bị tình trạng như vừa nói bên trên.

Xin thưa rằng, có một sự việc như thế này,
là có một vị đó, đầu tiên tu về Thiền, sau đó mới gặp được pháp môn niệm Phật,
thấy câu A-Di-Đà Phật nhiệm mầu quá và tự tra trong kinh Vô-Lượng-Thọ, nghĩa là
tự nghiên cứu lấy thì mới bắt được một câu trong kinh Vô-Lượng-Thọ, câu đó như
thế này:

-Bỉ Phật Như Lai, Lai Vô Sở Lai, Khứ Vô Sở
Khứ, Vô Sanh Vô Diệt, Phi Quá Hiện Vị Lai
.

Người đó ngộ(?) ra câu này, rồi đóng cửa
tự tu. Tự tu một thời gian thì mới chứng đến một cái cảnh giới nào đó rất là vi
diệu
(?), vi diệu đến nỗi mà làm cho nhiều người có học Phật cũng lầm luôn.
Chính vì vậy mà sau cùng mới xảy ra tình trạng là đã loan ra quá rộng rãi, tổ
chức quá rầm rộ, động luôn tới vấn đề trật tự an ninh của xã hội, và sau cùng
thì đưa đến là trong những cái mạng web của thế giới cũng đăng lên luôn… Nhưng
mà thực sự thì vị đó hiện bây giờ vẫn còn sống.

Khi chúng ta đọc kinh hay là nghe lời Tổ,
nghe giảng ký, chúng ta phải biết trạch pháp một cách cẩn thận. Trạch pháp
thế nào? Là phải biết… À! Lời này là Phật nói ở cảnh giới nào? Một vị Hòa
Thượng
đang giảng một đoạn kinh này là giảng ở cảnh giới nào? Ví dụ như Hòa
Thượng
Tịnh-Không giảng kinh, khi Phật nói cảnh giới của Phật thì chắc chắn
Ngài phải giảng trong cảnh giới của Phật. Nếu một người căn cơ hạ liệt như thế
này mà chụp lấy điều đó để tu, coi chừng bị trở ngại! Khi giảng đến một cảnh
giới
của A-La-Hán (là vì trong kinh của Phật mà), thì bắt buộc Ngài phải giảng
cảnh giới A-La-Hán. Chúng ta nghe tới cảnh giới A-La-Hán vi diệu quá, chụp
lấy mà tu thì coi chừng không hợp với căn cơ của mình, đưa tới cái chỗ vọng
tưởng!

Thì câu kinh của Phật nói, “Bỉ
Phật”
chính là A-Di-Đà Phật; “Lai Vô Sở Lai, Khứ Vô Sở Khứ, Vô Sanh Vô
Diệt
, Phi Quá Hiện Vị Lai”
, nghĩa là Vị Phật đó, Như-Lai đó về thì
không biết đâu mà về, đi thì không có chỗ nào đi, không sanh không tử, không có
quá khứ, hiện tại, vị lai. Một người căn cơ thấp kém như chúng ta, nghe đến câu
này quá ư là vi diệu, tưởng mình là Phật, mình cũng không đi đâu, mình cũng
không về đâu, mình cũng không sanh không diệt, mình không có quá khứ vị lai
Như vậy mình là Phật rồi chứ gì nữa? Thế là đóng cửa kiết thất tự tu! Trong khi
đó Hòa Thượng Tịnh-Không nói, thời đại mạt pháp này không nên tự kiết thất tinh
tấn
. Thế mà tự kiết thất tinh tấn tu hành đến nỗi xảy ra tình trạng như nói vừa
rồi.

Chúng ta phải nhớ cho rõ, về lý đạo thì rõ
rệt vị đó tu đúng lý, vì lý này là lý của Phật mà, trong kinh Phật nói ra làm
sao không đúng được? Chắc chắn. Nhưng mà ứng với căn cơ của mình thì hoàn toàn
sai. Chính vì vậyHòa Thượng Tịnh-Không thường khuyên rằng, trong thời mạt
pháp
không được “Tự kiết thất tinh tấn”, mà khuyên
chúng ta nên tu theo cách của ông thợ vá lu, tức là ông Cô-Lô-Giang.

Ông thợ vá lu tu như thế nào? Hễ mệt thì
nghỉ, khỏe thì tu, ngồi niệm Phật được thì ngồi niệm Phật, ngồi niệm Phật mệt
mỏi
thì đi kinh hành niệm Phật, đi kinh hành mà thấy mỏi chân thì ngồi trên ghế
niệm Phật

Ngài nói là nên tu theo tùy sức,
không được vượt qua cái sức của mình. Nếu sơ ý, nhiều khi cứ tưởng rằng, mình
có những năng lực đạt được những cảnh giới cao, có thể tu trì như các vị đại
Bồ-Tát, thì thường thường trong kinh Phật và chư Tổ cũng hay nhắc nhở câu này:
“LỰC BẤT TÒNG TÂM”. Cái Tâm chúng ta muốn thành Phật, cái tâm chúng ta muốn
nhất tâm bất loạn, cái tâm chúng ta muốn đạt được hai năm, ba năm vãng sanh…
nhưng cái lực chúng ta không trì nổi. Nếu chúng ta bám theo, đến một giai đoạn
nào đó có thể vượt qua sự chịu đựng thì chúng ta bị trở ngại! Thường thường khi
đã bị trở ngại rồi thì không còn cách nào có thể cứu chữa được! Ví dụ như vị đã
bị trở ngại đó, sau khi bị như vậy rồi thì rất nhiều phiền não đã xảy ra. Khi
ách nạn bắt đầu đến chập chùng rồi, thì mới tìm cách lánh nạn. Nhưng xin thưa
với chư vị, lánh nạn thì trong khi đã đeo nạn trên mình rồi!…

Chính vì vậy, xin nhắc nhở với tất cả chư
vị, ở đây Niệm Phật Đường chúng ta không chủ trương sẽ có một thời khóa nào,
hay một phương thức nào để cho chư vị được nhất tâm bất loạn. Ở đây Diệu Âm
đóng vai như người đang hướng dẫn đạo tràng này, nên Diệu Âm phải nhắc nhở
những điều này để chúng ta cùng tránh, vì nếu không tránh, lỡ bị vướng nạn rồi
thì chính Diệu Âm này không cách nào gỡ ra được.

Mong chư vị nhớ những điểm cần yếu như thế
này, là chúng ta phải giữ một mực khiêm nhường tối đa, càng tu càng khiêm
nhường. Nhất định:

– Không có nảy lên một ý niệm
nào là ta tu ngon lành.

– Không có nảy lên một ý niệm
nào là ta tu có thể chứng đắc.

– Không có nảy lên một ý niệm
nào là ta
niệm Phật đã nhập tâm rồi, đã nhất tâm bất loạn rồi.

Diệu Âm đang phổ biến cái chương trình
công cứ, nhưng Diệu Âm sẽ theo dõi rất kỹ và thường thường có những lời khuyên
chân thành. Ví dụ như thấy quý vị lập công cứ mà ngày đêm bỏ ăn bỏ uống để niệm
Phật
, thì Diệu Âm xin chư vị hãy giảm bớt lại, thoải mái một chút để có thời
gian
tắm rửa, lau mặt, lau mày để cho tinh thần của mình được thư thả. Nếu có
vị tu giải đãi quá thì Diệu Âm khuyên… À, nên tăng lên một chút, nếu giải đãi
quá coi chừng khi nằm xuống thì nghiệp chướng, oan gia trái chủ bủa vây, đồng
tu của Niệm Phật Đường A-Di-Đà không cách nào có thể đến giúp được gì cho chư
vị.

Cho nên, tùy theo một người mà Diệu Âm
khuyên nên tăng lên một chút, cũng vì một người Diệu Âm khuyên nên giảm một
chút và luôn luôn theo dõi… Để chi? Vì Hòa Thượng đã dạy rằng, trong giai đoạn này không được quyền tự tu
tinh tấn
. Tu công cứ là tu tinh tấn. Cho nên xin chư vị nhớ cho, là
chúng ta phải cố gắng hết sức trói cái tâm mình trong câu A-Di-Đà Phật, nhưng
càng tu nhất định chúng ta phải càng khiêm nhường và càng kết hợp với đạo
tràng
, để thí dụ như, thấy chị tu trong một thời gian tại sao khuôn mặt trở nên
mét mét đi! Là bị mệt quá rồi chứ gì? Giảm bớt lại chị. Cẩn thận. Khi thấy
người này tu một thời gian tự nhiên sao thấy hình như là nó lâng lâng trên
trời! Giảm bớt lại, đừng sơ ý nữa… Nhờ vậy mà chúng ta giải cứu cho nhau. Chứ
nếu không, thì xin thưa với chư vị, thực sự là khó khăn! Nhất là trong giai
đoạn này!…

Cố gắng điểm này nhé, càng tu hành chúng
ta
phải càng buông xả. Nhất định phải buông xả. Nếu không buông xả thì coi
chừng
rất khó khăn trong công cuộc vãng sanh.

Sắp tới đây tôi sẽ liên lạc về Việt Nam,
họ sẽ tìm cách gửi qua một số các hiện tượng vãng sanh nữa cho quý vị coi,
nhiều vô cùng. Họ vãng sanh thực sự, hàng trăm cuộc như vậy. Có thể như vậy và
tôi đang liên lạc để tìm cách gửi qua rồi tôi sẽ công bố cho quý vị coi. Thật
sự đã có vãng sanh. Nhưng thực sự, cũng có những người vì quá vọng tâm mà mất
phần vãng sanh. Không những mất phần vãng sanh mà còn bị trở ngại nữa.

Những lời nhắc nhở chân thành này xin chư
vị hiểu cho, tại vì trách nhiệm của Niệm Phật Đường là cố giúp người vãng sanh.
Nhưng xin chư vị hãy nhớ cho, không thể nào ỷ y, không thể nào lơ là được. Nhất
định
nhớ cho, chúng ta phải nương theo A-Di-Đà Phật để Ngài cứu độ chúng ta về
Tây Phương, chứ không phải là chúng ta chứng đắc để tự về Tây Phương.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 2)

Nam
A-Di-Đà Phật

Với
lòng chân thành, Diệu Âm xin nói lên những điều này, là tha thiết muốn cho tất
cả chư vị đồng tu đến đây tu học, sau cùng được thuận buồm xuôi gió về tới Tây
Phương Cực Lạc
, ngoài ra không có một ý gì khác cả.

Trong
pháp tu chúng ta phải rõ thế nào là Khế
? Thế nào là Khế Cơ? Tu học phải dựa vào kinh Phật là Khế Lý, dựa vào những
lời giảng dạy của chư Tổ Sư Khế Lý. Đem tất cả những lời giảng đó ứng
dụng
trên chính mỗi cá nhân chúng ta để được thành tựu, thì đó gọi là Khế Cơ.
Khế Cơ là hợp với căn cơ của chúng ta.

Ngài
Ấn-Quang Đại Sư nói, tất cả kinh Phật, pháp môn của Phật không có pháp nào cao,
không có pháp nào thấp. Ứng hợp với căn cơ của mình thì mới được diệu dụng.

Pháp
môn
của Phật bình đẳng, đó là Khế Lý. Ứng hợp được với căn cơ của
mình, chọn lựa cho đúng, hành cho đúng theo khả năng của mình là Khế Cơ,
chúng ta được thành tựu. Nếu chúng ta ứng hợp không đúng, dù là ứng dụng lời
Tổ, dù là ứng dụng kinh Phật cũng có thể bị trở ngại như thường. Xin thưa với
chư vị, hiện tại bây giờ trong Email của Diệu Âm có khoảng 400 câu hỏi, mà
đó cũng là cố gắng giải quyết rồi đó, Diệu Âm không dám mở ra nữa, vì mở ra thì
chắc chắn trong đó cũng có những vấn đề tương tự như chúng ta đang giải quyết
đây.

Trong
quá khứ Diệu Âm đã giải quyết khoảng chừng gần mười người, gần mười người tự
khoe mình đã chứng đắc, đã chứng này, chứng nọ. Diệu Âm cũng khuyên hết lời là:

“Phải quyết lòng thành tâm niệm Phật và luôn luôn nghĩ mình
phàm phu tục tử tội chướng sâu nặng, oan gia trái chủ nhiều, mau mau nhiếp
tâm
niệm Phật cầu Phật gia trì thì mới tránh được những hiểm nạn bất ngờ”
.

Nhưng
hầu hết các vị đó không nghe! Đến lúc đã bị nạn quá nặng rồi, “Hoảng kinh hồn
vía” lên, mới la làng la xóm lên!… Xin thưa, là lúc đó thì Diệu Âm cũng
khuyên được khoảng sáu người buông được. Khuyên được người thứ sáu, đến người
thứ bảy tiếp tụcngười thứ tám tiếp tục… Thôi!… Diệu Âm đành phải đóng
Internet luôn, không dám trả lời nữa! Vì thực sự lực của Diệu Âm này không đủ
khả năng
để giải quyết. Trong khi đó, thì xin thưa với chư vị, nguồn tin của
những người hiền lành, chất phác, thật thà, một lòng thành tâm thành kính niệm
câu A-Di-Đà Phật và được những ban hộ niệm đến hộ niệm trong những tư thế hết
sức
bình dân, vậy mà họ ra đi với thoại tướng bất khả tư nghì.

Thực
sự, những hiện tượng gần gần với chúng ta đây cũng có những người vừa nhìn thấy
một quyển sách, hay một phương pháp nào giới thiệu rằng niệm Phật bảy ngày, bốn
ngày, năm ngày, hai tuần thì được Nhập
Tâm”
, được “Niệm Tự Niệm”, tức là NiệmVô Niệm,
rồi có thể tăng tiến dần đến cái chỗ “Nhất tâm bất loạn”, thấy hay quá
và vội vã chạy theo!… Có nhiều người rất thân thiện, Diệu Âm cũng chỉ thành
tâm
khuyên, ngoài ra không biết cách nào khác hơn! Nhưng khổ một điều là khuyên
mà các vị đó không nghe. Những người ở trong Internet chỉ liên lạc thẳng với
Diệu Âm nên không dám thố lộ ra. Trong khi Diệu Âm đi từ nước này qua nước nọ,
bất cứ nước nào cũng gặp ít ra một người, hai người hoặc ba người bị vướng cái
nạn này. Bây giờ biết làm sao? Thổ lộ với ai đây? Trong dịp vừa rồi, tức là sự
việc nó đã lộ ra rồi, làm chấn động khắp nơi trong nước rồi, thấy sợ quá, mới
xin thổ lộ cho chúng ta biết con đường nào là đường chúng ta thành tựu, con
đường
nào là cạm bẫy, nguy hiểm đang giăng ngay trước bàn chân của mình mà
không hay!…

Cho
nên, chúng ta tới đạo tràng này thì hãy quyết giữ lòng “Thành Tâm Thành Ý”. Hòa Thượng Tịnh-Không có lần gặp
Phật tử Ngài lấy nón xuống, Ngài chắp hai tay lại, Ngài cúi đầu xuống… Quý vị
nghĩ coi, một vị đại Hòa Thượng gặp đồng tu mà Ngài lấy cái nón xuống, chắp tay
lại, cúi xuống. Người ta chụp được tấm hình đó đưa lên thành đề tài: “Chí
Thành Cảm Thông”. Quý vị
coi những hình ảnh đó để hiểu những lời dạy tuyệt vời của các Ngài.

Trở
về
vấn đề, vì thấy quá nguy hiểm mà không biết cách nào để có thể khuyên nhau!
Khi đã chui vào tình trạng đó rồi thì khó gỡ ra lắm! Nhiều khi mình biết một
người bạn, một người rất thân của mình sẽ bị nạn đó mà cũng đành nhìn thôi, chứ
không biết cách nào khác hơn! Đây là sự thật!

Trở
về
vấn đề Khế Lý – Khế Cơ. Ví dụ như chúng ta đang tụng kinh A-Di-Đà,
trong kinh A-Di-Đà, Phật nói, Một người nào nhiếp tâm niệm Phật từ một ngày
đến bảy ngày nhất tâm bất loạn thì khi người đó ra đi, Ta sẽ đến tiếp dẫn, chắc
chắn
được vãng sanh về Tây Phương.
Có nhiều người ứng dụng ngay lời kinh
này, lập ra một phương pháp, rồi tuyên bố rằng với phương pháp tu tập này trong
bảy ngày sẽ nhất tâm bất loạn liền. Người ta đã ứng dụng đúng kinh. Nhưng nếu
là người thực sự cẩn thận, khi nghe nói như vậy thì xin bái chào đi, quyết lòng
rút về, âm thầm khiêm nhường mà niệm Phật. Tại sao vậy? Bảy ngày nhất tâm bất
loạn
gọi là kiết thất tinh tấn đó, đúng lý của Phật dạy. Nhưng mà bảy ngày được
nhất tâm bất loạn thì căn cơ của chúng ta nhất định không thể thực hiện được!
Chú ý điểm này, chứ đừng thấy một người nói toàn là kinh Phật hết, rõ ràng
người ta có nói gì sai đâu? Nếu ứng dụng theo, chạy theo, coi chừng sự hiếu kỳ
này sẽ làm chúng ta bị trở ngại!


dụ khác, như ở trong kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ, Phật dạy tất cả là mười sáu pháp
quán, mà trở về tới thời đại này chư Tổ cấm chúng ta đến mười lăm pháp quán
không
được sử dụng. Cũng từ trong kinh Phật ra chứ không phải ở ngoài, vậy mà
chư Tổ chỉ khuyên chúng ta là một lòng chấp trì danh hiệu A-Di-Đà Phật niệm mà
thôi, tức là ứng dụng pháp cuối cùng là pháp mười sáu. Mười lăm pháp khác các
Ngài không cho. Tại sao vậy? Là tại vì căn cơ của chúng sanh trong thời mạt
pháp
này rất yếu! Rất nhiều người nghiên cứu kinh mà không chịu chú ý đến chỗ
này, lấy kinh ra đi giảng giải, giảng thì Khế
ứng dụng
cho chúng sanh thì Không hợp Cơ, rất dễ đưa đến tình trạng gọi
là, nói thẳng ra là: Tẩu Hỏa Nhập Ma!.

Trong
pháp thứ mười sáu đó là pháp “TRÌ DANH HIỆU PHẬT”, cũng có tới bốn loại:

Thật-Tướng-Niệm-Phật.

Quán-Tưởng-Niệm-Phật.

Quán-Tượng-Niệm-Phật và

Trì-Danh-Niệm-Phật.

Các
Ngài chỉ cho ta được hành trì hai pháp mà thôi, là trì danh hiệu mà niệm và
nhìn hình Phật mà niệm là cùng, còn hai pháp Thực-Tướng và Quán-Tưởng các Ngài
cũng không cho. Như vậy để chúng ta biết rằng một phàm phu này niệm Phật, muốn
thật sự trong một đời này khỏi bị đọa lạc thì bắt buộc phải nghe lời Tổ, mà
phải nghe cho thật chính xác, chứ không phải cứ nghe Pháp ào ào, ào ào… mà
không biết “Trạch”. Trạch là chọn lựa cho kỹ.

Trở
về
với cái ví dụ vừa rồi ở Việt Nam, một vị đó thực sự cũng có nghe Pháp của
ngài Tịnh-Không, nhờ pháp của Ngài mới tiến tới chỗ là đọc kinh Vô-Lượng-Thọ,
tụng kinh Vô-Lượng-Thọ, rồi ngộ ra từ một câu kinh trong Vô-Lượng-Thọ mà trì,
để sau cùng bị trở ngại! Vì sao vậy? Vì đoạn này là Phật nói trong cảnh giới
của Chân-Tâm Tự-Tánh. Khứ Vô Sở Khứ,
Lai Vô Sở Lai
là Chân-Tâm Tự-Tánh của chúng ta. Rõ ràng đó là cảnh
giới
của Chân-Tâm Tự-Tánh. Trong khi chính phàm phu của chúng ta chưa biết
Chân-Tâm Tự-Tánh là cái gì? Chưa bao giờ ngộ tới Chân-Tâm Tự-Tánh, gọi là “Minh
Tâm Kiến Tánh”! Không bao giờ có! Không bao giờ có mà ứng dụng cái phương pháp
này, nhất định “Lý” thì cao trên mây xanh, mà “Chân” thì lầm lũi lầm lũi đi vào
cái hố!… Cho nên muốn chứng đắc?… À được! Ta cho chứng đắc, chứng đắc ngon
lành! Chứng đắc đến nỗi mà tất cả mọi người đều phải lầm lẫn hết trơn, để khi
thăng lên tòa rồi, ta rút cái chứng đắc đó xuống, thì từ cái tòa đó rớt xuống
một cái hố sâu vô cùng! Làm sao ai cứu được đây?


biết được điều này nên cảm thấy khá khổ tâm, nhất là trong giai đoạn này. Diệu
Âm
chỉ thành tâm khuyên rằng: Đừng nên sơ ý!

Cách
đây cỡ chừng năm năm, chính Diệu Âm đã gặp một vị, vị này không phải là một
Phật tử bình thường, không phải là một cư sĩ, đã nói với Diệu Âm rằng: Ngày
đó… tháng đó… vãng sanh. Tôi nói với vị đó: Có chắc không? Ngài nói chắc…
Tôi mới nói, bây giờ xin ký giấy đi… Tôi rút trong túi ra, lúc đó không có tờ
giấy, chỉ có cái bì thơ. Tôi nói, Ngài hãy viết vào đây đi. Viết vào cái bì thơ
đó: Tên gì, pháp danh là gì, bút hiệu, v.v… Rồi ký tên vào đàng hoàng….
Ngày đó… tháng đó… tôi vãng sanh. Tôi hỏi, là biết trước được bao lâu rồi? Hai
năm. Tôi làm thinh không nói gì hết. Tôi cũng có nói với vị đó rằng, đây là một
cơ hội rất là may mắn, nhất định phải buông hết tất cả vạn duyên, không còn
dính mắc cái gì nữa cả, tuyệt đối không được thố lộ với ai hết để cơ hội này
được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Tôi
cất kỹ cái thơ đó và tôi bắt đầu trở lại Úc. Tôi tính là đúng khoảng chừng 39
ngày sau, 39 hay 38 ngày sau gì đó là vị đó vãng sanh. Đến gần một tuần là bắt
đầu tôi đã điện thoại theo dõi. Điện thoại, điện thoại riết cho đến ngày đó
cũng không có gì xảy ra và hiện tới bây giờ vị đó cũng còn đang sống!…

Quý
vị thấy không? Tôi là người hết sức cẩn thận, với việc này không bao giờ tôi
dám tung tin ra đâu à. Khi vị đó nói cho tôi biết rồi, tôi nói đừng bao giờ báo
người khác biết nhé. Vị đó nói, không bao giờ đâu… Mới đó, thì ngày hôm sau
tôi điều tra thử đã thấy ba, bốn người biết rồi, mà ba, bốn người này là những
người tôi quen, chứ còn những người khác nữa thì như thế nào?…

Xin
thưa với chư vị, đây là những điều có thực, nói lên để cho chúng ta biết rằng,
nhất định trong đời này muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thì phải một lòng
khiêm nhường, một lòng vui vẻ, buông hết tất cả những sự câu chấp của thế gian
ra. Phải thường thành tâm sám hối. Bắt chước theo phương pháp của ngài
Tịnh-Không đi, cúi đầu xuống, sám hối đi. Hãy vì chư vị oan gia trái chủ mà
thành tâm niệm Phật, ngày ngày hồi hướng cho chư vị oan gia trái chủ liền đi.
Nếu sơ ý, xin thưa thật đến lúc cuối cùng rồi không ai có thể cứu được cái huệ
mạng
của mình đâu! Sơ ý một chút vạn kiếp sau chúng ta vẫn còn bị đọa lạc, chứ
không phải là chuyện dễ! Vậy mà, chỉ cần thành tâm đi, buông xả vạn duyên ra,
nhất định bám lấy đạo tràng này, nhất định bám lấy đồng tu, thành tâm để niệm
Phật
đi thì:

Chư Phật cảm thông.

Chư Thiên-Long Hộ-Pháp cảm thông.

Chư Oan-Gia Trái-Chủ cảm thông.

Chúng
ta
sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Cống cao ngã mạn, nhất định bị nạn,
dù cho xin thưa thật, lúc mà quý vị lâm chung chính Diệu Âm này đứng trước mặt
hộ niệm cũng vô ích, tại vì Diệu Âm này không có một lực nào hết, chỉ biết nghe
các vị Tổ mà khuyên nhau một lời để chúng ta đi trong con đường gọi là: “CHÍ
THÀNH CẢM THÔNG”, để được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

Nam
A-Di-Đà Phật.

 

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 3)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Tu hành trong thời đại mạt pháp này có
nhiều chướng ngại lắm, nếu chúng ta sơ ý thì nhiều khi mình tưởng là thuận
nhưng lại là nghịch!…

Nếu mà chúng ta chú ý, với sự hướng dẫn cụ
thể
, tiếp xúc được các vị thiện tri thức thì những cái nghịch duyên đó nó biến
thành
thuận duyên. Cho nên, trong thời đại này nhất định chúng ta phải lắng
nghe các lời Tổ dạy cho những người phàm phu tục tử như chúng ta cách tu hành
an ổn.

Như hồi sáng chúng ta nói, nhất định phải
kết bè với nhau, thành tâm niệm Phật, tâm ý khiêm nhường, buông xả những thế
trần xuống, tham sân si mạn những cái câu chấp phải bỏ ra. Xin thưa, tu như
vậy, đối với những pháp môn khác, vạn kiếp sau chưa chắc gì thoát ly sanh tử
luân hồi
. Nhưng mà đối với pháp môn niệm Phật, chỉ cần buông tình chấp xuống,
những cái gì phiền não bỏ đi, rồi niệm Phật thành tâm nguyện vãng sanh thì ta
được vãng sanh. Đây là con đường tu hành thấp nhất của những người phàm phu như
chúng ta.

Xin nhớ, Tu là tu cho chính ta, chứ không
phải tu cho người khác. Chúng ta thường nghe nói rằng, “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”.
Nên sửa ngay những cái lỗi của mình. Trong kinh Phật, có nhiều kinh Phật dạy
cho những người phàm phu tục tử tu. Ngài Tịnh-Không khuyên rằng, trong thời mạt
pháp
này nên trì giữ kinh Vô-Lượng-Thọ. Ta đang trì giữ kinh A-Di-Đà, kinh
A-Di-Đà và kinh Vô-Lượng-Thọ là một chứ không phải hai. Nhưng mà xin thưa thực,
kinh Vô-Lượng-Thọ có những lúc Phật nói cảnh giới của Phật, có những lúc Phật
nói cảnh giới của đại Bồ-Tát, có những lúc Phật nói cảnh giới của các vị
A-La-Hán, có những đoạn Ngài nói cho hàng phàm phu tục tử như chúng ta. Vì thế,
ngay kinh Vô-Lượng-Thọ, không phải là toàn bộ kinh đó chúng ta đều có thể ứng
dụng
được đâu.

Một chứng minh cụ thể là mới vừa rồi ở quê
nhà
, có một vị đã ứng dụng kinh Vô-Lượng-Thọ: “Bỉ Phật Như-Lai, Lai Vô Sở
Lai, Khứ Vô Sở Khứ, Vô
Sanh Vô Diệt, Phi Quá Hiện Vị Lai”, ứng dụng câu này mà tu. Rõ ràng
kinh của Phật trong Vô-Lượng-Thọ, nhưng đưa đến một kết quả thực là phũ phàng!
Chính vì vậy, ngay giảng ký của Hòa Thượng Tịnh-Không, chúng ta nghe cũng cần
phải
biết trạch. Trong kinh Vô-Lượng-Thọ, có lúc trên cảnh giới của Phật thì
Hòa Thượng phải giảng cảnh giới của Phật. Nếu thấy cái đạo lý quá ư là nhiệm
mầu, chấp vào đó, ta áp dụng vào, có thể đi sai liền lập tức.

Ngay trong kinh Vô-Lượng-Thọ, cũng là lời
Hòa Thượng Tịnh-Không dạy đó, nhưng muốn áp dụng ta hãy áp dụng theo phẩm 32
đến 37. Nếu quý vị làm được từ phẩm 32 đến 37, thì nhất định sẽ thành công. Vì
sao vậy? Từ 32 đến 37, sáu phẩm này Phật dạy cho chính phàm phu tục tử chúng
ta
. Hãy lật giảng ký của Hòa Thượng ra nghe cho thật kỹ chỗ đó, nếu mà quý vị
làm được nhất định thành công. Bây giờ, ví dụ như chúng ta kẹt quá, không có
giờ nghe, đọc kinh Vô-Lượng-Thọ cũng đọc không được, thì xin chư vị đến Niệm
Phật
Đường A-Di-Đà này, ngay trên bảng màu vàng vàng đó, chính đó là nội dung
của phẩm 32 đến 37. Phật dạy rõ ràng minh bạch, tóm gọn lại bằng những câu đó:

Khéo giữ khẩu nghiệp, không nói lỗi
người.

– Khéo giữ thân nghiệp, đừng
mất luật nghi.

– Khéo giữ ý nghiệp, thanh tịnh
vô nhiễm.

– Và sau đó là mười điều thiện.

Đây là nội dung tổng kết từ phẩm 32 đến
phẩm 37. Nếu tu như vậy đối với tất cả những pháp môn khác, ngàn đời ngàn kiếp
không cách nào vượt qua sanh tử luân hồi! Ấy thế mà nhờ câu A-Di-Đà Phật, chúng
ta
chỉ tu như vậy thôi, nhưng ta sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Dễ
dàng đơn giản!

Cho nên chúng ta phải biết vấn đề “Khế
Cơ – Khế Lý”
một cách rõ rệt. Kinh Phật nhất định không có kinh nào
nói sai lý đạo. Nhưng căn cơ không xét kỹ, chúng ta áp dụng sai liền!

Chính vì vậy, để cho trong thời mạt pháp
này khỏi bị trở ngại, xin thưa nên biết áp dụng thẳng những điều hết sứccụ
thể
. Khi quý vị nghe những lời pháp của Hòa Thượng Tịnh-Không, từng điểm từng
điểm. Điểm nào là của phàm phu tục tử chúng ta, thì phải làm ngay lập tức. À!
Một là một, hai là hai, tự nhiên chúng ta sẽ thành công. Đừng ứng dụng sai…

Tu là tu cho mình, là hàng phàm phu, chứ
đâu có phải là tu cho Phật!… Câu nói “Về không có chỗ về, đi không có chỗ
đi. Không có quá khứ, hiện tại, vị lai. Không sanh không diệt…
” là câu
Phật nói cảnh giới của Phật. Ta tu cho hàng phàm phu chứ đâu phải tu cho Phật,
mà lại áp dụng những điều đó vào trong hàng phàm phu này? Chính vì vậy, ví dụ
như có một đoạn kinh, Ngài nói cho hàng đại Bồ-Tát, Ngài nói với hàng đại
Bồ-Tát thì đại Bồ-Tát tu cho Bồ-Tát. Còn ta tu cho hàng phàm phu, tại sao lại
tu cho Bồ-Tát? Vì là phàm phu mà tu cho Bồ-Tát, nên bị nạn vậy thôi. Rất nhiều
người đã bị trở ngại về chuyện này.

Trở lại chính chúng ta, ta tu sao khỏi bị
chướng ngại? Hãy đọc cái “Quy tắc tu học” của ngài Ân-Quang, đây chính
là lời của chư Tổ dạy cho hàng phàm phu. Ngài nói rõ rệt, thẳng vào hàng phàm
phu
này. Hàng phàm phu chúng ta áp dụng quy tắc của ngài Ấn-Quang thì nhất định
thành công. Có một lần ngài Ngộ-Đạo giảng kinh. Ngài nói rằng, có một vị tới
hỏi ngài Ấn-Quang: “Bát Chu Tam Muội là gì? Tu như thế nào?”.
Ngài Ấn-Quang quát mắng, Ngài la liền: “Nhà ngươi hỏi chuyện này để làm chi?”.
Khi mà ngài Ngộ-Đạo giảng tới câu đó làm cho tôi giựt mình!…

Bát Chu Tam Muội là một phương pháp tối
thượng
để đưa đến cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”, trong 90 ngày thì thành đạo.
Ngài Ấn-Quang nói: “Nhà ngươi có làm được chuyện đó hay không mà
hỏi?”
. Hỏi để vọng tưởng, chứ ích gì? Về nhà lo niệm Phật, tìm người
hộ niệm cho nhau thì thành công. Có nhiều người khi tu hành không biết trạch
pháp
một cách cẩn thận. Cứ đem những điều quá cao, quá đà của mình mà tu, sau
cùng bị chướng ngại trùng trùng! Mà một khi đã chướng ngại trùng trùng rồi thì không
còn cách nào có thể cứu chữa được!…

Trở lại vấn đề cụ thể của chính chúng ta,
Hòa Thượng Tịnh-Không dạy, muốn thành đạo trong đời này thì câu nói đầu tiên
của Ngài là buông xả.

– Ví dụ, ta thường buồn cái gì,
nhất định hãy bỏ cái buồn đó đi thì niệm Phật được vãng sanh.

Ví dụ, ta
ghét một người nào, nhất định phải bỏ cái ghét đó đi thì chúng ta mới được vãng
sanh
.

– Ngài nói, trong đời của ta mà
còn đố kỵ một người nào, thì nhất định không được vãng
sanh.

– Nếu trong đời này mà mình
ghét một người nào, thì nhất định mình không được vãng sanh.

Ngài nói rõ rệt lý do tại sao. Đây là
những lời nói Ngài dạy cho hàng phàm phu tục tử chúng ta. Tại vì toàn bộ phàm
phu
tục tử chúng tachấp trước, phân biệt… không cách nào có thể thoát
vòng sanh tử luân hồi được. Chính vì vậy mà tu là tu cho mình. Chắc chắn chúng
ta
ai cũng có nghe những chuyện một người chết bị vướng vào chỗ nào đó, hàng
đêm trở về khóc than với con cái, chiều chiều hiện về đầu hè khóc với con cái,
nhập vào thân người này phá, nhập vào thân người khác phá, khóc lên, khóc
xuống… Trong những cảnh khổ đó, mình hãy tưởng tượng thử, có phải vì một chút
chấp trước cho nó đã cái cơn sân si, mà bị nạn vạn đời vạn kiếp không? Ích lợi
gì đâu?

Cho nên, tu là tu cho chính mình. Nhất
định
không thể nào tu cho đạo tràng, không thể nào tu cho một người nào cả. Nếu
mình nghĩ rằng tu để cho vui, tu để đạo tràng có đông người, tu vì cảm tình
thì nhất định oan uổng lắm! Xin thưa chư vị, vì huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp
phải ráng mà làm cho được chuyện này: Những thứ chuyện cạnh tranh, ganh tỵ trên
thế gian này có chi đâu mà tham chấp như vậy? Tại sao không biết bỏ ra để chúng
ta
đi vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu mà trong đời này, với cái thân phận
phàm phu tục tử này mà không gặp câu A-Di-Đà Phật, không gặp pháp môn niệm Phật
này, xin thưa thực với chư vị nhất định ta bị nạn! Tại sao vậy? Hòa Thượng
Tịnh-Không nói, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút chúng ta cứ luôn luôn thâm nhập tất
cả những cái nghiệp, gọi là nghiệp tam ác đạo trong tâm. Không nói người này
xấu thì nói người khác xấu, không chê người này thì cũng chê người khác, không
cười người này thì cũng cười người khác, không tham tiền thì cũng tham danh,
không tham danh thì cũng tham cái gì đó… Những điều này luôn luôn, luôn luôn
trói chặt chúng ta. Tất cả những cái đó là nhân chủng địa ngục hết, tam ác đạo
hết. Như vậy làm sao mà chúng ta không bị nạn? Mà khi đã bị nạn rồi, xin thưa
thực là bị cả ngàn đời vạn kiếp!

Mình nhìn ra ngoài cây coi, con chim đó,
một bộ lông đó, mưa cũng đó mà nắng cũng đó, lạnh cũng đó mà rét cũng đó, nó
vẫn chịu đựng như vậy. Mình chịu đựng như nó được không? Không được đâu! Nhưng
coi chừng mình sẩy một cái, có thể, xin thưa thực khi chết đi rồi thành như
vậy đó. Lúc đó rồi vợ chồng cũng đành chịu thua, không cứu nhau được! Cha con
cũng đành chịu thua, không cách nào cứu nhau được! Mà thực sự là có cách cứu,
A-Di-Đà Phật cứu chúng ta một cách rõ rệt. Phàm phu tục tử này nhất định khi
chết phải tùng nghiệp thọ báo, nhưng chỉ cần bứng đi, bỏ đi, ngộ ra liền lập tức
đi, liệng những cái chuyện đó đi, chúng ta thành tâm niệm Phật, thì ngày đó
chúng ta về Tây Phương thành đạo Vô-Thượng.

Xin thưa quý vị, nếu mà chúng ta ngộ ra
chỗ này rồi, thì tại sao không tranh thủ ngày đêm để lo niệm Phật? Tại sao còn
buồn cái này, còn giận cái kia, để mà sau cùng chúng ta đi xuống địa ngục, ngạ
quỷ
, súc sanh để chịu nạn? Thực sự đúng như vậy mà. Tôi đi nhiều chỗ lắm chư vị
ơi! Tôi gặp những trường hợp, có những vong linh, họ ứng hiện về, họ nhập vào
những người bà con, anh em mà than mà khóc! Than khóc không được thì lại quýnh
lộn đánh phá với nhau nữa, xé áo xé quần, đâm những người con của mình… Ghê
lắm chư vị ơi! Nhìn tới những hiện tượng đó mình biết rằng cái người về nhập đó
đang chịu khổ, họ khổ kinh khủng lắm, không phải đơn giản đâu à!

Tại sao họ khổ vậy? Tại vì họ không biết
tu. Đã là phàm phu mà không biết tu, nhất định phải chịu cái tình trạng đau khổ
như vậy!…

Bây giờ chúng ta đã thấy rõ rệt rồi… Cái
Niệm Phật Đường này gọi là Niệm Phật Đường A-Di-Đà, đang nhắc nhở cho chúng ta
phải niệm câu A-Di-Đà Phật. Là thân phàm phu này, nhất định suốt cuộc đời này
chúng ta không chứng được gì đâu. Bảo đảm với chư vị, không chứng được gì cả.
Không chứng được nhưng mà ta được đi về Tây Phương là do lòng chí thành chí
kính mà về Tây Phương đó. Nếu người nào mà còn chấp, thì nên nhớ cho, Niệm Phật
Đường này quyết lòng đưa tiễn người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, không thể
nhân nhượng một người nào hết… Tới đây thì giới luật phải nghiêm minh…

Nhất định phải chân thành
niệm Phật.

Nhất định phải buông xả cố
chấp
ra.

Buông xả được thì chúng ta
cứu nhau mới được.

– Không buông xả thì chúng ta
cứu nhau không được.

– Cứu nhau không được thì cảm
tình
với nhau để rồi ta bị đọa lạc! Ích lợi gì đâu?

Rõ ràng những cái chứng minh cụ thể, những
cái tin tức đã đưa đến dồn dập… Khi khởi một tâm cống cao ngã mạn: Bị nạn!
Khi tham chấp một cái gì: Bị nạn! Bỏ ra đi, dù nghiệp chướng tràn trề, thì
A-Di-Đà Phật dạy, hãy thành tâm sám hối đi! Đã thành tâm sám hối thì làm sao mà
có thể nói lỗi người? Từ bi, đại thiện, đại lành đi! Đã từ bi, đại thiện, đại
lành thì làm sao có thể ghét người? Đơn giản như vậy. Buông ra, tâm ý buông ra,
tự nhiên thoải mái. Chúng ta niệm câu A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật thề rằng làm
được như vậy mà sau cùng niệm được mười câu Phật hiệu của Ngài, cầu về Tây
Phương
mà Ngài không đón về Tây Phương, Ngài thề không thành Phật. Đây chính là
cái đầu mối để chúng ta thành công.

Mong cho chư vị nghe được những lời này
nhất định tỉnh ngộ liền lập tức, quyết định thành tâm, chí thành chí kính,
nương vào câu A-Di-Đà Phật.

Chúng tôi ở đây có phát hành công cứ niệm
Phật
, nhưng công cứ niệm Phật bắt buộc những người nào nhận công cứxác nhận
là chịu buông xả hay chưa? Nếu chưa chịu buông xả mà làm công cứ đó thì vô ích,
coi chừng bị vọng tưởng. Tại sao vậy? Hồi sáng đã nói rồi, nếu mà vọng tưởng
nổi lên, “Ta” cho anh một cái đài để anh ngồi, anh ngồi trên cái đài, “Ta” rút
cái chứng đắc ra, bên cái đài đó sẽ có một cái hố thiệt sâu… Đã sụp xuống đó
rồi thì chư Phật mười phương cũng buông tay, không cách nào cứu được.

vấn đề thành đạo giải thoát cho chính
chúng ta, mong chư vị quyết lòng thành tâm, chí thành, chí thiết, khiêm nhường
để nương nhau niệm Phật đi về Tây Phương trong một đời này.

Nam Mô A-Di-Đà Phật

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 4)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Trong khoảng thời gian gần đây, có quá
nhiều biến cố cũng khá trầm trọng chung quanh sự tu hành. Trong những ngày qua
thì mình có nói qua cái vấn đề tu hành cần phải Khế Cơ – Khế Lý.

– Khế Lý là đúng với kinh Phật,
đúng với lời Tổ.

Khế Cơ là phải hợp với căn cơ
của mình.

Sự-Lý viên dung mới có thể thành tựu. Nếu
tu hành nhắm tới Khế
, tức là lý đạo suôn sẻ đúng với kinh Phật, nhưng mà quên chú ý
đến căn cơ của mình, sẽ đưa đến kết quả hết sức phũ phàng và những hiện tượng
mà mấy ngày trước chúng ta nêu ra là một chứng minh hết sức cụ thể, đã ảnh
hưởng
rất tai hại đến căn nhà Phật Giáoquê nhà. Thì hôm nay vì vấn đề liên
quan đến
Khế Cơ, và vì những biến cố đã đến dồn dập như vậy, ảnh hưởng rất lớn
trong đường tu hành vãng sanh của chúng ta. Cho nên dành trong khoảng thời gian
này, Diệu Âm xin mổ xẻ thêm những điều sơ suất rất là phổ thông, thay vì chúng
ta
tiếp tục mở các lời khai thị của ngài Tịnh-Không. Thật ra, đến ngày hôm nay
thì lời khai thị cũng đã hết, đang tìm những lời khai thị mới, nhưng chưa kịp.
Vấn đề Khế Cơ, nếu chúng ta không chú ý, cứ tưởng là dễ, sau cùng rồi có thể
chúng ta hưởng lấy cái quả báo phũ phàng!…

Khế Cơ tức là nói về “Sự”, thì hộ niệm
thật sự là đúng Cơ, đúng Căn, rất hợp Cơ, hợp Căn trong khoảng thời gian này và
trong cái khả năng hạ căn phàm phu của chúng ta. Hộ niệm, như hôm trước mình
nói, là một pháp tu, nó bao gồm cả TÍN-NGUYỆN-HẠNH. Thấy nó đơn giản như vậy,
nhưng chúng ta phải biết: Tin… Tin cho đúng; Nguyện
Nguyện cho đúng; Hạnh… Hành cho đúng. Nếu chúng ta sơ ý chỉ
cần sai lạc thì có thể phạm phải những lỗi lầm mà dẫn luôn tới kết quả là sau
cùng chúng ta không được vãng sanh.

Ví dụ đơn giản như Nguyện, ai cũng biết ở
đây là chư Tổ dạy, nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Trong kinh Phật dạy,
nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc và ngày ngày chúng ta cộng tu với nhau
cũng Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ Trung. Đơn giản, gọn gàng như vậy. Chư Tổ
nói, một lòng tha thiết nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

– Nếu cái thân mạng của mình mà
còn, tức là chưa hết, thì tự nhiên hết bệnh.

– Nếu cái thân mạng của mình nó
đến thời hạn ra đi, nhờ lời nguyện này mà mình được vãng sanh về Tây Phương Cực
Lạc
.

Có nhiều người cũng niệm Phật, cũng nghe
rất nhiều Pháp, có thể nghe nhiều hơn người ta nữa, nhưng khi có bệnh hiện ra,
vô thường hình như đã gõ cửa(!)… Khi mình tới thăm thì vô tình mới biết rằng
người đó đã phát nguyện sai! Thật là những điều làm cho mình giựt mình! Họ
nguyện như thế nào?… “Ngày ngày tôi quỳ trước bàn thờ Phật, tôi tha thiết
nguyện với Phật, xin Phật nếu mà cái thân bệnh này mãn thì cho con đi liền đi.
Nếu chưa mãn thì xin cho con được hết bệnh để con niệm Phật. Tôi nguyện tha
thiết hàng ngày như vậy, mà bây giờ tôi buồn rơi nước mắt! Tôi khóc… vì tại sao
tôi tu nhiều
như vậy mà bệnh vẫn đến với tôi?…”.

Quý vị nghe kỹ đến lời nguyện này, thật sự
có phải là đúng hay không? Chư Tổ dạy là, nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực
Lạc
, mình không chịu nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, lại lấy cái lời
giải thích của các Ngài để làm thành lời nguyện của mình. Sai là sai chỗ này!
Tại sao không nguyện rằng: Nam Mô A-Di-Đà
Phật, xin Phật cho con về Tây Phương”
, gọn gàng đơn giản, hợp lý. Mà
lại nguyện: Nam Mô A-Di-Đà Phật,
nếu cái thân bệnh của con mà hết thì cho con đi liền hôm nay cũng được. Nếu cái
thân bệnh này mà còn, thì cho con được khỏe mạnh”

Trong lúc nguyện như vậy có
phải mình đang sợ cái bệnh mà mới nguyện như vậy không?
Rồi khi bệnh xuống lại khóc.
Tại sao khóc? Tại sao con niệm Phật như thế này mà bệnh cũng không hết? Có phải
mình đang sợ cái bệnh không?

Cho nên khi đối diện tới một sự thật chúng
ta
mới thấy rõ vấn đề. Khai triển ra mình thấy sai như thế nào rồi! Khi phát
hiện những chỗ này, nêu lên đây để chư vị chú ý cho kỹ. Trong rất nhiều những
bài viết, những lần tọa đàm, nhất là khi đi hộ niệm, xin chư vị có thể tham gia
ban hộ niệm và nghe cho kỹ những lời, gọi là lời hướng dẫn bệnh nhân… không bao
giờ Diệu Âm nói những lời như vậy!

– Bác ơi quyết lòng nguyện vãng
sanh
nghe Bác, đi sớm ngày nào hay ngày đó nghe Bác… Không sợ!
… Nói rõ ràng:

– Ngày đêm niệm Phật, căn bệnh
này nó đến kệ nó nghe Bác, đừng sợ. Nếu mà Bác sợ bệnh, nhất định cái bệnh nó
sẽ bao vây lại, không cách nào thoát được. Đối với đời này khổ quá rồi! Bỏ
luôn, không sợ nữa. Cứ một lòng niệm Phật rồi nguyện vãng sanh. Đi hôm nay cũng
được. Khi nào A-Di-Đà Phật đến là đi liền. A-Di-Đà Phật hiện ra theo A-Di-Đà
Phật mà đi, rồi sau đó chúng con tới hộ niệm sau.

Rõ ràng những lời nói mình thấy đơn giản,
nhưng mà nhất địnhchú tâm về nguyện vãng sanh. Chứ không phải là: “Bác
ơi! Bác niệm Phật rồi năn nỉ với Phật nếu mà mạng này còn thì hết bệnh để an
tâm
niệm Phật, nếu mà mãn thì cho đi luôn”
Hoàn toàn hai ý nguyện này
khác nhau. Lấy lời giải thích của Tổ thành lời nguyện chính của mình, trong khi
nguyện chính là nguyện vãng sanh về Tây Phương mình lại không nguyện. Tu như
vậy sau cùng nhiều người đã mất phần vãng sanh. Nếu quý vị đã nghe tọa đàm về
hộ niệm, chắc chắn Diệu Âm đã đưa ra những cái mẫu mực của những người đã tu
36, 37 năm trường, kiết thất không biết bao nhiêu lần, tất cả những khóa Phật
Thất
Niệm Phật đều tham dự hết, nhưng sau cùng không được vãng sanh. Tại sao
vậy? Là tại vì không có người nhắc nhở cho những điều sơ suất này. Người niệm
Phật
đã chìm đắm trong những lời nguyện sai lầm! Trong lúc nguyện vãng sanh thì
họ sợ chết, họ đã nghĩ tới cái bệnh. Họ nguyện là: “Con niệm Phật như vậy
quyết lòng xin Phật cho con được hết bệnh”
.

Quý vị có nguyện như vậy không? Nhiều
người có trong đó. Xin thưa rằng, chuyện Nhân-Quả của mình A-Di-Đà Phật không nhúng tay
vào được. Tại vì có Nhân thì có Quả. Nhân ở đâu? Nhân trong vô lượng kiếp, nhân
trong lúc chúng ta mê mờ làm những điều sai trái. Bây giờ mình tu có giỏi cho
mấy, làm thiện nhiều cho mấy đi nữa thì cái nhân nó vẫn còn nguyên đó. Nhân lành
thì hưởng quả lành, nhân ác thì bị quả ác. Nhân lành mà muốn hưởng quả lành thì
cái tâm của ta phải duyên tới cái nhân lành đó, để cho cái nhân lành nó nở ra
cái quả cho chúng ta hưởng. Trong lúc chúng ta tu là tạo nhân lành, nhân lành
thì sẽ hưởng quả lành, nhưng cái tâm chúng ta lại sợ bệnh, tức là nó duyên tới
những cái nhân bệnh, thì cái nhân bệnh nó sẽ hiện ra. Nếu một người giác ngộ,
thì khi cái bệnh hiện tiền, chính đây là một bài pháp sống thực, giúp ta vẫn
vui vẻ, thoải mái.

Nếu quý vị nghe, xem những băng đĩa Diệu
Âm
hộ niệm cho người ta. Người ta bệnh… người ta sắp chết… nhưng mình tới vẫn
bắt tay, cười hè hè:

“Như vậy là Bác sướng, Bác được
về trước tôi. Không sao! Bây giờ cái bệnh nó đau, nó càng đau chứng tỏ rằng
mình sắp đi về Tây Phương rồi. Vui vẻ lên, sẵn sàng trả nghiệp đi, không sợ gì
cả. Một lòng niệm Phật, càng đau càng niệm Phật, trông cho nó đau nhiều hơn nữa
đi…
”.

Chứ tôi không bao giờ nói rằng:

“Bác ơi! Bác niệm Phậtniệm
Phật
cho nó hết đau nghe Bác
.

Mình nói niệm Phật cho hết đau tức là gợi
ý để người ta nghĩ đến chuyện đau đó, nhất định cơn đau này nó sẽ càng ngày
càng tăng lên. Nó mới tăng có một nửa mà người ta cứ tưởng nó tăng đến một trăm
lần! Cái tâm người ta đã chìm đắm trong cái nghiệp đó, chìm đắm trong cơn đau
đó, nhất định người ta không còn cách nào thoát được cái ách nạn của bệnh khổ!
Trong khi đó, xin thưa thật, chính phụ thân của Diệu Âm, là ông già của Diệu
Âm
, từ khi bệnh cho đến lúc vãng sanh, ông không bao giờ vô trong bệnh viện, mà
nhiều khi mình muốn đưa ông vào bệnh viện, mình cảm thấy sợ ông bị đau, nhưng
ông không vôkhông vô. Cái lực của ông mạnh như vậy đó. Từ một người bình
thường
không có tu, khi biết tu rồi thì nhất định không đi. Trước những giờ
phút tắt hơi, mười một ngày bí tiểu. Mình mà bí tiểu một ngày thôi, mình sẽ la
làng la xóm! Ông ta bí tiểu mười một ngày?… Không cần. Ông nói bí tiểu thì đi
về Tây Phương luôn. Thế mà mười một ngày ông ta vẫn cười hè hè trong tình trạng
đó để ra đi. Cái năng lực này xin thưa thật, nếu mà ông cụ đó nguyện rằng: “Nam
Mô A-Di-Đà Phật, xin cho con hết bệnh để con niệm Phật
thì nhất định ông có thể bị đau lăn lộn từ trên giường xuống dưới
giường và ông ta không thể nào an nhiên tự tại ra đi tại nhà, mà phải ra đi
trong bệnh viện! Quý vị nghĩ thử, trong bệnh viện làm sao có thể hộ niệm
được?…

Chính vì vậy mà bắt đầu từ hôm nay, sẵn
trong dịp này, Diệu Âm sẽ cố gắng khai triển ra những điều sơ suất rất là phổ
thông
để chúng ta tránh. Nếu không tránh được thì coi chừng tu như thế này gọi
là KHẾ LÝ, nhưng áp dụng thì không KHẾ CƠ, không hợp! Không hợp thì chúng ta
thể tự rước lấy những ách nạn, chứ đừng nghĩ rằng chúng ta niệm Phật nhiều như
vậy là chắc chắn sẽ được vãng sanh, còn những người kia không niệm Phật thì
không được. Coi chừng những người không niệm Phật đó, nhưng mà nhờ thiện căn
phước đức của họ, đến giờ phút cuối cùng lại gặp những người tới khai thị. Được
khai thị, họ phát lòng tin vững vàng, nói đâu nghe đó. Nói một nghe một, nói
hai nghe hai, nói một làm một, nói hai làm hai, người ta vãng sanh. Còn mình
thì tu nhiều quá(!), nhưng nói một không chịu làm, tưởng những điều này là đơn
giản! Đứng trước bệnh nhân khai thị, tưởng là những lời này đơn giản! Đơn giản
coi chừng mình thực hiện sai! Mình đi sai đường!…

Mong cho chư
vị quyết tâm nhất định đừng bao giờ để một cái gì sơ suất, ta sẽ vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ
KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 5)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Nhân tiện trong những giờ nói về tu hành
cần phải “Khế Lý – Khế Cơ”, Diệu Âm xin nêu ra một vài điều sơ suất rất tế vi
trong pháp tu niệm Phậtkinh nghiệm đã gặp qua, từ sự sơ suất đó mà nhiều
người đã không được vãng sanh một cách hết sức đáng tiếc! Nói đáng tiếc có
nghĩa là đúng ra họ được vãng sanh, nhưng chỉ vì một sơ suất nhỏ, chú ý lắm mới
thấy, không chú ý không thấy, nên cứ tưởng là đúng, nhưng sau cùng thì kết quả
thực sự là hơi buồn!…

Hôm qua chúng ta có nhắc đến lời nguyện
vãng sanh, là chúng ta phải đơn giản, gọn gàng:

Nam Mô A-Di-Đà Phật con
nguyện vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

– Con thèm vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
.

– Xin Phật cho con về Tây
Phương Cực Lạc
.

– Con muốn vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
.

Nói sao nói, mình nói gọn như vậy cũng
được, nhất là trước những giờ phút lâm chung xin đừng có nên dài dòng cái đuôi
phía sau, nhiều khi chính cái đuôi đó nó lộ ra một cái gì sơ suất chính trong
tâm chúng ta. Ví dụ như hôm qua, mình có nói một người đã nguyện: “Nam Mô
A-Di-Đà Phật, nếu mà con số phần đã hết thì cho con vãng sanh liền, nếu mà số
phần con chưa hết thì xin cho con hết bịnh để con tiếp tục tu
hành…. Nghe qua thì thấy không có cái gì sai
hết, tại vì người ta vẫn nguyện vãng sanh, nhưng thực ra cái tâm nguyện này là
tâm nguyện sợ bịnh, mà nhiều khi còn sợ chết nữa trong đó! Thực ra thì chính
những lời này là lời mà chư Tổ dùng để dặn dò những người không biết pháp môn
niệm Phật
. Ngài dặn như vậy để cho mình an tâm quyết lòng nguyện vãng sanh,
mình vô tình lại bỏ lời nguyện vãng sanh mà đem cái lời giải thích của các Ngài
thành lời nguyện, nên sức nguyện của mình không đủ mạnh, thành ra không có cảm
ứng
, không có tương ưng với đại nguyện, và sau cùng có thể mất phần vãng sanh
một cách oan uổng!

Hôm nay, mình nói thêm một chút nữa về
những điều tế vi trong lời nguyện. Có nhiều người khi bịnh xuống rồi thì phát
nguyện
như thế này:

Nam Mô A-Di-Đà Phật, một đời
con làm thiện làm lành, con quyết đi về Tây Phương để cứu độ chúng sanh. Hôm
nay con bịnh quá cho nên niệm Phật không được, nguyện Phật thương tình cho con
hết bịnh để con niệm Phật để về Tây Phương. Khi con hết bịnh rồi con phát
nguyện
con sẽ làm tất cả những việc thiện lành khác để giúp đỡ cho chúng sanh,
còn ngày nào con làm việc thiện lành ngày đó.

Đại khái như vậy… Lời nguyện này nếu
những người không hiểu đạo, nghe qua người ta thấy vĩ đại lắm. Nhưng thực ra
lời nguyện này cũng đi lệch với pháp tu rồi. Tại vì chư Tổ thường hay dặn chúng
ta
: Nguyện là nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, không được nguyện hết
bịnh. Các Ngài khuyến tấn chúng ta rõ rệt là cái thân bịnh này nhất định
nó có định kỳ rồi. Nếu ta là một vị ở trên Tây Phương Cực Lạc giáng sanh xuống
đây, tái lai xuống đây để làm đạo, chúng ta cũng giả đò bịnh, giả đò sao đó
cũng được, thì các Ngài muốn nguyện sao nguyện, và các Ngài muốn đi thì đi,
muốn về thì về. Thực ra nhiều khi các Ngài không cần nguyện nữa là khác. Các
Ngài giáng sinh xuống đây thấy một chúng sanh khổ, các Ngài cứ lăn xả vào làm
việc giúp đỡ chúng sanh, các Ngài không niệm Phật nữa, vì các Ngài là người đã
ở trên cõi Tây Phương thị hiện xuống đó thôi. Còn chúng ta là một người hạ căn
phàm phu, thì nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp nó đã đúc kết đến đời này rồi.
Cái thọ mạng này thực ra là để trả nghiệp. Mình sinh ra mình phải trả nghiệp 70 năm, nhất định
cầu trước một năm, tức là 69 năm không được, tại
mình phải trả cho đủ 70 năm. Khi thọ mạng
đến rồi, trong khi phước báu của mình nhiều quá, mình cầu thêm nửa tháng nữa để
hưởng cũng không được.

Thực sự như vậy. Đây là lời Tổ dạy, cho nên xin chư vị, chúng ta
hãy an tâm về vấn đề sanh tử. Tại vì khi đi hộ niệm mình mới thấy rõ rệt điều
này, có những người ngày đêm cầu chết: “Con đau quá rồi, cầu Phật, cầu trời, cầu
miễu gì đó cho con chết”
. Họ cầu chết từng ngày, từng giờ thế mà
không chết. Ở tại quê của Diệu Âm có một bà Cụ, 99 tuổi, bà thèm chết đến
nỗi bà làm một cái quan tài để tại đầu hè, bà trải chiếu trong cái quan tài và
bà nằm trong cái quan tài đó để cho chết. Khi bịnh không ai dám tắm nước, còn
bà thì khi bịnh bà lấy nước xối ướt hết áo quần, rồi đến nằm trong cái quan tài
đó cho chết, thế mà không chết. Bà thọ trên 100
tuổi, không chết là không chết, không kiêng không cử gì hết, mà cứ nằm… nằm
trong quan tài rồi đậy cái nắp lại một nửa, để ló cái lỗ chui vô vậy thôi.
Trông chết mà không chết. Tại vì cái thọ mạng người ta nó có định rồi, không
mắc mớ gì mà mình sợ hết.

Khi bịnh xuống, lời nguyện của mình nó xác
định cái tâm nguyện vãng sanh của mình. “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con một đời làm thiện
làm lành, chắc chắn con muốn về Tây Phương với Phật, nhưng mà bây giờ đau quá
xin Phật thương con cho con hết bịnh để con niệm Phật”
. Rõ ràng mình
đang nguyện hết bịnh. Chư Tổ dạy nếu mà mình nguyện hết bịnh thì cái bịnh của
mình không hết, nhưng nếu lúc đó cái thọ mạng của mình hết thì vì lời nguyện
hết bịnh, bắt buộc mình phải trôi theo thân bịnh này mà tiếp tục thọ sanh trong
lục đạo luân hồi, không biết là cảnh giới nào. Nếu mình nguyện vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
một cách tha thiết, nếu cái thân mạng này hết hạn thì nhờ lời
nguyện
này mà cảm ứng với 48 đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, mình được vãng
sanh
về Tây Phương Cực Lạc. Nếu cái thọ mạng của mình chưa hết, có nghĩa là ba
tháng nữa, năm tháng nữa, một năm nữa… thọ mạng mới hết, thì nhờ cái lòng tha
thiết có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh tự nhiên được chư Bồ-Tát gia trì, được thần lực
của A-Di-Đà Phật gia trì, vì đây là một hành giả đã đủ Tín-Nguyện-Hạnh để đi về
Tây Phương, thì tự nhiên cơn bịnh sẽ giảm, nó giảm một cách rõ rệt. Có rất
nhiều người, Diệu Âm nói rõ ràng là rất nhiều người, đã có hiện tượng này. Lạ
lắm! Có nhiều người đã hết bịnh một năm rồi ra đi, có nhiều người hai năm, có
nhiều người ba năm, có nhiều người đến nay hiện tại bây giờ là gần sáu năm rồi,
từ một bịnh ung thư chuẩn bị chết mà không chết. Có nhiều người bác sĩ đã khám,
có ung thư khắp người, như vậy mà niệm Phật tự nhiên cũng khoảng mấy tháng sau
thì thực sự không còn ung thư nữa. Lạ lắm chư vị!

Những điều này nói ra đối với khoa học
người ta không tin, nhưng Diệu Âm tha thiết nói với chư vị, hãy tin đi, vững
vàng
tin đi, chắc chắn. Ví dụ như hồi chiều này có khoe mấy tấm hình cho anh
Thiện Bình coi, tôi chỉ cho Thiện Bình về cô bác sĩ Vân Hương ở bên Đức, chính
người thân của chị là người bị ung thư chuẩn bị chết. Chị là một người bác sĩ
trị bệnh ung thư nhưng đành phải bó tay! Nhờ khuyên cô đó niệm Phật, quyết lòng
buông xả, không cần gì nữa hết, niệm Phật bảy tháng sau thì tự nhiên bịnh ung
thư không còn nữa. Lạ lùng! Hiện tại bây giờ vị đó vẫn còn sống và chính Diệu
Âm
có gặp trực tiếp được người bịnh đó. Quý vị thấy lạ lùng chưa? Không thể nào
mà mình tưởng tượng ra được!

Cho nên khi bịnh xuống mà mình nguyện cầu
cho hết bịnh, với lời nguyện này mình tưởng rằng mình tha thiết đi về Tây
Phương
, nhưng thực ra nó đã dấu cái tâm sợ chết trong đó. Hay nói rõ hơn, mình
giả đò nguyện vãng sanh, chứ thực ra mình sợ chết. Chư Tổ nói, đã sợ chết thì
nhất định không thể vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Những người có phước báu, những người có
tiền bạc thường là người sợ chết. Còn những người khổ khổ một chút, người ta
thấy đời này quá khổ, nên không tha thiết nữa. Vì không tha thiết nữa, nên
trước những cơn đau họ thèm vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Sự thèm muốn vãng
sanh
về Tây Phương Cực Lạc, sự nguyện cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc quá
mạnh, nó mạnh đến nỗi mà họ quên mất cái đau luôn…

Hôm qua chúng tôi nêu ra một trường hợp
như chính phụ thân của Diệu Âm. Là một người bị bịnh, hai vị bác sĩ đứng nhìn
thấy một hiện tượng lạ mà phải ngỡ ngàng! Những hiện tượng này nếu ở trong bệnh
viện, họ phải chích cái thuốc giảm đau cực mạnh, nếu không thì ông Cụ đau đớn
phải lăn lộn từ trên giường lăn xuống đất. Thế mà ông Cụ cười hè hè. Mà đặc
biệt
nữa, là ông Cụ quyết định không chịu đi vào bệnh viện. Không chịu đi! Nói
đi về Tây Phương thì đi chứ đi nhà thương thì không đi. Ông Cụ cười hè hè cho
đến
khoảng chừng mười, mười lăm phút trước khi ra đi là hết cười nữa rồi, rồi
ra đi.

Quý vị hãy coi cái phim của bà Nguyễn Thị
Cúc ở Gia-Lai, tám năm nằm trên giường bệnh, hộ niệm mười ngày tỉnh dậy, tỉnh
dậy
rồi nhưng ngồi dậy không được mà nằm trên giường, chắp tay bái: “A-Di-Đà
Phật cho con về Tây Phương
”. Bà tha thiết đi về Tây Phương. “Nam Mô
A-Di-Đà Phật cho con về Tây Phương
”. Chỉ vậy mà thôi, bà Cụ đã biết được
giờ vãng sanh. Vì sao vậy? Vì trong những giờ phút trước khi xả bỏ báo thân cái
tâm nguyện của Cụ quá mạnh, nó mạnh đến nỗi cảm ứng đến 48 lời nguyện của đức
A-Di-Đà mà được vãng sanh. Quý vị coi bà Phan Thị Diệu Anh, người ta xúi giục
bà, người ta củng cố tinh thần bà, khuyến tấn bà đến nỗi trước giờ chết bà nói,
Bây giờ tôi mừng quá rồi, tôi muốn nhảy, tôi nhảy múa”. Có nhảy được
không? Nhảy mà mấy người chung quanh sợ bà té. Nhờ nỗi vui mừng đó, cộng thêm
sự thèm muốn đi về Tây Phương, quyết đi về Tây Phương, bà quên hết tất cả, cơn
đau cũng quên luôn, không còn nữa. Nói về tâm lý cũng đúng, mà nói Phật lực gia
trì
thì thật sự là có. Không phải dễ!…

Còn trước những giờ phút đó mà ta nói “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con tu nhiều quá rồi,
sao Phật không cho con hết bịnh để con niệm Phật cho nhất tâm để con về Tây
Phương
…” Đó là cái tâm sợ chết! Đó là lời nguyện sợ bịnh! Nguyện hết bịnh
thành ra mất phần vãng sanh. Có rất nhiều cuộn phim vãng sanh, quý vị coi lại
những phim vãng sanh rồi, thấy đó mình mới hiểu rằng, được vãng sanh hay không
đều nằm trong giây phút này.

Chúng ta nói ở đây là trong lúc chúng ta
còn tỉnh táo chứ không phải nói trong lúc chúng ta lâm chung. Nếu không chuẩn
bị ngay bây giờ, chưa chắc gì khi lâm chung tinh thần của chúng ta mạnh bằng
những người đó. Trong khi những người đó lại tu ít hơn ta, mà người ta thì có
tinh thần mạnh hơn ta. Tại sao ta lại thua họ?

Không chịu vững mạnh ngay từ bây giờ, cứ
chờ đến giờ phút lâm chung tưởng rằng ta ngon hơn sao? Nhưng mà coi chừng tinh
thần
chúng ta hình như yếu hơn đó. Vì yếu hơn nên oan gia trái chủ cũng có
những đòn thế dành cho những người tu hành với tâm không vững!… Sau cùng
vướng nạn là tại vì vậy.

Mong tất cả chư vị quyết lòng nguyện vãng
sanh
. Rõ ràng! Minh bạch! Đừng ngại, đừng ngùng gì nữa cả, chắc chắn chúng ta
được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 6)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Chúng ta đang triển khai vấn đề Khế
Lý – Khế Cơ
, trong đó:
“Khế Lý” tức là chúng ta tu đúng theo lời Phật dạy, “Khế Cơ” là tùy sức, tùy
căn mà áp dụng những lời nào chính xác cho căn cơ của chúng ta
.

Khế Lý hoàn toàn không phải là ta nói cho
hay
, ta luận cho giỏi, ta nói những điều cao siêu huyền diệu. Hoàn toàn không
phải như vậy! Thường thường những người thích nói điều cao siêu huyền diệu, hầu
hết sau cùng không được phần vãng sanh nếu là người niệm Phật. Còn tu pháp môn
khác mà thích nói cao siêu quá, sau cùng cũng khó thành tựu!

Khế Lý tức là đúng kinh Phật. Tuy nhiên
kinh Phật nói có lúc thật là cao, cũng có lúc ứng dụng trong những hàng phàm
phu
tục tử chúng ta. Nên lựa những lời các Ngài chỉ cho hàng phàm phu tục tử
chúng ta, rồi ứng dụng mà tu thì gọi là Khế Cơ.

Trong pháp niệm Phật của chúng ta, nhất
định
tâm tâm nguyện nguyện là làm sao trong một đời này vãng sanh về Tây Phương
Cực Lạc
. Nếu niệm Phật mà không nghĩ tới cái chuyện vãng sanh về Tây Phương Cực
Lạc
, là không Khế Lý mà cũng không Khế Cơ luôn! Tức là đi lạc đường, dù hình
thức
có hay cách nào đi nữa, sau cùng cũng bị uổng thời gian công phu tu tập!

Ngày hôm qua chúng ta đang nói đến chỗ một
người có cái tâm định vào Tây Phương Cực Lạc, định vào câu A-Di-Đà Phật thì mọi
chuyện xảy ra với họ, họ tự nhiên thoải mái, họ không bị phân vân, chao đảo,
thối chuyển. Thường thường điều làm cho chúng ta thối chuyển nhiều nhất là
những cơn bịnh đến với chúng ta. Có nhiều người trong lúc khỏe mạnh tu hành tưởng
là mình hay lắm, nhưng khi một chút thử thách đến, ví dụ như căn bệnh đến thì
tự nhiên tinh thần của họ sụp đổ, và ý chí của họ hình như tan biến. Lúc đó ta
mới thấy rõ rệt là chính cái tâm mình quá yếu rồi, không còn đủ nữa. Vì vậy, có
nhiều người trước những cơn bịnh, họ cười vui vẻ thoải mái. Có những người khi
mà cơn bịnh xảy ra thì tự nhiên tinh thần của họ đã bay ngõ nào mất hết, và cái
định của họ nó cũng bay ngõ nào mất tiêu. Họ không còn tự tại nữa!… Đây là
điều chúng ta nhắc nhở ngày hôm qua.

Trong kinh Bảo-Vương-Tam-Muội có nói,
người học Phật đừng bao giờ cầu cho thân thể này không bịnh, vì những người
thân thể không bịnh thường thường không tu được. Chính vì thế, khi mà bịnh đến
với chúng ta, xin chư vị nếu đã biết đạo, biết đường về Tây Phương rồi, thì một
căn bịnh đến giống như là một ân huệ giúp cho chúng ta được một chuyến đò để về
Tây Phương Cực Lạc. Nếu chúng ta không chịu ngộ ra đường đạo, thì một cơn bịnh
đến tự nhiên có điều cản trở, làm cho tâm thối chuyển, hoang mang, lo sợ…

Hôm nay chúng ta nói tiếp một chút xíu nữa
về những sơ suất của người học đạo, mà thường thường những cái sơ suất căn bản
này làm cho chúng ta mất phần vãng sanh. Hẳn nhiên, xin nói cho rõ ra, là không
phải sơ suất ở trong lý đạo cao siêu, mà chính là sơ suất ở những chỗ căn bản,
gần gũi nhất, chứ không đâu xa lạ cả.

Vãng sanh về Tây Phương, nên nhớ rõ, là do
quyền lợi của chính mình và được đức từ phụ A-Di-Đà thương xót chúng sanh, do
lòng đại từ đại bi của Ngài tiếp dẫn mình về Tây Phương để một đời khi mình xả
báo thân này, thay vì mình phải chịu đọa lạc trong những cảnh khổ sở đau đớn
qua nhiều kiếp, kiếp này qua kiếp nọ, gọi là Lũy kiếp nan xuất, thống bất khả ngôn. Như vậy thì khi vãng sanh về Tây
Phương
chính là cái quyền lợi của mình, chứ không phải là quyền lợi của Phật.

Ấy thế mà có nhiều người tu hành lại nghĩ
ngược lại, là khi ta vãng sanh về Tây Phương là do quyền lợi của Phật. Vì quyền
lợi
của Phật cho nên ta nguyện vãng sanh về Tây Phương. Chính vì vậy mới sinh
ra những lời nguyện sai lầm, để dẫn tới chỗ sau cùng mất phần vãng sanh. Thường
thường
những người này họ nguyện như thế nào? Cứ… “Nam Mô A-Di-Đà Phật, Phật cho con về Tây Phương. Nhưng dù sao đi
nữa Phật cũng cho con hết bịnh, dù sao đi nữa cũng cho con làm cho hết

việc này, làm cho hết cái việc kia… rồi con mới đi”.

Thường thường người ta đặt điều kiện như
vậy, nhiều lắm! Vì những lầm lẫn nho nhỏ này mà làm con đường đi về Tây Phương
của họ bị đoạn mất. Rất nhiều chứ không phải là không có. Khi đi hộ niệm sẽ
thấy những trường hợp này. Những người nghèo người ta không nguyện như vậy, mà
thường nguyện rằng, “Nam Mô A-Di-Đà Phật, xin Phật cho con về Tây
Phương
, về lúc nào cũng được, con không sợ gì cả, con quyết lòng về Tây Phương,
nguyện thành Phật độ chúng sanh”.

Tại vì họ khổ quá rồi! Họ không muốn ở đây
nữa. Nhưng một người sống sướng một chút, thì thường thường họ nguyện như vầy: “Nam
Mô A-Di-Đà Phật, trong một đời của con, con đâu có làm điều gì sai. Tại sao con
lại bị bịnh? Nam Mô A-Di-Đà Phật, con cũng bố thí, cũng cúng dường, cũng xây
chùa, cũng cất miễu, cũng làm cầu… nhiều lắm, tại sao Phật lại bất công…
không chịu giúp cho con khỏe mạnh, an khang? Bất công quá!”
.

Trong lúc tu hành họ có cái tâm trách móc.
thực ra, rõ rệt là những căn bịnh này, những sự khổ ách này, nhất định là do
chính mình gây ra, chứ không phải là người khác. Chắc chắn. Nếu đời này mình có
làm việc đại thiện đại lành gì đi nữa, mà mình vẫn bị tai nạn, vẫn bị đau đớn,
vẫn chịu nhiều cảnh khổ là do trong tiền kiếp mình tạo ra cái nhân đó, nhất định
không cách nào từ chối được. Thế gian còn có câu, “Nhất ẩm nhất trát mạc phi tiền định”.
Một cái ăn, một cái uống, một cái gặp nhau trong đời này nhất định cũng do tiền
định
, thì một cơn đau mà đến với chúng ta, một căn bịnh ngặt nghèo đến với
chúng ta, hoàn toàn là do chính chúng ta tạo ra. Vì thế, khi tu hành cần phải
cố gắng nhớ điều này, “Nhân
Duyên
Quả Báo tơ hào không sai”!

Ba cái nó đi với nhau. Vì ưa nói gọn nên
thành ra Nhân-Quả. Chứ thật ra phải nói là: Nhân-Duyên-Quả. Chính nhờ
cái Duyên này mà ta mới thoát nạn đây. Duyên như thế nào? Nếu ta định vào trong
câu A-Di-Đà Phật, quyết lòng đi về Tây Phương thì ta cứ một lòng niệm Phật, một
lòng cầu về Tây Phương. Một cơn bịnh đến ta mừng ta vui, vì ta trả cái nghiệp
này trong ngày hôm nay thì ba tháng sau ta khỏi trả. Nếu ta trả căn bịnh ngặt
nghèo trong tháng này thì tháng sau ta khỏi trả. Ta trả tất cả những cái chuyện
đau đớn này thì lúc lâm chung ta khỏi đau đớn. Hiểu được vậy thì tự nhiên ta an
nhiên
đón nhận căn bịnh.

Xin chú ý cho kỹ điểm này, là ta an nhiên
đón nhận căn bịnh của ta, chứ không phải ta cầu mong cho căn bịnh đến với ta.
Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Xin nhớ kỹ, chứ không thì dễ hiểu lầm chỗ này
chúng ta lại có thể bị đại nạn. Có nhiều người sơ ý, khi tu hành thường phát
ra những lời nguyện hết sức sai lầm! Ví dụ: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, con nguyện sẽ trả cho hết tất cả những nghiệp
chướng
của con để con đi vãng sanh về Tây Phương
Cực Lạc. Con
quyết tâm giải cho hết mọi ách nạn để rồi con được thành tựu
”.

Đây là lời nguyện hoàn toàn sai lầm đối
với một người niệm Phật cầu sanh Tịnh-Độ. Mà đúng ra nên nói rằng, ta an nhiên
tự tại đón nhận căn bịnh. Căn bịnh nó đến nhiều ta an nhiên nhiều. Tâm ta định
vào câu A-Di-Đà Phật. Xin nhớ, cái lực định này tự nó phá tan nghiệp chướng
ngay lúc đó hồi nào không hay. Chứng tỏ được rõ rệt rằng, có nhiều người đau
trên giường, các vị bác sĩ tới thăm, họ nghĩ rằng người này phải bị tê liệt,
bán thân bất toại, nằm dài trên giường, không nói được, không đi được… thế mà
họ đi ngờ ngờtâm lực của họ nó quá mạnh. Cho nên mình phải nhớ,
không nên tạo cái duyên cho cái nghiệp nó nở ra.

Làm sao không tạo cái duyên cho cái nghiệp
khỏi nở ra?…

Đừng sợ cái nghiệp,

Đừng mong cái nghiệp,

Đừng lo cái nghiệp,

Đừng khổ vì cái nghiệp thì tự nhiên cái
nghiệp nó nằm đó, nó chờ trong tương lai một kiếp nào đó nó mới
hiện ra.

Trong thời gian chờ đợi tương lai hiện ra,
thì ta đã được tương ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, đã về Tây Phương
Cực Lạc
rồi. Khi về tới Tây Phương Cực Lạc ta trở thành Bồ-Tát Bất-Thối-Chuyển,
thần thông đạo lực, vô cùng nhiệm mầu, bao trùm pháp giới. Ta dùng cái thần
thông
đạo lực đó vì chúng sanh chịu khổ mà xuống các quốc độ cứu độ chúng sanh.
Lúc đó ta trả nghiệp nhưng không phải là ta xuống dưới địa ngục để chịu hành
hình, mà ta trả nghiệp bằng cách dùng thần thông đạo lựctrí huệ của một vị
Bồ-Tát Bất-Thối đi cứu độ chúng sanh, giảng kinh thuyết đạo dẫn chúng sanh đi
về Tây Phương để mà trả nghiệp. Cách này hay vô cùng.

Chính vì thế, xin thưa, nghiệp nó đến với
chúng ta là do chúng ta mời nó. Còn nếu chúng ta cứ một lòng một dạ:

Duyên với Tây Phương Cực Lạc.

– Nghĩ A-Di-Đà Phật.

– Nhớ A-Di-Đà Phật.

– Niệm A-Di-Đà Phật.

– Nguyện về Tây Phương với
A-Di-Đà Phật…

Thì tự nhiên cái nhân đi về Tây Phương đã
chín muồi trong tâm chúng ta, nhờ do sức nguyện làm thành cái Duyên để nảy nở
cho chúng ta cái Quả báo, Quả báo đi về Tây Phương thành đạo.

Chính vì vậy, khi mà mình biết được một
chút tu hành rồi, mong cho tất cả chư vị cố gắng bắt đầu từ hôm nay, tất cả những
căn bịnh nào đến, chúng ta hãy an nhiên tự tại lên, đừng sợNhất định đời
này đã có vận hạn rồi, không sao cả. Khi cái tâm chúng ta buông ra thì tự nhiên
cái nghiệp nó cũng buông chúng ta ra, nó nằm im đó để cho chúng ta lấy cái Nhân
“A-Di-Đà Phật” để thành cái Quả “A-Di-Đà Phật”, gọi là Niệm Phật Là Nhân, Thành
Phật
Là Quả
.

Còn tất cả những nghiệp khác ta “Đới” nó.
Đới là đem về Tây Phương. Đem về Tây Phương ta dùng thần thông đạo lực, biết
hết trong vô lượng kiếp chúng ta làm gì, ta bắt đầu đi cứu độ chúng sanh để trả
nghiệp. Đây là con đường rất là vi diệu, tuyệt vời của những người niệm Phật
vãng sanh
như chúng ta.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 7)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Tu hành cần phảiKhế Lý – Khế Cơ”. Người
phàm phu tục tử chúng ta, ráng cố gắng tránh những hiếu kỳ ngoài khả năng của
mình, để sau cùng mình khỏi bị vướng những cái bẫy hay những sơ suất đáng tiếc!
Trong pháp niệm Phật vãng sanh, hai điểm này rất là quan trọng.

– Thứ nhất là “Niềm Tin”.
Đừng nên nói, “Để khi lâm chung rồi tôi phát khởi tin cho nó vững, chứ bây
giờ đây chưa cần”!
Không phải như vậy! Cho nên ráng chú ý xét soi coi mình
có thiếu niềm tin hay không? Nếu mà thiếu niềm tin vãng sanh, thiếu niềm tin về
Tây Phương Cực Lạc thì bây giờ chúng ta tu ba, bốn chục năm, một ngày niệm Phật
mười vạn tiếng, tức là một trăm ngàn câu A-Di-Đà Phật, sau cùng chúng ta cũng
không hưởng được phước phần giải thoát.

Nếu mà lời Nguyện Vãng Sanh
của chúng ta không vững, thì dầu cho có đến đạo tràng này tu suốt cả cuộc đời,
ngày nào cũng tu, một ngày chúng ta niệm một trăm ngàn tiếng Phật hiệu, thì đến
sau cùng cũng không hưởng được phước phần vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Đây là
điều mà chư Tổ thường cũng nhắc nhở như vậy đó.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói… “Niềm Tin
vững vàng, phát nguyện vãng sanh tha thiết, thì dẫu cho tán tâm niệm Phật, loạn
tâm
niệm Phật cũng được vãng sanh”
.

Xin chư vị nghe cho kỹ những lời của Tổ,
đừng nên hiếu kỳ tìm những lý luận xa vời cao siêu làm chi! Hãy nghe cho thật
kỹ những lời Tổ dạy. Ngài nói…

“Vãng sanh về Tây Phương được hay không là
nhờ TÍN và NGUYỆN”
. Nghĩa là, phải tin tưởng cho vững và phải tha thiết nguyện vãng
sanh
về Tây Phương. “Còn phẩm hạnh
ở trên cõi Tây Phương cao hay thấp là do niệm Phật sâu hay cạn”
.

Câu này quan trọng lắm! Nhiều người tu mà
quên câu này nên sau cùng chúng ta mới thấy những chuyện xảy ra khá lạ lùng! Có
nhiều người tu rất nhiều mà không được vãng sanh, có lẽ là sơ ý chỗ này. Muốn
vãng sanh về Tây Phương cao phẩm hay hạ phẩm, thì chúng ta cũng phải về tới Tây
Phương
trước đã, sau đó mới có thể nói cao phẩm hay thấp phẩm. Chứ nếu không về
được tới Tây Phương thì cao phẩm ở chỗ nào? Thấp phẩm ở chỗ nào? Yếu tố nào để
về được Tây Phương? Chính là Niềm Tin và sự Phát Nguyện
Rõ ràng!

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, “Nếu không phát nguyện vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
, niềm tin yếu ớt, thì dẫu cho niệm Phật đến “Nhất tâm bất loạn”
cũng không được vãng sanh
”. Ngài nói rõ rệt như vậy!

Ở đây có nhiều người thấy những tập sách
hướng dẫn một cách tu trì nào đó sao hay quá! Người ta định được ba năm vãng
sanh
, hai năm vãng sanh, quyết được “Nhất tâm bất loạn”… thì liền muốn chạy
theo
để được “Nhất tâm bất loạn”! Trong khi đó thì chính mình nguyện vãng sanh
không tha thiết. Điều này được chứng minh rõ rệt là khi vừa ngã bịnh xuống thì
tinh thần hình như mất hết! Nhìn vô thấy không còn một nét vui nào trên khuôn mặt
nữa! Từng giờ, từng phút lo âu!… Lo lắng không biết làm sao để chữa bịnh này?
Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, nếu mà bạn niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn, mà
bạn không nhắm về Tây Phương, nhất định cũng không được vãng sanh về Tây Phương
Cực Lạc
.

Ngài Trung-Phong Đại Sư nói, “Niệm Phật
mà không nguyện vãng sanh về Tây Phương, dẫu cho công hạnh có cao dày cho đến
đâu đi nữa cũng trở nên nên thiết”
. Tất cả các vị Tổ đều nói như vậy.

Chính vì thế, khi quý vị quyết lòng đi về
Tây Phương để một đời này thành đạo, thì xin thưa thực, ở đây có A-Di-Đà Phật,
ảnh tượng của Ngài tại đây, lời thề của Ngài cũng tại đây, Ngài phóng quang
chiếu khắp tất cả mọi nơi để cứu độ từng người, từng người vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
. Về Tây Phương với Ngài chúng ta thành Phật. Ấy thế mà trong sự
tu hành, chúng ta không chịu tự kiểm điểm lấy, cứ chạy theo những cái lý hão
huyền
xa vời! Với năng lực của một người phàm phu tục tử tội chướng sâu nặng
này, không chịu nắm lấy những cái hết sức căn bản, hết sức vững vàng, gọi là “Sự
tu vững vang
” để đi về Tây Phương, mà cứ chạy theo cái “”, gọi là “Lý
nhiệm mầu!”
mà quên mất “Sự
tu vững vàng”

Chúng ta nên biết, là đức Thích-Ca-Mâu-Ni
Phật Ngài dạy có những cái “Lý nhiệm mầu”, tối nhiệm mầu. Ngài
nói cho ai? Đại Bồ-Tát tu trì. Bên cạnh đó, Ngài cũng nói những cái “Sự
tu hành
cụ thể, chắc chắn, vững vàng cho người chấp trì để thành tựu.
Người này là ai? Là hạng hạ căn phàm phu. Cho nên đối với pháp Phật, người
thượng căn thành tựu đạo quả?… Dư! Người hạ cănthành tựu đạo quả
không?… Cũng dư luôn! Chính vì vậy mà pháp Phật được gọi là Pháp
Cứu
Độ
Nhất Thiết Chúng Sanh, không phải chỉ cứu độ hàng
thượng căn thượng cơ, còn bỏ rơi hàng phàm phu đâu. Chỉ vì hàng phàm phu chúng
ta
không chịu xác định mình là phàm phu, cứ tưởng mình là hàng cao cơ nên sơ
suất đó thôi!…

Hôm trước Thượng Tọa Thích-Trí-Thoát đã
giảng câu hay quá. Ngài nói rằng, Càng tu chúng ta càng cúi mình xuống để
cho cái vạt áo của mình, vạt áo trước nó có thần thông, nó dài ra. Nó dài ra
như vậy, mỗi lần mình bước đi cái áo nó cứ đập, đập, đập vô trong chân của
mình, nó nhắc nhở cho mình đi phải chậm chậm, đi phải từ từ, để đi vững vàng.
Đừng quá vội mà vấp, mà té. Một lần mà vấp té rồi thì muôn đời muôn kiếp không
cách nào có thể gỡ được
.

Thường thường những người tu hành hay bị
chướng nạn này, là không chịu cúi mình xuống, mà cứ ngửa lên nhìn trên mây xanh
để tìm đạo lý nhiệm mầu? Trong khi đó cái chân của mình cứ muốn bước đi cho
nhanh mà không để ý những cạm bẫy, những gai góc đang giăng giăng phía trước.
Một lần lỡ sa vào hố rồi, rơi xuống hố sâu thăm thẳm, lúc đó, nhìn lên bầu trời
cao những lý đạo nhiệm mầu đã tan biến vào hư vọng hết rồi! Rồi nhìn lại một
thực tế gì đây? Có phải chăng đang nằm dưới hố sâu đời đời kiếp kiếp, biết bao
giờ mới có thể ngóc đầu lên được?!

Thầy Trí-Thoát nói lên một câu nhắc nhở
chúng ta cần nên nhớ, nhất định phải khiêm nhường!…

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư, thị hiện một đời của
Ngài cống cao ngã mạn. Ngài khinh thường câu A-Di-Đà Phật, Ngài coi đó không ra
gì hết. Nhưng khi Ngài ngã một cơn bịnh, cơn bịnh thập tử nhất sanh, Ngài tưởng
rằng Ngài phải chết trong cơn bịnh đó. Nhưng may mắn Ngài vượt qua được. Khi
Ngài vượt qua được rồi, Ngài nói rằng: “Ủa! Nếu trong lúc bịnh như
vậy, mà ta chết, thì ta đi đâu?
”. Đặt lên một câu hỏi này, làm Ngài
giựt mình! Ngài tưởng rằng hồi giờ Ngài tu tốt, tu cao! Nhưng khi đau xuống,
những cơn đau quằn quại chịu không nổi! Lúc đó tâm thần tán loạn, không biết
đường nào mà đi! Ngài hỏi, trong lúc tán loạn như vậy, ta đi đâu? Ngài cầm
quyển kinh A-Di-Đà lên, Ngài ngộ ra liền con đường niệm Phật vãng sanh Tây
Phương Cực Lạc
. Ngài quyết lòng buông xả, niệm Phật cầu vãng sanh. Ngài trở
thành
vị Tổ thứ 9 của Tịnh-Độ-Tông Trung-Hoa.

Trong khi chúng taphàm phu tục tử, tội
chướng
sâu nặng mà không tự liệu thân. Bịnh là do nghiệp, là do tội chướng mang
đến
cho mình. Nó là của mình, nhất định không trước thì sau mình cũng phải
nhận. Nếu ngộ ra một chút đạo này, thì nhận trước khỏi nhận sau. Nếu ngộ ra một
chút đạo này, thì bịnh nó đến mình càng vui hơn nữa. Vì sao vậy? Vì nó nhắc nhở
cho mình biết mìnhphàm phu tục tử, nó nhắc nhở cho mình nhất định
Tín-Hạnh-Nguyện không thể nào ly ra được.

Cho nên:

Càng bịnh càng nguyện vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc.

– Càng bịnh càng khiêm nhường.

– Càng bịnh càng phải ngày ngày
ráng cố gắng niệm Phật để tạo công đức hồi hướng cho oan gia trái chủ, hồi
hướng
cho những cái nghiệp nhân mà mình đã tạo ra trong quá khứ.

Phải thành tâm làm hàng ngày, cứ
Tín-Nguyện-Hạnh, Tín-Nguyện-Hạnh như vậy mà đi. Nếu tín vững vàng, tin vào lời
Phật dạy
. Phật dạy sao? Người nào tội chướng nặng cho mấy đi nữa mà bây giờ
quyết lòng sám hối… Làm sao sám hối? theo lời Hòa Thượng Tịnh-Không dạy đi, Bất nhị quá, đừng có làm như vậy nữa…

– Tôi ghét một người nào, nhất
định
hôm nay tôi không ghét nữa.

– Tôi chửi một người nào, nhất
định
từ nay tôi không chửi nữa.

– Tôi cống cao ngã mạn, nhất
định
tôi không cống cao ngã mạn nữa.

– Tôi không làm ra những điều
sai nữa

quyết định tự mình phải bỏ.

Nếu tự mình không bỏ, thì nhất địnhTín” mình không đúng. Mình không bỏ thế gian này xuống,
không chịu nguyện vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
, thì khi bịnh xuống, mình sợ! Sợ là phiền não!… Mình có đầy đủ
những thứ chướng nạn đó, thì nhất định cái cõi Ta-bà này nó sẽ trói mình lại.
Mình niệm Phật dù cho mười vạn tiếng, ngài Tịnh-Không nói, mười vạn tiếng là niệm 100.000 câu
A-Di-Đà Phật hàng ngày, Ngài nói cũng như không! Ngài Trung-Phong nói, không
nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, dẫu cho công hạnh cao cho mấy đi nữa
cũng trở nên Hư Thiết. “Hư”
là không; “Thiết” là cần thiết.
Thiết
là không thiết thực!… Rõ ràng.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói, nếu không chịu
tha thiết nguyện vãng sanh mà cứ nguyện những cái gì khác. Tu để kiếm chút
phước này, kiếm chút phước nọ… Niềm tin không đủ! Nói chung, hai cái điểm đầu
không đủ, thì dù cho quý vị có tu suốt cuộc đời cũng không được vãng sanh! Nên
nhớ như vậy…

Cho nên rõ rệt Tín-Hạnh-Nguyện
điều căn bản để cho chúng ta vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải “Nhất Tâm Bất Loạn” mới được
vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nên nhớ, thời mạt pháp này chính trong kinh
Phật đã nói: “Ức
ức người tu hành, khó có một
người nào có khả năng chứng
đắc
”. Nhất tâm bất loạn
cảnh giới chứng đắc, chứ không phải là một điều an khang nào đó trong lúc
nhiếp tâm niệm Phật. Vậy mà có rất nhiều người sơ ý, cẩu thả mong cầu chuyện
nhất tâm bất loạn!

Ngài cư sĩ Hạ-Liên-Cư nói, “Niệm Phật không cầu nhất tâm bất loạn,
mới được nhất tâm bất loạn
”. Người nào cầu nhất tâm bất loạn, nhất
định
tâm sẽ loạn. Loạn đến có thể bị tẩu hỏa nhập ma, vì đời này là đời mạt
pháp
rồi!… Ngài Tịnh-Không nói, cư sĩ Hạ-Liên-Cư không phải là người bình
thường
, thân phận dù chưa có thố lộ ra, nhưng Ngài nói, đây không phải là người
tầm thường?…

Nguyện mong cho chư vị nhớ những điểm này,
đã đến đạo tràng này thì quyết lòng phải đi, đi đúng đường, đi cho đến Tây
Phương Cực Lạc
để thành đạo. Đây là điều mong ước của A-Di-Đà Phật đang chờ đợi
chúng ta thành đạo giải thoát, trên cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

 

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 8)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Mỗi lần nổi lên một cơn bịnh, mình mới ngộ
ra rằng mình chính thị là phàm phu tục tử!

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư bị một cơn bịnh thập
tử nhất sanh thì Ngài ngộ ra, Ngài lo niệm Phậttrở thành một đại Tổ Sư, còn
mình chính hiệu là phàm phu tục tử, bịnh rề rề, năm này cũng bịnh, năm kia cũng
bịnh, mình có quá nhiều dịp để ngộ rằng mình là phàm phu tục tử!

Vô thường đến bất kỳ lúc nào, không bao
giờ nó chờ đợi, không có hẹn được. Chính vì vậy mà khi mình biết được con đường
niệm Phật, mình biết trước cả khi mình bịnh nữa, tức là so ra mình hơn ngài
Ngẫu-Ích Đại Sư một chút. Ngài ngộ ra sau khi cơn bịnh, còn ta biết niệm Phật
trước khi cơn bịnh, vậy thì phải lo chuẩn bị.

Trong đường vãng sanh về Tây Phương Cực
Lạc
, hôm trước mình có nói qua, cái điểm quan trọng nhất là “Niềm Tin
và “Lời Phát Nguyện”. Nếu mà niềm
tin
yếu thì ta phát nguyện không có tha thiết. Nếu ta không muốn đi về Tây
Phương
thì thường thường ta sẽ có những sự phát nguyện lệch đi và sau cùng thì
mất phần vãng sanh. Xin đưa qua đây vài mẫu chuyện có thực…

Ví dụ như ở bên ngoài kia có cái phần hộ
niệm
vãng sanh, quý vị coi đĩa Sư Bà Thích-Như-Định, Ngài là Sư Bà trụ trì một
Ni-Viện, nhưng mà khi Ngài bịnh, Ngài dặn dò các hàng đệ tử và Ngài viết thư
nhờ các Ngài khác đừng lo gì khi Ngài chết, mà phải giao cho các ban hộ niệm họ
hộ niệm. Họ hộ niệm xong rồi quý vị mới làm theo các nghi lễ. Thấy lạ lùng
không? Một Sư Bà mà khi ra đi lại giao cho các vị Phật tử, tôi nhớ không lầm,
chính chị Diệu Thường hộ niệm cho Sư Bà. Sư Bà ra đi bất khả tư nghì, thoại
tướng
tốt không thể nào tưởng tượng. Trong khi đó thì cách đây cũng không lâu
cũng có một vị Ni, đã tuyên bốnhất tâm bất loạn, định được ngày giờ ra đi
và có rất nhiều vị Tăng Ni, đông lắm tới hộ niệm. Nhưng mà sau cùng thì không
đi! Không đi được, mà sau đó thì những chướng nạn đến dồn dập!…

Trong những lời tọa đàm về hộ niệm trước
đây, chắc quý vị còn nhớ một câu chuyện, cũng là một vị Ni, khi bị bịnh rất nặng
bác sĩ đã chịu thua. Vị này được một vị Đại Đức cùng với những ban hộ niệm,
ban hộ niệm đó Diệu Âm biết, những người đó họ khai thị tốt lắm. Vị Đại Đức
cũng quyết lòng hộ niệm cho vị Ni đó. Hộ niệm được mười sáu ngày thì tự nhiên
căn bịnh hết, không còn bịnh nữa và vị Ni đó công phu trở lại được, coi như
người bình thường. Sau khi có hiện tượng như vậy, thì vị Ni đó mới nói với Thầy
rằng, Chắc là con nghiệp chướng còn,
nên Phật muốn con đem cái thân nghiệp chướng này để độ chúng sanh chăng?
.
Vị Ni đó đã đổi lời nguyện, (nghĩa là nguyện độ chúng sanh chứ không nguyện
vãng sanh nữa). Đổi lời nguyện xong thì khoảng mười ngày sau bị phát bịnh trở
lại
. Thì cũng chính vị Đại Đức và ban hộ niệm đó đến hộ niệm, nhưng mà vị Ni
này ra đi không có một cái thoại tướng nào chứng tỏ rằng được vãng sanh Cực Lạc
cả, ngay cả cái thân thể mềm cũng không được luôn!

Tại sao lại như vậy?…

Tại vì lời nguyện. Lời nguyện không chính!
Lời nguyện không thẳng! Chúng ta tu hành, nhiều khi có những điều sơ suất, như
vọng tâm nổi lên, một sự ngã mạn hay một sơ ý nào đó nổi lên, nó có thể đưa
chúng ta đi lệch con đường vãng sanh về Tây Phương liền.

Ví dụ như hôm qua mình có nói vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc thứ nhất là do quyền lợi của chính mình. Trong vô lượng kiếp
qua mình bị đọa lạc trong sáu nẻo luân hồi, chắc chắn ở đó cũng có những cảnh
giới
tam ác đạo trong đó mà mình không hay. Với tai nạn lớn như vậy mà bây giờ
gặp được câu A-Di-Đà Phật, nhờ đại nguyện của đức A-Di-Đà mà mình được về tới
Tây Phương, mà về tới Tây Phương thì ngay trong những lời nguyện đầu Ngài nói,
hễ về tới Tây Phương thì tất cả chư vị đều thành Bồ-Tát hết, thần thông đạo lực
nhiệm mầu. Như vậy cơ hội này là để cho chúng ta thoát nạn. Ấy thế mà chúng ta
sơ ý, cứ tưởng rằng là đi về bên Tây Phương là do quyền lợi của A-Di-Đà Phật…
Cho nên, có nhiều người than:

“A-Di-Đà Phật ơi! Con tu
hành
tốt quá, con muốn về Tây Phương. Nhưng mà có gì có chứ Ngài cũng cho con
hết bịnh, Ngài phải làm cho con hết bịnh… Tức là đặt điều kiện với Ngài. Con
hết bịnh rồi thì con niệm Phật mới được chứ. Tại sao con niệm Ngài mà Ngài hổng
cho con hết bịnh”
.

Rõ ràng đây là lời nguyện sai lầm!
Nhân-Quả của chúng ta chư Phật không có xen vào được. Trong kinh Vô-Lượng-Thọ,
Phật có nói là Nghiệp nhân quả báo bất khả tư nghì,
chư Phật không thể chen chân vào được, mà chính chúng ta phải giải quyết. Giải
quyết
bằng cách nào? Nếu chúng ta bây giờ không nhớ A-Di-Đà Phật, không niệm
A-Di-Đà Phật, không nguyện về Tây Phương Cực Lạc thì nhất định chúng ta nhớ lục
đạo luân hồi
. Nhớ lục đạo luân hồi thì “Duyên” với lục đạo luân hồi, nhất định
chúng ta bị kẹt lại. Niệm Phật là để vãng sanh, khi một cơn bịnh xảy ra mà mình
sợ chết. Sợ chết là gì? Thèm cái thân mạng. Thèm cái thân mạng này chứng tỏ
quyến luyến cái thân mạng, tâm chúng ta quyến luyến cái nào nhất định đây là
cái “Duyên”, ta sẽ theo cái duyên đó để thọ những cái đại nạn trong lục đạo
luân hồi
.

Cho nên, những người không hiểu đạo, nên
lúc lâm chung thường thường sợ chết. Vì sợ chết nên khi chết không bao giờ nhắm
mắt được, con mắt mở trao tráo ra. Tại sao vậy? Tại vì trong lúc ngộp ngộp
người ta sợ chết chứ có gì đâu, người ta ráng mở con mắt ra, hả cái miệng thiệt
to ra để thở, để cố kéo lại sự sống. Vì tha thiết cái mạng sống này nên bắt
buộc họ phải theo cái cục thịt này mà xuống dưới nấm mồ, rồi lang thang từ chỗ
này qua chỗ nọ, bám víu vào những gốc cây… Vô tình ngàn đời vạn kiếp chịu
khổ! Còn người niệm Phật lúc thấy ngóp ngóp, biết rằng sắp chết, họ quyết lòng
niệm A-Di-Đà Phật, quyết lòng đi về Tây Phương, họ mừng lên, họ vui lên, tự
nhiên
những lúc đó họ mỉm cười. Họ mỉm cười ra đi, để về Tây Phương Cực Lạc.
Niềm tin tưởng của họ mạnh mẽ vô cùng! Sức nguyện của họ tha thiết vô cùng!
Trong những lúc đau đớn đó, có thể họ niệm Phật không vô, nhưng nhờ những vị
đồng tu hộ niệm, họ nghe lời niệm của người hộ niệm để niệm theo, dù là có thể
nghe mang máng, nhưng giúp cho tâm nguyện của họ quyết chí hơn để đi về Tây
Phương
.

Phật dạy tất cả đều do tâm tạo. Tâm ở đâu?
Ở ngay cái ý muốn của mình đó. Chính vì vậy, khi chúng ta niệm Phật mà không
muốn về Tây Phương, thì dù cho mình tu có một trăm năm đi nữa, một ngày mình
niệm mười vạn câu Phật hiệu đi nữa, nhất định đây cũng chỉ là phước báu nhân
thiên
, mà phước báu nhân thiên của những người niệm Phật lớn lắm. Nếu việc ác
không làm, việc thiện làm, mà còn niệm Phật nữa thì họ sẽ trở nên những người
giàu có, những người trong nhà vua chúa. Nếu biết đạo mình nên sợ chỗ này, vì
khi thuộc về hàng đó rồi, thì quyền lực quá mạnh, thế lực quá mạnh rồi, thường
thường
không ai tu được cả, mà bên cạnh cái quyền lực đó, sinh sát ở trong tay,
tạo ra nghiệp trùng trùng để đời sau nữa phải chịu nạn nặng vô cùng! Đó gọi là
Tam Thế Oán”: Một đời làm thiện, một đời hưởng quả phước báu, giàu có,
sau đó là đại nạn!

Chính vì vậy, mà cái cơ hội vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc này, xin chư vị nắm cho vững, đừng để sơ suất. Nếu sơ suất
thì mình đi vào con đường sai lạc, sau cùng không ai có thể cứu mình được nữa.
Cách đây cỡ chừng hai tuần chúng ta có đi hộ niệm cho mấy vị, gia đình đó ở
ngoài Inala. Tôi dặn dò rất kỹ. Nhưng có một lần tình cờ tôi đem cái máy bấm để
tới biếu cho bà Cụ, thì vì đi tới bất ngờ, khi bước vào nhà tôi thấy hai mẹ con
đang ngồi coi phim. Đang coi phim Đại Hàn… Tôi không nói một tiếng nào hết,
nhưng thứ bảy sau đó trong một buổi hộ niệm, tôi nói rất nhẹ nhàng nhưng mà rất
cương quyết:

Nếu bác
không lo cái vận mệnh của bác, nếu bác không muốn về Tây Phương, mà ngồi ôm coi
cái phim này, tôi bắt gặp một lần nữa, nhất định, bây giờ bác có năn nỉ, tôi
cũng không đi hộ niệm. Tại vìhộ niệm cho bác, chắc chắn bác cũng không được
vãng sanh
”…

Vì sao? Vì
rõ ràng là bác bị bịnh, đang chờ từng ngày để chết mà không lo cho chính cái
huệ mạng của bác, không lo cho bác thì Phật cứu cũng không được, làm sao tôi có
thể cứu?”
. Tôi
nói rất là nhẹ nhàng. Tôi nói tiếp…

Bác phải bỏ
hẳn từ ngày hôm nay, nếu để tôi bắt gặp một lần nữa, bây giờ bác có năn nỉ đi
nữa, tôi không đi hộ niệm là không đi hộ niệm, tại vì đi hộ niệm như vậy… Vô
ích!
”.

Xin thưa với chư vị, không phải mình niệm
Phật
này là niệm cho A-Di-Đà Phật, mà niệm cho mình và phải tương ứng cho đúng
với đại nguyện của Ngài. Tín-Hạnh-Nguyện phải cho đúng. Hạnh là lo niệm Phật
chứ không phải là ngồi coi phim, không phải hạnh là sợ này sợ nọ. Chỉ cần đi
đúng như vậy, đơn giản rõ ràng, người tội chướng nghiệp nặng này… chúng ta
vẫn được Ngài tiếp độ về Tây Phương để một đời thành tựu đạo quả.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 9)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong đề tài đang nêu ra, nhằm để chúng ta
tránh bớt những sơ suất về vấn đềKhế Lý – Khế ”. Tại vì mình sơ suất, nên thường có
những sự lầm lẫn có tính đáng tiếc để sau cùng bị trở ngại!

Nên nhớ, chúng ta toàn là người hạ căn hạ
cơ, mà hạ căn hạ cơ thì chuyện hộ niệm rất quan trọng. Hộ niệm chính là dành
cho những người không có khả năng chứng đắc, nói đúng theo danh từ của người
niệm Phật, tức là không có khả năng đạt đến cảnh giớiNhất tâm bất loạn”. Chứ nếu chúng tathể đạt được
cảnh giới “Nhất tâm bất loạn”, thì không cần hộ niệm nữa. Nói rõ ra, pháp hộ
niệm chỉ dành cho những người rất dở, gọi là dở thậm tệ! Chúng ta xin tự nhận
là những người dở thậm tệ, nên phải chú ý đến điểm này.

Cách đây cũng mấy năm, có một người tới
nói với tôi như thế này:

Bây giờ
chúng ta phải quyết lòng tu một thời gian, cho đến khi nào mình có năng lực đã.
Khi thấy có năng lực rồi thì tôi sẽ đi ra làm đạo, cứu người
.

Nghe nói vậy thì tôi nói:

Tốt! Rất là tốt! Có chí khí!

Nhưng mà trong tâm của tôi thì thầm nêu ra
câu hỏi:

– Ủa!… Chứ chừng nào anh mới có đủ năng lực
vậy?

Chỉ thầm nghĩ như vậy chứ không dám nói
ra. Khi tu hành mà tự nhận mình có năng lực, thì chưa biết cái năng lực đó đúng
hay sai? Chưa biết! Nhưng theo lời khai thị của các vị Tổ Sư, thì chúng ta đã
đi ngược lại với lời dạy của các Ngài rồi. Các Ngài luôn luôn dạy chúng ta càng
tu càng phải khiêm nhường, càng tu càng thấy mình còn phàm phu, tội chướng sâu
nặng. Mà càng thấy mình tội chướng sâu nặng rồi, thì làm sao dám đặt vấn đề
đến một ngày nào đó tôi sẽ có năng lực!… Năng lực gì đây?

Cách đây cỡ chừng sáu năm, có một vị tu
rất tốt! Rất tinh tấn! Một ngày hành trì của vị này cỡ 16-17 tiếng đồng hồ niệm
Phật
. Thật không phải dễ! Vị này đã tuyên bố mình chứng đắc và định được ngày
giờ vãng sanh, rồi đã thông báo cho nhiều người biết rằng A-Di-Đà Phật đã chính
thức
thọ ký rồi. Vị này cũng lập ra một chương trình cho đại chúng tu học: Mười
ngày thì ngửi được hương thơm. Bốn tới năm tuần thì nghe được âm thanh niệm
Phật
từ trong tâm phát ra. Khoảng một đến hai tháng, khoảng thời gian như vậy
thì
thấy được ánh sáng, quang minh… Vị đó đã đưa ra một chương trình tu học
trong vòng ba năm nhất định được “Nhất tâm bất loạn”, chắc chắn được vãng sanh.
Vị đó tuyên bố rằng:

Tôi sẽ lấy
chính cái năng lực của tôi, cái chứng đắc của tôi để chứng minh cho chư vị biết
.

Sự việc có như vậy…

Đến ngày giờ đã định để vãng sanh, thì…
làm thinh? Không chịu vãng sanh! Vị đó ra tuyên bố rằng, A-Di-Đà Phật đã thông
báo
cho tôi biết ngày đó Ngài bị bận… nên không tới tiếp dẫn được. Ngài hẹn
lại một tháng sau…

Thì một tháng sau nó cũng đến liền, rồi sự
việc cũng im lặng như tờ. Vị đó lại thông báo lại, nói rằng, tại vì trong thời
gian
qua quý vị làm ồn ào quá, tôi báo cho chư vị biết mà chư vị đi nói lung
tung
, nên A-Di-Đà Phật quở trách. Ngài phải dời lại cuộc vãng sanh hai tháng.

Rồi hai tháng nữa, sự việc cũng im lìm.
Người đó lại nói, tại vì có một chút chuyện, nên bây giờ Ngài lại dời thêm hai
tháng nữa. Chắc chắn?!…

Sự thực là đến bây giờ người đó vẫn còn
sống… mà kèm theo cái sống đó… trở ngại chập chùng!…

Xin thưa, đây là những chuyện có thực xin
nói lên để nhắc nhở cho nhau biết rằng, tu hành phải hết sức cẩn thận. Tại vì
“Nhất tâm bất loạn” là cái đỉnh lý tưởng chứng đắc của người niệm Phật. Chư Tổ
đều nói chúng ta cố gắng niệm Phật cho “Nhất tâm bất loạn”. Đó là cái mẫu
chung, nhắc nhở cho mình tinh tấn tu hành, chứ không phải các Ngài bắt buộc
mình phải nhất tâm bất loạn mới được vãng sanh. Nếu A-Di-Đà Phật đã phát ra một
lời thề, những người niệm Phật phải “Nhất tâm bất loạn” thì ta sẽ tiếp dẫn về
Tây Phương Cực Lạc, thì ta mới quyết lòng, chết sống gì đi nữa, muốn đi về Tây
Phương
ta cũng phải niệm Phật cho “Nhất tâm bất loạn”. Còn ở đây Ngài không
nguyện như vậy. Ngài nguyện rằng, dẫu cho những người có nghiệp chướng sâu nặng
mà chỉ cần thành tâm sám hối, thành tâm cung kính niệm danh hiệu của Ngài với
Tín-Hạnh-Nguyện đầy đủ, tha thiết nguyện vãng sanh, thì dẫu cho trước khi xả bỏ
báo thân niệm được mười tiếng, Ngài sẽ tiếp độ về Tây Phương Cực Lạc.

Như vậy, lời nguyện của Ngài không có bắt
buộc chúng ta phải niệm cho đến “Nhất tâm bất loạn”. Nói như vậy, không có
nghĩa là chúng ta ngăn cản những người có khả năng niệm Phật “Nhất tâm bất
loạn”. Chỉ xin nhắc nhở cho chúng ta nên nhớ một điểm, “Nhất tâm bất loạn” là
một cảnh giới chứng đắc. Sự chứng đắc này không phải tầm thường, mà tương đương
với “Minh tâm kiến tánh, Kiến tánh thành Phật”, là những vị đã
vượt qua “Chấp Trước”, vượt qua “Phân Biệt”, có thể phá từng phẩm vô minh,
chứng từng phần pháp thân, gọi là “Phần Chứng Tức Phật,
cảnh giới của những vị đại Bồ-Tát ở cõi Hoa-Nghiêm chứ không phải tầm thường.
Có nhiều người sơ ý, tự xưng này xưng nọ… và danh từ này trở thành món mồi quá
ngon cho những người hiếu kỳ, đưa họ đến chỗ vô cùng nguy hiểm!

Có một vị nữa, Diệu Âm xin kể những chuyện
có thực, nếu mà các vị đó nghe được những lời này thì cũng xin tha thứ cho Diệu
Âm
. Diệu Âm lấy những chuyện có thực này để nhắc nhở cho chúng ta biết con
đường
an toàn, để giúp nhau vãng sanh Tây Phương, giúp cho chúng sanh có duyên
tránh được những ách nạn, để họ thoát được những cảnh khổ của sự vô thường này,
(chứ không phải bươi móc chuyện cá nhân).

Vị đó tu rất tốt và tự xưng rằng đã đột
phá cảnh giới Hoa-Nghiêm rồi. Vị đó có một năng lực đặc biệt làm cho nhiều vị
khác phải phủ phục tôn làm sư phụ. Đó là sự thật! Vị đó có một cái… hình như
giống như là Thiên-nhĩ thông vậy. Có một lần vị đó ở cách đây trên một trăm cây
số mà nghe được tiếng của Diệu Âm này mỗi sáng tụng kinh. Quý vị tưởng tượng
đi, trên một trăm cây số, gần một trăm năm chục cây số mà nghe được. Có một lần
vị đó trở về Brisbane, tới thăm Diệu Âm và nói rằng:

Tôi mỗi
sáng đều nghe tiếng anh tụng kinh, nhưng tuần qua tôi không nghe tiếng anh tụng
kinh
nữa. Tôi vào trong định để quán thì thấy hào quang của anh phóng tới và
trong hào quang đó tôi biết anh bị bịnh. Cho nên hôm nay tôi về tôi thăm anh.

Rõ ràng, đúng là tuần qua chính Diệu Âm
này bị bịnh. Nếu lúc đó mà Diệu Âm cũng có chút hiếu kỳ, cũng tham chứng đắc,
thì có lẽ đã quỳ xuống bái làm sư phụ. Nhưng khi nghe “Ngài” đó nói như vậy thì
giựt mình! Vì chính mình hiểu mình rõ hơn ai hết. Rõ ràng mình là một phàm phu
tục tử, bịnh lên bịnh xuống, nhức đầu muốn chết luôn, làm gì mà mình có quang
minh? Rõ rệt không? Làm gì mà mình có quang minh?… Diệu Âm mới nói:

“Bây giờ
tới đây, mình ở gần Hòa Thượng Tịnh-Không, là một vị cao tăng đức độ. Tại sao
mình không đem điều chứng đắc gì của mình đó trình với Ngài, bạch với Ngài, xin
Ngài một lời khuyên và nhờ
Ngài giảng trạch cho”.

Thì vị đó hình như không bằng lòng mấy!
Nói rằng, Hòa Thượng Tịnh-Không đang giảng kinh Hoa-Nghiêm, nhưng mà Ngài có
một cái kẹt nào đó nên chưa khai kinh được! Chắc có lẽ đây là cái duyên cho tôi
đến để khai kinh cho Ngài chăng?!!!…

Quý vị tưởng tượng đi? Thì sau đó có một
dịp vị đó tới gặp Hòa Thượng… mới gặp có năm phút, Hòa Thượng đã mời ra khỏi
đạo tràng. Ngài nhất định không thay đổi ý kiến.

Xin thưa với chư vị, mình nói đây không
nên nêu tên nêu tuổi, nhưng mà thực ra thì có rất nhiều người đã lầm lẫn! Lầm
lẫn
giữa “Lý” và “Sự”. Lầm lẫn giữa “
đạo nhiệm mầu của Phật
” và “Căn cơ thực chất của
mình
”.
Chỉ vì tâm của mình chưa có định lực, nên thường hay háo kỳ. Chính vì cái háo
kỳ đó mới nảy sinh ra những vọng tưởng. Cái vọng tưởng đó nếu không có người
khai giải thì nó càng ngày càng trưởng dưỡng, càng phát triển, đến một lúc nó
phát triển ngoài cái tầm kiểm soát của chính mình, đưa đến chỗ là cái vọng tưởng
đó chi phối tâm trí mình luôn. Không phải là chuyện dễ đâu!…

Có những người khi tu hành niệm Phật như
thế này, năm này qua năm khác, sao thấy mình không được chứng đắc gì cả? Cái
tâm của mình sao vẫn còn lộn xộn! Mà sao vị kia nêu lên một cách hành trì khác
chỉ cần một tuần, hai tuần thì tâm hồn tự nhiên an tịnh, được đắc này, đắc
nọ… Tìm hiểu thì họ nói cũng giống như lời Phật nói, họ nói cũng giống như
lời Tổ nói!?… Thấy thích thú quá!

Thực ra, cũng là lời Tổ nói. Nhưng lời Tổ
thì đang nói trên cảnh giới của Chơn Tâm Tự Tánh, mà khi áp dụng thì ta lại áp
dụng
cho những người, xin thưa thực, chính ta làm chưa được, mà cứ đem ra áp
dụng
cho những người nghe đó, thì làm sao những người đó áp dụng cho được? Áp
dụng
không được mà lại xúi người ta làm, vô tình xúi tới chỗ vọng tưởng!

Chính vì vậy, nương theo những sự cố vừa
mới xảy ra ở trong nước cũng như ở trên thế giới, tình thực Diệu Âm đã gặp
nhiều chuyện trên thế giới lắm, nhiều lắm không phải ít đâu, cũng hai mươi mấy
vụ như vậy, hoàn toàn từ chỗ này mà phát sinh ra. Nhận thấy đây là con đường
nguy hiểm quá! Mong cho chư vị đồng tu ở đây, chúng ta cứ một lòng Thành Tâm
– Kính
Cẩn – Khiêm Nhường để niệm Phật, đừng nên móng tâm mong cầu
một cách sơ suất. Nên nhớ, khi đã bị vướng vào đó rồi thì không cứu được! Nhất
định
không cứu được! Những kinh nghiệm này xin thố lộ ra để cho chúng ta cùng
nhau đi con đường an toàn, chầm chậm, vững chắc. Luôn luôn nương theo đại thệ
của đức A-Di-Đà, nương theo chư Long-Thiên Hộ-Pháp, chư đại Bồ-Tát gia trì bảo
vệ
thì chúng ta mới an tâm được để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Nhất định nên nhớ rằng, ta vãng sanh là do
lòng Chí Thành, Chí Kính mà được các Ngài tiếp độ, chứ không phải
là sự chứng đắc. Mong chư vị nhớ kỹ điều này để đường đi không bị trở ngại.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 10)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Trong việc tu hành có hai vấn đềchúng
ta
thường nhắc trong những ngày gần đây, thứ nhất là “Lý Đạo”, thứ hai là “Sự Đạo”.

Lý Đạo” là chúng ta không đi ra ngoài
quỹ đạo của Phật, những lời khuyên dạy trong kinh điển. “Sự Đạo” là phải biết ứng hợp cho đúng. Nếu
chúng ta không chú ý tới “Sự Đạo”,
thường khi “Lý Đạo” thì đúng mà ứng dụng để tu hành thì sai. Tại vì tất
cả kinh điển, những lời Phật dạy đều có cái đối tượng ứng trị khác nhau chứ
không phải giống nhau.

Trong vấn đề ứng trị đó, về lý đạo chúng
ta không nên chú tâm tìm hiểu những đạo lý quá cao siêu, vì những đạo lý quá
cao siêu thường thường chỉ hợp những căn cơ rất cao. Chúng ta chỉ nên áp dụng
làm sao cho cụ thể những việc hàng ngày chung quanh chúng ta, thì tự nhiên việc
tu hành không có gì trở ngại và chúng ta cũng dễ được thành tựu.

Đem việc Khế Lý – Khế Cơ ứng dụng vào vấn đề hộ niệm
cũng rất là hay. Ví dụ như có người vì không tin vào sự hộ niệm, nên suốt cuộc
đời
của họ khó có thể thấy được một người vãng sanh, vì vậy họ cứ nghĩ rằng
không có vãng sanh. Ngược lại, có những người khi hộ niệm thành công một số
trường hợp, ví dụ như ở Việt Nam có những ban hộ niệm người ta báo cáo hơn 100
người vãng sanh. Có ban hộ niệm thì 77 – 78 người vãng sanh, và thành phần bị
rớt vãng sanh chiếm cỡ chừng một phần ba, nhiều khi một phần tư, cũng có ban hộ
niệm
cỡ chừng một nửa, một nửa thành công, một nửa thất bại. Khi họ hộ niệm
được một số người vãng sanh như vậy, tự nhiên họ thấy rằng hình như chính họ có
một cái năng lực nào đó để làm cho người ta vãng sanh. Đây chính là cái mốc
điểm thối chuyển chứ không hay ho gì hết! Thường thường gặp những trường hợp
như vậy, thì Diệu Âm hay khuyên rằng:

Khi một người mà được ta hộ niệm vãng
sanh
, thì xin chư vị hãy nhớ cho, người vãng sanh đó là do thiện căn phước đức
của chính người đó. Ta phải nói là do thiện căn phước đức của chính người đó
kết hợp lại, rồi ta tạo cái duyên cho họ. Hoặc mình nói rằng, thiện căn phước
đức
của người đó đã chín muồi, khi gặp cái duyên này, tức là duyên hộ niệm,
người ta mới hội tụ được cái thiện căn phước đức đó mà vãng
sanh về Tây
Phương
.

Mình nói như vậy thì hay hơn là nói rằng, “À! Người này nhờ tôi hộ niệm mà được
vãng sanh
”.

Thường thường những lời nhắc khéo này để
cảnh cáo những người hộ niệm hãy bớt đi cái tâm ngạo mạn. Khi liên lạc về Việt
Nam
, thường thường tôi liên lạc những ban hộ niệm lớn trước, thì phát hiện ra
điều này, lâu rồi chứ không phải là mới đây. Thì trong cơ hội này tôi xin nói
ra, mong rằng những lời nói này sẽ đến tai những người đó. Tôi thấy rằng cái
tâm ý cống cao ngã mạn của người hộ niệm đã khởi lên. Từ từ nó khởi lên! Có
người hộ niệm cho rằng họ có khả năng cứu độ chúng sanh! Khi gặp những trường
hợp
như vậy, tôi áp dụng theo lời khuyên của Hòa Thượng Tịnh-Không, là chỉ
khuyên ba lần, không bao giờ khuyên tới bốn lần. Trực tiếp nói rất mạnh thì hai
lần, lần thứ ba thì bắt đầu nói xa nói gần, đến lần thứ tư thì chỉ nói chung
chung, chứ không nói thẳng nữa. Người nào nghe thì nghe, không nghe thì thôi,
chứ bây giờ không biết làm sao hơn!…

Trường hợp này gọi là Thối Chuyển”! Cũng như chúng ta tu hành ở đây, khi
thấy rằng ta niệm Phật như vậy là tốt! Công phu của ta như vậy là hay! Tự nhiên
ta thấy có cái gì chứng đắc! Khi đã thấy một cái gì chứng đắc, tức là khởi đầu
từ đó cái tâm thối chuyển! Chắc chắn như vậy. Thối chuyển ở chỗ nào? Vì tâm ý
của những người thấy rằng mình chứng đắc đã bị nạn cống cao ngã mạn nổi lên
rồi. Trong sáu cái phiền não căn bản của một người phàm phu, Tham, Sân, Si,
Mạn…
Thì “Mạn” nó nằm cái hàng thứ tư. Khi đã ngã
mạn
lên rồi thì thường thường nối theo “Ác Kiến”. Ác kiến là gì? Thường
thường
cho ta chứng đắc, bắt đầu khinh khi người khác. Cái “Mạn” này
cũng có thể nằm trong những người đi hộ niệm. Đầu tiên tâm người hộ niệm chân
thành
, có lòng từ bi đi hộ niệm cho người ta. Những lần đầu tiên vì quá chân
thành
, quá tin tưởng, quá nhiệt tâm nên cảm ứng rất mạnh, họ cứu độ rất nhanh.
Có những ban hộ niệm khi gặp được phương pháp hộ niệm, một tuần sau họ báo cáo
có người vãng sanh, hai tuần sau, ba tuần sau có người vãng sanh. Có một người
được vãng sanh đã làm cho niềm tin của những người chung quanh lên rất cao và
sau đó người ta hộ niệm hầu hết được thành công, có thể nói mười vụ thành công
được chín vụ. Khi số lượng vãng sanh lên cao như vậy, tự nhiên họ thấy rằng họ
có cái năng lực nào đó!… Từ đó bắt đầu mới sinh sự ra! Khi sinh sự ra như
vậy, thì chỉ cần có một vụ, hai vụ trở ngại, thì tâm bắt đầu thối xuống… Đây
là lời nhắc nhở chung. Chắc chắn ở đây thì chúng ta chưa lâm vào tình trạng
này, nhưng xin chư vị cũng nên lưu ý, tại vì Niệm Phật Đường chúng tađạo
tràng
hộ niệm. Chúng ta phải nhớ rằng, hộ niệm cho một người được vãng sanh
do cái phước phần của người đó.

Người đó có quyết lòng hay không?

– Người đó có Tín hay không?

– Có Nguyện hay không?

– Hạnh đủ hay không?”…

Đó đều là phước phần của họ và chúng ta
chỉ là cái duyên mà thôi. Như vậy khi hộ niệm cho một người mà họ không được
vãng sanh là phải trả về cho chính họ:

– Người đó có thực hiện được
hay không?

– Người đó còn có tham chấp hay
không?

– Người đó còn có thị phi hay
không?

– Người đó còn có tin tưởng hay
không?

– Hay là, ở trước đạo tràng thì
tin tưởng, về nhà thì mất tin tưởng!

– Ở trong Niệm Phật Đường thì
niệm Phật, ra khỏi Niệm Phật Đường thì thị phi ganh tỵ!

– Ở trong Niệm Phật Đường thì
nguyện vãng sanh, về nhà thì “Nguyện phim chưởng”!

Ví dụ như hôm trước, rõ ràng là một người
mà chính mình tới hộ niệm mấy lần, khuyên răn hết lời, lo đầy đủ hết. Ấy thế
khi tình cờ đi thăm thì thấy cả nhà đang ngồi coi phim chưởng. Thật tình, khi
gặp như vậy, tất cả tinh thần của mình bị xuống… xuống như diều đứt dây! Tôi
đã nói thẳng thắn, nếu để tôi bắt gặp một lần nữa, nhất định không hộ niệm
tiếp. Tại vì chính người ta không tha thiết chuyện vãng sanh, thì làm sao chúng
ta
có thể cứu người ta vãng sanh được?…

Trở lại vấn đề người hộ niệm, sau khi có
một số thành công mỹ mãn thì thường khởi lên những tâm ý ngạo mạn. Việc này tôi
cũng có nhắc nhở trong Internet, cũng có thường điện thoại, nhưng không cách
nào nhắc nhở hết được. Vì nhiều lắm cũng chỉ liên lạc được một vài chỗ thôi,
chứ hàng mấy trăm ban hộ niệm làm sao nhắc nhở cho hết. Thì lời này cũng chỉ là
nói chung. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình có khả năng như vậy, thì có thể chúng ta
sẽ bỏ niệm Phật luôn! Vì đã có khả năng cứu người vãng sanh, thì mình cũng dư
sức vãng sanh rồi!?… Đây là một cái bẫy rất tệ hại, nó sẽ làm cho mình mất
phần vãng sanh!

Hơn nữa, đôi lúc cũng có những người sau
khi hộ niệm cho người ta được một số vãng sanh rồi, thì tự nhiên thấy có những
cảm ứng này cảm ứng nọ!… Rồi tự dưng đi ra khoe này khoe nọ!?… Gặp như vậy,
tôi nói, nhất định đừng bao giờ nghĩ rằng, mình hộ niệm cho người ta là Nhân,
thì cái Nhân này sẽ làm thành cái Quả. Tôi nói, Nhân-Quả này đúng, nhưng mà Duyên của chị đã mất rồi. Cái duyên cống cao ngã mạn không phải
là duyên về Tây Phương Cực Lạc. Cái duyên tự cho mình ngon hơn thiên hạ không
phải là cái duyên về Tây Phương Cực Lạc
. Nên nhớ cho kỹ điểm này.

Cũng có lúc sau một thời gian hộ niệm được
vãng sanh rồi, thì lời điều giải oan gia trái chủ của người hộ niệm cũng khác
đi. Tôi phát hiện như vậy!… Khác chỗ nào? Khi điều giải oan gia trái chủ họ
nói có vẻ tự thị lắm! Họ nói những lời giống như một người thầy dạy đứa học
trò, dạy những người oan gia trái chủ. Nhiều người đã nói những lời rất trịch
thượng
. Khi gặp vậy, thường thường tôi cũng cảnh cáo liền…

Chúng ta cứu người bịnh,
nhưng cũng phải có tâm cứu luôn những vị oan gia trái chủ của người bịnh nữa.
Đó mới thực sự là Phật
Pháp
, mới thực sự là đại từ đại bi, bình đẳng.

Những vị oan gia trái chủ đó thực sự là
nạn nhân của người bịnh đó, chứ không phải người bịnh là nạn nhân của oan gia
trái chủ. Trên nguyên tắc, người bịnh đó đã sát hại họ trước, nay họ chỉ đến
đòi lại sự công bằng mà thôi. Cho nên trước những hiện tượng này, chúng ta
không được quyền làm một điều gì để trấn áp các vị oan gia trái chủ, mà mình
phải cúi đầu xuống, chắp tay lại, lạy lục, khẩn nguyện các Ngài và cái tâm của
mình là tâm cứu những vị oan gia trái chủ đó. Mình thành tâm khuyên giải họ,
chứ không phải vì cứu người bịnh mà chúng ta làm hại đến các vị oan gia trái
chủ. Đây là việc hoàn toàn sai lầm! Có thể trong lúc đó mình có tới năm, bảy
chục người. Quá mạnh! Cái lực của mình mạnh quá làm cho các vị oan gia trái chủ
phải dạt ra khiến ta cứu được người bịnh. Nhưng dạt ra đó không phải là do sự
tự nguyện của họ đâu à! Như vậy vô tình mình rước lấy những sự xích mích, thù
hằn
cho chính cá nhân mình sau này mà mình không hay!?…

Cho nên, tôi khuyên các vị hộ niệm đó nhất
định
không bao giờ được đánh giá những vị oan gia trái chủ là hung hiểm, xảo
quyệt, ác hiểm… Mình không được quyền nói như vậy. Mà phải kêu các vị đó bằng
Ngài, và mình thành tâm để cứu họ. Vì muốn cứu họ, nên mình khuyên họ đừng có
chấp vào thị phi nữa, đừng có chấp vào giận hờn nữa, đừng có trả thù qua lại
nữa… Chúng ta hãy cùng nhau niệm Phật để liễu thoát sinh tử. Chúng ta thành
tâm
khuyên như vậy, thì với lòng thành tâm của mình, tất cả mọi người đều thành
tâm
, thì tự nhiên được cảm ứng.

Luôn luôn bắt buộc người bịnh phải sám
hối
, phải nhận lấy những cái lỗi này. Phải thành tâm sám hối và chỉ có người
bịnh thành tâm sám hối thì mới gỡ được ách nạn. Nếu người bịnh không thành tâm
sám hối mà mình dùng cái lực của mình để ép buộc các vị oan gia trái chủ phải
dạt ra, họ dạt như vậy chẳng qua cũng tạo thêm sự căm hờn! Họ trả thù người
bịnh không được, coi chừng họ đi trả thù những người bắt họ phải dạt ra. Chính
vì vậy, xin thưa với tất cả chư vị, phải nhớ là luôn luôn chúng ta có cái tâm
gọi là “Từ Bi Bình Đẳng” cứu những vị oan gia trái chủ, cứu cả
người bịnh, thì mới có thể an toàn cho người bịnh, an toàn cho mình. Đây gọi là
cứu độ bình đẳng tất cả chúng sanh vậy.

Mong cho những lời này đến được tai những
người hộ niệm, xin cần chú ý thật kỹ. Đừng nên sơ suất nữa.

A-Di-Đà Phật

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 11)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Hôm nay là ngày “Niệm Phật Tinh Tấn”.
Chúng ta tạm gọi là tinh tấn, chứ thật ra là chúng ta không tinh tấn! Vào đêm
hồi hôm có một vị thầy ở Việt Nam điện thoại qua đây, Ngài ở tỉnh Gia-Lai, Ngài
nói rằng Ngài đang hướng dẫn một cái đạo tràng kiết thất niệm Phật, kiết thất
quanh năm, hết Phật thất này đến Phật thất khác, cứ liên tục như vậy. Ngài hỏi,
bên cư sĩ có làm được như vậy không? Thì Diệu Âm mới thưa là, nếu Thầy làm được
như vậy thì thật sự là bất khả tư nghì! Còn đạo tràng A-Di-Đà của Diệu Âm hai
tuần mới có được một ngày tinh tấn, nhưng mà ngày tinh tấn đó là giả đò tinh
tấn
, chứ cũng không phải thực tinh tấn!…

Nghe Ngài nói như vậy, mới biết rằng mình
tu hành thực sự còn quá yếu, và cái ách nạn sinh tử luân hồi của mình chưa chắc
gì đã nắm vững phần giải thoát. Trong khi đó thì đời này đã là mạt pháp rồi, mà
chúng ta gặp câu A-Di-Đà Phật thì đây chính là cơ hội cuối cùng để chúng ta
thành đạo. Đã là cái cơ hội cuối cùng nếu mà nó thoát qua, nó vượt quachúng
ta
không thành tựu, thì nhất định đời sau chúng ta bị đại nạn! Đúng như vậy,
nhất định đại nạn!…

Nếu mình hiểu một chút xíu thì thấy rõ vấn
đề
này. Trong kinh, Phật dạy thời mạt pháp này muốn được thành tựu thì người tu
hành
phải biết lánh xa, gọi là “Viễn Ly” những nơi gọi là “Hội náo
chi chúng
”. Ồn ào! Những chỗ ồn ào đông người! Nên trong mấy ngày Tết ngay
tại đạo tràng của chúng ta im lìm, lặng lẽ, thế mà chúng tôi còn dặn với nhau
rằng, nếu có một người nào tới thăm đạo tràng, thì hãy mời họ vào trong Niệm
Phật
Đường niệm Phật, đừng mời những người đang niệm Phật trong Niệm Phật Đường
ra tiếp họ. Tức là, chương trình của chúng ta không có tiết mục tiếp một người
khách nào trong suốt ba ngày Tết, để cho chúng ta yên lặng thanh tịnh niệm
Phật
. Có như vậy chúng ta mới thoát được cái ách nạn mà trong vô lượng kiếp qua
ta thoát không được.

Nếu quý vị đã về Tây Phương rồi, một người
nào vãng sanh về Tây Phương thì có cái năng lực gọi là “Túc-Mạng Thông”, biết
được vô lượng kiếp về trước, biết được vô lượng kiếp về sau, cái thế giới
hình thành như thế nào, quý vị sẽ thấy được điều này. Là thật ra, trong
lượng kiếp
về trước chúng ta đã bị đọa lạc, bị đau khổ, trải qua những cảnh khổ
vô cùng khổ mà chúng ta không hay!

Trong những lần chúng tôi đi ra thăm cái
ao sen, chúng tôi thấy một con sâu, con sâu bám vào cái lá sen để ăn, mình
không đưa nó ra ngoài thì nó phá hết đọt hoa sen, mà mình đưa nó ra ngoài thì
không biết chỗ nào cho nó trú. Tôi mới bắt những con sâu đó đưa qua lá môn, vì
lá môn và lá sen tương tự với nhau. Tôi mới mời các ngài qua ăn lá môn đó. Quý
vị không tưởng tượng được đâu, chưa chắc nó đã ăn được đâu à! Nó chưa kịp ăn,
thì con chim đã tới ăn nó rồi, và cuộc sống của nó lại qua một cái đời khác!…

Có lần đức Thế-Tôn gặp một đàn kiến, chỉ
đàn kiến và nói với ngài A-Nan, “Con
biết đàn kiến này trải qua bảy đời Phật rồi mà chúng vẫn còn làm con kiến
”.
Quý vị tưởng tượng đi, chúng ta ở đây là thân người, một cái cơ may vô cùng,
trong cái thời mạt pháp này mà gặp được câu A-Di-Đà Phật, xin thưa thực, đúng
là cơ hội cuối cùng cho ta thoát nạn. Đã là cái cơ hội cuối cùng thì không có
cơ hội thứ hai. Nếu mà chúng ta sơ ý không chịu bám víu lấy cơ hội này để quyết
lòng
vãng sanh về Tây Phương, thì thôi không còn có cơ hội nào khác nữa hết.

Ngày hôm qua có một vị tới đây ngỏ ý muốn
chúng tôi tới hộ niệm. Tôi mới nói, hãy về liên lạc với gia đình đi, và tôi bày
cho cái cách tu, là khuyên bà Cụ mỗi ngày hãy niệm năm ngàn danh hiệu A-Di-Đà
Phật. Nghe nói vậy thì Cụ đó giựt mình nói, “Ôi! Tôi mệt quá! Tôi niệm không nổi!”.
Tôi mới nói, nếu Cụ niệm không nổi thì con cũng không có cách nào có thể hộ
niệm
cho Cụ vãng sanh được.

Thực ra, cái tiêu chuẩn năm ngàn câu đó
chẳng qua là sự thử thách đầu tiên đó thôi. Tiếp theo đó phải tăng lên mười
ngàn, tăng lên hai chục ngàn, tăng lên ba chục ngàn… thì may ra chúng ta mới có
khả năng vượt qua cái ách nạn sinh tử luân hồi trong một đời này. Còn không thì
xin thưa thực, hôm trước chúng ta đã nói rồi, “Hộ Niệm Một Pháp Tu”, nó:

Bắt buộc mình phải cố gắng,

Bắt buộc
mình phải kiên trì
,

Bắt buộc
mình phải vượt qua tất cả những ách nạn.

Chúng ta ở đây kiết thất niệm Phật, kiết
nhất tịnh khẩu niệm Phật thực ra là để chi? Để tất cả những tập khí gì, chúng
ta
cố gắng bỏ, ráng bỏ, ráng bỏ… Nếu không ráng bỏ thì những tập khí này nhất
định
sẽ lôi mình lại trong lục đạo luân hồi.

Chúng ta phải nhớ rằng, đới nghiệp vãng
sanh
là đới những nghiệp cũ, không thể nào đới những nghiệp mới. Đối với những
ngày tháng trước chúng ta làm điều gì sai, A-Di-Đà Phật không có màng cái
chuyện đó đâu à! Ngài sợ là sợ cái tập khí chúng ta không chịu bỏ. Chư
Thượng-Thiện-Nhơn trên cõi Tây Phương, các Ngài mong muốn chúng ta về trên đó
hội tụ với các Ngài. Các Ngài nói:

Chư vị mà
làm các điều sai lầm trong quá khứ, tôi không sợ, tôi chỉ sợ cái tập khí của
chư vị không bỏ được
”.

Trong kinh A-Di-Đà, Phật nói người về bên
Tây Phương là để hội tụ với chư Thượng-Thiện-Nhân. Chư vị nên biết,
“Thiện Nam Tử – Thiện Nữ Nhân” có cái tiêu
chuẩn
của nó, chứ không phải là chúng ta cứ đi tới Niệm Phật Đường niệm vài câu
A-Di-Đà Phật, niệm vài giờ A-Di-Đà Phật là Thiện-Nam-Tử, là Thiện-Nữ-Nhân.
Không phải đâu! Hoàn toàn không phải!

Trong những giờ tới chúng tôi sẽ cố gắng
khai thác chỗ này, quý vị sẽ thấy. Trong ý định của chúng tôi là trong năm
Tân-Mão này, chúng ta hô hào lần lần, tức là trước khi mở ra một chương trình
chúng ta đều hô hào, hô hào tinh tấn hơn nữa. Tức là hiện tại bây giờ chúng
ta
hai tuần có nửa ngày tịnh khẩu niệm Phật. Quá ít! Chúng ta phải tiến lần lên
hai tuần chúng ta có hai ngày liên tục tịnh khẩu niệm Phật, đúng 48 tiếng đồng
hồ không nói một lời nào hết. Đây là tập sự.

Chúng ta tu hành cần phảihợp lý, hợp
cơ. Căn cơ chúng ta yếu quá mà áp dụng một cách mạnh mẽ thì sợ rằng chúng ta
chịu không nổi! Thì bây giờ chúng ta phải tập sự trước, tập lần lần. Hôm nay
chúng ta có nửa ngày tịnh khẩu, hãy vui vẻ thoải mái với thời gian này để chúng
ta
tập cho trong thời gian sau, chúng ta tăng lên, thay vì nửa ngày chúng ta sẽ
tăng lên một ngày, rồi chúng ta tăng lên hai ngày, hai ngày, đúng 48 tiếng đồng
hồ nhất định không mở miệng ra nói chuyện. Để chi vậy? Xin thưa, chư Tổ dạy
rằng: “Bớt
đi một câu chuyện, niệm thêm câu Phật hiệu, đánh chết tập khí đi, để
chân tâm hiển lộ”. Lời Tổ dạy
như vậy đó. Ngài dạy cho những người phàm phu tục tử chúng ta chứ không dạy cho
ai hết. Chính cái thị phi, chính cái nói chuyện nó phá tiêu hết tất cả các công
đức
của người niệm Phật. Cho nên Ngài dạy rõ ràng… “Bớt đi một câu
chuyện
.
Nói chuyện thế gian làm chi? Nói câu chuyện thị phi làm chi? Hãy “Niệm
thêm câu Phật hiệu
”.

Quý vị hãy phát tâm ra, quyết thề đánh
chết cái tập khí đi. Cái tập khí gì? Tập khí không chịu niệm Phật mà niệm
chuyện lục đạo luân hồi. Phải đánh chết cái tập khí này thì chân tâm chúng ta
mới hiển lộ, không hiển lộ tại đây thì chư Thượng-Thiện-Nhơn sẽ tiếp đón chúng
ta
về Tây Phương với các Ngài, rồi các Ngài sẽ giúp cho ta hiển lộ chơn tâm tự
tánh
. Chúng ta chỉ cần buông đi, bỏ đi. Nhất định:

Ngày hôm
qua ta ghét một người nào, hôm nay quyết định không ghét nữa.

Ngày hôm
qua ta nói một người nào xấu, nhất định hôm nay không nói xấu nữa.

– Ngày hôm qua ta giận dữ, nhất
định
hôm nay đừng giận dữ nữa.

Tại vì chúng ta phải làm người hiền. Chỉ
làm người hiền là được.

Người hiền
thì không có tham.

Người hiền
thì không có giận, tại vì giận nó kèm chữ dữ, chứ không phải nói là lành.

Thiện lành! Cứ vậy mà tu. Sẵn sàng Niệm
Phật
Đường tại đây sẽ hộ niệm cho chư vị vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Chư
Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây Phương sẵn sàng đón chư vị về đó, dù rằng trong
quá khứ mình làm lỗi như thế nào thì các Ngài không sợ chuyện đó. Các Ngài chỉ
sợ rằng cái tập khí này không chịu bỏ.

Đã không chịu bỏ, thì A-Di-Đà Phật ngày
đêm buông tay xuống để tiếp độ chúng sanh nhưng mà cái hoa sen của chúng ta
trên cõi Tây Phương đã tiêu rồi. Chư Thượng-Thiện-Nhân đã biết được cái tập khí
này nó còn hiển hiện ra, hễ tập khí còn hiển hiện ra thì không cách nào có cảm
ứng
được, không cách nào vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc được.

Chính vì vậy, xin thưa… chư vị ơi! Quyết
lòng
mà hạ quyết tâm tu hành, một lòng một dạ ăn ở hiền lành là được. Buông xả
vạn duyên ra, thành tâm niệm Phật, chỉ vậy thôi, bao nhiêu cái nghiệp trùng
trùng
trong quá khứ chúng ta được đem nó về Tây Phương để hội ngộ cùng chư
Thượng-Thiện-Nhân, và chúng ta thành Phật.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ KÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 12)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Ngày hôm qua, khi chúng ta nói về cái
hướng tu hành trong tương lai cố gắng tịnh tâm hơn. Bây giờ thì hai tuần chúng
ta
được nửa ngày tinh tấn, chỉ có nửa ngày. Nhưng ước vọng trong tương lai
chúng ta tiến lên nữa. Phải tiến chớ không thể lùi được. Cố gắng tinh tấn được
hai ngày liên tục, ít ra phải có 48 tiếng đồng hồ và tính từng giờ thì chúng ta
mới tập sự, tập sự cho được và thực hành cho được, để khi lâm chung chúng ta
mới niệm được mười câu A-Di-Đà Phật đó quý vị. Không dễ đâu!

Hôm trước bác Trí nói một câu làm tôi ngộ.
Tôi ưa ngộ lắm!

– Bác nói: “Trời ơi! Tôi đau như vậy, mới cảm thôi,
nằm trên giường muốn niệm Phật mà tôi niệm không được! Cố gắng niệm mà niệm ít
tiếng thì cái cơn đau đến làm cho quên mất tiêu!
”.

Những lời nói hết sức đơn giản này nhưng
thật sự nó có cái đạo lý vi diệu trong đó. Mới đau cảm sơ sơ chúng ta đã niệm Phật
không được, đừng nghĩ rằng là trong những giây phút mà “Tứ Đại Phân Ly ta dễ cất
lời niệm Phật được. Đừng có sơ ý chuyện này. Chính vì vậychúng ta phải cố
gắng
thực tập, cố gắng giống như là trui luyện. Thật ra những giờ phút chúng ta
ngồi đây niệm Phật, là để thực tập cho lúc lâm chung chúng ta niệm được câu
A-Di-Đà Phật đó. Nếu mà chúng ta cứ tu tà tà, tà tà như thế này, bên ngoài thì
người ta nói rằng ở Niệm Phật Đường A-Di-Đà tu 365 ngày, không bỏ một ngày nào.
Nghe thấy ngon lắm! Nhưng thực ra 365 ngày, một ngày chỉ có hai tiếng rưỡi đồng
hồ, trong hai tiếng rưỡi đồng hồ mình niệm Phật hình như chỉ có 5 phút nhiếp
tâm
là nhiều lắm rồi, còn lại tất cả đều loạn tâm hết! Tức là ta thực tập cũng
không được cái pháp “Mười Niệm Tất Sanh”.

Bây giờ mình thử coi, giả sử trong lúc
niệm Phật, có một người kia nói lên một tiếng thì tâm mình động liền. Tắt cái
quạt một chút, không khí hơi nóng nóng lên một chút thì mình giận rồi. Khi mình
giận đó biết chừng đâu bao nhiêu công đức mà mình đang tu hành bị nó đốt hết
trơn rồi! Chư vị ơi! Nguy hiểm vô cùng! Chính vì vậy mà rất nhiều người tu, sau
cùng không được vãng sanh.

Ngày hôm qua mình có đưa ra tiêu chuẩn một
dạng người Hiền, tức là làm sao chúng ta tập:

Bỏ
cho được những cái khó chịu,

Bỏ
cho được những cái cay cú,

Bỏ
cho được những cái giận hờn.

Để chi? Để chúng ta thật sự là một người
Hiền.

Một người hiền thì thường thường không
chấp
những thứ đó. À! Lạnh một chút cũng được, nóng một chút cũng được, thôi
thì mình tha thứ hết tất cả. Được như vậy thì đến lúc mình lâm chung những tập
khí
đó nó không bao vây mình nữa, lúc đó mình mới niệm Phật được. Và lúc đó
người hộ niệm mới hộ niệm với mình mới được. Chớ đừng có nghĩ rằng hộ niệm
vãng sanh đâu. Không đâu à!… Người ta tới hộ niệm, niệm lớn tiếng một chút
mình tức mình. Mình tức mình trong lúc sắp sửa ra đi, bao nhiêu công đức của
mình tiêu hết rồi, còn đâu nữa cái hoa sen mà đức A-Di-Đà Phật cầm trên tay đưa
xuống để cứu mình lên Tây Phương!

Mình ghét một người kia, ngày nào mình
cũng nêu những điều sai trái của họ, lúc đó họ thấy mình sắp sửa chết, tự nhiên
họ phát tâm thương hại, họ thành tâm tới hộ niệm cho mình. Mình mở mắt ra vừa
thấy người đó thì phiền não. “Đấy, bà tới
hại tôi rồi! Bà tới làm cho tôi bị đọa địa ngục!”
. Mình nổi một cơn sân
giận lên, là tự mình đi vào con đường địa ngục đó chứ!…

Cho nên hôm qua mình có nói, chư
Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây Phương các Ngài luôn luôn chờ mình về trên đó,
các Ngài nói rằng:

Chư
vị chúng sanh ơi! Bao nhiêu nghiệp chướng trùng trùng phía trước, xin đừng có
lo đến. Hãy đừng làm như vậy nữa! Rồi thành tâm niệm Phật đi. Niệm mười câu
quyết lòng nguyện vãng sanh thì quý vị được vãng sanh. Tôi sợ nhất là chư vị
không chịu phá cái tập khí này
”.

Hòa thượng Tịnh-Không đã nói lên, nói
xuống không biết bao nhiêu lần, Phật chỉ cho chúng ta đới
N
ghiệp, không cho chúng ta đới Tập-Khí. Cái này khó nhất! Mà đây là cái dễ
vướng. Nói chung là 99% người bị vướng. Không vãng sanh là vì tập khí này.

Tại sao một người làm ác! Một người mổ
heo, một người làm bò, một người trong quá khứ tạo những tội… những tội đọa
địa ngục A-tỳ đi nữa! Nhưng đến giờ phút lâm chung gặp thiện tri thức tới khai
thị, họ buông xả hết, kiệt thành sám hốiniệm Phật họ vãng sanh? Là tại vì,
thật ra cái tâm của họ thoải mái trong đó. Họ có cái phước trong quá khứ, cái
phước đó dồn tới đời này, nhưng vì họ chưa có cái duyên gặp được Phật đạo nên
họ nhất thời hồ đồ làm ác. Họ dùng cái phước đó mà làm ác, nhưng cái ác trong đời này chưa thành quả
báo để họ hưởng, còn những thiện căn phước đức trong đời kiếp trước lại hiển
hiện
về. Tại sao vậy? Tại vì trong nhiều đời kiếp trước họ là người “Hiền”. Còn
mình bây giờ tu hành ở đây, nhưng chưa chắc gì mình đã có cái tâm “Hiền” bằng
họ. Tại sao? Vì một lần tu là một lần nghĩ rằng mình hơn thiên hạ. Một khi nghĩ
hơn thiên hạ tức là tập khí đã nổi lên rồi!…

Hòa Thượng Tịnh-Không nói, một trăm thứ
phiền não của chúng sanh, trong đó có sáu đại phiền não nhất định phải bỏ cho
được: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến. Sáu thứ căn bản phiền não này nó tạo
ra hàng trăm cái phiền não khác. Chính vì vậy, Diệu Âm thường cứ nhắc đi nhắc
lại những điều hết sức căn bản. Ví dụ như ta thường nổi giận, nổi giậnthế
gian
người ta coi bình thường lắm. “Ôi! Cái ông đó ưa nổi giận, chứ
ổng tốt lắm!”.
Không phải đâu ạ! “Giận nó kèm theo chữ Dữ”. Người giận không thể nào là
người hiền được! Tại vì dữ nên không thể tương ưng với cảnh giới của hàng đại
Thượng-Thiện trên cõi Tây Phương Cực Lạc.

Biết được như vậy, khi mà nổi cơn sân giận
lên, chúng ta hãy sám hối liền. Bằng cách nào? Chắp tay lại niệm… “A-Di-Đà
Phật, A-Di-Đà Phật”… Bất phạ niệm
khởi, đản phạ Giác trì!
”,đừng sợ cái
niệm giận khởi lên, mà hãy sợ là lúc đó mình có tiếp tục giận nữa hay không?
Hãy ngừng lại liền đi để niệm Phật. Hãy quyết lòng khởi tâm niệm Phật liền đi.
Nghĩa là, ta chỉ sợ rằng cái “Giác” mình chậm quá mà thôi! Nếu
mình tập được điều này, thì khi nổi cơn giận lên, thì mau mau bỏ ngay hiện
trường, ra uống một ly nước, tạt nước lên mặt, rửa mặt, xoa cái đầu một chút,
rồi niệm câu A Di Đà Phật, tưới mát cơn giận liền lập tức đi, thì chúng ta sẽ
phá được cái tập khí này. Phá được cái tập khí này để ta có cơ hội về Tây
Phương Cực Lạc
. Không phá cái tập khí này nhất định ta bị nạn!…

Chính vì vậy, ngày hôm qua khi tôi thấy
bốn năm người, ba bốn người gì đó, phát tâm lập công cứ, tôi mừng vô cùng. Xin
thưa, khi mình lập công cứ thì:

Mình
không dám coi Ti-Vi nữa đâu à! Coi Ti-Vi mình mất cái phước.

Mình
không dám coi phim chưởng đâu à! Coi phim chưởng mình không lập được công cứ.

Không
có dám nói người này xấu, người kia xấu đâu à! Vì nếu cái duyên này khởi lên
thì nó cứ truyền truyền với nhau… Mình không niệm Phật được đâu à!

Vì mình lo làm công cứ, thành ra mình
không dám nói chuyện, mình bỏ đi cái duyên của thế gian, mình bỏ đi cái tập
khí
. Công cứ này giống như nấc thang cho mình leo, tự mình phải lo lấy chứ
không ai lo được. Đừng bao giờ nghĩ rằng có ban hộ niệm là ta vững vàng. Không
phải! Quan trọng là ta có chấp nhận hộ niệm hay không? Vì sao? Vì hộ niệm
một phép tu rõ rệt:

Người
ta dạy mình phải bỏ tập khí: Đây là một phép tu
.

Người
ta dạy mình phải nhiếp tâm lại niệm câu A-Di-Đà Phật: Đây là một phép tu
.

Người
ta dạy mình phải nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc: Đây là một phép tu
.

Mình mới đau bịnh một chút thì sợ lên sợ
xuống, nhất định ý nguyện này là nguyện láo, là nguyện sai lầm! Chính vì thế,
xin thưa với chư vị, tu cần phải Khế cơ – Khế lý”.

“Khế lý” là như trong kinh
Pháp-Hoa nói, tám vạn bốn ngàn pháp môn trùng trùng điệp điệp, rộng rãi
cùng
, không cách nào mà nói cho thấu đáo.

– Nhưng còn “Khế cơ” là gì? Vì
chính căn cơ của mình đang hạ liệt:

Mình thường giận dữ, hãy bỏ
mau. Mình hay thị phi, mau mau bỏ. Mình buồn rầu cái gì, mau mau bỏ đi. Hãy bỏ
liền lập tức đi. Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến phải bỏ liền lập tức đi.
Không bỏ được thì mình phải bỏ ngay trong lúc mình vừa khởi lên đó, gọi là
Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Niệm
ngay câu A-Di-Đà Phật đi!

Xin thưa với chư vị, chỉ cần như vậy chúng
ta
đã bắt đầu cảm ứng được với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, và chắc chắn
trên cõi Tây Phương Cực Lạc, cái hoa sen của chúng ta dù không lớn mấy, nhưng
mà nó cũng đã có rồi, nó không nở nhưng ít ra là nó cũng đã có. Có như vậy thì
cái hoa sen trên tay của đức A-Di-Đà Phật, chính là công đức của mình, nhờ công
đức
đó mà mình mới ngự vào để đi về Tây Phương. Nếu khôngcông đức đó,
A-Di-Đà Phật cũng không cách nào tới tiếp độ mình về Tây Phương được.

Mong chư vị hiểu được chuyện này thì nhất
định
chúng ta có cái căn bản đi về Tây Phương để thành đạo Vô-Thượng.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ KÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 13)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Trong mấy ngày hôm nay, chúng ta phải đưa
ra chương trình Cố Gắng Niệm
Phật
, vì tiêu chuẩn niệm Phật của chúng ta so ra vẫn còn yếu.
Trong ngày hôm nay thì tôi có vào website của chùa Thanh-Hà ngoài Đà-Nẵng,
người ta báo cáo là ban hộ niệm của họ đã hộ niệm cho được 101 người vãng sanh,
và người ta đưa chi tiết từng người một lên trang web đó. Mấy tháng trước người
ta báo cáo 77 người, thì bây giờ lên đến 101 người…

Mình thấy rõ rệt là niệm Phật vãng sanh
Tây Phương thật sự có thật, nhưng nếu chúng ta tu yếu quá thì sau cùng có thể
bị ách nạn. Như hổm nay chúng ta có nói qua là nghiệp chướng của chính những
người chúng ta cũng thuộc về phần hạ căn, phước mỏng, đức bạc nên còn nặng nề
lắm, khó thoát lắm chứ chẳng phải dễ đâu.

Ban hộ niệm của chùa Thanh-Hà đặt ra tiêu
chuẩn
những người tham gia vào ban hộ niệm, trung bình mỗi người phải niệm một
ngày hai chục ngàn câu A-Di-Đà Phật. Những người mới vào thì tiêu chuẩn niệm
mười ngàn câu A-Di-Đà Phật. Sau mấy tháng thì tăng lên mười lăm ngàn câu và khi
đạt được hai chục ngàn câu A-Di-Đà Phật thì người ta mới chịu.

Đây cũng là điều hay để nhắc nhở cho chúng
ta
thấy rằng, ngay tại đạo tràng của chúng ta đang có chương trình gọi là công
cứ
. Công cứ chúng ta đưa ra đầu tiên mới có năm ngàn mà nhiều người đã dội!
Nhưng xin thưa rằng, năm ngàn quá ít! Nếu như chúng ta cứ giữ năm ngàn một
ngày, thì sau cùng vượt không được ách nạn đâu. Vì chắc chắn nếu niệm chỉ có
năm ngàn câu, thì một ngày hai mươi bốn giờ, ít ra ta cũng có tới hai chục giờ
nói chuyện Ta-bà, hai chục giờ đi theo con đường sanh tử, còn những giờ khác
thì cơm nước gì đó… Rốt lại, tu hành chẳng có bao nhiêu hết. Cho nên nếu thật
sự chúng ta thấy rằng cái huệ mạng của chúng ta đang ở trong cơn nguy hiểm
cùng
thì chính chúng ta phải lo, chúng ta phải cứu chúng ta, chứ không ai cứu
ta được. Pháp môn niệm Phật rất dễ thành tựu, nhưng cũng không dễ đến nỗi mà
chúng ta không muốn về cũng về được đâu. Không phải vậy!

Hôm qua, chúng tôi có nhắc đến vấn đề Mười
niệm tất
sanh, xin
quý vị đồng tu đừng nghĩ rằng, mười câu A-Di-Đà Phật trước phút lâm chung
đơn giản. Không có như vậy đâu! Anh Minh Trí bịnh một ngày, anh muốn niệm Phật,
mà niệm không được. Anh niệm không được! Đó là lúc bệnh sơ sơ. Còn lúc sắp chết
nếu mình đi vô bệnh viện, bác sĩ chích cho mình vài mũi thuốc morphine để cho
mình nằm thiêm thiếp rồi đi luôn. Nếu cho rằng đó là sự an toàn ra đi thì thôi
những lời này không còn giá trị gì nữa. Nhưng nếu thật sự mình biết rằng trong
khi mê man bất tỉnh đó, nó sẽ dẫn mình tới vô lượng kiếp về sau trong cảnh khổ
đau bất tận thì phải lo, lo lắm, nếu không lo, thì không ai lo cho mình được.

Trong năm 2011 này, chúng tôi dự định rằng
sẽ cố gắng tiến thêm nữa để tu. Hẳn nhiên sự tu hành không ai bắt buộc hết. Có
người có thể theo được, có người có thể không theo được, hoàn toàn tùy duyên.
Những ai cố gắng theo được thì cứ theo. Còn 365 ngày tu hành thì chúng ta vẫn
cứ giữ. Ví dụ như có người thì có ngày đi có ngày không, có người thì ngày nào
cũng đi, chúng ta phải có người trên người dưới kéo nhau. Nhưng riêng vấn đề tu
tinh tấn chúng ta vẫn còn yếu quá! Thật sự yếu quá! Chúng ta phải tiến đến hai
ngày kiết nhật niệm Phật, mà hai ngày nghiêm chỉnh chứ không phải là một ngày
còn có nửa ngày như bây giờ… Không phải. Tiến đến làm sao một ngày phải đúng
24 tiếng đồng hồ không nói chuyện, hai ngày phải đúng 48 tiếng đồng hồ, đó là
những người muốn ghi danh tu toàn thời. Còn những vị tu bán thời, thì có thể
tham
gia thời nào thì tới, nhưng khi bước vào trong cánh cổng Niệm Phật Đường
thì không được nói chuyện, và khi bước ra khỏi cổng Niệm Phật Đường thì lúc đó
không còn có giới hạn trong cái quy luật nữa. Có như vậy chúng ta mới có khả
năng thật sự yên lặng thanh tịnh, để khi cuối đời trước những giờ phút ra đi,
tâm chúng ta luôn luôn giữ được câu A-Di-Đà Phật để vãng sanh.

Mình cứ tưởng tượng, khi mình nói chuyện
như thế này nếu tắt cái máy lạnh đi, máy lạnh tắt nhưng không khí này cũng cỡ
chừng 21°C hay 22°C, vậy mà có nhiều người chịu không nổi. Ấy thế, khi rơi
xuống địa ngục, mình biết địa ngục gọi là cái hầm lửa, nó sẽ thiêu đốt ngày này
qua ngày khác, đời này qua đời khác, kiếp này qua kiếp nọ… “Thiết
Sàng, Đồng Trụ
hiển hiện! Mình thấy rằng
với không khí không phải là tệ lắm như ở tại đây mà chúng ta đã chịu không nổi
rồi, trời nắng một chút chúng ta chịu không nổi rồi, chẳng lẽ chúng ta lại coi
thường
những sự thiêu đốt, lửa cháy bừng bừng đời này qua đời nọ, kiếp nọ qua
kiếp kia, gọi là “Lũy kiếp nan xuất ở dưới đó sao? Chẳng lẽ
dễ dàng? Chẳng lẽ chúng ta thấy đơn giản để xuống đó xem coi cho biết sao? Mong
chư vị, vì cái huệ mạng rất ư nguy hiểm của mình có thể bị nạn lâu dài tới
lượng kiếp
mà mình phải ráng lên, tự mình ráng lên.

Cho nên trong những khóa tu đó, đang kêu
gọi chư vị phát tâm ghi tên. Hẳn nhiên hoàn toàn không ép một người nào hết,
nhưng mà tự mình phải ráng.

Ngài Tĩnh-Am Đại Sư có dạy như thế này:
“Đường tu hành quý ở chỗ Phát Tâm. Đạo nghiệp của mình quý ở
chỗ Lập Hạnh”.

Hai chữ “Phát Tâm” và “Lập
Hạnh
vô cùng quan trọng đối với những người thật sự tu hành, đối với
những người thật sự trong đời này muốn thoát vòng sanh tử, đối với những người
thật sự muốn niệm Phật vãng sanh. Chứ còn như niệm Phật mà không muốn vãng sanh
thì thôi không nên nêu ra vấn đề này.

Phát Tâm!
Đường tu vạn nẻo, chúng ta phát tâm niệm Phật thì chúng ta phải thẳng một
đường. Sự phát tâm này cần phải chuyên nhất mới tốt… Hòa Thượng Tịnh-Không
luôn luôn nhắc nhở chúng ta cần phải chuyên nhất. Nếu không chuyên nhất thì
nhất định sẽ bị trở ngại! Đang đi con đường niệm Phật mà kèm thêm một đường nào
khác là một cái ngã rẽ. Tụng hai bộ kinh thành ra ngã rẽ. Ta niệm một câu
A-Di-Đà Phật, lại niệm thêm một cái gì nữa là thành ra ngã rẽ. Chính vì cái ngã
rẽ này…


sẽ chia cái tâm của chúng ta!


chia cái trí nhớ chúng ta!


chia cái niềm tin!


chia cái đường đi!

Để đến lúc mà nằm xuống rồi ta sẽ phân vân
vô cùng không biết con đường nào chọn lựa. Bên cạnh đó, nên nhớ cái nghiệp của
mình, oan gia trái chủ của mình ở sát bên cạnh chứ không đâu xa hết… Họ tìm
mọi cách ngăn cản, không cho mình vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Họ chỉ cần
làm cho mình rớt lại trong lục đạo, là không biết bao nhiêu cơ hội để họ trả
thù
. Dễ sợ vô cùng! Chính vì vậy, Hòa Thượng Tịnh-Không luôn luôn nhắc nhở là
phải chuyên nhất. Không chuyên nhất thì nhất định sẽ bị trở ngại!

Lập Hạnh. Ví dụ đơn giản như chúng ta
niệm Phật một ngày không biết là niệm bao nhiêu? Hình như hai trăm, ba trăm hay
bốn trăm câu… Ít quá! Chúng ta phải phát một tâm nguyện ra, niệm năm ngàn,
bảy ngàn… Như ở ban hộ niệm Hoa Sen tiêu chuẩn của người ta là hai chục ngàn
câu, ai chịu nổi vào tu, ai không chịu nổi thì rớt đài. Tại vì họ tuyển chọn như
vậy, nên mới qua có mấy tháng trời mà bây giờ cái số lượng vãng sanh lên đến 101 người. Ngày
hôm nay tôi mới mở web ra xem thấy lên đến 101
người. Có những ban hộ niệm đã lên đến một trăm mấy chục người. Ở Việt Nam
đến mấy trăm ban hộ niệm như vậy, quý vị tưởng tượng đi, biết bao nhiêu người
vãng sanh?

Ấy thế mà chúng ta ở đây chưa có lập hạnh.
Chúng ta còn nghĩ rằng sự vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc có vẻ rẻ rúng quá,
giống như đi ra ngoài shop mua vài bó rau lang, lựa lên lựa xuống, trả lên trả
xuống!… Không phải như vậy đâu! Vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc quý giá vô
ngần, làm cho mình trong vô lượng kiếp không còn đau khổ nữa. Từ trong vô lượng
kiếp
qua mình bị đọa lạc! Từ giờ phút này trở đi chúng ta an vui cực lạc, tiến
thẳng về Tây Phương để thành đạo. Cái giá này không cách nào có thể so sánh với
bất cứ cái gì được!

Xin thưa với chư vị đồng tu, hãy cố gắng
lên, vững vàng phát cái nguyện dũng mãnh lên, lập hạnh vững vàng lên.

Cầm
tờ báo lên đọc để làm chi? Mất đi năm, mười phút. Năm mười phút đó ta niệm được
một ngàn câu A-Di-Đà Phật
.

Nói
vài câu chuyện với hàng xóm làm chi? Một tiếng đồng hồ ta niệm được cả năm, sáu
ngàn câu A-Di-Đà Phật
.

Kình
cãi với hàng xóm làm gì? Chúng ta niệm Phật!

Cho nên, cái công cứ nó hay vô cùng. Ngày
hôm qua có bốn người phát tâm làm công cứ. Hay vô cùng! Tôi mừng vô cùng!… Nó
buộc mình bỏ đi Ti-Vi, nó buộc mình bỏ đi cái phim chưởng, nó buộc mình bỏ đi
không nghĩ tới những chuyện trong lục đạo luân hồi nữa. Bà kia xấu, kệ bả! Ông
nọ tốt, kệ ổng! Mình cứ lo niệm Phật.
Lúc nằm xuống mình phải lo niệm Phật. Bịnh lên mình niệm Phật. Bịnh xuống mình
niệm Phật. Gặp bất cứ một điều trở ngại nào trong đời mình đều trả lời bằng câu
A-Di-Đà Phật… thì lúc ngộp ngộp mình sẽ niệm câu A-Di-Đà Phật. Oan gia trái
chủ, những người mà mình đã lỡ sát hại họ, họ nhìn thấy rõ rệt mình đang quyết
lòng
đi về Tây Phương để cứu họ… thì họ sẽ cảm thông… sẽ tha thứ cho mình.
Chư Thiên-Long Hộ-Pháp sẽ gia trì cho mình, A-Di-Đà Phật cũng sẽ gia trì cho
mình, mình mới có thể vượt qua cái ách nạn này. Nếu không thì vô phương! Không
dễ gì đâu!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 14)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ngài Tĩnh-Am Đại Sư khuyên tất cả chúng
ta
, việc tu hành nên phát tâm, nếu không phát tâm thì chúng ta sẽ lơ mơ lờ mờ
trong sáu nẻo luân hồi, không biết đường nào đi.

Chúng ta đã niệm Phật, quyết lòng chuyên
tu
câu A-Di-Đà Phật để vãng sanh, tức là ta đã phát tâm. Khi phát tâm rồi, nếu
chúng ta không có cái nấc thang để đi, thì nhiều khi đoạn đường sanh tử trong
một phần đoạn này, một đời này đi không tới. Ngài nói,Đạo
nghiệp cần ở chỗ Lập Hạnh
”. Mình nói cho dễ hiểu hơn, “Phát Tâm” là có hướng đi, “Lập Hạnh” là tốc độ đi.
Phải có cái tốc độ đi phù hợp thì chúng ta mới tới đích. Ta biết hướng đi,
nhưng con đường dài quá mà ta đi tà tà, dù cũng đi theo hướng đó nhưng ta sẽ
ngã quỵ ở giữa đoạn đường! Nghĩa là chúng ta cũng không được thành tựu, không
đạt được tới mục đích. Trong cái ý hướng để quyết lòng bước đi, vừa vững mà vừa
đủ
thời gian tới đích, có nghĩa là khi tới giờ phút lâm chung ta vững vàng niệm
câu A-Di-Đà Phật, theo A-Di-Đà Phật, Quán-Âm, Thế-Chí về Tây Phương Cực Lạc. Ta
nói đến chuyện “Lập Hạnh”.

Có nhiều người khi đã phát tâm rồi, nhưng không
chịu lập hạnh, nói cho rõ ra tức là tu tà tà, thì đến lúc lâm chung chướng nạn
đến họ chịu không nổi. Chính vì thế rất nhiều người đã mất phần vãng sanh Tây
Phương Cực Lạc
, dù rằng họ đã niệm Phật.

Trong ngày hôm nay có một vị tới thăm, nói
rằng, “Nếu mà tu tinh tấn hai ngày thì
tôi không có giờ, làm sao tham
gia?”
.

Thì tôi cười và nói… Không sao đâu! Việc tu hành không ai ép buộc cả. Hồi giờ mình
tu được như vậy thì cũng đã đáng khen rồi.
Hai tuần chúng ta kết
nhau lại từ sáng cho đến tối để niệm Phật cũng đáng khen rồi!… Nhưng mà riêng
Diệu Âm này tự xét mình thì thấy nghiệp chướng còn nặng quá! Căn cơ còn yếu
quá! Tu hành mười mấy năm qua nhưng tâm này chưa có mở chút xíu nào hết trơn!
Tức là cái nghiệp của mình còn dày quá! Trí huệ của mình còn mỏng quá! Chính vì
sợ rằng trước những giờ phút ra đi niệm câu A-Di-Đà Phật không được! Nên mới âm
thầm, thật sự ra, hổm nay âm thầm vạch ra chương trình để quyết lòng tu. Khi
lập chương trình tu như vậy thì muốn hô hào cho các vị đồng tu tham gia. Nhưng tham
gia
được hay không chẳng sao cả. Những người nào bận đi làm việc thì cứ việc đi
làm. Tu theo không được cũng không sao, cứ tu đều đều như vậy. Chỉ có những
người nội trú trong Niệm Phật Đường, thì bắt buộc phải tham gia toàn thời trong
những ngày tu tinh tấn đó. Còn các vị ở ngoài thì có thể sáng Chủ Nhật tới tu
tinh tấn, tu xong rồi tối về như thường lệ. Ngày tiếp theo, tức là ngày thứ hai
không tham gia cũng không sao, cứ tối lại chúng ta vào tu, tu rồi ra về.

Chúng tôi cũng đã dự định rằng, hễ có nhiều
người thì tu nhiều người, không có người nào tham gia, những ngày tinh tấn đó
giả sử như chỉ có một mình Diệu Âm, thì Diệu Âm cũng quyết lòng vẫn tu như vậy.
Tức là, ngày đó là ngày tịnh khẩu, chỉ cần chư vị vào đây tịnh khẩu niệm Phật
để hỗ trợ cho nhau là được. Nếu chúng ta không lập hạnh vững vàng thì sợ rằng
chúng ta sẽ không qua được ách nạn!…

Tôi nhớ cách đây cỡ chừng mười năm hay
mười một năm, tôi có xem một cuộn DVD quay lại một vị Pháp Sư ở bên Trung Quốc.
Ngài lặng lẽ rời ngôi chùa, rời tất cả đại chúng, không báo cho một ai biết
hết. Một túi gạo, một con dao, một hộp quẹt, một bình nước và một số lương
khô… rồi lặng lẽ rời chùa đi thẳng vào núi, tức là cứ hướng tới ngọn núi đó
đi thẳng thẳng vào, đi suốt suốt suốt vào trong ngọn núi, một mình như vậy
đi. Ngài đã âm thầm tu trong núi sâu suốt mười năm trường, quyết lòng không
liên lạc với đại chúng. Mười năm sau, có một vị đại úy người bắc Hàn, được một
vị Thần tới báo mộng, nói: Ông hãy
dẫn đại đội của ông đi về phía nam, cứ vào trong núi đó để mà cứu một người”

Ông đại úy đó không chịu đi. Ngày hôm sau
vị Thần đó lại đến báo mộng cho ông ta lần nữa, “Anh phải dẫn đại đội của
anh đi thẳng vào hướng nam, tới vùng núi đó để cứu một người”
.

Ông ta cũng không đi. Ngày thứ ba thì vị Thần
đó kêu ông ta dậy, cũng trong mộng, “Ngày hôm nay nhất định ông phải đi,
đem đại đội đi vào trong núi đó cứu một người”
.

Ba ngày liên tục như vậy. Thì sáng sớm hôm
sau, ông đại úy đó mới dẫn một đại đội đi thẳng vào núi. Đi từ sáng, ban đầu
thì đi bằng xe, vào núi, xe chạy không được nên để xe lại… Đi sâu vào trong
núi. Đi đến chiều luôn cũng không thấy. Đi ngày thứ hai cũng không thấy. Đi đến
ba ngày, thì ngày cuối cùng họ đã gặp một người với đầu tóc râu ria giống như
một người ở thời thượng cổ. Họ bắt về. Người này nói tiếng Hoa được. Khi bắt về
xong rồi thì mới biết ông này gốc là một nhà Sư. Lúc Thầy bỏ chùa đi chỉ có ba
mươi tuổi mà thôi. Khi bị bắt, thì Thầy đã 40 tuổi.

Bắt về xong, họ thấy ông này dơ dáy, bẩn
thỉu!… Thôi! Cho tắm rửa, cạo râu, cạo tóc… rồi kêu bên Trung Quốc trả lại.
Khi bên Trung Quốc nhận người đó về rồi thì tin đó được tung ra. Lạ thật! Cái
nơi mà nhà Sư đó ở tự nhiên phát triển lên. Thực ra, có lẽ tại vì nghe tin lạ
quá, khắp nơi người ta ùa tới… nào là xe bus, nào là xe đò, nào là quán xá…
nổi lên một cách nhộn nhịp. Cuộc sống tại nơi đó tự nhiên phát triển nhanh lên.
Sau đó, bên Bắc Hàn muốn đòi người đó lại, vì nói rằng người này là người được
họ bắt về. Thế nhưng bên Trung Quốc không chịu trả lại. Vô tình nhà Sư đó đã
làm cho cả tỉnh đó được phồn thịnh lên. Đây là một sự thực. Mắc cười quá!

Quý vị thấy không? Lập Hạnh!…
Thường tại vì ta sợ rằng làm không được, cho nên ta làm không được! Chứ nếu mà
ta lập hạnh chuyên chí tu hành, quyết lòng niệm Phật. Xin thưa với chư vị,
trong kinh có nói: Quang trung hóa Phật
vô số ức. Hóa Bồ-Tát chúng diệc vô biên
”. Trong kinh
Thập-Vãng- Sanh, Phật có nói, người nào phát tâm niệm Phật, có 25 vị Bồ-Tát kèm
sát bên cạnh người đó, để hộ trì cho người đó.

Chính vì ta không đủ lòng tin, nên sợ rằng
ta tu như vậy thì mệt quá, ta xỉu đi. Quý vị không biết đâu, 25 vị Bồ-Tát!…
Trong một lần ngài Tịnh-Không nói:

Quý
vị tu… mà quý vị bị chết đói, chẳng lẽ các vị Bồ-Tát đó mất chức sao?
Ngài nói như vậy.

Cho nên chúng ta phải biết tin, niềm tin
phải vững vàng. Nếu thật sự đi về Tây Phương thì phải phát tâm nguyện mạnh mẽ
lên… Phải tu hành!

Mấy ngày hôm nay chúng ta đưa ra chương
trình
công cứ. Cái mức công cứ đầu tiên đưa ra chỉ có năm ngàn một ngày. Nếu so
với những chỗ khác thì mức này còn quá tệ! Ấy thế mà có người khi nghe tới năm
ngàn thì dội! Tôi nói:

Nếu nghe năm ngàn mà dội, thì con
đường
vãng sanh của chúng ta thật sự vẫn còn quá xa vời! Xa vời!

Ngài Tịnh-Không nói rằng, quý vị niệm
Phật
, niệm một ngày tới mười vạn tiếng, là một trăm ngàn câu, liệu rằng chưa
chắc tu suốt đời mà cái nghiệp của mình đã giải được. Ấy thế mà chúng ta mới
đặt ra có năm ngàn câu Phật hiệu một ngày, mà có nhiều người làm không tới! Thì
hôm nay Diệu Âm xin thưa thực với chư vị, hãy cố gắng quyết lòng bằng cái khởi
điểm là năm ngàn đi. Năm ngàn, một thời gian rất ngắn thôi, rồi tăng lên đi…
Mười ngàn. Nếu không lo cái huệ mạng của mình, nhất định vạn kiếp bị trầm luân,
chắc chắn chúng ta không cách nào đổ thừa cho ai được hết.

Hôm qua mình có nói mà, tắt máy lạnh một
chút mình nhức đầu chịu không nổi. Đi xuống địa ngục, lửa cháy bừng bừng thiêu
đốt cả ngàn vạn kiếp như vậy!… Dưới địa ngục có “Thiết Sàng”. Thiết
sàng là cái giường đốt nóng lên, rồi bắt tội nhân để trên đó cho cháy tan ra. Tại
sao người ta đốt mình như vậy? Có phải là mình bắt con cá rô, mình bắt con cá
lóc… để lên trên cái vỉ sắt mà nướng nó không? Ở dưới địa ngục có những loài
quỷ họ bắt mình liệng trong chảo nước sôi, liệng vào trong chảo dầu sôi, sự
thực có phải mình đã từng bắt con cua liệng trong chảo dầu không? Đúng như vậy
mà!… Nhân-Duyên Quả-Báo tơ hào không sai!”…

Ta đã làm cái chuyện này, ta phải trả cái
nợ này. Ta mà sơ ý xuống địa ngụcnhất định ta phải trả, trả từng chút từng
chút, gọi là
hào
không sai”. Trong cái duyên, khi chúng ta còn
làm kiếp người, chưa gặp quả báo địa ngục, thì cái duyên này, cái cơ hội này
nhất định ta phải trân quý, phải tranh thủ từng thời gian, đừng để phải xuống
địa ngục. Nếu không, nhất định những nghiệp báo này ta phải trả hết, đó gọi là
Nhân-Duyên Quả-Báo.
Xuống địa ngục thì cái duyên này hợp với những quả ác, nhất định tất cả những
cái nhân ác sẽ nở thành quả ác… Nhất định chúng ta sẽ phải trả từng cái, từng
cái, từng cái… Trả cho đến khi nào hết mới thôi, gọi là “Lũy kiếp nan
xuất
”, không thể nào ra được!…

Biết được đạo lý này, xin thưa với chư vị,
hãy phát tâm tu hành vững vàng. Một câu A-Di-Đà Phật thành tâm mà niệm sẽ phá
tan cho ta 80 ức kiếp nghiệp chướng sanh tử trọng tội. Nếu ta không thành tâm
niệm, hôm nay niệm, ngày mai không, đấy chỉ là niệm giả thôi, không phải niệm
thật! Bữa nay nguyện vãng sanh, về nhà chúng ta cạnh tranh ganh tỵ… toàn là
nguyện giả mà thôi! Chắc chắnchúng ta không muốn vãng sanh! Không muốn vãng
sanh
thì oan gia trái chủ cũng biết rằng mình vẫn còn cái tâm ác trong đó, nếu
anh còn ở đây, thì một ngày nào đó anh cũng sẽ giết chúng sanh để ăn thịt. Chắc
chắn
họ sẽ chuẩn bị tất cả những gì cần thiết để đòi lại cho được cái nợ gọi là
nợ xương máu đối với họ. Nhất định!…

Chính vì vậy, chư Tổ thường khuyên chúng
ta
phải cố gắng Lập Hạnh để mà đi. Chúng ta Lập Hạnh đi, thì 25 vị Bồ-Tát sẽ ở
sát bên ta giúp đỡ cho ta, chúng ta vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, một đời
thành đạo.

Xin chư vị cố gắng đi thành
đạo
, đừng đi xuống địa ngục. Xuống địa ngục thì không có ai cứu ta được nữa
đâu!

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 15)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Tu là tu thật, chứ không phải
là tu thử
”. Có nhiều người hay nói tu thử! Tu thử thì
tu hành nhiều tới đâu cũng vô ích!…

Chúng ta ở đây kết nhóm với nhau niệm Phật
chúng ta tu thật. Xin chư vị đừng nên tới đây tu thử. Tại vì tu thử tức là
trong tâm của ta không có định hướng, thấy người ta tu vui vui, mình tới tìm
vui chứ không phải là tu. Ngài Tĩnh-Am dặn chúng sanh tu phải có phát tâm.
Chúng ta ở đây phát tâm niệm Phật là hướng đi đã được xác định. Phát tâm rồi
nhưng mà không lập hạnh thì phát tâm này cũng là phát tâm thử! Chính vì phát
tâm
thử, nên rất nhiều người tu hành sau cùng không có thành tựu.

Chúng ta biết rằng, khi mình chết đi nhất
định
không phải là hết. Nếu mà hiểu đạo thì rõ rệt, nói thẳng thắn ra, là cái
thân xác này chúng ta bỏ, chứ còn “Chính Ta” không bỏ đi đâu
hết. Ở trước cửa kia có chiếc xe của anh Phước, cái xe bị hư anh Phước bỏ chiếc
xe, chứ anh Phước vẫn còn, chị Nhung vẫn còn. Ta tu là để khi ta liệng cái xác
này, ta được giải thoát. Nếu không xác định được rõ rệt như vậy, thì chúng ta
tu cũng chỉ là tu thử! Thật sự, có thể nói rằng hơn 90% người tu hành trong
thời này thường là tu thử!…

Nhiều người khi nghe có lễ lộc thì đi tới
chùa thử coi. Khi tới thì nhìn vô thử coi! Nhìn vô thử coi xong rồi… À! Như
vậy là ta tu rồi đó! Tu rồi thì ra phía sau nhập vào bàn cờ tướng, nhập vào tờ
báo, nhập vào nhóm ca nhạc… Tất cả những thứ đó nhất định sẽ lôi kéo chúng ta
lại. Có nghĩa là, trong cuộc đời này dù cho có tới chùa nhiều như thế nào đi
nữa, dù cho hình thức tu hành hay như thế nào đi nữa, đọa lạc vẫn bị đọa lạc
như thường!…

Chính vì vậy, Niệm Phật Đường này lập ra
để dành cho những người tu thật. Xin thành tâm kêu gọi tất cả mọi người,
chúng ta hãy thực tâm tu hành, vì cái huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp mà đến đây
niệm Phật. Từ đây cho đến tương lai, nhất định đạo tràng này không làm lễ,
không tụ hội, không cờ xí, không quảng cáo… Chỉ âm thầm lặng lẽ niệm Phật.
Nhất định tu thật.

Trong kinh Đại-Tập, Phật nói: “Đời mạt pháp vạn
ức người tu, khó tìm ra một người chứng đắc. Chỉ có những người nào phát tâm niệm
Phật
mới vượt thoát ra khỏi cảnh luân hồi
”.

Nghe theo lời Phật, nên chúng ta đóng cửa
tu hành. Đóng cửa tu hành trong thời mạt pháp này có nghĩa là cố gắng xa lìa
những nơi đông đảo, hội náo. Đó là lời Phật dạy trong kinh Bửu-Tích. Thời mạt
pháp
này, nếu không biết lặng lẽ tìm nơi an tịnh để niệm Phật, thì nhất định
chúng ta sẽ thất bại!

Ngày hôm qua chúng ta đưa ra hình ảnh một
vị pháp sư trốn tất cả thế gian, đi thẳng vào trong rừng sâu, lặng lẽ tu một
mình
mười năm trường. Những ngày đầu tiên Ngài gặp rất nhiều khó khăn, nhưng
nhất quyết không lui. Khi lương thực hết, thì tự nhiên có những loài khỉ, những
loài chim chúng lại đem thức ăn tới cho Ngài. Khi bị bắt ra rồi, Ngài mới có 40
tuổi. Ngài đứng lên nói lại những chuyện đó.

Chúng ta không dám làm chuyện đó đâu, vì
thật sự đây là những người đặc biệt mới làm nổi. Chúng ta chỉ kêu gọi tất cả
mọi người cố gắng, quyết lòng, đã tu thì nhất định tìm một cách tu nào vững
vàng
để thành tựu cho được. Còn không, thì xin thưa, nạn sanh tử luân hồi vẫn
còn nguyên vẹn, không cách nào thoát ly! Ở đây chúng ta đang hô hào tăng thêm
thời gian tinh tấn niệm Phật, đây là một sự tập sự để đến khi mãn báo thân này,
nhất định khi nằm xuống, trước những giờ phút lâm chung ta niệm được câu
A-Di-Đà Phật.

Chúng ta nên nhớ, nghiệp chướng của chúng
ta
quá nặng! Đừng nghĩ rằng một người nào đó đưa vào bệnh viện bị mê man bất
tỉnh, còn mình thì không đến nỗi như vậy. Không phải! Nó chưa đến đó thôi. Khi
đến rồi, nhiều khi chính mình còn bị nặng hơn nữa! Muốn giải quyết chuyện này
thì phải làm sao? Trong kinh Phật có dạy rằng, vãng sanhÝ
Niệm
Vãng
Sanh”.
Ý Niệm Vãng Sanh là như thế nào? Là người đó khi lâm chung bị nghiệp chướng
đánh họ, bị chướng nạn làm cho họ mê man bất tỉnh, nhưng mà trong tâm của họ âm
thầm niệm Phật trong đó mà mình không hay. Nếu làm được chuyện này thì người đó
được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, theo cái diện “Ý Niệm Vãng Sanh”.

Ta niệm Phật như thế này?… Chưa chắc!
Xin thưa thật với chư vị, chưa chắc gì ta sẽ giải hết tất cả những ách nạn. Mà
ta có thể bị mê man bất tỉnh! Muốn trong khi mê man bất tỉnh đó mà ta niệm câu
A-Di-Đà Phật, thì không có gì khác hơn là ngay từ bây giờ phải mau mau tỉnh ngộ
đường tu, quyết lòng trì giữ câu A-Di-Đà Phật.

Những
chuyện thị phi, ganh tỵ, câu chấp… của thế gian nhất định phải buông ra
.

– Những cái lo lắng, sầu bi,
khổ sở… nhất định phải buông ra.

– Những cái này phải buông ra,
buông ra, buông ra
Mỗi ngày mỗi buông, mỗi ngày mỗi buông. Tập buông… Phải
buông liền để cho những cái đó không dính vào tâm của mình, thì khi nằm xuống
mới niệm Phật được.

Trong tất cả những ngày trước khi lâm
chung
, mình huân tập câu A-Di-Đà Phật, huân tập cho đến nhập vào tâm luôn. Nếu
không
nhập vào tâm được, thì ít ra cũng phải thành một thói quen, gặp bất cứ
chuyện gì cũng trả lời bằng câu A-Di-Đà Phật. Thì khi ta gặp đại nạn đến, ta
gặp oan gia trái chủ đến, ta gặp những chướng nạn của cận tử nghiệp… tâm ta
vẫn giữ được câu A-Di-Đà Phật. Cố gắng niệm Phật, thành tâm niệm Phật. Cứ câu
A-Di-Đà Phật mà niệm, chư Thiên-Long Hộ-Pháp, chư Bồ-Tát gia trì cho chúng ta
trong lúc đó.

Nhân Quả của chúng ta… thân chúng ta
trả. Đường về Tây Phương… tâm chúng ta đi
.

Cho nên nhân quả cứ trả trên cái thân này,
còn cái tâm này vẫn giữ câu A-Di-Đà Phật để niệm.

Ngài Tĩnh-Am khuyên chúng sanh phải “Lập
Hạnh”. “Lập Hạnh” là như thế nào? Ví dụ, chúng ta đưa ra
chương trìnhCông Cứ Niệm Phật”. Lập công cứ niệm Phật chính
là “Lập Hạnh”. Tại vì, nếu chúng ta không niệm Phật, thì đừng nghĩ rằng có mười
người, hai mươi người ở Niệm Phật Đường A-Di-Đà này đến chung quanh cái xác của
ta, họ hộ niệm cho ta thì ta được vãng sanh. Hoàn toàn không phải! Nếu quý vị
đã nghe qua những lời Diệu Âm nói trước đây, hoàn toàn không phải như vậy! Mà
bắt buộc người nằm đó, người bệnh đó phải niệm câu A-Di-Đà Phật, phải nguyện
vãng sanh, phải quyết lòng đi về Tây Phương dù với bất cứ hoàn cảnh nào, nếu
được người hộ niệm tới hỗ trợ tích cực nữa, thì ta mới dễ được vãng sanh. Nếu
lúc đó ta chìm đắm trong một cảnh giới nào đó, dẫu cho một ngàn người đến hộ
niệm
đi nữa, nhất định cũng không thể vãng sanh!

Quý vị nên nhớ rằng, ngài Lương Võ Đế
một đại Hoàng Đế, Ngài triệu tập được cả hàng ngàn vị Tăng, đại Tăng, tới hộ
niệm
cầu siêu cho người vợ thứ của Ngài, thì kết quả nhiều lắm cũng chỉ lên một
cảnh trời trong Dục-Giới là cùng, trong khi phước đức của Ngài bỏ ra hộ pháp
cho Phật pháp có thể nói là bao trùm cả thế giới. Cái phước đức lớn như vậy,
cộng thêm một ngàn vị đại Tăng như vậy, mà cứu chỉ được lên một cảnh Trời mà
thôi. Trong khi đó, nếu chỉ cần năm người, mười người đồng tu đứng chung quanh
chúng ta niệm Phật, hộ niệm, nếu mình niệm Phật được thì mình về tới Tây Phương
Cực Lạc
để thành đạo Vô-Thượng. Cái giá trị này lớn đến cỡ nào?…

Xin thưa với chư vị, tu phải biết đường rõ
rệt, tu phải hiểu đạo rõ rệt. Phải nắm vững những nguyên tắc này: Muốn được
A-Di-Đà Phật đến cứu độ mình, nhất định “Tự Lực” mình phải lo trước. Tự lực
gì? Đối với pháp môn niệm Phật, xin thưa là: Tín-Hạnh-Nguyện,
không có gì khác. Nếu Diệu Âm nói rằng: “Quý vị lập công cứ niệm
Phật
một tuần thì phải “
Nhất tâm bất loạn, nói như vậy, quý vị có thể đánh giá
rằng Diệu Âm đã sai lầm! Sai lầm vì không ứng hợp căn cơ. Nhất
tâm bất loạn
hợp Lý, bắt người ta phải Nhất
tâm bất loạn
là không hợp Cơ!
chính Diệu Âm này cũng không có khả năng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì
làm sao dám nói với chư vị niệm Phật nhất tâm bất loạn?!…

Nhưng mà Diệu Âm nói rằng, chư vị ơi!
Ráng niệm Phật lập công phu. Trong công cứ chỉ khuyến tấn rằng, khởi đầu một
ngày hãy niệm năm ngàn câu A-Di-Đà Phật. Số lượng năm ngàn câu A-Di-Đà Phật
thật sự quá ít! Ta chỉ cần bỏ ra một tiếng đồng hồ là có thể niệm được. Thế mà
chúng ta không chịu niệm! Không chịu niệm thì ban hộ niệm cũng đành bó tay! Tại
sao chúng ta không niệm năm ngàn câu được? Tại vì không chịu
Lập-Hạnh
!

Cách đây mấy ngày, có một người tới đây
xin chúng tôi hộ niệm. Tôi nói, Cụ về sáng ra nguyện: “Nam Mô A-Di-Đà
Phật, xin Phật cho con được vãng
sanh Tây Phương Cực Lạc”, rồi niệm
Phật
ghi vào bảng công cứ, cố gắng một ngày Cụ niệm năm ngàn câu A-Di-Đà Phật.
Cụ đó nói: “Niệm
nhiều quá như vậy, tôi niệm không được!
”. Tôi trả lời thẳng thắn rằng: “Cụ
niệm không được, thì chúng tôi cũng không thể hộ niệm cho Cụ vãng sanh về Tây
phương Cực Lạc
” được.

A-Di-Đà Phật muốn cứu tất cả chúng sanh,
không bỏ một người nào hết. Nhưng tự mình không chịu đi, đường đi không vững,
lập hạnh không vững, niệm Phật chơi chơi!… Ở đây thì niệm Phật, về nhà xin
chư vị tự xét mình thử coi, trong lúc rảnh rỗi mình có niệm Phật hay không? Hay
là trong lúc rảnh rỗi mình coi Ti-Vi, mình coi phim chưởng, mình kình cãi, mình
nói chuyện này chuyện nọ?… Nếu vậy, thì rõ ràng, tâm của mình là tâm luân hồi
lục đạo, thì A-Di-Đà Phật cũng đành buông tay không có cách nào có thể cứu mình
được.

Chỉ cần phát tâm niệm Phật, quyết lòng
niệm Phật, quyết đi về tới Tây Phương Cực Lạc. Xin thưa thực, có ban hộ niệm
tại Việt Nam người ta trợ duyên được một trăm mấy chục người vãng sanh chỉ
trong vòng mấy năm trường. Tại sao được vậy? Tiêu chuẩn của họ đưa ra cho những
người trong ban hộ niệm là các thành viên phải niệm mười ngàn câu A-Di-Đà Phật,
phải niệm mười lăm câu A-Di-Đà Phật, hai chục ngàn câu A-Di-Đà Phật một ngày.
Có nhiều người niệm trong một tháng, hai tháng thì người ta đã đạt được tiêu
chuẩn
đó rồi. Khuôn mặt của họ tự nhiên càng ngày càng sáng sủa ra. Pháp
hỷ
sung mãn
rõ rệt.

Thật sự người niệm Phật có chư Thiên-Long
bảo vệ, có các vị Bồ-Tát gia trì, A-Di-Đà Phật phóng quang gia trì cho những
người niệm Phật. Thế mà chúng ta lại bỏ sự gia trì đó để đi theo con
đường
lục đạo, làm sao mà được thoát nạn?!

Nam Mô A-Di-Đà Phật

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 16)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Từ lúc chúng ta biết được phương pháp hộ
niệm
mới thấy được người vãng sanh, và khi thấy người vãng sanh rồi mới giật
mình tỉnh ngộ rằng con người chúng ta sống trên đời này, khi chết đi bị đoạ lạc
nhiều quá mà chúng ta không hay. Phải nói là khi biết được chuyện này rồi,
nhiều lúc suy nghĩ lại mình sợ mà rịn mồ hôi trán ra!

Sở dĩ con người bị đoạ lạc nhiều quá là
tại vì nghiệp chướng sâu nặng quá rồi, không còn cách nào có thể vượt thoát cái
ách nạn trong thời mạt pháp này. Con người cứ nhìn thấy những gì hiển hiện
trước mắt thì cho đó là đúng, không biết chuyện đọa lạc, nên chúng sanh cứ tiếp
tục
rơi vào những cảnh khổ vô cùng vô tận, hãi hùng vô cùng mà không hay!

Sở dĩ như vậy, là tại vì đã là nghiệp
chướng
sâu nặng mà không biết tu. Rất nhiều người không tu. Đời mạt pháp này
không tu thì chắc chắn phải bị nạn! Trong khi đó thì có người cũng tu mà thường
lại tu thử. Đây cũng là điều thực tế, cứ đi dạm hỏi thì biết. Nhiều người tu
thử lắm! Có nghĩa là, thấy người ta tu mình tới để coi thử? Cứ đứng xa xa để
nhìn thử?

Cũng có những người tu thực chứ không phải
tu thử, họ quyết tâm tu nhưng lại không có hướng tu rõ rệt, gọi là tu mà không
biết đường đi, thành ra suốt cuộc đời tu hành của họ cũng không thành tựu được
gì cả. Những dạng người này cứ thấy người này tu như thế này, mình chạy theo.
Rồi thấy người khác tu cách khác, mình cũng chạy theo. Thấy người này đưa ra
phương pháp này, mình chạy theo. Thấy người khác đưa ra phương pháp khác, cũng
chạy theo

Hòa Thượng Tịnh-Không nói, “Theo một
thầy thì có một đường, theo hai thầy thì có hai đường, theo ba thầy thì có ba
đường, theo bốn thầy thì có bốn đường
”… Ấy thế mà có nhiều người theo cả
hàng chục thầy, thì như đứng giữa ngã ba đường, cuối cùng phân vân không biết
đường nào mà đi? Bên cạnh đó, oan gia trái chủ cài bẫy giăng giăng khắp nơi,
nhất định không để cho mình lựa chọn con đường thoát ly sanh tử luân hồi.

Hay hơn nữa là người tu hành có đường đi,
có hướng rõ rệt. Nhưng lại không chịu Lập
Hạnh
. Tức là biết đường đi, biết điểm về nhưng mà không chịu
đi, hoặc đi chập chững, gọi là không chịu lập hạnh. Không chịu lập hạnh thì
việc tu hành cũng giống như người tu mà không có hướng. Tức là đến sau cùng họ
có thể hưởng được một chút ít phước báu nào đó trong đời sau mà thôi.

Khi hiểu được chút ít đạo rồi thì mình mới
thấy có điều này. Tức là trong đời này mình tu hành tốt, nhưng nếu không được
thành tựu, không được giải thoát tam giới, thì những công đức, phước báu mà
mình tu được trong đời này nó chỉ cộng thêm vào những phước báu mình đã có
trong vô lượng kiếp.

A-lại-da thức của ta nó giống như một cái
thùng, cái thùng chứa vô đáy… Cái khổ là ở chỗ này! Chứ nếu mà ta tu tốt như
vậy mà đời sau ta hưởng ngay được cái phước này, thì có thể ta được sung sướng.
Nhưng khổ một nỗi, là khi lâm chung cái tâm của mình đã bị mê rồi, những cái
chướng nạn của mình nó ngăn cản rồi, phước mình tu trong đời này nó trộn lộn
xộn
trong cái thùng chứa đó, rồi nó khởi lên nhân nào mình đi theo cái nhân
đó…

Cho nên, nhiều khi người tu tốt, có tạo
phước, nhưng sau cùng lại hưởng cái quả xấu là sở dĩ do cái điểm này. Nghĩa là,
cuối cùng mình không hưởng được cái phước mình đã tu. Cái phước mình tu được đó
có thể trở thành cái nhân trong vô lượng kiếp về sau, trong khi đời này cái
nhân ác lại hiện ra. Một khi nhân ác hiện ra, thì nó đưa ta vào trong tam ác
đạo
làm ta bị lãnh những cái quả xấu ác, những cảnh đau khổ!… Còn cái phước
mình tu trong đời này sẽ chờ cái duyên, hoặc cho đến khi nào ta vượt qua tam ác
đạo
rồi mới hưởng. Nó khổ là khổ chỗ này!

Trở về với chuyện tu hành của chúng ta,
xin thưa thực với chư vị, niệm Phật vãng sanh về Tây Phương là lời của đức
Thích-Ca-Mâu-Ni Phật dạy cho chúng sanh trong thời mạt pháp. Ngài nói rõ rệt, thời
mạt pháp
chỉ còn có niệm Phật mới thành tựu
. Không niệm
Phật
không thể thành tựu.

Vì sao vậy?

– Vì nghiệp chướng của chúng sanh trong thời mạt pháp nặng vô cùng.

– Vì căn cơ của chúng sanh
trong thời mạt pháp hạ liệt vô cùng.

– Vì đức độ của người trong
thời mạt pháp mỏng vô cùng.

Chính vì nghiệp chướng sâu nặng, căn cơ hạ
liệt
, đức độ mỏng manh, nên bắt buộc chúng sanh phải nương theo đại lực của
A-Di-Đà Phật mới có hy vọng thoát vòng sanh tử.

Mà nương như thế nào? Xin nhắc lại, không
tu thì bị đọa lạc, tu thử cũng chẳng qua gieo được chút duyên nào đó trong
lượng kiếp
về sau, trong thời gian vô lượng kiếp mình vẫn có thể bị đọa lạc. Tu
đúng đường nhưng mà đi không tới, thì rốt cuộc nhiều lắm, gọi là nhiều lắm chứ
không phải chắc chắn, là hưởng được một ít chút phước báu nào đó trong cảnh
nhân thiên là cùng, vẫn có thể bị đọa lạc

Nếu thực sự muốn được vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
, thì cố gắng Lập Hạnh.

Những lời nói này chẳng qua là khai triển
ba cái tư lương của pháp môn niệm Phật chứ không có gì khác: TÍN-NGUYỆN-HẠNH”.
Tín
thì chúng ta nói nhiều rồi, những người chưa tin phải tin,
phải tin đi, tin mau mau đi. Nếu chần chờ, không tin mau mau, tức là cứ để
chừng nào thấy rõ ràng rồi mới tin, thấy người ta vãng sanh rồi mới tin, đòi có
được chứng minh rồi mới tin… thì nhiều khi suốt cuộc đời mình không bao giờ
gặp được một sự chứng minh đâu! Vì sao vậy? Vì niềm tin bạc nhược! Niềm tin bạc
nhược thì không khởi được thiện căn phước đức. Tín
năng trưởng dưỡng chư thiện căn
”.
Niềm tin của mình không mạnh, thì trưởng dưỡng thiện
của mình không được, mà thiện căn của mình không trưởng dưỡng
được, thì không có cái duyên để gặp được hiện tượng vãng sanh đâu!…

Cho nên, khi Phật nói mình phải tin, nhất
định
phải tin. Khi niềm tin mình vững vàng rồi thì tự trong tâm mình khởi ra
trí huệ, tự trong tâm mình khởi ra công đức, khởi ra thiện căntự nhiên mình có cơ hội để gặp. Xin thưa
thực với chư vị, một lần điện thoại về Việt Nammột lần tự nhiên tôi thấy
hứng khởi lên và muốn đem cái lòng hứng khởi này nói cho chư vị biết là thực sự
người ta vãng sanh nhiều lắm. Không phải là ít đâu! Từ trước tới giờ chúng ta chưa
thấy được hiện tượng này đâu à, mà bây giờ hiện tượng người ta vãng sanh bất
khả tư nghì
. Họ vãng sanh bất khả tư nghì, nên ta nhất định phải tin tưởng.
Chỉ có tin tưởng được vậy thì bao nhiêu sự nghi ngờ xóa tan hết.

Đối với pháp môn niệm Phật, thì “Tin Tưởngví như có chiếc thuyền. Muốn
qua cái bể khổ ta phải có chiếc thuyền. “Phát
Nguyện

có cái bánh lái. Ta phải phát nguyện cho vững vàng. Đừng có phát nguyện hết
bệnh, đừng có phát nguyện được trí huệ gì cả. Hãy phát nguyện vãng
sanh
về Tây Phương

nhất định ta phải đi về cho tới Tây Phương, tức là cái bánh lái của ta phải lái
thẳng về Tây Phương. Đừng có lái con đường nào khác… Hãy lái thẳng tới Tây
Phương Cực Lạc
, đó gọi là “Nguyện”.

Con thuyền đã có, bánh lái đã có. Còn “Hạnh” thì sao? Hạnh
chính là Lập Hạnh
! Ngài Tĩnh-Am nói dễ hiểu vô cùng. Hạnh Lập hạnh. Lập hạnh
là hãy ráng sức mà chèo, chèo một ngày hai chục tiếng đồng hồ, ráng sức mà
chèo. Vợ con, bạn bè… cùng nhau trên thuyền mà chèo, chèo cho nhanh lên. Chèo
nhanh để ta vượt qua cho được cái biển khổ mênh mông này. Nếu mà chèo chậm chạp
thì con thuyền chúng ta qua đoạn đường này không nổi. Nếu có thuyền rồi, có
bánh lái rồi, mà không chèo thì con thuyền chúng ta cũng cứ dập dềnh, dập dềnh
tại bể khổ này, sau cùng nó cũng sẽ chìm xuống bể khổ này mà thôi! Chúng ta về
Tây Phương không được.

Đối với “Lập Hạnh”, Diệu Âm thấy rằng chúng ta
nên cố gắng. Đã tu thực thì ráng mà đi về Tây Phương chư vị ơi! Tôi biết rằng
có người có thể một năm, hai năm, có người có thể mười năm, có nhiều người mới
nói vậy mà tháng sau đã đi rồi… Trong một tháng đã đi rồi mà cái “Hạnh
chúng ta chưa tốt, câu A-Di-Đà chưa nhập tâm, chúng ta còn lơ là… Thôi chịu
thua
rồi! Lúc đó chịu thua! Oan gia trái chủ đã chận hết rồi. Cho nên, đừng bao
giờ nói để tháng sau tôi mới niệm Phật… Không đâu ạ! Đây là lời nói của oan
gia
trái chủ đó! Họ khiến mình nói như vậy đó! Tại vì họ biết rằng mười hai
ngày nữa là mình phải chết rồi đó chư vị! Vì thế, họ nói là mình chưa chết, mà
hãy chần chừ… chần chừ cái đã!…

Cho nên trong vấn đề lập hạnh
niệm Phật này, giả sử những vị mắc bận đi làm, thì một ngày có thể dành một
tiếng, một tiếng rưỡi, dành trọn thời gian đó để niệm Phật. Trong một tiếng
rưỡi niệm Phật như vậy, chúng ta có thể niệm được năm ngàn câu A-Di-Đà Phật
rồi! Còn nếu người già rồi, đã bệnh rồi, đã “pension” rồi không còn đi làm nữa
rồi…Trời ơi! Thời gian này là thời gian thích đáng để chúng ta niệm Phật. Đừng
có chần chừ nữa. Tôi nói thật, tôi sắp xếp tất cả những thời gian, tại vì xin
thưa, chư vị mà thấy tôi làm việc, tôi làm việc suốt ngày, nhiều khi trưa ngủ
một chút mà cũng chập chờn… Tại vì nhiều chuyện quá đi, tôi muốn cắt mà cắt
không được. Đúng là cái số của tôi là số bất phước!…

Phải lập công cứ. Khi mà công chuyện đã ổn
ổn rồi, tôi sẽ quyết lòng đóng cửa lập công cứ để tu. Tại vì tôi biết rằng chắc
chắn
cái huệ mạng này của tôi không ai có thể cứu được. Nếu tôi không niệm
Phật
, nếu không có lập hạnh ra để niệm Phật ngày đêm, tôi sợ rằng chưa chắc gì
đã vượt qua ách nạn của cái nghiệp khổ mà tôi đã tạo ra trong vô lượng kiếp!
Chính cá nhân của Diệu Âm này, trước khi biết tu đã tạo nhiều điều sai lầm
cùng! Giết hại sinh vật quá nhiều, bắn chim quá nhiều, suốt cá quá nhiều, làm
những chuyện vô cùng tai hại. Nhân duyên quả báo
hào không sai
”. Nghĩ đến chuyện đó mình không
cách nào tu lơ là mà có thể vượt qua ách nạn.

Thế nên xin thưa với chư vị, hổm nay chúng
ta
hô hào chuyện lập hạnh, thực ra là để tự mình cứu mình mà cố gắng đi.
Nếu không thương mình, thời gian nhiều quá mà không chịu niệm Phật. Ở đây chính
phủ nuôi mình ăn, mình không làm cũng không chết đói mà không chịu niệm
Phật!… Ở nhà mình nếu có người bệnh, thì mình ráng mà niệm Phật với người nhà
của mình để cứu người nhà của mình! Năm ngàn hãy niệm thêm năm ngàn nữa đi, thành
mười ngàn. Rồi mình cũng niệm mười ngàn nữa đi để kéo người nhà theo. Nhờ như
vậy mà tất cả chúng ta đều đi về Tây Phương hết.

Xin thưa thực, với cách tu như thế này,
đối với những pháp môn khác thì không bao giờ có một chút hy vọng nào vượt qua
tam giới đâu à! Nhưng mà với cách tu như thế này, niệm Phật, ăn ở hiền lành
thôi… A-Di-Đà Phật quyết thề sẽ đưa ta về tới Tây Phương để ta thành đạo
Vô-Thượng. Quý vị ơi! Quý vô cùng.

Nguyện cho chư vị hiểu được những chỗ này
mau mau phát tâm niệm Phật, tự mình phát tâm đừng đợi ai mời, đừng chờ ai nhắc
nữa hết. Vì chính mình lo trước cho mình, đừng để mất phần vãng sanh.

Đã tới đây rồi mà để mất phần
vãng sanh thì oan uổng lắm chư vị ơi!

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ

(Tọa Đàm 17)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Trước khi vào tu thì sư huynh Tiên nói
rằng, Diệu Âm có cái phước nói pháp. Bây giờ ngồi trước chư vị, xin đính chính
lại, là Diệu âm này không có biết nói pháp, mà đây chỉ là những cuộc tọa đàm
giải thích vài điều căn bản cho nhau. Theo phương pháp niệm Phật của
Tịnh-Độ-Tông, chư Tổ đều khuyên rằng, một buổi cộng tu cần có một thời gian
ngắn mười, mười lăm phút, một vị đại diện có những lời hướng dẫn cụ thể để sau
một thời gian tu tập tất cả mọi người cộng tu đều có hướng đi rõ rệt và khỏi bị
lạc đường. Vì phương pháp tu tập đưa ra như vậy, chúng ta phải cố gắng làm
theo, chứ không phải Diệu Âm nói pháp đâu.

Trở lại đề mục chúng ta đang triển khai,
đó là tu hành cần phải Khế Lý – Khế Cơ”.

Khế
là hợp với Lý Đạo”. “Khế

là hợp với Sự Đạo. Trong đó niệm câu A-Di-Đà
Phật, phát tâm niệm Phật, là hợp với “Lý Đạo”. Trong kinh điển, đức
Thế-Tôn luôn luôn dạy chúng sanh trong thời mạt pháp này phải niệm Phật. Ngài
Quán-Thế-Âm cũng dạy phải niệm Phật. Ngài Đại-Thế-Chí cũng dạy phải niệm Phật.
Tất cả chư Bồ-Tát đều dạy chúng sanh trong thời mạt pháp phải niệm Phật! Như
vậy, niệm Phật là “Khế Lý”, hợp với lý đạo. Niệm Phật là niệm ngay chơn
tâm
tự tánh chúng ta, vì đúng theo lý đạo thì chính cái chơn tâm chúng ta
Phật. Chúng ta niệm A-Di-Đà Phật là để cho chơn tâm tự tánh chúng ta khởi dậy,
hiện ra, cũng giống như là một viên ngọc ở trong bùn, bây giờ chúng ta tìm cách
bươi lên để cho nó phát quang ra. Cho nên, niệm Phật là hợp với Lý Đạo.

Còn mình triển khai phương pháp hộ
niệm
triệt để, thật kỹ càng là Khế Cơ, hợp với căn cơ
. Tại vì chơn tâm
tự tánh chúng ta là Phật, nhưng ta vẫn là phàm phu không thành Phật được! Sở dĩ
như vậy, là vì nghiệp chướng đã quá nặng, căn cơ của chúng ta quá yếu,
tự mình niệm Phật để cho chơn tâm tự tánh hiển lộ không nổi! Nếu chúng ta sơ ý
cho rằng, chơn tâm tự tánh chúng ta là Phật thì niệm Phật sẽ dễ dàng hiển lộ,
dễ dàng chứng đắc, sẽ nhất tâm bất loạn… thì chẳng khác gì mình đang chờ mong
nhìn thấy Hoa đốm giữa hư
không.
Danh từ “Hoa đốm giữa hư không
đức Thế-Tôn đã nói trong kinh Viên-Giác. Chính vì vậy, ta phải áp dụng phương
pháp
hộ niệm.

Tại sao phải áp dụng phương pháp hộ niệm?
Vì ta niệm Phật không có khả năng được Nhất Tâm Bất Loạn! Muốn
được nhất tâm bất loạn trong thời này, thì nói thẳng rằng, phải
là hàng thượng căn, thượng trí, đại Bồ-Tát mới làm nổi. Ta không phải là đại
Bồ-Tát, cũng không phải là tiểu Bồ-Tát, mà lại là phàm phu chính hiệu nữa, thì
chờ đến ngày được nhất tâm bất loạn, chẳng khác gì chờ
thấy hoa đốm giữa hư không! Trên hư không làm gì có hoa trên đó? Chẳng qua là
những đám mây lúc tan lúc hợp đổi thay vô thường!…

Ấy thế, mà ngài Tịnh-Không nói, chúng ta
không phải Bồ-Tát. Chúng ta chỉ là Bồ-Tát giả, nhưng biết thành tâm quyết lòng
niệm Phật, thì Bồ-Tát giả này được A-Di-Đà Phật tiếp độ về Tây Phương, Bồ-Tát
giả này thành Bồ-Tát thật. Mà Bồ-Tát thật ở trên cõi Tây Phương thì khi nhìn
lên bầu trời trên cõi Tây Phương có những lộng hoa đẹp lắm! Hằng ngày có những
lộng hoa rất to, rất đẹp, lơ lửng lơ lửng trên không. Mà lạ thay, lộng hoa đó
cuống thì ở trên còn mặt hoa thì ở dưới, nhờ thế ở dưới mình nhìn lên mới thấy
hoa. Rồi hoa đó cứ từng đốm, từng đốm, từng đốm rơi… rơi… rơi xuống dưới
đất
. Khi Mình đi khi đạp lên thì nó lún xuống, khi mình giở chân lên thì tự
nhiên
cái hoa nó trở lại như cũ. Nó có sự đàn hồi. Đẹp vô cùng!…

Cho nên, ở đây mà nói hoa đốm giữa
không
thì phiêu phỏng hão huyền! Về trên Tây Phương mình thấy rõ rệt có hoa đốm
giữa hư không, được chư Bồ-Tát cúng dường, A-Di-Đà Phật dùng thần lực của Ngài
hóa hiện để cúng dường cho tất cả chúng sanh ở trên đó. Đẹp vô cùng.

Chính vì vậy, vấn đề khế cơ, tức là hợp
với căn cơ rất quan trọng. Trong đó pháp hộ niệm là đại hợp căn cơ cho người tu
học
trong thời mạt pháp này. Vì sao vậy? Vì những người hạ căn hạ cơ như chúng
ta
, nếu không nhờ phương pháp hộ niệm này, nhất định một ngàn người tu, một vạn
người tu, tìm không ra một người chứng đắc! Đây là lời Phật dạy.

Chính vì thế, xin chư vị khi bắt đầu niệm
Phật
, hãy khởi cái tâm ra, hãy phát cái tâm thật vững vàng, quyết định một đời
này về tới Tây Phương Cực Lạc. Nhất định đừng nghĩ rằng:

Mình tu, để kiếm chút phước.
Nhất định những câu nói này sai lầm!

– Đi tu, để tìm chút vui vẻ. Nhất định những câu nói này
sai lầm!

– Đi tu, tới chùa người ta tu
sao mình tu vậy
.
Nhất định những câu nói này sai lầm!

toàn bộ những lời nói này không ứng hợp
đạo, không ứng hợp căn cơ. Lý đạo không hợp, vì đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni
Phật dạy chúng ta niệm Phật để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nếu ta
phát tâm vững mạnh nhất định đời này ta phải đi về Tây Phương Cực Lạc thì ta
ứng hợp lý đạo, đúng theo lời dạy của đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật. Ta quyết
lòng
đi về Tây Phương Cực Lạc là hợp với đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật, ta
mới về được Tây Phương Cực Lạc để thành đạo Vô-Thượng.

Nếu hàng vạn người bên ngoài nói rằng, tu
cho vui, mình cũng tu cho vui, thì nhất định không hợp lý đạo. Người ta nói bữa
nay tu cái này cho lạ một chút, ngày mai tu cái kia cho lạ một chút, thì nhất
định
đã sai với căn cơ. Tại vì, đi không có đường, về không có hướng!
Nhất định sau cùng khi nằm xuống, tức là lúc trước khi chết, sẽ phân vân
cùng
, mơ hồ vô cùng! Không biết đường nào đi? Chắc chắn ta phải tùng nghiệp thọ
báo. Oan gia trái chủ nhất định sẽ cản ngăn tất cả những con đường giải thoát,
bắt buộc ta phải chịu nạn! Xin chư vị chú ý điểm này.

Hợp Lý là Khế Lý.

Hợp Cơ là Khế Cơ.

Có nhiều người vì không để ý chuyện này,
thường chỉ nêu lên vấn đềKhế Lý”, đem những lý đạo
cao siêu giảng cho hàng chúng sanh mê muội như chúng ta. Ngài Ấn-Quang nói:

Giảng kinh thuyết đạo mà không hợp với căn cơ, không những không đem
ích lợi gì cho chúng sanh, mà còn làm cho họ
vọng tưởng.

Vì khi giảng về lý đạo thì nghe hay lắm!
Vì hay quá nên dễ đam mê! Mê vào trong đó mà thực sự thì làm không được! Làm không
được thì cũng giống như ở cõi Ta-Bà này cứ cố hướng mắt nhìn lên trên mây để
tìm hoa đốm. Trên đó hoa đốm đâu có mà tìm? Chỉ thấy những đám mây kết lại,
thành những hình ảnh vô thực hão huyền, lúc tan lúc hợp, huyễn mộng vô thường!
Không thể nào thành tựu được!

Trở lại vấn đề khế cơhộ niệm. Xin chư
vị cố gắng nghiên cứu thật nhiều về pháp hộ niệm. Xin nói thật, không có nơi
nào nói về hộ niệm nhiều, đầy đủ, mà còn chi tiết như ở Niệm Phật Đường A-Di-Đà
này.

Tại sao cần hộ niệm? Tại vì trong suốt thời
gian
niệm Phật này, nghiệp chướng của mình phá không được, cái tâm của mình
cũng chưa vững, sự tham chấp của mình vẫn chưa rời ra! Nên khi mình nằm xuống
những thứ đó nó quyện lấy mình, không cách nào tự mình có thể giải tỏa được.
Chính vì vậy nhờ người hộ niệm ở bên cạnh, người ta nhắc nhở mình:

Chị
ơi! Hồi giờ chị thương đứa cháu lắm phải không? Nhất định, nếu bây giờ chị còn
thương đứa cháu, thì vì đứa cháu mà chị bị đọa lạc. Mau mau xả liền. Nếu không
xả thì vô tình vì đứa cháu mà chị đọa lạc. Đứa cháu đó gián tiếp làm cho chị
đọa lạc, nên nó cũng liên quan chịu nạn luôn. Như vậy thương đứa cháu, nhưng mà
thương như thế nào cho đúng? Phải niệm Phật để về Tây Phương. Về Tây Phương thì
khi đứa cháu mình lâm chung, mình trở về đây tìm cách hộ niệm cho nó, cứu nó về
lại Tây Phương. Cứu nó tức là mình thương đứa cháu đó.

Mình tham tiền bạc? Lúc đó, người hộ niệm
nói:

Chị
ơi! Bây giờ tiền bạc không cứu được chị nữa rồi. Phải buông ra. Nếu mình đang
cho ai vay 20.000 đô-la, hãy mạnh dạn liệng đi. Nếu không muốn liệng, thì hãy
thông báo cho con cái biết đi, để chúng nó tìm người đòi lại cho chị. Nếu nó
đòi không được thì mình cũng phải liệng đi nhé, mình tha cho người ta đi, mình
cho người ta đi. Cho tiền thì khỏi bị tai nạn, gọi là “Tản tài tiêu tai”. Tiêu
tai
là mình khỏi bị chướng nạn. Nhờ cái phước đó mà mình được về Tây Phương.
Hãy mạnh dạn buông ra.

Pháp hộ niệm là phương pháp dạy chúng ta
tập tính buông xả chuyện thế gian ra. Buông cho càng nhiều ra, ráng mà buông
ra.

Hôm trước gặp bác Hội, Bác đang lập cái
Niệm Phật Đường. Tôi hỏi, sao rồi Bác? Bác nói:

Trời ơi! Phước báo tôi không có, bây
giờ lập lên nó khổ muốn chết luôn! Khổ muốn điên cái đầu luôn!
.

Rõ ràng, lập lên một cái Niệm Phật Đường
khó dữ lắm chư vị ơi! Không phải là đơn giản đâu à! Mình tới tu thì không sao,
mà người lập đó thì gặp nhiều khó khăn lắm! Khó như vậy thì bây giờ làm sao?
Khi nằm xuống, cái Niệm Phật Đường cũng phải buông luôn. Được như vậy thì mới
về Tây Phương được. Chính vì vậy, chư Tổ nói, “Đến lúc nằm xuống thì vạn duyên
cũng phải buông”
. Chúng ta muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thì
bây giờ vạn duyên phải buông, buông cho nhiều đi, để sau cùng thì còn những gì
sơ suất, ban hộ niệm sẽ giúp cho mình…

– Mình thương cái gì, người ta gỡ ra.

– Mình ghét cái gì, người ta gỡ ra.

– Mình còn bận tâm cái gì, người ta năn nỉ
mình… người ta vỗ về mình… rồi người ta niệm Phật bên cạnh mình.

Lúc đó mình mới mạnh dạn, kiên cường,
không sợ đau, quyết lòng niệm câu A-Di-Đà Phật. Nhất định, xin thưa thực, chỉ
cần niệm mười câu Phật hiệu thôi chúng ta đi về Tây Phương.

Đây là con đường chúng ta thành đạo! Xin
chư vị hiểu được những điều này, quyết lòng tới đây thực tâm niệm Phật để vãng
sanh
về Tây Phương. Con đường tu thẳng tắp như vậy, đừng nên chao đảo,
đừng nên lơ là

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 18)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Tu là quyết tu cho thành tựu. Chúng ta ở đây niệm Phậtquyết lòng
trong báo thân này được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Về được Tây Phương Cực
Lạc
là thành tựu!

Trong những ngày qua, chúng ta hô hào,
động viên tất cả chư vị quyết lòng tu thực, không nên tu thử. Vì trong nhân
gian
bây giờ hiện tượng tu thử rất nhiều. Chín mươi phần trăm, có thể hơn nữa,
thường là tu thử. Tại sao gọi là tu thử? Vì họ không mong ngày thành tựu. Những
người gọi là tu đó, họ không cần thành tựu gì hết. Thấy người ta tu mình cũng
tu. Thấy người ta làm gì mình bắt chước làm theo. Một tháng, một năm, một tuần
tu một bữa hai bữa, vậy gọi là tu!?…

Đạo tràng ở đây chúng ta quyết lòng phải tu
cho thành tựu. Có nghĩa là tu thực chứ không phải tu thử. Mong chư vị xác định
lập trường cho kỹ, đã đến đạo tràng này tu thì quyết lòng phải đi cho tới nơi.
Nếu không, chắc chắn trong suốt cuộc đời niệm Phật sau cùng rồi cũng không
hưởng được gì cả. Muốn biết rằng mình tu thử hay tu thực thì mình lấy ngay Tín-Hạnh-Nguyện
của pháp môn niệm Phật ra soi thì biết liền…

Trong mấy ngày hôm nay, chúng ta nói
nhiều
, rất nhiều về vấn đề Lập Hạnh”. Nếu mình
lập hạnh được thì chứng tỏ mình tu thực. Nếu mình không lập hạnh tức là tu chơi
chơi! Tu tà tà! Tu lấy lệ!… thì những ngày giờ đến đạo tràng này sẽ trở nên
vô ích!

Nhất định tu là tu cho chính mình, đừng
nên tu cho đạo tràng. Nhất định tu là vì cái huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp trong
tương lai của chúng ta, chứ không được tu vì vị nể một người nào hết.

Lập Hạnh” nghĩa là sao? Bắt buộc
phải xây dựng nấc thang mình đi cụ thể. Ví dụ như trong những ngày qua mình đưa
ra cái công cứcông cứ khởi điểm đầu tiên là năm ngàn câu A-Di-Đà Phật trong
một ngày. Nếu mình thấy rằng năm ngàn câu niệm Phật nhiều quá, nhất định cuối
đời này vấn đề vãng sanh Tây Phương Cực Lạc không ai dám bảo đảm cho mình được
hết! Tại vì năm ngàn câu A-Di-Đà Phật chỉ cần bỏ ra một tiếng đồng hồ là chúng
ta
niệm xong. Trong khi bệnh hoạn đến nơi rồi! Chúng ta hầu hết trên 60 tuổi
rồi, gần 70 tuổi rồi mà năm ngàn câu A-Di-Đà Phật niệm không tới! Hai năm nữa,
ba tháng nữa, bảy tháng nữa… chúng ta chết, ai bảo đảm cho chúng ta tránh
được sự đọa lạc trong ba đường ác đây? Nghiệp chướng quá nặng rồi! Trong nhiều
đời nhiều kiếp chúng ta làm nhiều tội lỗi quá chừng rồi! Trong khi đang tu hành
như thế này nhưng chúng ta vẫn tiếp tục, hình như vẫn tiếp tục tô bồi cái núi
tội chướng ngày càng lớn trong đó!!!…

Vì sao vậy?… Phân biệt, Chấp
trước
, Thị Phi, Ganh Tỵ, Tức giận,
Buồn rầu, Lo sợ…
Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi…
đầy đẫy, ta phá không được. Trong khi
ở đây mỗi ngày đều có niệm Phật, nhiều người hằng ngày đến đây niệm Phật, dù có
niệm hằng ngày như vậy vẫn chưa phá hết được nghiệp chướng, huống chi là người
một tuần lễ một ngày, nhiều khi hai tuần lễ một ngày, nhiều khi nửa đi nửa ở và
thường thường tới đây niệm Phật cũng không có nhiếp tâm, thì làm sao mà có thể
phá được?…

Nghiệp chướng trùng trùng này là cái nhân
của chúng ta bắt buộc ta phải trả quả báo. Việc này A-Di-Đà Phật cứu ta không
được.

Trong mấy ngày qua chúng tôi nói rất nhiều
về chuyện lập hạnh,
đưa ra công cứ và tha thiết kêu gọi mọi người tham gia. Quý vị biết
không? Ngài Tĩnh-Am Đại Sư khi kêu gọi Phật tử niệm Phật, Ngài quỳ xuống chắp
tay
lại… Quý vị chưa thấy sự tha thiết của các vị Tổ đâu. Ngài quỳ xuống, Ngài
chắp tay lại, Ngài thưa với đại chúng rằng:

vấn đề sanh tử của chúng ta, nó
quá nguy
hiểm rồi!

Vì quá thương chúng sanh nên Ngài chắp tay
lại, rơi nước mắt ra mà nói:

Chư
vị ơi! Xin
lập hạnh, xin niệm Phật liền! Nếu mà
chư vị không
lập hạnh, không niệm Phật thì không ai có thể cứu được.
Dù rằng
A-Di-Đà Phật phát một lời thề niệm mười niệm trước giờ phút
lâm chung Ngài tiếp độ về Tây Phương. Nhưng quý vị có biết không? Nghiệp chướng
như núi Tu-Di rồi, khi nằm xuống mê man bất tỉnh trong bệnh viện rồi… Một câu
A-Di-Đà Phật
niệm không được!

Ngài nói mà Ngài rơi nước mắt ra… Bữa
nào tôi đưa những bài đó cho quý vị xem. Tại sao Ngài phải như vậy? Vì Ngài
thương chúng sanh quá! Chúng sanh không chịu niệm Phật, Ngài cứu không được.
A-Di-Đà Phật phát một lời thề rất là đơn giản:

Chúng sanh ráng niệm danh hiệu
của ta, mười câu
A-Di-Đà Phật

nguyện vãng sanh Tây Phương trước giờ phút ra đi, nếu Ta không đem về Tây
Phương
để chư vị thành đạo Vô-Thượng, Ta thề không thành Phật!
”…

Nhưng mà hầu hết, chín trăm chín mươi chín
phần ngàn chúng sanh không niệm được câu A-Di-Đà Phật! Chắc chắn. Chư vị cứ đi
thăm dò thử coi! Hãy vào bệnh viện một ngày thử coi? Hỏi bác sĩ thử coi? Những
người nào trước giờ phút ra đi mà được tỉnh táo, nói chuyện được? Có phải trong
một vạn người mê man may ra mới có một người nói chuyện được không? Rồi một
người nói được đó, hỏi thử người ta có niệm câu A-Di-Đà Phật hay không?…

Xin thưa, không đâu ạ! Chính vì vậy
trùng trùng lớp lớp chúng sanh khi chết đi bị đọa lạc. Con người khi chết đi bị
đọa lạc quá nhiều mà không hay! Trong khi ở đây, chúng ta lập Niệm Phật Đường
quyết tâm đóng cửa âm thầm quanh năm niệm Phật, trong tương lai chúng ta còn
tiến mạnh hơn nữa để quyết lòng đi cho tới Tây Phương Cực Lạc. Tức là càng ngày
việc tu hành tinh tấn của chúng ta càng tăng. Những người nào tham gia được cứ
việc tham gia, những người nào không tham gia được thì tự họ phải chạy theo,
chạy không được thì đuối hơi ráng chịu, chứ không cách nào có thể quay lại chờ
nhau được.

Trong cuốn Khuyên Người Niệm Phật tôi khuyên bạn bè rằng,
nhất định giữ Tín-Nguyện-Hạnh mà đi, giống như một con thuyền cắt
sóng xẻ nước mà đi. Sau đó, theo những đường sóng rẽ, những con thuyền khác,
những người khác muốn đi thì cứ theo đó mà đi, nhất định ta không được quyền
quay trở lại chờ nhau, vì quay trở lại chờ nhau, chúng ta không còn kịp thời
gian
để đi tới đích.

Trong mấy ngày qua, tôi khuyên rằng, chúng
ta
phải khởi đầu ngay lập tức đi. Ngày hôm nay khởi đầu liền. Những người bệnh
thì chắc chắn phải lo khởi đầu liền, vì đã bệnh xuống rồi tức là không biết
ngày nào mình ra đi? Bệnh tim, thì ngày hôm nay mình nói oang oang, nhưng ngày
mai có thể bị ngất xỉu rồi, bị đột quỵ rồi… Thôi chịu thua! Không ai cứu được
nữa!…

Cho nên phải lo cho chính mình, năm ngàn
mà niệm không được? Chịu thua!… Một tháng sau tăng lên bảy ngàn đi, hai tháng
sau phải tăng lên tám ngàn đi, mau tăng lên tới đơn vị là mười ngàn câu A-Di-Đà
Phật. Mười ngàn câu A-Di-Đà Phật thực ra chỉ niệm hai tiếng đồng hồ là xong.
Trong ba tháng sau hãy tăng lên mười lăm ngàn đi…

Tự mình tăng lên. huệ mạng của mình mà tăng. Chứ không phải vì cái Niệm Phật
Đường này mà tăng. Chứ không phải vì cái lời xúi giục này mà tăng.

Nếu chư vị không quyết lòng đi như vậy thì
chịu thua! Nhất định, thay vì ta được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, ta không có
cách nào thoát vòng sanh tử được. Vì oan gia trái chủ của chúng ta đang chờ
từng giây từng phút để hãm hại cái huệ mạng của ta, chư vị có hay không? Tại
sao có nhiều người tu ba, bốn chục năm mà sau cùng bị mê man bất tỉnh trên
giường, không vãng sanh được? Là vì không chịu lập hạnh. Một tuần ở
đây chỉ có một ngày tinh tấn, một ngày đó mà còn nói chuyện, mà âu sầu, mà lo
lắng
… thì làm sao có công đức để phủ lấp một tuần lễ ở nhà cạnh tranh, ganh
tỵ
, tạo nghiệp?…

Chính vì vậy mà mỗi ngày mỗi ngày cái núi
nghiệp chướng của chúng ta càng lớn ra, trong khi cái công đức chúng ta gửi về
Tây Phương thực ra mỏng manh, quá ít, thì làm sao mà có thể vãng sanh về Tây
Phương
được? Ở đây chúng ta nói về hộ niệm, là để tận sức cứu độ từng người
đồng tu, từng người có duyên vãng sanh về Tây Phương. Nhưng nên nhớ, bắt buộc
người đó làm sao trước giờ phút lâm chung phải niệm được câu A-Di-Đà Phật, làm
sao trước giờ phút lâm chung nghe được lời hướng dẫn, nghe được những người hộ
niệm
tới khai thị. Nếu mà bị mê man bất tỉnh trong bệnh viện, thì Niệm Phật
Đường A-Di-Đà này chịu thua rồi! Xin thưa, đức A-Di-Đà Phật cũng chịu thua luôn
rồi! Chư Thánh Chúng trên cõi Tây Phương cũng chịu thua rồi!

Làm sao để khỏi bị mê man bất tỉnh? Phải
lập công cứ lên, xin quyết lòng niệm Phật. Nhất định từ đây mở tờ báo ra để làm
gì? Đọc tờ báo ba chục phút thì ta niệm được ba ngàn câu A-Di-Đà Phật, tại sao
không niệm? Vì huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp mà chúng ta cứ thả cái huệ mạng theo
những thứ trần lao, vô thường… Uổng vô cùng!

Thà rằng chúng ta không biết con đường về
Tây Phương thì thôi khỏi cần bàn thêm! Giống như hàng vạn người tu thử… Nghĩa
là, tới chùa giả đò lạy lạy mấy cái rồi ra nhập vào bàn cờ tướng, lạy lạy mấy
cái rồi ra nhập cuộc karaoke, lạy lạy mấy cái rồi ra nhập vào bốn, năm người
trò chuyện… Nếu tu như vậy thà rằng ở nhà. Chứ tu như vậy để làm chi? Sau
cùng cũng bị đọa lạc, ích lợi gì đâu? Cho nên ngài Tịnh-Không, quý vị biết
không? Khi mà Ngài ra một thông báo Ngài nói thế này: “Tịnh-Không
tôi
quỳ xuống lạy chư vị…”. Ngài nói như
vậy đó! Tại sao vậy? Ngài nói mà muốn khóc luôn!… Vì chúng sanh không chịu
nghe, không chịu đi. Trùng trùng điệp điệp con người chết đi, đi vào đọa lạc
Ngài cứu không được. Là tại vì người ta không chịu tu, người ta không chịu niệm
Phật
.

Chư vị ơi! Con đường đọa lạc nằm ngay
trước mũi bàn chân. Nếu chúng ta không tu thì sẽ lún xuống dưới hầm lửa. Nếu
chúng ta chịu tu, chỉ cần bắt đầu từ đây hạ thủ công phu liền. Người bệnh hạ
thủ
công phu theo người bệnh, quyết lòng tranh từng hơi thở để niệm Phật. Người
khỏe cũng tranh từng hơi thở để niệm Phật. Mình có công đức thì mới cứu được
người bệnh. Người bệnh đó phải quyết lòng niệm Phật để cảm thông với chư Phật,
cảm thông với oan gia trái chủ thì mới thoát nạn được. Chúng ta cùng nhau phải
làm như vậy, thì chúng ta mới cứu nhau được. Cứu chính mình và cứu người khác.
Con đường đi về Tây Phương ở ngay trước mắt.

Còn nếu chúng ta ỷ y, cứ tưởng rằng tu là
tới đây một vài lần như vậy thì đủ! Xin thưa nhất định chúng ta bị nạn!…

Vì muốn cứu tất cả mọi người, nên trong
những ngày này tôi tha thiết nói chỗ này và trong tương lai chuẩn bị bắt đầu tu
hành
. Chúng tôi sẽ tăng thêm thời gian tu hành, tăng thêm tinh tấn niệm Phật.
Và đề nghị rằng, ngày chủ nhật tuần tới sẽ bắt đầu liền. Bắt đầu như thế nào?
Cũng vẫn tu y hệt như vậy, nhưng mà những người nội trú trong Niệm Phật Đường
bắt đầu từ 0 giờ tối tịnh khẩu, tịnh khẩu suốt cho tới 0 giờ, tức là 12 giờ đêm
hôm sau. Chư vị đồng tu ở ngoài tới tu một ngày, một ngày tu xong 9 giờ tối. 9
giờ không phải ra ngoài nói chuyện, mà vẫn tiếp tục im lặng cho tới khi ra khỏi
Niệm Phật Đường xong thì coi như chấm dứt. Còn những người ở lại đây, nhất định
phải tịnh khẩu. Tức là chúng ta bước vào trong khuôn viên Niệm Phật Đường trong
ngày đó thì phải tịnh khẩu, chứ không phải đợi tới 9 giờ lên hành lễ rồi mới
tịnh khẩu. Chúng ta tập sự lần, chuẩn bị tương lai tới hai ngày đúng 48 tiếng
đồng hồ tịnh khẩu. Có lập hạnh như vậy chúng ta mới giải được ách nghiệp. Còn
nếu không, cứ đem so sánh với người ở ngoài kia, tại sao người ta ca hát được
còn mình thì không?… Người ta ca hát được thì một vạn người đó không có một người
nào giải thoát đâu! Ta ở đây không ca hát, im lặng như tờ, để một người tới đây
tu là một người có hy vọng vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Ta đang theo tiêu chuẩn của ngài Ấn Quang
Đại Sư
, “Một đạo tràng thành tựu là một đạo tràng có người vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
, chứ không phải là một nơi có hàng vạn người lui tới mà suốt
cuộc đời của họ không có một người nào được thoát vòng sanh tử luân hồi”
.

Vì cái huệ mạng của chúng ta,
vì cứu cái huệ mạng của mình, xin chư vị tha thiết, rơi nước mắt mà tha
thiết… Phải tu như vậy, đáp ứng như vậy để chúng ta quyết lòng thành tựu!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật. 

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 19)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Để mình thật sự tinh tấn trong tương lai,
thì Chủ Nhật tuần này mình phải thực hiện liền.

Tức là thay vì tịnh khẩu từ 9:00 giờ,
trước khi hành lễ cho đến 9:00 giờ tối, thì đề nghị là chúng ta bắt đầu tịnh
khẩu từ lúc 12:00 giờ đêm suốt cho đến 12:00 giờ đêm hôm sau luôn. 24 tiếng
đồng hồ này chỉ dành cho những vị nội trú trong Niệm Phật Đường thôi, còn chư
vị ở ngoài vào thì không có vậy. Quy định được yêu cầu là khi bước vào cổng thì
chúng ta không nói chuyện cho đến khi bước ra khỏi cổng. Nếu chư vị nào muốn
tham gia một ngày đúng 24 tiếng đồng hồ có thể tới đây trước 9:00 giờ tối ngày
hôm trước, ở lại đây tu, rồi ngủ lại đây luôn. Tu xong chúng ta về phòng nghỉ,
trong suốt khoảng thời gian đó có thể niệm Phật hoặc im lặng, không được nói
chuyện. Nếu ngủ không được thì có thể chúng ta niệm Phật suốt đêm. Nếu đêm đó
chúng ta muốn vào trong Niệm Phật Đường này để niệm Phật thì rất là hoan
nghênh
, nghĩa là chúng ta có thể niệm Phật suốt đêm. Một đêm không sao hết,
chắc chắn ngày hôm sau sẽ pháp hỷ rất là sung mãn.

Trong những ngày này chúng ta hô hào
chuyện phát tâm lập nguyện. Vì thực sự nhìn cho rõ ra thì cái huệ mạng của mình
quá nguy hiểm rồi, không phải đơn giản đâu! Nếu mình tu mà không có lập nguyện,
thì nhiều khi mình bị liệt vào cái hạng người tu thử, tu tà tà, tu lai rai, tu
chơi chứ không phải tu thực! Nếu bị liệt vào cái hạng người đó, thì thường
thường
nghiệp chướng của mình nặng lắm rồi! Đến lúc lâm chung xuống sợ rằng
ta cự với nó không được, mà ngược lại nó hành hạ ta cho đến mê man bất tỉnh,
cho đến tâm trí quay cuồng, lúc đó có hộ niệm cũng đành chịu thua!

Cho nên trước tiên mong muốn chư vị cố
gắng
lập công cứ. Ở đây chúng tôi có cái công cứ gọi là “Cửu Phẩm Liên Đài
Vãng Sanh Tịnh Độ
, chúng ta có thể phát tâm nhận về làm. Đây giống như cái
nấc thang cho mình đi vậy.

Mình không dám nói chuyện với người
ta tại vì mình trân quý từng chút thời giờ.

– Mình không dám ngồi trước bàn
cờ tướng vì mình trân quý câu
A-Di-Đà Phật.

– Mình không dám nghĩ này nghĩ
nọ thì cái tâm sẽ nhiếp vào trong câu
A-Di-Đà Phật.

Tập sự được như vậy thì trước những giờ
phút ra đi mình có hy vọng được “Tâm bất điên đảo”, tâm không bị khủng bố, không bị não
loạn
, vì trong tâm của mình luôn luôn xuất hiện câu A-Di-Đà Phật. Và mình niệm
liên tục, niệm cho đến cái giây cuối cùng trước khi mình tắt hơi ra đi vẫn còn
tiếng Phật hiệu. Sau đó cái tâm thức của mình vẫn tiếp tục niệm Phật.

A-Di-Đà Phật phát cái đại thệ rằng, Người
nào trước lúc lâm chung niệm danh hiệu của Ngài cầu vãng sanh về Tây Phương,
dẫu cho mười niệm mà không được vãng sanh về Tây Phương thành vị Bồ-Tát bất
thối chuyển
ở đó, Ngài thề không thành Phật.

Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói rằng, Một
người nào mà thành tâm niệm Phật, một ngày niệm được 30.000 câu
A-Di-Đà Phật, cứ giữ cái mức này mà niệm, đến cuối đời mà không được vãng sanh thì
chư Phật trên mười phương nói lời vọng ngữ.
Ngài nói như vậy!

Ngài Thiện-Đạo cũng nói như vậy. Ngài đưa
ra cái tiêu chuẩn 30.000 ngàn câu. Người nào thành tâm niệm 30.000 câu Phật
hiệu
một ngày, mà đến lúc lâm chung không được vãng sanh chẳng lẽ chư Phật mười
phương
chịu tội vọng ngữ sao?
.

Các Ngài khẳng định cho ta niệm Phật tới
mức độ đó, nói chung từ sáng đến chiều, từ chiều đến sáng chúng ta hoan hỷ cái
tâm của mình, vui tươi cái tâm của mình trong tiếng Phật hiệu, tự nhiên khuôn
mặt càng ngày càng sáng ra, nghiệp chướng càng ngày càng tiêu đi, tự nhiên bao
nhiêu những ách nạn, những khó khăn gì của mình trong đời nó biến đi hồi nào
không hay! Rồi khi đối trước cơn hấp hối, cái bệnh khổ hình như nó không còn
hiện hình nữa. Lúc đó mình mới thấy rõ rệt là một câu A-Di-Đà Phật mà chí thành
niệm đã phá tan 80 ức kiếp nghiệp chướng sinh tử trọng tội. Một câu chí thành
mà niệm được trong lúc lâm chung thì một người tội đọa xuống địa ngục A-Tỳ được
đi thẳng về Tây Phương thành đạo luôn.

Cái năng lực này không có cái gì có thể
sánh bằng được. Có nhiều người khi bệnh xuống thì sợ bệnh, lo chạy đọc kinh này
đọc kinh nọ, đọc chú này đọc chú nọ để giải nghiệp. Tốt hay xấu? Tốt! Chứ không
xấu. Nhưng thực sự chư Tổ đã nói: “Đọc kinh không bằng niệm chú, niệm chú
không bằng niệm
Phật”. Đọc chú nhiều lắm là xóa cho mình cái
nghiệp đó, còn vạn cái nghiệp khác ai xóa đây? Còn niệm Phật xóa được nghiệp
thì tốt. Không xóa được cũng không sao, vẫn có thể vượt về tới Tây Phương Cực
Lạc
. Nên nhớ rằng, dù phá được nghiệp nhưng ta vẫn còn trong sanh tử luân hồi,
vì cái nghiệp của mình đã “Năng địch Tu-Di” rồi! Mà phá làm chi? Hãy
gói lại là được rồi. Lấy câu A-Di-Đà Phật gói lại. Cái năng lực của câu A-Di-Đà
Phật đưa một người phàm phu, đưa một chúng sanh tội lỗi từ địa ngục A-Tỳ lên
tới Tây Phương Cực Lạc. Ấy thế có nhiều người niệm Phật mấy chục năm rồi mà
chưa chịu hiểu đến chỗ này!… Chính vì vậy, khi tu hành cần phải hiểu cho liễu
nghĩa
, hiểu cho rõ lý đạo để chúng ta áp dụng đúng đắn thì mới được vãng sanh
về Tây Phương.

Chủ yếu cái chương trình chúng ta nói về Khế
Lý – Khế Cơ
là như vậy! Hiểu lý của
Phật nhưng chúng ta áp dụng không đúng, nhiều khi vẫn bị trở ngại. Với hạng
phàm phu tục tử như chúng ta, nếu chúng ta chú tâm diệt nghiệp thì không cách
nào diệt được. Vì sao vậy? Vì trong lúc muốn diệt nghiệp tức là sợ nghiệp, sợ
nghiệp chính là duyên với nhiều nghiệp khác. Cố tình diệt cái nghiệp này thì
cái nghiệp khác nó tràn ra, Duyên khởi trùng trùng”.
Chúng ta diệt không nổi! Nếu chúng ta không sợ nghiệp, chúng ta sẵn
sàng đón nhận tất cả những nghiệp đến, nó đến nhiều ta chịu nhiều, nó đến ít ta
chịu ít, an nhiên tự tại đi. Trong lúc đó là lúc tâm ta an nhiên niệm câu
A-Di-Đà Phật. Câu A-Di-Đà Phật đi trên cái nghiệp đó, bao cái nghiệp lại. Thành
ra, là một người phàm phu tục tử, nhưng nhờ đại lực của A-Di-Đà Phật, đại
nguyện
của A-Di-Đà Phật đưa ta về Tây Phương. Tuyệt vời vô cùng.

Chính vì vậyphát nguyện, lập nguyện
hay vô cùng, tốt vô cùng. Nếu không lập nguyện coi chừng tưởng là tu giỏi,
nhưng mà không đâu ạ! Oan gia trái chủ sẵn sàng tới sát bên mình, âm thầm, lặng
lẽ
chờ đến lúc lâm chung mới ra tay. Một sáng một chiều thì chịu thua, không
còn cách nào có thể cứu vãn được nữa!

Liên quan tới chuyện lập nguyện, Diệu Âm
nhớ ra một câu chuyện như thế này, có thực. Diệu Âm kể chư vị nghe thử để coi
cái nguyện của mình như thế nào?…

Đó là khoảng năm 2003-2004 gì đó, thì ngày
đó là cái ngày tiễn đưa anh Bốn (Anh Phước) đi về Mỹ, nên mới để cái đồng hồ
báo thức reng lên lúc hai giờ rưỡi, mà quên đi không lấy lại. Đêm đó ngủ, hai
giờ rưỡi nó reng lên. Thông thường thì bốn giờ rưỡi mới reng, vì bốn giờ rưỡi reng thì tôi thức dậy
rửa mặt, vệ sinh, xong đi đi vào trong Tịnh-Tông-Học-Hội lạy Phật, rồi năm giờ
rưỡi ra tụng kinh với người ta.

Đêm đó là một đêm trăng sáng vằng vặc. Hai
giờ rưỡi đồng hồ reng lên, tôi thức dậy rửa mặt đánh răng, rồi lủi thủi mở cửa,
âm thầm đi ra ngoài đường, cầm xâu chuỗi trên tay cứ niệm “A-Di-Đà Phật,
A-Di-Đà Phật
” đi vô trong Tịnh Tông, chứ không coi giờ. Đường thì vắng
teo, ánh trăng sáng vằng vặc, lại có mưa phùn phùn nữa… Khi tới cổng của Tịnh
Tông
thì cửa còn đóng.

Tôi lấy làm lạ! Ủa tại sao kỳ vậy? Từ
trước đến nay, tới giờ này thì cửa đã mở rồi, tại sao bây giờ người mở cửa lại
quên đi? Cái cổng đó rộng lắm, nên tôi lách qua được, vì tôi nhỏ con mà. Lách
một cái, chen vô để vào bên trong. Khi tôi vừa vô bên trong rồi, thì có một
chuyện xảy ra làm tôi ngỡ ngàng, giật mình!…

Có một ông Cụ trên 70 tuổi, ông trải cái
khăn tắm(?) ra giữa đám cỏ trước căn liêu phòng số 18, ở giữa trời gần mấy cái
gốc cây bự mà lạy Phật… Cứ niệm “A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật”… Vừa
niệm vừa lạy.

Lúc đó, tôi vô đúng là ba giờ. Vì thường
khi tắm rửa xong, tôi vô đó là đúng năm giờ. Hôm nay thức dậy hai giờ rưỡi thì
tôi vô tới đó chắc chắn là đúng ba giờ. Tôi thấy ông ta cứ niệm: “A-Di-Đà
Phật, A-Di-Đà Phật
”… và lạy. Ông cứ tiếp tục lạy… Tôi không biết là do
trời mưa hay vì mồ hôi của ông ta ra mà cả cái khăn và người ông ta đều ướt.
Tôi đi ngang qua, ông vẫn làm thinh coi như không có gì xảy ra. Ông cứ tiếp tục
lạy, cứ lạy xuống niệm “A-Di-Đà Phật”… Cứ lạy như vậy, lạy giữa
không trung. Tôi giật mình! Sửng sốt! Một ông Cụ hơn 70 mấy tuổi lạy Phật giữa
trời qua đêm! Không biết ông đã bắt đầu lạy từ hồi nào?…

Nếu giả sử như đêm đó tôi không tới, thì
chắc chắn không bao giờ phát hiện ra chuyện này!… Mà vì vô tình thức sai giờ,
tôi tới đó trong lúc quá sớm, mới phát hiện lúc ba giờ sáng có một ông Cụ đã
thức dậy từ hồi nào, trải cái khăn giữa bãi cỏ lạy Phật qua đêm…

Quý vị nghĩ đi? Cái tâm hạnh người ta lớn
như vậy, người ta quyết lòng đi về Tây Phương như vậy, mới có thể vượt qua
những ách nạn để đi về Tây Phương! Còn ở đây, mình nghĩ rằng có làm được như
vậy không?

Xin thưa, cái Niệm Phật Đường ở đây trang
bị không phải là cao sang gì, nhưng cũng vừa đủ tiện nghi để niệm Phật, phương
tiện
đầy đủ. Nếu người đi làm bận bịu thì không nói gì, có những người không đi
làm mà khi đến giờ niệm Phật nhiều khi cũng trằn lên trụt xuống, không chịu
niệm Phật. Như vậy thì

– Làm sao dám gọi mình là người
tu thực?

– Làm sao dám gọi mình là người
muốn về Tây Phương?

– Làm sao mà oan gia trái chủ
thông cảm cho mình?…

Rõ rệt mà! Cho nên, hãy trực nghĩ lại, hãy
thương lấy thân phận của mình, mà quyết tâm hạ thủ công phu niệm Phật. Ở đây có
ai dám từ chỗ này cứ một bước một lạy, lạy ra tới cổng kia không? Mười thước
thôi đó. Có ai dám không? Tôi sợ rằng không ai dám đâu à! Ấy thế mà đã có lần,
cũng một lần khác đi vào hớ như vậy, tôi đã gặp một vị Sư Cô lạy chung quanh
cái Niệm Phật Đường đó, lạy từ hồi nào không biết mà hai đầu gối của Cô đã rướm
máu ra rồi! Cứ ba bước một lạy… Ba bước một lạy… Ngài làm như vậy đó!…

Quý vị thấy cái nguyện của người ta không?
Quý vị thấy cái quyết tâm đi về Tây Phương không? Trong khi đó thì chúng ta
đây một ngày niệm Phật đều đều như vậy, đó là cái căn bản thôi, cái tập sự
thôi! Cố gắng lên chư vị. Phát tâm lên chư vị. Vì cái huệ mạng ngàn đời ngàn
kiếp của mình, mình phải cố gắng cứu mình, không tự cứu mình thì không ai cứu
mình được.

Cố gắng quyết lòng phát tâm,
quyết lòng lập nguyện để chúng ta cùng nhau đi về Tây Phương thành đạo, cứu độ
vô lượng vô biên chúng sanh!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 20)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ngày hôm qua, chúng ta nói vấn đề
tinh tấn niệm Phật, Chủ Nhật tuần này chúng ta bắt đầu áp dụng tinh tấn luôn.

Có nghĩa là thời gian thực sự tịnh khẩu
bắt đầu từ 0:00 giờ sáng ngày Chủ Nhật cho đến 0:00 giờ sáng ngày thứ hai, suốt
24 tiếng đồng hồ không nói một lời nào hết trong toàn thể khuôn viên Niệm Phật
Đường. Với các vị nội trú trong Niệm Phật Đường, xin chư vị chú ý thực hiện đầy
đủ. Các vị ở ngoài vào thì khi bước vào cổng Niệm Phật Đường bắt đầu tịnh khẩu.
Xin chư vị cố gắng giữ trang nghiêm, để cho Niệm Phật Đường chúng ta càng ngày
càng trang nghiêm thanh tịnh.

Đây chẳng qua là cái bước tập sự, để trong
tương lai gần đây ta sẽ tiến lên là 48 giờ tịnh khẩu niệm Phật, rồi 72 giờ tịnh
khẩu niệm Phật. Quyết tâm tịnh khẩu, đúng giờ, không có sự ưu tiên cho một
người nào hết.

Xin thưa rằng, nghiệp chướng của chính
chúng ta quá lớn, ta tu như thế này thực sự so với cái nghiệp báochúng ta
sẽ thọ hưởng trong lúc xả bỏ báo thân thì chưa thấm thía vào đâu hết. Chính
vậy
, nếu mà chư vị thấy sợ con đường đọa lạc, cúi xin chư vị hãy hạ quyết tâm.

Ngài Tĩnh-Am mỗi khi kêu gọi Phật tử hạ
quyết tâm, Ngài quỳ xuống!.. Một vị Hòa Thượng mà Ngài quỳ xuống, chắp tay
lại… Trước khi Ngài nói những lời gì đó mà dòng nước mắt của Ngài rơi
xuống!…

Ở đây chúng ta toàn là phàm phu tục tử, mà
không hạ quyết tâm thì chắc chắn con đường vãng sanh bị nhiều trở ngại. Ngài
Ấn-Quang Đại Sư là một đại Tôn Sư của thời cận đại mà Ngài âm thầm, lặng lẽ
niệm Phật. Ngài không dám nhận một chức trụ trì chùa nào hết, vì Ngài nói rằng
cái nghiệp của Ngài nặng quá, Ngài không đủ khả năng!?… Mà thực tế, đức độ
của Ngài rất là cao, nên khi Ngài tới một đạo tràng nào thì Phật tử lại ùa tới
rất đông. Khi đông người quá thì Ngài lại lẳng lặng tìm một cái miếu hoang tới
đó tu. Ngài cần phải tăng thêm thời gian tu hành! Nhưng vì đức độ của Ngài cao,
nên đi tới chỗ nào thì Phật tử cũng ùa theo tới đó. Sau cùng Ngài mới trốn
trong Tàng Kinh Các để quyết lòng tu… Chúng ta thấy, những vị đại Tôn Sư như
vậy mà các Ngài còn phải hạ quyết tâm!

Ngài nói, Vì sợ
địa ngục cho nên phải tu ngày tu đêm

Trong căn phòng niệm Phật của Ngài, Ngài để một tấm hình
A-Di-Đà, một quyển kinh A-Di-Đà và sau tượng Phật đó Ngài để một chữ “Tử” rất lớn. Ngài khuyên chúng sanh hãy viết chữ “Tử”,
tức chữ “Chết” dán lên cái đầu này, dán lên cái trán này để ngày ngày
nhắc nhở chúng ta là sẽ chết bất cứ lúc nào… Mà khi chết chúng ta bị đoạ lạc!
Sợ địa ngục cho nên phải tu. Sợ địa ngục cho nên phải tăng cường thời gian tu.

Niệm Phật đường chúng ta nhất
định
quyết lòng tu thực, quyết lòng tu cho đến nơi đến chốn, ta niệm Phật quyết
định
về Tây Phương Cực Lạc cho được!

Chính vì vậy, những người đã bệnh, xin chư
vị hãy hạ quyết tâm liền đi, đừng để đến ngày mai. Nhiều khi chỉ qua một đêm,
sáng ra chúng ta:

Đã
bị đột quỵ rồi!


Đã bị tai biến mạch máu não rồi!


Đã bị mê man bất tỉnh rồi!…

Có lẽ năm ngoái chúng ta có nghe một vị
mới 54 tuổi, đang rất là khỏe. Từ nhà lái xe đi làm, vừa đậu chiếc xe bước vô
trong tiệm thì tự nhiên té xỉu, đem vô bệnh viện một ngày sau thì chết. Thật
không
thể đơn giản!

Cho nên người đã bị bệnh, đây là một bài
pháp vô thường nhắc nhở cho chúng ta. Xin chư vị mau mau hạ quyết tâm, không
thể nào ỷ y vào ban hộ niệm của Niệm Phật Đường được. Năm ngàn câu A-Di-Đà Phật
một ngày quá ít! Phải tăng lên liền. Nếu chúng ta niệm không đủ mười ngàn câu
A-Di-Đà Phật thì phải tăng nhanh lên, không tăng sức niệm nhanh thì phải tăng
thời gian lên. Quyết lòngniệm Phật. Nằm trên giường trong lúc chóng mặt
niệm câu A-Di-Đà Phật, sau cơn ho phải niệm câu A-Di-Đà Phật, sau khi đi vệ
sinh xong thì niệm câu A-Di-Đà Phật…

Ngài Ấn-Quang Đại Sư dạy niệm như thế này,
đi vào trong nhà vệ sinh cũng phải thầm niệm Phật, chứ không phải ngồi trong
nhà vệ sinh mà không niệm Phật. Lúc đó phải niệm thầm, đừng niệm lên tiếng.

Ngài Đại-Thế-Chí nói rằng, phải đóng lục
căn
lại. Tức là không coi báo, không coi Ti-Vi, không coi phim chưởng, không nói
chuyện thị phi, không kêu bạn bè tới bàn ra tán vô, không bày cuộc trà ra nói
chuyện… Nhất định đóng hết lại!

Tịnh niệm tương kế”. Thanh tịnh niệm câu A-Di-Đà Phật liên
tục
, không ngừng. Không cần gì khác cả, nhất định tâm chúng ta sẽ khai mở, nhất
định
khi đó sẽ pháp hỷ sung mãn.

Chính vì vậy, những cuộc tinh tấn này mà
chúng ta thấy vui vẻ thoải mái tham gia, nếu như tuần qua ta còn tu thử, thì
tuần này nhứt định bắt đầu ta tu thực. Ngược lại, nếu ta thấy rằng những cuộc
tinh tấn này làm cho mình mệt mỏi quá, thì có lẽ ta đúng là những người tu thử!
Tu thử tức là tu giả. Tu giả tức là hàng ngày chúng ta tới đây giả đò niệm
Phật! Quỳ trước bàn thờ Phật chúng ta nguyện cái gì đó, là nguyện láo! Hòa
Thượng
nói: “Tu thử, nguyện
láo là gạt Phật!”
Sáng gạt một lần, chiều gạt một lần, nhất định ách nạn
không có thể nào trốn thoát được! Tất cả đều do chính cái tâm của chúng ta thể
hiện
lấy.

Một người thích “Casino”, nhìn tới cái
chùa, nhìn tới Niệm Phật Đường thấy người ta tu hành sao chán quá! Đây chính vì
cái tâm của người ta là tâm lục đạo. Một người vào trong Niệm Phật Đường niệm
Phật
say mê, niệm câu A-Di-Đà Phật thấy vui vô cùng. Đi xi-nê họ chán vô cùng,
còn tới Niệm Phật Đường thì vui vẻ… Đây là người thực tu, cái tâm người ta là
tâm tu hành, cái tâm này là tâm giải thoát! Con đường giải thoát làm cho họ vui
vẻ
, còn nếu tâm lục đạo luân hồi thì nhất định những cuộc tinh tấn niệm Phật,
những buổi niệm Phật giống như một sự ép buộc, nó dài lê thê!… Họ chịu không
nổi!

Xin thưa, vì Sanh tử sự đại, vì sự giải thoát của chính mình,
mong chư vị hạ quyết tâm. Và dù thế nào đi nữa, nhất định Niệm Phật Đường của
chúng ta cũng sẽ tiến tới, phải tu càng ngày càng tinh tấn hơn. Những người nào
không đi làm, thời gian rảnh rỗi, tuổi đã lớn thì cơ hội này giúp cho chư vị
thực hiện sự thành tựuNhất định. A-Di-Đà Phật phát thệ, trước giờ phút lâm chung niệm danh hiệu của
Ngài mười niệm, mà Ngài không tiếp dẫn về Tây Phương Ngài thề không thành Phật
. Đây là cái
đầu mối gần nhất, dễ nhất cho chúng ta thành đạo Vô-Thượng trong một đời này.

Tuy nhiên, mình niệm tà tà như thế này,
một ngày hai tiếng rưỡi đồng hồ niệm tại Niệm Phật Đường không thể nào được
nhất tâm bất loạn đâu! Ta có nhị tâm, tam tâm, có hàng vạn tâm trong đó. Khi
bước ra khỏi Niệm Phật Đường thì chúng ta lười biếng niệm Phật, chứng tỏ rằng
cái tâm chúng ta theo lục đạo luân hồi nhiều hơn theo A-Di-Đà Phật về Tây
Phương
. Chính vì vậy mà sau cùng chúng ta vẫn có thể bị ách nạn…

Nhắc đi nhắc lại câu này… Đừng bao giờ ỷ
y vấn đề hộ niệm!

Người ta hộ niệm cho mình được là
khi mình niệm câu A-Di-Đà Phật được.
Nhớ cho kỹ cái điều này.

Người ta hộ niệm cho mình được là
khi mình phát nguyện vãng sanh được.

Người ta hộ niệm cho mình được là
khi niềm tin của mình vững vàng, nhất định hạ quyết tâm.

Cho nên hổm nay chúng ta nói lập nguyện,
những người nào hạ quyết tâm niệm Phật là những người quyết lòng đi về Tây
Phương
. Những người không hạ quyết tâm niệm Phật thì nguyện vãng sanh là nguyện
láo, niệm Phật là niệm chơi, tu là tu thử, không phải tu thực. Chính vì vậy
vạn ức người tu hành không tìm ra một người đắc đạo chính là cái chỗ này. Cứ
nghĩ rằng đã có ban hộ niệm, họ tới hộ niệm thì mình vãng sanh. Hồi giờ đi
hướng dẫn hộ niệm khắp nơi, chưa bao giờ Diệu Âm nói câu này. Mà phải nói rằng,
người nằm đó phải niệm câu A-Di-Đà Phật cho được. Hôm trước hộ niệm cho một
người đã mê man bất tỉnh trong bệnh viện. Vì quá nể nang nên phải tới. Nhưng
chúng tôi không dám hứa gì cả… Vì sao? Vì họ đã mê man bất tỉnh rồi!

Cho nên, chư vị muốn được vãng sanh thì
phải coi chừng, đừng mê man bất tỉnh. Nếu bị mê man bất tỉnh rồi, thì một trăm
người nhiều khi chỉ có vài ba người thoát được mà thôi! Nghĩa là lúc người ta
nằm xuống đó, một cơ may nào đó đã làm cho thần thức họ tỉnh lại, oan gia trái
chủ buông ra mới được. Chứ thường thì mình chỉ nói chuyện với cục thịt, còn cái
thần thức của họ đã chìm trong hàng vạn cảnh khổ đau, hàng vạn cảnh đọa lạc
oan gia trùng trùng đã bao vây hết trơn rồi!…

Muốn giải quyết chuyện này không có cách
nào khác hơn là phải phát cái tâm vững mạnh mà niệm Phật ngày đêm. Xin những
người đã bệnh phải lo niệm Phật ngày đêm, nhất định không thể chờ được. Nếu một
ngày niệm được năm ngàn quá ít!… Hãy phát thệ lên, niệm mười ngàn câu A-Di-Đà
Phật một ngày. Mười ngàn câu A-Di-Đà Phật một ngày thực ra cũng quá ít! Phải
tăng lên mười lăm ngàn liền, phải tăng lên hai chục ngàn liền. Ngẫu-Ích Đại Sư
đã đưa ra chỉ tiêu là ba chục ngàn câu A-Di-Đà Phật, thành tâm mà niệm một
ngày. Ngài Ấn-Quang Đại Sư đưa ra tiêu chuẩn năm chục ngàn câu A-Di-Đà Phật một
ngày. Chư vị đừng có nghĩ rằng đã là Đại Sư rồi, các Ngài tu ít. Người nào muốn
được vãng sanh phải niệm như vậy. Thành tâm mà niệm.

Bây giờ chúng ta niệm không tới, thì lấy
sự chí thành chí thiết. Quyết lòng phải buông xả cạnh tranh, ganh tỵ. Quyết
lòng
phải buông xả buồn rầu, lo lắng… Phải tập buông xả liền lập tức. Nếu
không
, xin thưa, đến đây kêu chúng tôi hộ niệm làm chi? Mà khi hỏi tới:

– Bác niệm được một ngày năm
ngàn câu Phật hiệu không?

– Mệt quá! Tôi niệm không nổi”

Niệm không nổi, thì chúng tôi cũng không
có cách nào cứu được chư vị!…

Chính chúng ta phải cứu chúng ta! Mình
quyết lòng niệm Phật như vậy mới có sự cảm thông, mới có sự gia trì. Rồi lúc đó
người hộ niệm tới khai thị. Họ khai thị mà mình nghe được thì mới có tác dụng,
mình nghe không được thì thôi chịu thua! Nghe rồi mình phải làm liền lập tức,
chứ nghe rồi mà nói: “Trời ơi, tôi đau quá làm sao tôi niệm cho được?”Họ cứ nghĩ
đến cơn đau, không chịu nghĩ đến câu A-Di-Đà Phật! Họ không chịu tin! Đây thực
sự là những người không chịu tin, không chịu phát nguyện, không muốn đi vãng
sanh
. Phật đã nói rằng, cứ tin cho vững vàng đi, phát nguyện cho thật là tha
thiết đi, thì bao nhiêu cơn đau chập chùng đổ tới tự nhiên tan biến…

Tôi đã từng đưa ra những ví dụ, như chính
ông Cụ thân nhà tôi, là một người mà hai vị bác sĩ đứng nhìn không biết cách
nào giải thích được. Ông Cụ bí tiểu mười một ngày, bàng quang căng cứng lên.
Tôi hỏi ông Cụ:

Đi bác sĩ không?

– Không!

– Đi bệnh viện không?

– Không! Không đi! Không cần!

– Chứ làm Sao?

– Niệm Phật!

Ông Cụ chỉ có niệm A-Di-Đà Phật…

Hai vị bác sĩ nói, trường hợp này thì
người bệnh phải bị mê man bất tỉnh! Nhưng ông Cụ tỉnh táo cho đến giây phút
cuối cùng. Tại sao vậy? Tại vì ông ta đã được xúi giục phải vững vàng tin, phải
mạnh dạn buông xả, nên tự nhiên ngày giờ ông ra đi được tỉnh táo.

Nếu ông ta nói, Trời ơi! Bắt cha tu
thế này thì:

– Làm sao cha đánh được cuộc cờ
tướng?

– Làm sao cha đi thăm bạn bè?

– Làm sao hưởng được các thú
vui? Người ta hưởng mà mình không có
….

Thì ông Cụ sẽ lăn lộn từ trên giường đến
dưới giường để mà chết trong cảnh khổ đau!

Nhưng mà ông quyết lòng niệm PhậtNhất
định
sẽ được sự gia trì.

Mong cho chư vị quyết lòng, vì cái huệ
mạng
ngàn đời ngàn kiếp quá ư là nguy hiểm, thật sự là nguy hiểm. Mong chư vị
hạ quyết tâm.

Vui vẻ trong câu A-Di-Đà Phật. Lánh xa
những chỗ ồn náo. Quyết định không chạy theo người thế gian. Một lòng giữ tâm
mình trong câu A-Di-Đà Phật. Ngày ngày đều phát thệ nguyện vãng sanh về Tây
Phương
. Đối với bệnh trạng, đối với những gì khổ đau của thế gian hãy coi như
là KHÔNG có đi, thì tự nhiên

Vạn Pháp do tâm tạo. Chúng ta đi về Tây
Phương
thực sự bằng cái tâm niệm “A-Di-Đà Phật”, chứ không có gì khác hết!

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 21)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Trong chương trình nói về “Khế Lý – Khế Cơ” là để
nhắc nhở cho chúng ta trong thời mạt pháp này phải biết trạch pháp để tu hành.

Lý đạo thì thâm sâu cao rộng quá, chúng ta niệm câu A-Di-Đà Phật
thì chắc chắn không thể nào sai Lý được. Vậy thì, điều này chúng ta hãy an tâm.
Còn việc Khế Cơ là thật ra để ứng
hợp với căn cơ hạ liệt của chúng ta, phải áp dụng cái phương cách nào an toàn
thì mới được thiện lợi. Chính vì vậy mà trong những ngày qua ở đây hoàn toàn không
có chủ trương lập nên một chương trình nào để niệm Phật “Nhất Tâm Bất Loạn”, “Niệm
Niệm”
.
Đây thật sự là một lý tưởng tốt, nhưng căn cơ của những người hạ liệt như chúng
ta
không làm nổi! Không làm nổi mà cố gắng làm, thì như chư Tổ thường hay nói,
cái lực của mình không đáp ứng đúng cái tâm nguyện của mình, gọi là “Lực
bất tòng tâm!”
. Từ đó có thể đưa tới chỗ trở ngại!

Có nhiều người không để ý đến sự ứng hợp căn cơ, tu hành mới đầu
thì thấy hay, nhưng sau cùng thì kết quả thường thường bị trở ngại rất nhiều.
Chính vì thế, trong chương trình công cứ niệm Phật đưa ra chỉ để cho chúng ta
tập tu hành cần cù, kiên nhẫn, chân thành… bám lấy câu A-Di-Đà Phật. Hãy niệm
cho thành thục, niệm thành một thói quen để mong cầu trước những giây phút lâm
chung
, ta được nhiều điều thiện lợi.

Bắt đầu từ khi vận động chương trình lập công cứ, đến nay đã có
một số vị, cũng khá đông rồi, đều nhận công cứ về để niệm Phật. Có những vị đã
niệm được trên mười ngàn câu A-Di-Đà Phật một ngày. Công phu này được, có triển
vọng
. Trên mười ngàn câu, mười lăm ngàn câu, thì công cứ này bắt đầu đã có hiệu
lực
tốt. Có một ít người niệm được hai chục ngàn câu niệm Phật một ngày. Đây là
điều tốt. Hạ quyết tâm như vậy tốt. Có những vị đã niệm được hai mươi lăm ngàn
câu A-Di-Đà Phật trong một ngày. Điều này rất là đáng khen. Tiêu chuẩn này đáng
khích lệ, đáng khen! Và cũng có người nhận cái công cứ về và đã khẳng định niệm
trên năm chục ngàn câu A-Di-Đà Phật trong một ngày. Đây là công phu rất được
tán thán. Muốn làm được như vậy phải hạ quyết tâm lớn lắm. Ngoài ra thì cũng có
những vị niệm được năm ngàn câu, bảy ngàn câu một ngày. Số này thì nhiều hơn
một chút. Được! Khích lệ! Nên cố gắng tăng thêm.

Cái nghiệp chướng của chúng ta lớn lắm! Nếu mà lơ là, phí thời
gian
vào những chuyện vô ích, thì sau cùng ta vẫn có thể bị trở ngại. Vận mạng
của mình, cái thân này thì vô thường, cái huệ mạng ngàn đời ngàn kiếp thì quá
nguy hiểm, mà đến nay cũng có người hình như chưa phát tâm lập công cứ niệm
Phật
. Thì đây cũng là tùy duyên mà thôi!…

Trong con đường đấu tranh với sanh tử luân hồi, đấu tranh với tam
ác đạo
để vượt qua những cảnh khổ vạn kiếp, mỗi người chúng ta phải tự lo lấy.
Người nào tu người đó đắc. Vợ tu vợ đắc, chồng tu chồng đắc. Bạn bè đồng tu với
nhau
tới Niệm Phật Đường này, người nào hạ quyết tâm niệm Phật sẽ được vãng
sanh
. Người không hạ quyết tâm niệm Phật, thì sau cùng không được vãng sanh,
tức là bị lọt vào trong những cảnh khổ đau. Nếu có tình cảm với nhau thì nhiều
lắm là góp chút ít tiền, mỗi người vài chục đô-la, mua một vòng hoa tới phúng
điếu
là cùng! Chứ không còn cách nào khác hơn được nữa!…

Vì thế, kính thưa với chư vị, phải cố gắng lên. Nhất định niệm
Phật
đừng bao giờ đợi tới lúc yếu rồi mới niệm nhé!… Không phải! Trước kia
chúng ta không biết, bây giờ lỡ yếu rồi thì cố gắng tranh thủ mà niệm. Nếu yếu
quá niệm không được, nên số lượng câu A-Di-Đà Phật niệm không nhiều, thì chúng
ta
hãy lấy cái tâm chân thành tha thiết muốn vãng sanh để niệm, ráng niệm được
câu nào hay câu đó. Nhờ vậy mà giải bớt ách nạn, để sau cùng rồi ta được phước
phần cảm thông của chư đại Bồ-Tát, của chư Thiên-Long Hộ-Pháp, với những vị oan
gia
trái chủ, rồi nhờ các bạn đồng tu tới hộ niệm, ta vẫn có thể được may mắn.

Nhưng dù thế nào đi nữa cũng phải cố gắng. Cố gắng tối đa! Bên
cạnh đó phải nhớ rằng, khi mình thành tâm cố gắng như vậy thì A-Di-Đà Phật sẽ
phóng quang gia trì, quang minh của Ngài chủ chiếu đến ta, nhiều khi nghiệp
chướng
của ta tiêu đi rất nhiều mà không hay. Chứ nếu thấy mệt mình buông xuôi,
thì sau cùng mình niệm câu A-Di-Đà Phật không được. Những người còn khỏe chưa
bịnh thì phải lo đi! Đừng nên đợi tới lúc yếu mới tính. Vì xin thưa, lúc khỏe
như thế này mà không niệm Phật, chỉ chờ tới Niệm Phật Đường vài tiếng đồng hồ,
niệm vài câu rồi về, rồi đi chơi, rồi tán gẫu… thì sự niệm PhậtNiệm Phật
Đường này cũng chỉ là niệm thử, niệm chơi!… Đến lúc nghiệp báo trổ ra rồi, nó
đến rồi, xin thưa, khi đó cái lưỡi của chúng ta đã bị đớ rồi, không nói được
nữa, nhiều khi tiếng “Phật” mà thành ra tiếng “OẠS!…”, tiếng “OÀH!…”.
Nói không được đâu!…

Trong kinh, Phật có nói đến điều này. Một trong những hạng người
không được vãng sanh, thì có hạng người bị trúng gió, á khẩu… niệm Phật không
được. Chúng ta đừng nghĩ rằng cái miệng tôi không niệm được, nhưng tâm tôi
niệm. Không phải đâu à! Không có chuyện dễ như vậy đâu à! Nếu nói rằng cái
miệng tôi niệm không được, nhưng tâm tôi niệm được, thì đây là những người tâm
họ rất thành, lòng họ rất kính. Họ đã hạ quyết tâm nhiều lắm rồi. Cái nghị lực
của họ đã được nuôi sẵn rồi, nên lúc đó người ta mới niệm được. Những người có
nghị lực sẵn như vậy, thì nhứt định trong lúc khỏe này:

– Người ta buông bỏ hết tất cả những niệm thế gian ra,
tranh thủ để niệm Phật, ngày đêm niệm Phật, âm thầm niệm Phật, lặng lẽ niệm
Phật

– Không bao giờ thấy người đó đi ra ngoài shop đâu à!  

– Không bao giờ thấy họ tụm hai tụm ba người mà nói chuyện
đâu à!

Họ âm thầm lặng lẽ niệm Phật.

– Đó mới là những người có nghị lực.

– Đó mới là những người có tâm thành.

– Đó mới là những người đã hạ quyết tâm niệm Phật.

Có như vậy thì câu A-Di-Đà Phật mới nhập vào tâm của họ, và cái
nghị lực đó nó truyền từ bây giờ, nó nuôi từ bây giờ cho đến khi nằm xuống họ
vẫn còn câu A-Di-Đà Phật trong tâm, dù rằng thân của họ có thể bị bại liệt. Chớ
bây giờ còn đi rao rảo thế này, nói “O-O
thế này, mà nhứt định không chịu niệm Phật thì đến lúc đó không còn cách nào có
thể niệm được câu Phật hiệu đâu!

Chính vì vậy, chúng ta cần phải sợ. Phật nói, những người á khẩu
niệm Phật không được, tại vì những người hạ căn thấp kém nhứt như thế này trước
những giờ phút lâm chung phải cất lên câu A-Di-Đà Phật, phải niệm Phật thành
tiếng. Tại sao phải niệm Phật thành tiếng? Quý vị coi trong kinh đi, niệm ra
tiếng có lực bố ma. Oan gia trái chủ của chúng ta mạnh hơn chúng ta gấp ngàn
lần, trong khi đó thì thể lực của chúng ta lại yếu hơn lúc bình thường một ngàn
lần. Cái tâm chúng ta thì mê man bất tỉnh rồi, quay cuồng, không còn một thể
lực nào nữa, thì làm sao mà chúng ta có thể cất lên một tiếng Phật hiệu? Hiểu
được những điều này xin chư vị hãy cố gắng tận sức mà niệm Phật. Nếu không, thì
không còn cách nào trở tay cho kịp! Nên nhớ, một cơn đột quỵ nó đến không bao
giờ báo trước. Một cơn ngất xỉu vì chứng suy tim mạch nó đến bất ngờ, một tiếng
đồng hồ sau là tiêu liền.

Xin phải chuẩn bị ngay từ bây giờ.

Niệm Phật thật là chân thành.

Niệm Phật thật là thành tâm.

Niệm Phật thật là nhiều.

Để chi? Nghiệp của chúng ta nhiều, ta không thể phá nghiệp được.
Nhưng chúng ta có thể dùng câu A-Di-Đà Phật này làm tăng cái phước của mình
lên. Giống như mình bị nợ tiền người ta, đã nợ tiền người người ta thì dù có sợ
cái nợ cũng vô ích! Hãy lo làm việc đi, tích cực làm việc để kiếm tiền. Có tiền
thì tự nhiên món nợ sẽ giảm xuống. Không có tiền thì bây giờ mình nghĩ tới món
nợ đó, nghĩ cho đến ngàn đời, ngàn kiếp người ta vẫn nạo đầu mình như thường.
Bây giờ đối với nghiệp chướng cũng vậy. Trong vô lượng kiếp mình đã tạo ra quá
nhiều nghiệp chướng rồi. Bây giờ đừng sợ nghiệp nữa, mà hãy dùng đến câu Vạn
Đức Hồng Danh
đi. Niệm một câu Phật hiệu lên có “Vạn
Đức, Vạn Phước”. Cứ niệm cho thật nhiều lên, niệm cho thật chân thành lên thì
phước đức của mình càng ngày càng tăng lên. Hễ phước đức của mình càng ngày
càng tăng lên, thì tự nhiên nghiệp chướng của mình càng ngày càng giảm xuống.

Giống như mình nợ người ta, thì đừng sợ cái nợ! Hãy nói, “
chủ ơi! Đừng có lo! Tôi đang làm việc đây. Tôi đang làm “Overtime” đây. Đang
làm ngày làm đêm đây
“… Làm việc “Overtime” thì tiền mình có, thì món nợ đó sẽ giảm xuống, giảm
xuống, giảm xuống… Đó là luật bù trừ. Chính vì vậy, xin tất cả chư vị hãy
ráng cố gắng, đừng nên lơ là. Đừng nên để tới phút cuối rồi thì chúng ta không
còn cách nào trở tay kịp đâu!

Mong cho những lời nói này làm chư vị giựt
mình! Quyết lòng quyết dạ niệm A-Di-Đà Phật để chúng ta cùng về Tây Phương Cực
Lạc
.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 22)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Người ta hay nói
hộ niệm lúc lâm chung, chứ thực ra thì hộ niệm có thỉ có chung, mà tại vì người
ta vô ý quên cái “Thỉ” tức là khởi
đầu, mà cứ nhớ cái “Chung” tức là lâm chung. Thực ra thì
phương pháp hộ niệm là một pháp tu nó có từ A tới Z. Nó là một quá trình toàn
bộ
.

Từ A, ví dụ cụ thể
như chúng ta đi chùa bắt đầu niệm Phật là từ A. Rồi từ B là khởi tâm ăn chay,
làm việc thiện lành. Rồi từ C là chúng ta bỏ cống cao ngã mạn, bỏ thị phi ganh
tỵ
… Nói chung, đây là một pháp tu hướng dẫn chúng ta từ khởi thỉ, cho đến lúc
lâm chung cuối cùng. Tới Z tức là cái bước cuối cùng để vãng sanh về Tây Phương
Cực Lạc
.

Nhiều người không
hiểu, nên cứ nói khi lâm chung thì kêu ban hộ niệm tới, cho đó là phận sự hộ
niệm
. Cho nên người ta cứ để cho đến mê man bất tỉnh trong bệnh viện, cái lúc mà sắp hấp
hối, sắp lìa khỏi cái báo thân này mới kêu ban hộ niệm. Thực là lầm lẫn quá
lớn! Ngay tại Niệm Phật Đường của chúng ta có trương một tờ thông cáo thật lớn, màu
vàng, dán trên bảng trắng. Nếu người nào mới tới thì chúng ta nên hướng dẫn họ
đọc cái thông báo đó. Thông báo đó nói rằng, hộ niệm là một phương pháp giúp
cho mọi người có đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh. Thực hiện đầy đủ những thứ đó để vãng
sanh
Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải là cứ đợi cho đến lúc bệnh sắp chết,
sắp lâm chung hay đang hấp hối mới kêu ban hộ niệm tới. Nếu mà đợi tới lúc đó
thì xin thưa thực, đã quá muộn màng!

Ở đây chúng ta thường
xuyên
nói về hộ niệm, thì chúng ta cũng phải hiểu một cách liễu nghĩa, rõ ràng.
Hòa Thượng Tịnh-Không nói ba điều:

Một là
tỉnh táo.

Hai là gặp thiện tri thức khai thị.

Ba là người đó phải mau mau thực hiện liền những lời
của người thiện tri thức đó hướng dẫn.

Như bây giờ chúng ta
đang ở đây, chưa bệnh, chưa mê man bất tỉnh, tức là chúng ta đang “Tỉnh
táo
”. Điều kiện thứ nhất chúng ta có. Chúng ta đang nghe Hòa
Thượng
thuyết pháp, khai thị, hướng dẫn niệm Phật vãng sanh, là ta Gặp thiện tri thức khai thị. Cái điều thứ ba là ta
có chịu mau mauY giáo phụng hành, ứng dụng lời dạy
của Ngài để thực
hiện
liền hay không? Nếu chúng ta làm được ba điều đó tức là chúng ta thực hiện
phương pháp hộ niệm vãng sanh, sau cùng ta được vãng sanh.

Ta bây giờ đang tỉnh
táo
, hàng ngày chúng ta đang nói chuyện hộ niệm với nhau, dẫn dắt rất là kỹ,
từng chút từng chút, tức là chúng ta đã có điều kiện có người hướng dẫn vãng
sanh
, thì gọi là gặp thiện tri thức khai thị. Ta có chịu áp dụng lời khuyên này
để thực hiện liền, thì với ba điều kiện này đúng, sau cùng chúng ta vãng sanh.

Nếu ta đang tỉnh táo
như thế này, đã gặp được người hướng dẫn pháp vãng sanh, nhưng ta không chịu
làm. Ta cứ chờ cho đến lúc lâm chung rồi mới kêu ban hộ niệm tới, tức là hoàn
toàn
ta đã sai! Tức là tỉnh táo, nhưng thực ra thì ta bị lầm lẫn ở chỗ nào đó,
không tỉnh táo đúng mức!

Ta nghe thiện tri thức
nói chuyện về hộ niệm, mà ta không áp dụng, tại vì ta nghe lướt qua, rồi bỏ
qua. Ta cho chuyện này là quá tầm thường, nên ta tiếp tục nằm ở đó để
chờ chết! Sắp chết rồi mới kêu ban hộ niệm tới, thì tất cả ba điểm: tỉnh táo,
gặp thiện tri thứcáp dụng ta đã bị thiếu sót quá nhiều.

Đây chính vì từ cái
niềm tin không vững. Tất cả những cái đó đều là “Duyên” hết.
Ví dụ như tôi từng đi các nơi, tôi gặp những người đã nghe pháp của Hòa Thượng
Tịnh-Không, không phải họ ngồi để mà nghe đâu à, mà người ta sắp hàng với nhau
rồi quỳ xuống, chắp tay lại để nghe suốt đoạn khai thị. Mà nhiều ngày người ta
cũng làm như vậy nghen, không phải là một ngày đâu à. Người ta có những cái bồ
đoàn
thế này, tất cả họ quỳ dọc dọc như vậy, quỳ xuống chắp tay để mà nghe lời
pháp của Hòa Thượng.

Chính vì họ có cái
tâm chân thành như vậy, nên nơi đó vãng sanh rất nhiều. Ta ở đây thì trực tiếp
nghe, lại gặp qua Hòa Thượng, ta nghe chính Ngài khai thị. Nhưng mà nhiều khi cái
tâm chúng ta không có để ý, ta chỉ nghe cho vui! Có nhiều người mỗi khi nghe
Hòa Thượng về thì tìm đến gặp Hòa Thượng cho vui. Thật ra, đâu cần cái vui này!

Việt Nam người ta
có gặp trực tiếp Ngài đâu à?
Người ta chỉ nhìn thấy trên màn ảnh thôi. Người ta để Ti-Vi đó, rồi sắp hàng
dài quỳ xuống như vậy. Một phần thành
tâm
, một phần lợi ích, hai phần thành tâm hai phần lợi ích; mười phần thành tâm
mười phần lợi ích
. Tại đây chúng ta không có đủ thành tâm, nên nhiều
khi đến gặp Ngài mà ta còn
lười biếng. Mà thực ra gặp Ngài để làm chi? Gặp Ngài chính là gì? Chính là nghe những
lời giảng pháp của Ngài, rồi thực
hiện
theo cho đúng.

Pháp hộ niệm là một
pháp tu có từ A tới Z. Trong đợt nói chuyện trước, ta đã nói đến đề tài này.
Tại sao ở nơi đó người ta thành tựu? Thành Tâm!… Còn
trong khi chúng ta ở đây trực tiếp nói chuyện với nhau, ngày ngày nói chuyện
thẳng luôn hầu củng cố phương pháp hộ niệm được vững vàng, nghĩa là đường vãng
sanh
chúng ta không bị sơ suất. Nhưng mà coi chừng! Hễ chúng ta để ý thì chúng
ta
sẽ vãng sanh, còn nếu không để ý thì chúng ta mất phần vãng sanh, trong khi
đó người ở xa mà lại được vãng sanh. Lạ vậy đó chư vị.

Cũng như Hòa Thượng
tại đây, nhiều người ngày nào cũng gặp Hòa Thượng. Mỗi lần Hòa Thượng đến là tổ
chức đi đón. Nhưng mà coi chừng, chưa chắc những người này sẽ được vãng sanh. Còn
những người ở xa, người ta chỉ thấy trên màn ảnh thôi. Dù chỉ thấy trên màn ảnh
nhưng người ta quỳ xuống lạy. Nghe pháp trên màn ảnh, mà người ta chắp tay lại,
quỳ xuống, suốt một tiếng đồng hồ để lắng nghe lời pháp của Ngài. Chính cái lòng
chân thành này, chính cái lòng thành kính này, khiến cho từng lời từng lời của Ngài lọt vào tâm của
họ và họ đi rất vững. Họ đi liền. Họ không chần chờ. Họ được vãng sanh.

Rồi ở mỗi nơi như vậy
họ sao chép giảng pháp ra, phổ biến tiếp… Họ ráng cố gắng theo dõi để ứng
dụng
. Thế mà, thực sự ở chỗ đó lại có người vãng sanh. Ở Việt Nam, có một ban
hộ niệm đến nay hộ niệm được một trăm lẻ một người, có ban hộ niệm khác hộ niệm
một trăm ba mươi mấy người… Hiện tại ban hộ niệmViệt Nam, bây giờ tổng kết
lại, không đếm được. Có thể trên mấy trăm ban hộ niệm.

Tại sao người ta được
vãng sanh? Là tại vì người ta thấy cuộc đời này khổ quá! Là tại vì khi gặp được
pháp hộ niệm này làm cho người ta ngỡ ngàng! Trong suốt cuộc đời của họ, người
ta không ngờ có chuyện này đâu à! Trong bao nhiêu năm tu hành, người ta không
ngờ có chuyện được vãng sanh đâu à! Nhưng bây giờ gặp được rồi, người ta mừng
quá. Quá vui mừng thành ra người ta mới nghiên cứu từng chút, từng chút, từng
chút như vậy, rồi ứng dụng liền.

– Chính vì cái lòng
Thành
Tâm
.

– Chính vì cái lòng
Kính Cẩn
.

– Chính vì cái lòng
Tin
Tưởng… mà họ vãng sanh.

Cho nên muốn được
vãng sanh không có gì khác hơn là chúng ta phải bắt đầu đi từ A, rồi tới B, tới
C, tới D… để sau cùng chúng ta tới Z. Z là lúc lâm chung. Tức là cố gắng tu hành, cố gắng buông xả, cố
gắng
lập nguyện
. Nhiều khi mình còn phải đi làm, thì khi về nhà dành ba
mươi phút… Ba mươi phút có thể niệm được hai ngàn tiếng Phật hiệu, ba ngàn
tiếng Phật hiệu rồi. Chiều lại mình niệm thêm ba mươi phút nữa, ba mươi phút có
thể niệm ba ngàn nữa. Sáu ngàn câu A-Di-Đà Phật. Phải làm như vậy. Để chi? Để
cho đến lúc Z, tức là khi chúng ta lâm chung, chúng ta sẽ có một cái số vốn
niệm Phật.

Những người không đi
làm, thì khi đến Niệm Phật Đường niệm Phật, rồi về thay vì chúng ta đánh cờ
tướng để làm chi? Thay vì bàn luận lý lẽ làm chi? Hãy cố gắng cầm xâu chuỗi mà
niệm Phật. Ta niệm ba mươi phút rồi ta đếm thử coi? À! Ta niệm được mấy chục
chuỗi. Rõ ràng ba mươi phút ta có thể niệm hai ngàn, ba ngàn câu A-Di-Đà Phật.
Có người niệm nhanh, trong ba mươi phút có thể niệm tới năm ngàn câu A-Di-Đà
Phật. Người ta niệm nhanh như vậy.

Niệm Phật

Để cho cái tâm mình hòa nhập với câu A-Di-Đà Phật.

Để cái miệng mình mở ra là A-Di-Đà Phật.

Khi miệng mình mở là
niệm A-Di-Đà Phật, rồi thì…

Nhất định những
chuyện thị phi
.

Nhất định những
chuyện nói người này tốt, người kia xấu… sẽ xa lần, xa lần, xa lần

Câu A-Di-Đà Phật thâm
nhập
vào trong tâm mình, nó đuổi những cái đó ra. Nghiệp chướng của mình cũng
theo cái dòng đó mà trôi ra ngoài. Thay vì mình bệnh, mê man bất tỉnh thì mình
không còn bệnh nữa. Thay vì mình bị chướng ngại thì mình không còn chướng ngại
nữa. Nghiên cứu mười điều lợi của sự niệm Phật quý vị sẽ thấy, chư Thiên mà còn
phải đảnh lễ người niệm Phật nữa.

Cho nên, khi vô trong
Niệm Phật Đường này, xin thưa quý vị chú ý, khi chúng ta đã là người niệm Phật
rồi thì đừng nên sơ ý. Đừng nên nói chuyện trong Niệm Phật Đường. Đừng thấy
rằng trong Niệm Phật Đường chỉ còn có một mình mình thôi, thì muốn làm gì làm.
Không phải như vậy đâu à. Đừng bao giờ bước ngang qua khoảng giữa này, mà chúng
ta
phải đi vòng. Nên nhớ, “Tuy vô tân khách chí, diệc hữu Thánh Nhân
hành
”, chính là chỗ này. Những chỗ tu hành tinh tấn, thường có chư
vị Thánh Nhân, Thiên-Long, Hộ-Pháp tới lui, các Ngài kinh hành, các Ngài niệm
Phật
với mình…

Nếu mà mình làm đúng
như vậy thì chư vị đó sẽ hỗ trợ cho mình, phước đức của mình tăng lên, nghiệp
chướng
của mình giảm đi, và chúng ta sau cùng được an nhiên tự tại vãng sanh
Tây Phương Cực Lạc.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 23)

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Chúng ta nói chuyện hộ niệm mà sao nói
hoài không bao giờ hết! Ấy thế mới biết là muốn cứu một người vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
khó lắm, không có dễ đâu. Ta phải cố gắng tối đa, dùng đủ
mọi cách để cho người có duyên phát được tâm nguyện đi vãng sanh về Tây Phương
và người ta thực hiện đúng phương cách vãng sanh.

Nói cho rõ ra là Tín-Nguyện-Hạnh
đầy đủ. Tất cả đều nằm trong ba điểm này chứ không có gì khác. Đến ngày nay vẫn
nhiều người khinh thường phương pháp hộ niệm, người ta cho đó là chuyện nhỏ!
Trong khi ở đây chúng ta rất đề cao cái phương pháp hộ niệm này.

Tu hành là điều quan trọng. Công phu
điều cần phải chú ý thực hiện. Nhưng nếu sơ suất không nghĩ đến vấn đề hộ niệm
thì coi chừngDã tràng se cát biển đông!

Vì xin thưa với chư vị, tất cả cái gì cũng
phải có NhânDuyên kết hợp lại mới thành
cái Quả được. Mình quyết tâm công phu niệm Phật là mình có cái
Nhân, nhưng coi chừng khi cuối đời cái Duyên chẳng lành đến với mình thì cái
Nhân này cũng không thể nào kết thành Quả được. Ví dụ như khi mình nằm xuống,
những người bên cạnh không biết hộ niệm, người ta khóc than, đụng chạm, ồn
ào
… trước cái thân xác mệt mỏi, tan rã, đau đớn của mình, khiến mình chịu
không nổi! Đó là những người có Nhân niệm Phật, nhưng không có cái duyên lành
thuận lợi, họ vẫn không được vãng sanh.

Nếu bây giờ chúng ta chỉ lo về hộ niệm
không lo niệm Phật, thì chúng ta chỉ chú trọng tới cái Duyên. Khi nằm xuống,
người ta tới hộ niệm thì…

Nghiệp
chướng
của mình ào ào!

Oan gia
của mình chập chùng!

Bệnh khổ
của mình quá nặng!

Mình cũng không đủ sức bình tĩnh để niệm
theo với người hộ niệm. Như vậy mình có cái Duyên được hộ niệm, nhưng cái Nhân
niệm Phật mình không tạo, mình cũng không được vãng sanh.

Cho nên mấy ngày qua chúng ta hô hào
chuyện lập nguyện niệm Phật bằng hình thứclập công cứ, thực ra là để nhắc
nhở chúng ta cố gắng tăng thêm thời giờ niệm Phật, để cho quen tạo được cái
Nhân, để sau này dễ kết hợp với cái Duyên mà thành ra cái Quả vãng sanh về Tây
Phương
.

Nhiều người sợ về lập công cứ niệm Phật.
Ví dụ như hồi trưa, chị Tư có nói:

Tôi hôm nay niệm mười ngàn, ngày mai
tôi niệm xuống còn có năm ngàn, như vậy tôi bị lỗi sao?

Ở đây ai bắt lỗi mình? Mình phát tâm được
thì ai cũng thương, Phật cũng thương, Bồ-Tát cũng thương, chúng sanh cũng
thương… Làm gì mà bắt lỗi?

Sở dĩ mình niệm Phật cần đến công cứ, là
vì khi cầm cái công cứ lên thì ta phải niệm. Thay vì nghĩ tới cuộc cờ tướng,
thì bây giờ nên ở nhà niệm Phật, niệm được câu A-Di-Đà Phật nào hay câu đó.
Ngày nay mình niệm được mười ngàn, ngày mai chỉ còn hai ngàn… À! Tại sao hôm
nay mình lại giải đãi như vậy?… Thôi! Phải tăng lên! Đó là sự tự nguyện của
mình, tự mình trói mình trong câu A-Di-Đà Phật, để cho cái Nhân của mình được
tròn đầy. Chứ có ai bắt tội mình? Có người nghĩ, nếu ngày mai niệm ít hơn hôm
nay, thì bị phạt? Bao giờ lại có chuyện đó. Chẳng qua là sự khuyến tấn.

Muốn Lập Hạnh chúng ta phải phát tâm, phải
đi liền. Hễ đi được, cái bước khởi đầu thì phải chậm, nhưng mà đi được rồi thì
tự nhiên nó có cái trớn để tiếp tục mình đi nhanh lên. Còn mình ngập ngừng, e
ngại… thì mình cứ giậm chân tại chỗ hoài, không bao giờ đi được.

Lập Hạnh! Hạnh này chính là một trong ba chữ
Tín-Hạnh- Nguyện.

Hổm nay mình nói Hạnh”
nhiều rồi, thì hôm nay mình nói qua chữ Tín một chút.
Chữ Tín nó khởi
đầu cho tất cả. Ví dụ như việc lập hạnh niệm Phật mà mình sợ lên sợ xuống… Đây
cũng do Tín Tâm của mình yếu quá! Mình tin rằng hôm nay nhận công cứ
về mình niệm được mười ngàn một ngày, mai mình niệm xuống còn chỉ có năm ngàn,
vậy là mình bị lỗi, bị tội. Tin vậy là sai! Tại vì, ví dụ như là người kia
không có lập công cứ chẳng lẽ người ta khỏi bị tội sao? Đúng không? Mình lập
công
cứ thì mình hơn những người không công cứ chứ? Dù mình niệm chỉ có hai
ngàn đi nữa, thì cũng hơn những người không niệm chứ, cớ gì lại có tội? Đây
chẳng qua là cái nấc thang để mình đi thôi. Như vậy thìcông đức chứ không
bao giờ là có tội được. Ít hay nhiều. Như vậy thấy người ta niệm nhiều thì mình
cũng ráng mình niệm nhiều lên. Để cho cái nhân của mình nó ngon hơn người không
niệm. Đúng không? Chứ có mắc mớ gì đâu…

Không nên vì một niềm tin sai lệch mà
không dám nhận công cứ. Thực ra nó chỉ là cái tờ giấy mình in ra, mình copy ra
chứ có gì khác đâu? Nó có lực gì đâu?

Đã tin A-Di-Đà Phật thì tin cho mạnh, tin
cho vững. Thường thường những người tin vững rồi, thì người ta không còn chao
đảo
nữa. Ví dụ như khi mình nghe Hòa Thượng Tịnh-Không giảng, quý vị để ý coi,
Ngài giảng kinh nào Ngài cũng nói cái kinh này là “Number One” hết.
Giảng kinh Địa-Tạng, Ngài nói kinh Địa-Tạng là kinh số một, là một kinh nhất
định
chúng ta không thể nào bỏ qua được. Ngài giảng tới kinh Hoa-Nghiêm, Ngài
nói kinh này cũng là kinh số một luôn, đây là chánh mạch của Phật. Rồi giảng
kinh
Vô-Lượng-Thọ, Ngài nói kinh Vô-Lượng-Thọ là quan trọng nhất. Rồi giảng tới
kinh Thập-Thiện-Nghiệp-Đạo, Thập-Thiện-Nghiệp-Đạo cũng là số một luôn…
Quý vị để ý coi. Có nhiều người nghe nói kinh này là kinh số một, nên quyết tâm
tụng cho được kinh này. Vô tình Ngài giảng kinh Vô-Lượng-Thọ thì mình cũng tìm
kinh Vô-Lượng-Thọ tụng. Ngài giảng kinh Địa-Tạng, thì mình cũng tìm kinh
Địa-Tạng tụng. Giảng tới kinh Hoa-Nghiêm, mình cũng tìm kinh Hoa-Nghiêm
tụng. Rồi giảng tới kinh Thập-Thiện-Nghiệp-Đạo, mình cũng tìm kinh
Thập-Thiện-Nghiệp-Đạo tụng… Vô tình mình đi tới chỗ tạp tu rồi!…

Chính vì vậy, khi nghe pháp không kỹ,
thường hay bị vướng lắm! Vì sao vậy? Xin thưa thật, là tất cả kinh Phật đều do
đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật từ trong chơn tâm Ngài nói ra. Mà từ trong chơn
tâm
của Ngài nói ra thì kinh nào, pháp nào cũng là vi diệu cả. Nhưng chúng ta
quên ở chỗ đối trị của nó. Nói cho rõ ra là như vậy, chứ không có gì khác.

Giống như lên một ngọn núi, cái đỉnh là
nơi mình muốn tới… 

Người ở
phía nam thì Ngài giảng kinh ở phía nam, thì cái kinh ở phía nam là nhất cho
người ở phía nam rồi… Bảo đảm không có cách nào khác hơn.

– Một người ở phía đông, Ngài giảng kinh
đông, thì kinh đông, con đường đông là đúng nhất cho người ở phía đông rồi.

Đơn giản như vậy. “Đồng quy” là đi
về một chỗ, “Thù đồ” là đường đi khác nhau. Kinh nào cũng nhất, đường
nào cũng nhất. Mình đang ở phía bắc, Ngài giảng kinh phía bắc thì kinh phía bắc
là nhất của mình. Nghe Ngài giảng kinh phía nam, mình thấy đường phía nam là
nhất, vội chạy qua phía nam. Qua phía nam chưa đi được đường phía nam, thì lại
nghe cái đường phía đông là nhất, thế là chạy qua đường phía đông… Vô tình ta
cứ chạy vòng vòng. Chạy vòng vòng, vòng vòng thì không bao giờ lên được tới
đỉnh núi!

Hòa Thượng nói: Nhất kinh thông,
nhất thiết kinh thông
.
Đây là câu mình nên nghe cho kỹ. Là một bộ kinhthông suốt thì tất cả các
kinh đều sẽ thông suốt cả. Nghĩa là sao? Nếu mình đang ở phía bắc cứ theo con
đường
bắc mà đi, nhất định đi cho được, đi cho nhanh. Đi một đường gọi là Chuyên Tu. Đi một đường sẽ
tới đỉnh. Tới đỉnh rồi thì tất cả các kinh, tất cả các đường, ở từ trên ta nhìn
xuống đều thấy chúng chạy về tới đỉnh đó hết. Vậy thì, đâu có gì mà khác?

Cho nên chúng ta đừng nên nghĩ rằng kinh
nào cũng là kinh Phật, thì mình phải đọc hết. Không cần. Làm sao mình đọc cho
hết đây? Cuộc đời này sống bao nhiêu năm? Đã bảy, tám chục tuổi rồi! Hãy đọc
đi… Hai bộ kinh nữa là nhiều! Ba bộ kinh nữa là nhiều! Đọc đi. Không bao giờ
được nhập tâm đâu à! Không bao giờ được thanh tịnh đâu à!… Nhưng mà:

Thời gian
đã hết rồi!

Huệ mạng
đã cạn rồi!

Thọ
mạng
đã mãn rồi!…

Không còn cách nào tìm ra một đường để
thành tựu hết!…

Cho nên, biết được chỗ này chúng ta phải
định cái tâm lại:

Một kinh A-Di-Đà niệm tới cùng,

Một câu
A-Di-Đà Phật niệm tới cùng

Để nhất định trong thời gian năm năm, ba
năm… khi mình chết, thời gian này đủ sức cho mình đi về Tây Phương. Hễ lên
tới đỉnh rồi thì từ trên đó nhìn xuống… À! Đường này cũng đi về đây. À! Đường
kia cũng đi về đây… Nhất định như vậy.

Hòa Thượng nói, những người niềm tin yếu
quá thì hãy cố gắng đọc kinh cho nhiều, nghe giảng ký cho nhiều để tăng trưởng
niềm tin. Có người mới nghe như vậy, lại cố gắng nghe pháp. Nghe hoài, nghe
hoài… bỏ mất rất nhiều thời giờ niệm Phật. Đây cũng là điều nghĩ sai nữa rồi!
Ngài nói những người mà niềm tin yếu thì nghe pháp cho nhiều để mà hiểu, hiểu
để mà tin. Còn ta đã quyết lòng tin tưởng, ngày nào cũng nói về niềm tin, nhắc
nhở Tín-Hạnh-Nguyện, Tín-Hạnh-Nguyện,
nói mãi cho đến dẻo miệng luôn, để chúng ta khởi một niềm tin
vững vàng. Khi khởi niềm tin vững vàng rồi, thì Ngài nói sao? Những người
nào mà niềm tin vững vàng rồi thì khỏi cần nghe kinh nữa. Một câu A-Đi-Đà Phật
đi tới cùng
.

Có những bà già không biết đọc kinh, không
biết chữ nghĩa nào hết trơn, chỉ niệm một câu A-Di-Đà Phật mà đứng vãng sanh,
ngồi vãng sanh. Rõ ràng! 

Có người nghe lời pháp của Ngài, mà nghe
không kỹ! Chính vì vậy, hễ mà bệnh xuống là sợ. Sợ gì? Nghiệp của con nặng quá!
Sợ lăn vào trong tam ác đạo! Cho nên khi nghe Hòa Thượng giảng tụng kinh
Địa-Tạng thì khỏi vào tam ác đạo… Thế là lo trì tụng kinh Địa-Tạng…

Đâu có biết rằng, khỏi vào tam ác đạo
nghĩa là, nhiều lắm thì trở lại làm người. Trở lại cõi thiện trong tam giới,
chứ có qua khỏi tam giới đâu? Trong khi một câu A-Di-Đà Phật là lên tới đỉnh
thượng luôn. Ngài nói, khi chúng ta tu hành mà gặp được câu A-Di-Đà Phật, trì
được câu A-Di-Đà Phật là lên tới đỉnh thượng rồi, tại sao lại có người cứ muốn
leo xuống dưới này để tìm cách khác mà đi? Thành ra sẽ không bao giờ thành đạt!

Chính vì vậyniềm tin chúng ta cần phải
vững vàng. Tôi hướng dẫn cho ông Già tôi chỉ một câu A-Di-Đà Phật. Ông tu từ
một đạo khác chuyển qua niệm Phật. Khi niệm Phật rồi thì ông biết kinh nào để
mà tụng. Chỉ niệm một kinh A-Di-Đà, mà niệm cũng đâu có thuộc. Sau cùng rồi
cũng chỉ còn bốn chữ “A-Di-Đà Phật” Ông ta niệm tới cùng để vãng sanh.

Nếu lúc đó tôi nói:

Cha
ơi! Hãy tụng kinh Vô-Lượng-Thọ đi. Cha ơi! Hãy tụng kinh Địa-Tạng đi. Cha ơi!
Hãy tụng kinh Quán-Vô-Lượng-Thọ đi

Thì làm sao còn giờ đâu nữa để ông niệm
Phật
vãng sanh? Bây giờ bà Già tôi cũng vậy. Má ơi! Một câu A-Di-Đà Phật…
Già
cứ vậy mà đi. Mỗi sáng bà Già lên trước chánh điện ngồi, ngồi khom khom như
vầy
, bà khấn nguyện…

Con xưa vốn tạo bao ác nghiệp.

Đều do vô thỉ tham sân si.

Từ thân miệng ý phát sinh ra.

.. Con xin sám hối?…

Cái câu thứ tư Bà quên mất!… Bà nói, “Con
xin sám hối, xin Phật cho con về
Tây Phương”. Nói y hệt như
vậy rồi, thì niệm “A-Di-Đà Phật… A-Di-Đà Phật”. Tôi
không dám lên chánh điện, vì khi bà Già thấy tôi tới thì Bà đứng lên. Bà ngại,
Bà né ra… nên tôi không dám lên. Tôi nằm dưới này, tôi để cho bà Già an tịnh
công phu như vậy. Bà cứ: “Con xưa
vốn tạo bao ác nghiệp. Đều do vô
thỉ
tham sân si. Từ thân miệng ý phát sinh ra. Con xin sám hối
…”.

Câu thứ tư là, “Con xin sám hối, Nam Mô
A-Di-Đà
Phật cho con về Tây Phương”, rồi Bà niệm A-Di-Đà Phật. Bà cứ thế mà đi, đủ rồi! Nhất định
không còn gì nữa cả, hi vọng bà Cụ sẽ vãng sanh. Chứ bây giờ còn ép: Má ơi!
Tụng kinh Địa-Tạng đi để giải cái nghiệp tam đồ ra, để khỏi xuống dưới tam ác
đạo
… Thì cuối cùng Bà lo tụng kinh Địa-Tạng. Nhưng làm sao tụng cho vô? Một
bà Già tám mươi mấy tuổi rồi, làm sao mà tụng cho vô? Nếu mà giới thiệu kinh
này hay quá, kinh kia hay quá, thì ông Già làm sao tụng cho vô?

Chính vì vậy, càng nói chúng ta càng củng
cố
Niềm Tin vững vàng. Hòa Thượng nói, nếu người nào niềm tin
đã vững vàng thì được… Xin hỏi:

Vững
chưa?…

Vững!

Thì
sao?

Thì
một câu A-Di-Đà Phật được vãng sanh.

Mình tin chắc chắn mình được vãng sanh.
Ngài nói, chỉ một câu A-Di-Đà Phật đi tới cùng

Còn nghe pháp? Thì nghe pháp có giờ. Giờ
nào nghe pháp thì nghe pháp. Hết nghe pháp rồi thì phải niệm câu A-Di-Đà Phật.
Để trước giờ phút lâm chung ta niệm được câu A-Di-Đà Phật. Không được trước giờ
phút lâm chung ta đọc một bài kinh. Nhớ cho kỹ, vì đây là lời
Phật dạy
. “Mười
niệm tất sanh
” chính là mười câu A-Di-Đà Phật.

Hôm nay chúng ta chuyển qua Niềm
Tin
.
Xin chư vị càng ngày càng Tin vững vàng, để chúng ta đều được
vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 24)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Tín-Nguyện-Hạnh là ba tư lương của người niệm Phật vãng sanh. Pháp hộ niệm
nói lên nói xuống cũng quy tụ vào ba điểm này.

Ngày hôm qua chúng ta nói về chữ Tín”.
Chữ “Tín này được thể
hiện
ở những người niệm Phật. Ví dụ khi bệnh người ta an nhiên niệm Phật thì
người đó có “Tín”. Lúc trở
ngại gì cũng an nhiên tự tại để niệm Phật thì đó là “Tín”. Con đường
tu hành chuyên nhất không còn lao chao phân đo giữa pháp này pháp nọ nữa, như
vậy là “Tín Lực của họ mạnh vô cùng, họ đã định rồi. Nhờ lòng tin này mà
phát khởi thiện căn. Những người thiện căn cao thì tín tâm càng cao. Những
người thiện căn yếu thì thường hay phân vân, do dự. Cho nên “Tín Tâm liên quan
mật thiết với “Thiện
Căn
”.

Thiện Căn
gì? Nói cho đơn giản, khỏi cần triết lý làm chi, là những người hiền lành.
Trong quá khứ người ta có cúng dường chư Phật, có tu hành, đó là những người
hiền lành. Trên cõi Tây Phương toàn là chư Thượng-Thiện-Nhân hết. Chính vì vậy,
khi xét thấy rằng niềm tin của mình còn yếu, thì biết là thiện căn trong nhiều
đời kiếp mình tu yếu. Như vậy thì bây giờ làm sao? Hãy hạ quyết tâm tin tưởng
vào câu A-Di-Đà Phật. Khi bắt đầu tin tưởng vào câu A-Di-Đà Phật, mình vùng
lên, mình nguyện tha thiết, mình lập công cứ vững vàng. Thì cái niềm tin này nó
làm tăng thiện căn lên, rồi nhờ cái thiện căn đó nó mới giúp cho niềm tin của
mình vững vàng. Hai cái nó giống như nấc thang, cái này hỗ trợ cho cái kia, cái
kia hỗ trợ cái nọ…

Khi tâm mình chao đảo, phân vân, lo lắng điều gì đó, không nghĩ rằng
pháp niệm Phật này vi diệu như vậy, thì chứng tỏ niềm tin của mình yếu! Bây giờ
đừng nên phân đo nữa. Phật nói như vậy thì mình cứ quyết lòng tin đi, hạ quyết
tâm
niệm Phật thì tự nhiên thiện căn của mình từ đó mà tăng trưởng lên.

Hôm nay chúng ta nói qua cái Nguyện
một chút. Hễ người mà có tín tâm mạnh thì sự phát nguyện sẽ tha thiết. Người
không có tín tâm mạnh thì phát nguyện không tha thiết. Như vậy, sự phát nguyện
không tha thiết nó bắt nguồn từ niềm tin yếu. Bây giờ, nếu mình đã thấy một bà
Cụ kia niệm Phật được vãng sanh, cái hình tượng đó động viên cho mình tin, dù
mình không hiểu lý do tại sao? Mình thấy bà Cụ đó không biết chữ nghĩa gì,
không biết kinh điển gì, nhưng Cụ cứ thành tâm chắp tay “Nam Mô A-Di-Đà Phật
cho con được vãng sanh Tây Phương”. Chính Bà cũng không biết Tây Phương là chỗ
nào cả, chỉ nghe Phật nói vậy thì tha thiết vô cùng, ngày đêm niệm, ngày đêm
nguyện, thế mà bà đó vãng sanh! Chính chỗ này đáng làm cho mình phải giựt mình,
tỉnh ngộ. À! Nhất định phải có một điều gì nhiệm mầu trong này? Phát khởi niềm
tin
lên.

Đối với người căn cơ hạ liệt như chúng ta thì nên nhớ điều này:

“Nguyện” là tha thiết nguyện
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải là nguyện hết bịnh.

“Nguyện” là tha thiết nguyện
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải là nguyện cho con giải quyết xong
hết tất cả nợ đời rồi con mới tu.

“Nguyện” là quyết lòng nguyện
vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chứ đừng có nguyện tôi làm cho xong công
chuyện
gia đình, tôi giúp vợ, giúp chồng, giúp con, giúp cái, giúp dâu, giúp
rể… cho xong, rồi tôi mới an tâm niệm Phật.

“Nguyện” là nguyện vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải: “Nam Mô A-Di-Đà Phật, cho con thân thể
tráng kiện, khai mở trí huệ để con niệm Phật”
.

Quý vị phải nhớ cho thiệt kỹ điểm này. Diệu Âm nhắc đi nhắc lại
không biết bao nhiêu lần. Có nhiều người tu cũng rất lâu nhưng sau cùng lại có
những lời nguyện sai lầm! Mình là hàng phàm phu tục tử thì bệnh khổ, nghiệp
chướng
, nợ đời… nó cứ đeo mình, nó đeo cho đến khi mình tắt hơi rồi nó vẫn
còn đeo, đến nỗi mình phải mở mắt ra để cố làm cái gì đó(?) chứ nhắm mắt không
được đâu!

Đừng bao giờ nghĩ rằng:

Tôi làm cho xong cái nợ đời rồi tôi mới tu.

Không bao giờ có đâu. Không bao giờ:

À! tôi phải lo cho đứa con gái, tôi phải lo cho đứa con
trai, tôi lo cho đứa cháu nội, tôi lo cho đứa cháu ngoại… Nếu tôi không lo
thì
không còn ai lo!…

Không phải đâu! Dép dưới giường lên
giường vội biệt. Sống ngày nay há biết ngày mai?
. Không bao giờ có chuyện như vậy đâu!

Đừng bao giờ để cho những đứa cháu, đừng bao giờ để cho những đứa
con, đừng bao giờ để cho những người thân nhân của mình chịu tội. Vì chính họ
nguyên nhân làm mình đọa lạc.

Hôm trước mình đã nói chuyện này. Nếu biết thương con cháu thì
phải biết lo tu hành. Để chi? Để làm sao khi nó chết mình là người thuộc chư
Thượng-Thiện-Nhân trên cõi Tây Phương xuống đây cứu nó. Đây là người biết điều.
Chứ còn không, thì cha dắt con xuống địa ngục, rồi con dắt cháu xuống địa
ngục
… Trên cũng địa ngục, dưới cũng địa ngục. Cùng nhau đi vào con đường đó,
nhất định không ai cứu ai được cả! Hiểu đạo là hiểu thấu chỗ này.

Mình là người phàm phu tục tử thì:

“Nguyện”
là nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải nguyện cho con được
“Nhất tâm bất loạn”
.

“Nguyện”
là nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải nguyện cho con niệm
Phật
cho đến “Vô Niệm”
.

“Nguyện”
là con được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, sớm ngày nào con mừng ngày đó, chứ
không phải nguyện cho con niệm Phật cho được “An khang”
.

“Nguyện”
là nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Nam Mô A-Di-Đà Phật, con quyết lòng
đi về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải nguyện cho con niệm Phật được chứng
đắc
, “Niệm Phật Tam Muội”
.

Vì nên nhớ, “Niệm Phật Tam Muội”, “Nhất
Tâm Bất Loạn”… đều là trong kinh phật nói, nhưng mà Ngài dành cho những người
thượng thiện căn, đại thượng thiện căn, là những vị đại Bồ-Tát. Các Ngài đó
muốn nguyện sao cũng được. Còn đối với mình thì Phật dạy, phàm phu tục tử
phải nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Còn chuyện “Nhất tâm bất loạn” ra
sao, kệ nó! Chuyện “Niệm bất niệm” ra sao, kệ nó! Đừng để trong tâm. 

Chư Tổ nói, niệm Phật không cầu nhất tâm
bất loạn
thì mới có thể nhất tâm bất loạn. Người cầu nhất tâm bất loạn, thì
nhất định vọng tâm nó sẽ nổi lên, không bao giờ nhất tâm bất loạn được!

– “Nguyện” là nguyện vãng sanh
về Tây Phương Cực Lạc, chứ không phải nguyện cho con hết vọng tưởng để con niệm
Phật
được nhất tâm, để vọng tưởng đừng xảy ra
.

Vọng tưởng nó đến sao đến kệ nó, mình niệm
cứ niệm, chứ không phải khi vọng tưởng nổi lên thì đối trước bàn Phật: “Nam
A-Di-Đà Phật, xin cho con hết vọng tưởng
”.

Như vậy, Diệu Âm đã nhắc lên nhắc xuống
không biết bao nhiêu lần câu: Nguyện vãng
sanh
về Tây Phương Cực Lạc
”. Tất cả
mọi vấn đề khác xin buông hết.

Vọng tưởng đến? Vọng tưởng càng đến càng
biết rằng mình là hạng phàm phu tục tử. Đã biết rằng mình là phàm phu tục tử
thì bắt buộc phải có vọng tưởng. Có vọng tưởng rồi thì nhất định hãy nhờ cái
vọng tưởng này mà nhắc nhở để làm tăng thượng duyên cho mình niệm Phật. Còn
những người cứ cố gắng đối trị với vọng tưởng, tức là cứ làm sao diệt cho hết
vọng tưởng, thì vô tình càng niệm Phật càng bị nhức đầu!…

Cho nên ngài Hạ-Liên-Cư mới nói: Niệm Phật không cầu hết vọng tưởng. Niệm
Phật
không cầu cho nhất tâm bất loạn. Niệm Phật chỉ để cầu vãng sanh về Tây
Phương Cực Lạc
. Vì mình biết mình là hàng phàm phu tục tử, cho nên càng
niệm càng loạn. Càng loạn thì càng biết mìnhphàm phu. Biết là phàm phu rồi
thì lo mà mua cái máy bấm. Cái máy bấm tức là cái máy công cứ. Bây giờ đây chùa
nào cũng có cái máy bấm hết. Bấm, bấm, bấm… Thay vì mình đếm thì nó bấm giùm
cho mình. Cứ niệm, cái tay cứ bấm, bấm, bấm, bấm… Đó là máy công cứ.

Những người nào khởi phát tâm lập công cứ,
thì bắt đầu chúng ta đi. Những người nào chưa khởi phát tâm lập công cứ thì đi
quá chậm, hoặc là ngồi một chỗ. Nhiều khi người kia niệm một ngày hai mươi lăm
ngàn, còn ta niệm mới có hai ngàn! Hai ngàn ta cũng phải niệm. Vì chỉ có hai
ngàn như vậy, ta mới bắt đầu suy nghĩ… À! Tại sao mình yếu vậy? Mình phải
tiến lên ba ngàn, tiến lên bốn ngàn… Nghĩa là cái máy của mình khởi phát
chậm, nhưng khi bắt đầu mình đi… đi… đi… Sau khi nó đã có trớn thì nó sẽ
đi được. Cho nên khi mà người có tín tâm thì tự nhiên cái nguyện của họ tha
thiết vô cùng và cái hạnh của họ được lập một cách tự nhiên. Phát được tín tâm,
người chưa lập hạnh sẽ phát tâm lập hạnh liền.

Tôi xin kể ra đây một câu chuyện, câu
chuyện
này có thật. Có nhiều người thường nói, để từ từ rồi tôi mới lập
hạnh?!… Có một ông Cụ đó 77 tuổi, đúng rồi, 77 tuổi. Cụ đã tu và ăn chay
trường ba mươi mấy năm. Cụ từng tu qua hình như là mười lăm, mười sáu chùa.
Trong vùng Sài Gòn ít có chùa nào mà cụ không đến. Tất cả những khóa thọ Bát
Quan Trai
, Cụ tham dự đầy đủ, những khóa Phật Thất cũng đều dự đầy đủ. Nhưng về
nhà, khi có những người biết được phương pháp hộ niệm, đến khuyên Cụ niệm Phật
thì Cụ không niệm. Cụ nói:

Ta tu như vậy đã tốt quá rồi, đâu
cần phải niệm sớm như vậy. Ta chưa chết mà, để từ từ sẽ tính

Cỡ chừng sáu tháng sau, có một lúc Cụ đang
đứng trước cửa nhà thì Cụ thấy có một cái bao gạo đổ ra, rồi có một đàn gà tới
ăn cái bao gạo đó. Cụ ở trong nhà chạy ra đuổi mấy con gà, thì Cụ vấp phải cái
ngạch cửa và té xuống, rồi bị chấn thương mê man bất tỉnh. Khi Cụ tỉnh lại, Cụ
mới nói tại sao gà ở đâu mà tới nhà mình nhiều dữ vậy? Nhưng thật ra hoàn toàn
không có gạo gì hết, cũng không có gà gì hết! Cụ vô nằm trong bệnh viện khoảng
một tháng gì đó… có lúc tỉnh lúc mê. Bệnh viện chịu thua mới đem về nhà, và
chính tôi là người có đi tới hộ niệm cho ông Cụ đó. Tôi không phải là người
chính thức hộ niệm. Chương trình của tôi không có ở nơi đó lâu được. Ông Cụ
man
bất tỉnh, cứ tỉnh tỉnh mê mê, tỉnh tỉnh mê mê như vậy cho đến lúc chết
không được vãng sanh.

Khi tôi tới hộ niệm cho ông Cụ, tôi hộ
niệm
cũng được hơn một tuần, tận sức để khai thị mà ông Cụ không tỉnh lại. Tôi
mới kêu gia đình ra hỏi, hỏi cặn kẽ từ đầu tới đuôi, thì mới phát hiện được ra
những chuyện này. Là trước những ngày mà ông ta mất, ông thường đứng trước cửa
nhà cầm cái tay lái xe Honda nói chuyện rầm rì rẩm rỉ, rầm rì rẩm rỉ gì đó? Sau
cùng thì ông ta thấy một đàn gà… Nhưng mà thật ra không có đàn gà đó?…

Quý vị coi, hôm trước mình nói rằng là
người hạ căn phàm phu tục tử thì oan gia trái chủ đi kèm sát bên mình. Cho nên
khi muốn phát tâm mình phải phát tâm liền, mình phải làm liền. Mình niệm năm
ngàn không được thì niệm hai ngàn. Hai ngàn không được thì lúc “Cờ tướng” hay
“Nói chuyện”… bắt đầu niệm Phật. Nếu mà có cái máy bấm, lúc mình đang đứng
giữa ba, bốn người, họ đang nói chuyện, mình không biết trốn đâu, thì hãy đút
tay trong túi, cứ để tay vô túi mà bấm bấm trong đó: “A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà
Phật”. Thật ra mình giả đò cười cười với họ, nhưng mà cái tâm của mình là chìm
trong câu A-Di-Đà Phật. Nhờ cái máy bấm đó nó giúp cho mình niệm. Đó gọi là
công cứ. Cái máy bấm đó gọi là máy công cứ chứ không có gì khác. Nhờ như vậy mà
chiều lại ta có chút công đức. Đem công đức này hồi hướng liền cho oan gia trái
chủ. Xin đừng chờ!…

Hôm trước, có vị nào đó nói rằng, để tôi
làm ăn cho ngon lành, sắp sửa chuẩn bị cho ngon lành xong rồi tôi mới niệm
Phật? Không được. Đã phát tâm thì nên phát tâm liền. Người ta phát tâm lớn thì
có khả năng lớn. Mình không có khả năng thì phát tâm nhỏ. Để chi? Để tạo công
đức
liền lập tức, để hồi hướng cho oan gia trái chủ liền đi. Tại vì nếu không,
thì họ sẽ xúi mình hãy chờ sáu tháng nữa, ba tháng nữa mới làm công cứ… Nhưng
thực ra, họ đã biết cái vận mạng của mình sẽ tới lúc nào rồi!… Quý vị ơi! Có
những cái thế nó cài lạ lùng lắm!

Cho nên, khi biết được như vậy rồi, đã tu
thì phải phát tâm tu liền đi chư vị ạ. Vì huệ mạng của mình mà tu, chứ không
phải vì một người nào khác. Không phải vì một đứa con, vì một đứa cháu, một
người vợ hay một cái đạo tràng, mà chính vì mình. Mình không biết ngày nào ra
đi. Hơi thở, thở ra không hít vào là xong liền. Chính vì vậyhộ niệm là nhắc
nhở cho chúng ta phải lo tu hành liền, để rồi khi mình nằm xuống, thì tất cả
những kiến thức này mình biết hết, biết hết thì hộ niệm dễ lắm. Chỉ ngồi bên
cạnh: À bác Sáu ơi! Niệm Phật đi nha. Ừa!… Có gì nói với tôi nghen. Ừa!…
Biết hết trơn rồi. Lúc đó tất cả mọi người ngồi chung quanh niệm “A-Di-Đà Phật,
A-Di-Đà Phật”. Ta nằm đó ta cũng niệm “A-Di-Đà Phật, A-Di-Đà Phật”.
Nhất định sẽ cảm ứng, nhất định sẽ tương ưng với đại nguyện A-Di-Đà Phật. Ta về
Tây Phương dễ dàng!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật!

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 25)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Ngày hôm nay niệm
Phật
đường chúng taTịnh khẩu, niệm Phật” trong 24
tiếng đồng hồ. Sở dĩ chúng ta tịnh khẩu niệm Phật, là để tập tâm thanh tịnh, tập cho
trong tương lai chúng ta tịnh tâm hơn. Tịnh khẩu hai ngày, 48 tiếng đồng hồ, rồi tịnh khẩu lên ba ngày để cho tâm chúng ta
định lại trong câu A-Di-Đà Phật. Để cho nghiệp chướng của
chúng ta giảm bớt, và để cuối
cùng
từ cái Niệm Phật Đường này ta đi về một cái đại Niệm Phật Đường ở trên cõi
Tây Phương của A-Di-Đà Phật.

Tất cả chư Tổ, vị nào cũng cẩn thận đến vấn đề
khẩu nghiệp. Các Ngài luôn luôn nhắc
nhở chúng ta, tu hành cần phải cố gắng tịnh khẩu lại. Khẩu mà tịnh
được thì tâm chúng ta mới tịnh được. Mà tâm tịnh được thì công phu mới thành
tựu
công đức mới có. Trong mười điều ác đức Thế-Tôn đưa ra, thì khẩu nghiệp nó chiếm gần một nửa. Mười điều thiện để
cho chúng ta làm phước làm đức, thì cái miệng của chúng ta nó chiếm gần một nửa. Cho nên khi bắt đầu quyết
định
tu hành, nhất định chúng ta phải cẩn thận về khẩu nghiệp, vì đây chính là cái cửa ngõ
nó tuôn hết công đức của chúng ta ra.

Khi mình vào một Thiền Đường, nếu đúng là một Thiền Đường thì mình thấy chư vị
luôn luôn giữ im lặng. Đi, các Ngài đi nhẹ nhàng.
Đứng, các Ngài cũng đứng
nhẹ nhàng. Ngồi, các Ngài ngồi im lặng như tờ, ngón tay không dám động đậy, đừng nói chi là mở lời
ra nói. Nếu mình vào trong một mật thất của Mật Tông, chúng ta sẽ thấy các Ngài tịnh khẩu niệm
chú, niệm mà câu chú vang ra rào rào giống như là tiếng gió thổi, không còn là tiếng
niệm nữa. Khi vào một Niệm Phật Đường, nếu thật sự là một Niệm Phật Đường, thì xin thưa với chư vị, mình thấy người niệm
Phật
khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín… đều ở trong câu A-Di-Đà Phật.

Chúng ta đừng nghĩ rằng…

– Một người đang thái rau trong nhà bếp
người ta không niệm
Phật. Không phải! Thái rau
nhưng người ta đang niệm Phật trong đó.

Trong khuôn viên Niệm Phật Đường, có người đang nhổ cỏ.
Nhổ cỏ, nhưng
người ta đang niệm Phật trong đó.

Một người đang
quét nhà.
Quét nhà, nhưng người ta đang
niệm Phật trong đó.

Nếu mà chúng ta tới bên cạnh người đó nói
chuyện, người đó sẽ không niệm Phật được. Nếu mình không để
ý
, cứ tưởng
rằng nói vài lời cho vui tươi, thoải mái, đem chuyện thế gian
ra kể một vài câu cho đỡ
buồn… vô tình chúng ta đã làm mất rất nhiều phước mà không hay. Chính vì vậy, có nhiều vị ở
trong Niệm Phật Đường thường hay nhắc
nhở với tôi rằng, hãy chú ý vấn đề nói chuyện.

Nói với chị đó đừng tới nói chuyện, trong khi tôi đang nấu
cơm.

Nói anh đó đừng tới nói
chuyện
, trong khi
tôi đang nhổ cỏ.

Nói người đó đừng nói chuyện, trong khi tôi đang
niệm Phật
.

Thật sự có người nhắc đến, nhưng chưa có dịp để nói ra chuyện này. Hôm nay nhân
buổi tịnh khẩu niệm Phật, xin đại diện cho Niệm Phật Đường chúng tôi xin nói ra vấn đề này.
Thường thường các vị đồng tu vì vị nể, không dám nói. Người ta muốn thanh tịnh niệm Phật, mình lại tới
nói chuyện, chẳng lẽ người ta bảo mình đừng nói chuyện được sao? Thật sự là người ta đang niệm
Phật
, mình lại tới
cản trở sự niệm Phật của họ, mình bị mất nhiều công đức.

Trong thế gian cũng có câu: Bệnh từ miệng
nhập, tội từ miệng xuất
. Nhất là trong
một Niệm
Phật Đường trang nghiêm,
xin chư vị cố gắng tế nhị về chuyện này, tìm cách giảm bớt được
chuyện nào hay chuyện đó. Chư Tổ nói: Bớt đi một câu
chuyện
, niệm thêm câu Phật hiệu. Đánh chết
tập khí
y,cho chân tâm hiển lộ. Tất cả ở một đạo tràng trang nghiêm nào, một vị Sư nào, một vị Tổ nào cũng đều nhắc nhở chúng ta về
chuyện tịnh khẩu. Chúng ta
vâng lời, “Y
Giáo Phụng
Hành” lời dạy của các Ngài. Chính chúng ta
cũng hiểu được rằng, cái miệng của mình nó phá quá nhiều công đức!…

Cho nên chúng ta tập hành theo các Ngài mà lập ra một
ngày 24 tiếng đồng hồ tịnh khẩu. Khi tịnh khẩu, giả như lúc đó trong
Niệm Phật Đường không có một ai, chúng ta cũng không nên mở lời
lên nói, mà hãy nhiếp tâm vào câu
A-Di-Đà Phật. Quý vị nên
biết rằng, khi đã sinh ra
trong thời mạt pháp này, cái nghiệp của chúng ta
lớn lắm! Vì mình không
để ý đó thôi, chứ để ý một chút là thấy liền. Thấy ở chỗ nào?

Vào trong
bệnh viện,
sẽ thấy liền!

Đi ra ngoài nghĩa địa, sẽ thấy liền!

Đi vào trong các nhà quàn, sẽ thấy liền!

Thấy những gì? Hằng ngày, hằng giờ người ta chết đi vào con đường đoạ
lạc! Chắc chắn như vậy! Khi biết được như vậy rồi, thì rõ ràng ta cần phải tịnh khẩu
tu hành. Ráng cố
gắng
giảm bớt được câu chuyện nào cứ giảm, để dành thời gian
niệm
Phật
. Thấy một người đang cắm hoa, người ta cắm hoa nhưng
mà họ đang âm thầm niệm Phật trong đó, mình không nên tới đứng bên cạnh nói
chuyện. Nếu mình
nói chuyện thì người ta không niệm Phật được. Người ta không niệm Phật được thì họ không
tạo công đức được!
Còn mình nói chuyện thì phá mất công phu của người ta. Phá công
phu
của người ta thì mình mất công đức. Mất công đức thì nhiều nghiệp
chướng
sẽ đến với mình. Chính vì vậy, người nói chuyện nhiều thường tu
không được.

Vì vậy, ở tất cả những đạo tràng trang
nghiêm
đều nhắc nhở chuyện này. Mỗi lần chúng ta nhắc một chút, mỗi lần chúng ta nhắc
một chút. Vì thực sự, chư vị ơi! Đọa lạc quá dễ dàng! Mà
giải thoát thì quá khó khăn! Đã quá khó khăn giải thoátchúng ta còn tự dễ dàng cho mình nữa, thì không còn
cách nào để mong thành tựu được.

Như hôm qua chúng ta có nói chuyện về vấn đề công cứ. Có những người lập hạnh niệm hai mươi lăm ngàn câu Phật
hiệu
, thì công phu
cao. Có những người
lập hai mươi lăm ngàn không được thì lập mười ngàn. Lập mười ngàn không được
thì lập
năm ngàn. Lập năm ngàn không được
thì lập hai ngàn… Công phu
khác nhau, nhưng có lập công cứ còn hơn không có công cứ. Đừng sợ rằng, hôm qua ta được niệm mười ngàn, nhưng hôm nay niệm chỉ được sáu ngàn, như vậy ta sẽ bị
tội! Không! Không có gì là tội cả. Có sáu ngàn câu A-Di-Đà Phật thì
chúng ta có sáu điểm. Có mười
ngàn thì có mười điểm. Có bữa vì bận chuyện gì
quá chỉ niệm được hai
ngàn, thì hai ngàn chúng ta có hai điểm. Hai
điểm còn hơn những người không có điểm nào.

Như vậy rõ ràng
chúng ta tự nguyện trói mình với câu A-Di-Đà Phật. Để chi? Để cho bánh “Xe Nghiệp” của chúng ta lăn, phải cho cái nghiệp của chúng
ta
lăn, lăn đến chỗ giải
thoát
. Nếu “Xe Nghiệp” này đã nặng quá, mà còn trì trệ lại đây,
không
chịu tiến về con đường giải thoát, thì nhất định đời đời kiếp kiếp chúng ta sẽ chịu
nạn!…

Đời này đã mạt pháp rồi, nếu luống qua một đời này, tức là cuộc
đời
tu hành này chúng ta không giải thoát được, nghĩa là không vãng sanh về Tây Phương
được, thì xin thưa, chắc chắn rằng vạn kiếp sau, gọi là “Bá thiên vạn kiếp”, không cách
nào mà có thể gặp lại câu A-Di-Đà Phật.

Vì sao vậy?…

Tại vì đời mạt pháp, thì một đời phải xấu hơn một đời!

Tại vì đời mạt pháp, thì một kiếp
phải
xấu
hơn
một kiếp!

Tại vì đời mạt pháp, thì những đời
sau
của chúng ta
nhất định sẽ khổ hơn đời này! Nghiệp chướng của chúng ta
trong đời sau nhất định phải lớn hơn trong đời này
.

Thế nên, đời này mà giải thoát không được,
đừng bao giờ hy vọng tới đời sau.

Cho nên chúng ta tịnh khẩu
niệm Phật là vì thương cái huệ mạng của chúng ta mà tịnh khẩu, chứ không phải vì cái giới luật của đạo
tràng
này ban ra ép buộc chúng ta phải tịnh khẩu. Hiểu được như
vậy rồi thì một ngày tinh tấn niệm Phật, thật sự mình thấy vui vô cùng. Những người nào thật sự là người chân tu, chân chánh tu
hành
, thì họ sẽ rất trân quý
những cơ hội này để niệm Phật. Còn nếu chỉ là người muốn tu
thử, tu chơi chơi, tu giỡn giỡn… thì những ngày giờ này sẽ chán ngán lắm, khổ sở lắm! Và có thể
rằng, một ngày nào đó họ sẽ thối lui! Mà một khi đã thối lui, chắc chắn phải thối luôn vào những
cảnh đọa lạc, không
bao giờ có thể ngoi lên được! Vì
sao vậy? Ức ức người tu
hành
, làm sao tìm cho ra một người giải thoát, trong đời mạt pháp này…

Ấy thế mà đức Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật dạy, quý vị cứ niệm Phật
đi, quý vị hãy nương theo pháp niệm Phật đi, nhất định quý vị sẽ
thoát vòng sanh tử luân hồi. Tại sao? Tại vì đại thệ của A-Di-Đà Phật sẵn sàng đón
tiếp chúng ta về Tây Phương Cực Lạc để thành đạo. Các Ngài không đòi hỏi chúng ta điều gì cao
siêu, chỉ đòi hỏi chúng ta Thanh Tịnh, Chân Thành, Buông X thế gian ra.
Nói thêm một câu chuyện, mất đi bao nhiêu phước đức. Niệm một câu A-Di-Đà Phật thêm biết bao
nhiêu công đức. Phải đánh chết cái tập khí thế gian, quyết lòng không nói lỗi người
khác, quyết lòng không nói chuyện đời, quyết lòng không nói người này xấu, người kia tốt. Để chúng ta đánh cho chết cái tập khí này đi. Vì không đánh chết tập
khí
này, thì A-Di-Đà Phật cứu ta không
được.

Xin thưa với chư vị, ráng cố gắng, quyết lòng tới đây niệm Phật, tịnh
khẩu. Rõ ràng đây là cơ hội cho
chúng ta tiếp nhận quang minh của A-Di-Đà Phật. Giữ tâm ta trong câu A-Di-Đà Phật, nhất định trong một đời này, chúng ta về thẳng Tây Phương Cực Lạc để thành đạo!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 26)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Tịnh Khẩu Niệm Phật”.
Tịnh: là tập cho trong tâm chúng ta thanh tịnh. Ba nghiệp Thân Khẩu
Ý
thanh tịnh. Bên ngoài tịnh nghĩa là buông xả ra, tịnh khẩu để cho chúng ta
thanh tịnh. Bên trong và bên ngoài những gì không cần thiết, thì tập buông ra.
phàm phu tục tử tội chướng thâm trọng như chúng ta, con đường đọa lạc quá dễ
dàng, nếu sơ ý một chút rơi vào trong tam ác đạo liền. Trong khi đó thì đối với
con đường giải thoát chúng ta phải cẩn thận từng chút, từng chút, nếu không thì
không kịp trở tay!…

Diệu Âm xin kể ra một câu chuyện có thực
để chư vị nghiệm thử coi. Câu chuyện này hoàn toàn có thực, ở đời này chớ không
phải là chuyện đời xưa. Vào cỡ tháng 6 năm 2004, có một bà Cụ ở Việt Nam, bà Cụ
này bảy mươi mấy tuổi, là mẹ của một người bạn. Bà Cụ này bị bán thân bất toại
nằm trên giường không đi được nữa đã sáu tháng qua rồi, tức là nằm để chờ chết.
Người bạn tới hỏi tôi, bây giờ phải làm sao để cứu người Mẹ? Tôi mới nói là hãy
về khuyên người Mẹ buông hết đi, thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh, còn mình
thì tìm cách tổ chức hộ niệm. Nhắc nhở bà Cụ niệm Phật, gọi là hộ niệm. Người
bạn này về Việt Nam khuyên bà mẹ niệm Phật, thì bà Cụ nói rằng:

Con
cứ thử nghĩ đi, thằng em trai út của con chưa có vợ, chưa có việc làm, làm sao
mà mẹ đành lòng tu hành đây?

Người bạn đó khuyên hoài mà người mẹ nhứt
định không chịu nghe theo. Bà cứ nói:

Bây
giờ nỡ nào mà Mẹ niệm Phật cho được trong khi người em của con còn khổ như vậy!

Thời gian khuyên qua khuyên lại như vậy bà
mẹ cũng vẫn không niệm Phật. Khoảng bốn, năm tháng sau gì đó thì bà Cụ chết.
Chết rồi, sau khi mai táng xong thì cái tấm hình của bà Cụ để thờ trên bàn tự
nhiên
rơi ra nước mắt. Tôi hỏi, nước mắt rơi ra từ khóe nào? Người bạn nói là
rơi từ khóe ngoài. Tự nhiên cái khóe mắt trong tấm hình tự nó rơi nước ra lăn
xuống má đọng lại một giọt nước. Ban đầu người ta tưởng là có người vô ý làm
rơi nước. Nhưng không phải, tấm hình đó để trong khuôn kiếng, và nước vẫn cứ
rịn ra liên tục ba ngày như vậy, chặm không khô. Chặm cái giọt nước này rồi lại
rỉ ra giọt nước khác rồi lăn xuống má.

Người bạn đó cũng cầu siêu, làm nhiều việc
lắm… Sau đó có một cái chuyện lạ lùng khác xảy ra. Khoảng chừng mấy tuần sau
thì linh hồn của người mẹ đó ứng mộng về báo cho người con trai rằng, sáng mai
hãy đến tại địa điểm đó để nhận việc làm, mẹ đã xin được việc cho con ở đó rồi.
Người con đó thấy như vậy mới nói lại với người nhà, thì người nhà bàn rằng,
chắc là mẹ hiển linh xin được việc làm thật đó, nên cứ theo lời mẹ đi. Người em
trai mặc áo quần chỉnh tề, sáng ngày hôm sau tới tại địa điểm đó… Đúng như
vậy, người con tới tại chỗ đó và người ta nhận cho anh làm việc.

Không biết là việc làm đó có tốt lắm
không? Nhưng có việc làm thì gia đình cũng thấy yên tâm. Nhưng sau đó lại có
thêm một hiện tượng khác xảy ra tiếp. Sau khi cúng thất 49 ngày xong rồi, thì
chiều chiều khoảng chừng 5 – 6 giờ, tức là mặt trời vừa lặn, thì bà Cụ lại hiện
thân
về trước đầu hè của gia đình đó mà khóc! Người ta thấy được, các con cái
đều thấy được bà Mẹ hiện về ngay tại đầu hè ngồi khóc. Người con của bà Cụ nghe
nói vậy mới sợ quá! Sợ mất hồn! Thực sự là sợ quá! Mới tới tìm tôi và hỏi, làm
sao để giải quyết vấn đề đây? Thực sự, là trong trường hợp đó tôi cũng không
biết cách nào giải quyết. Tôi chỉ khuyên người bạn đó hãy mau mau trở về lại
Việt Nam, lấy số tiền mà bà Cụ tích trữ được đem ra in kinh, ấn tống, in hình
Phật, phóng sanh, làm tất cả những việc thiện lành, rồi hồi hướng thẳng cho
hương linh của bà Cụ, và mỗi chiều niệm Phật xong, đứng trước bàn thờ của bà Cụ
khai thị cho bà Cụ:

Mẹ
ơi! Mẹ đã bị đọa lạc rồi! Vì tình chấp không bỏ, nên Mẹ đã bị khốn khổ rồi! Bây
giờ Mẹ trở về đây khóc than với tụi con, tụi con cũng không cứu được Mẹ. Chỉ có
Mẹ ngộ ra, quyết lòng buông xả, thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương.
Con sẽ làm tất cả những việc thiện lành để hồi hướng cho Mẹ. Mẹ phải mau mau
ngộ ra để tìm con đường giải thoát cho chính Mẹ.

Tôi khuyên đại khái như vậy. Tôi cũng
khuyên người bạn hãy đến một tự viện nào đó, xin các Sư cầu siêu cho Mẹ mình
thêm 49 ngày nữa, cứ tận sức mà làm chớ không biết cách nào hơn? Người bạn đó
đã về Việt Nam và làm đúng như vậy. Sau đó người mẹ không về khóc nữa, còn vấn
đề
giải thoát được hay không thì không dám nói. Khi trở lại Úc, người bạn đó
đã đến biếu cho tôi một chồng hình Phật như thế này, và nói với tôi rằng:

Đây
là những việc tôi đã làm được. Tôi cúng dường những hình Phật này ở Việt Nam
nhiều lắm, nay tôi đem tới đây gởi cho anh để anh đi phát cho người ta, hồi
hướng công đức
cho Mẹ tôi.

Sự việc đó có thật đã xảy ra vào khoảng
giữa năm 2004.

Mình thấy đó, đã nằm trên giường bệnh trên
nửa năm để chờ từng phút ra đi, thế mà tình chấp không buông xả được. Vì tình
chấp không buông xả, nên khi chết đi, mới lặn lội kiếm cho người con một việc
làm
. Việc làm không biết như thế nào? Đến bây giờ người con đó không biết còn
giữ được việc làm đó hay không? Không biết! Nhưng vì cái chấp này, người Mẹ đã
bị nạn rồi! Sau 49 ngày mà hiện thân về trước đầu hè cho người ta thấy và khóc,
thì chắc chắn bị khổ rồi! Địa ngục thì chắc không thể nào xuống được đâu, vì nếu
đã rơi vào trong địa ngục, thì dễ gì ra được để báo cho người thân? Nếu mà lọt
vào trong hàng bàng sanh súc vật thì cũng không về được nữa rồi, vì đã biến
thành
bốn cẳng chạy lăn quăn ở đâu đó rồi, nhưng đây không phải. Nếu mà đầu
thai
chuyển thế thành người cũng không thể nào trở lại được nữa.

Mình dùng cái phương pháp loại suy để tìm
hiểu
thì rõ ràng bà Cụ này đã rơi vào trong hàng quỷ đói. Kinh Phật chúng ta
gọi là “Ngạ Quỷ”. Quý vị thấy không? Dễ sợ không? Người con đó có được việc làm
đó, có đánh đổi được sự đọa lạc của người mẹ trong vạn kiếp ở hàng quỷ đói hay
không? Khi mà rơi vào đó rồi dù có khóc, khóc cho một vạn đời đi nữa, nước mắt
biến thành biển đi nữa, cũng không giải quyết được gì cả! Trong cảnh giới
của quỷ đói còn khổ nhiều hơn tiếng khóc đó nữa! Nó khổ đến nỗi mà khóc không
còn ra lời nữa kìa, đừng có nói là ít… Tại vì sao? Vì đói quá rồi! Không nhà
không cửa, lang thang, thường thường là tìm những cái cây để mà tấp vào đó,
nương vào cái sức nóng của cây đó mà sống. Mà thực sự phải tìm cây nào xấu
nhứt, dở nhứt, tệ nhứt chớ những cây tốt thì đã có người chiếm rồi, không dễ gì
đâu ạ! Thường khi rơi vào tình trạng đó rồi, thì phải lang thang từ chỗ này đến
chỗ nọ, không biết chỗ nào mà sống ổn định cả! Cảnh khổ như vậy đó!…

Người tu hành chúng ta hiểu được chỗ này
rồi, phải biết sợ. Sợ gì? Sợ cảnh ngạ quỷ! Sợ cảnh bàng sanh! Sợ cảnh địa ngục!
Dễ sợ lắm!…

Nếu người con mà nhìn thấy được cảnh người
mẹ đó, thì người con mới giật mình.

Trời
ơi! Tại vì con chưa có việc làm, Mẹ vì con mà Mẹ bị đọa lạc vào cảnh ngạ quỷ,
bây giờ làm sao đây?

Người con mà ngộ ra đạo lý này, thì ngày
đêm lo tu hành, ngày đêm lo niệm Phật, để đem tất cả công đức hồi hướng cho Mẹ,
cầu cho Mẹ vượt qua ách nạn. Nhưng xin hỏi, chắc gì người con ngộ được chuyện
này?! Thấy thế, rõ ràng người con đã gián tiếp gây tội cho người Mẹ. Người Mẹ
vì không biết buông xả, không biết đường thoát nạn, cứ chấp vào tình thức để bị
nạn
. Khi đã bị nạn rồi, thì làm sao còn có thể trở về nói rằng: “Con ơi,
thằng
em trai của con chưa có việc làm, thì nỡ nào
ta tu hành cho được!
”. Mà chỉ hiện về ân hận, ngồi khóc mà thôi! Còn lời nào để
nói nữa đây? Đau khổ vô cùng!

Khi nghe được mẫu chuyện này, ở đây có ai
ngộ ra không? Ngộ ra đi, gọi là “Hồi đầu thị ngạn”, niệm câu
A-Di-Đà Phật về Tây Phương thành đạo. Không ngộ ra, tiếp tục mê muội, mê muội
này nó sẽ dẫn tới chỗ, nếu tránh khỏi địa ngục, thì cũng phải rơi vào ngạ quỷ!
Nếu tránh được ngạ quỷ, thì nhất định phải là bàng sanh! Có những con chó sanh
ra lạ lùng lắm, nó cứ chui vào trong nhà của mình, mình đá lăn cù ra, nó cũng
lại chui vô. Con cái không biết, cứ tưởng đó là con chó của hàng xóm, lấy roi
đánh nó ra, nhưng mà đánh nó, nó cũng chạy vào. Tại sao nó không chạy vào nhà
hàng xóm mà cứ chạy vào nhà mình? Coi chừng người Mẹ mình đó mà không hay! Ở
quê có nhiều người không biết đạo, thấy con chó vào trong nhà thì bắt nuôi
luôn. Nuôi con chó không phải vì thương nó, mà vì con gái mình vừa mới sanh một
đứa cháu ngoại, đứa cháu nó bỉnh ra đầy giường đầy chiếu không ai giải quyết. Thôi
nuôi con chó để nó giải quyết giùm… Đau khổ vô cùng!

Chính vì vậy, khi nghe câu chuyện này,
chúng ta phải biết giật mình. Tự mình cứu lấy mình. Hồi đầu đi. Tỉnh ngộ đi.
Một câu A-Di-Đà Phật đi về Tây Phương, giải thoát cho mình, giải thoát cho tất
cả dòng họ, bà con, cửu huyền thất tổ trong nhiều đời nhiều kiếp, cứu cho
con
thân thuộc trong vô lượng kiếp về sau. Xin chư vị chú ý.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 27)

Nam Mô A-Di-Đà Phật,

Ta bây giờ còn đang sống, chưa có lâm
chung! Cho nên ta hướng dẫn cho người trước khi lâm chung, tức là trong
những ngày mà chúng ta chưa chết, chớ khi lâm chung rồi thì không dễ gì hướng
dẫn được nữa đâu.

Chính vì thế, ta nói đây là đưa ra tất cả
những kiến thức về hộ niệm cho vững vàng, để lúc lâm chung ta phải vui vẻ đi về
Tây Phương Cực Lạc với Phật… Chớ đừng có sơ ý nói là… niệm Phật khi lâm
chung
… thì cứ đợi đến lúc sắp “Queo râu” rồi mới kêu A-Di-Đà Phật…

Mấy bài tọa đàm nói về “Hộ Niệm Là Pháp Tu
đưa ra, thì có nhiều người vừa nghe nói Hộ Niệm Là Pháp Tu mới viết thư tới
nói:

Tôi
đồng ý với anh Diệu Âm, là phải tu hành mới vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, chớ
nghiệp chướng nặng quá như vầy mà cứ nằm đó chờ hộ niệm. Làm gì có chuyện hộ
niệm
vãng sanh? Hòa Thượng Tịnh-Không cũng nói không
được hộ niệm.

Nghe người ta nói như vậy, thì tôi mới trả
lời
:

Nếu biết mình nghiệp chướng sâu nặng
thì phải lo tu hành, khuyến tấn tu hành, đừng nằm đó chờ là đúng
. Còn nói rằng Hòa
Thượng
Tịnh-Không bảo không được hộ niệm, thì xin lỗi tôi chưa nghe.
Coi chừng hiểu lầm!

Có nhiều người không tin rằng có thể vãng
sanh
, vì đưa ra vấn đề nghiệp chướng chúng ta lớn quá. Còn nghiệp chướng như
vậy làm sao có thể vãng sanh? Dù cho trong kinh Phật nói về vãng sanh Tây
Phương
rất nhiều, nhưng họ vẫn không tin tưởng rằng với người nghiệp sâu tình
nặng như thế này có thể được vãng sanh! Cho nên người ta nói làm gì có chuyện
hộ niệm vãng sanh? Họ nghe từ đâu không biết, lại nói rằng, Hòa Thượng
Tịnh-Không không cho hộ niệm! Tôi mới nói, đừng có nên hiểu lầm về Ngài. Ngài
nói chỗ nào đâu? Trong đoạn nào đâu đưa ra coi?

Trong khi đó, thì cách đây cỡ bốn, năm
tháng, có một vị ở bên Mỹ ngày đêm dịch một bài khai thị của Hòa Thượng
Tịnh-Không với cái chủ đề“Sự Kiện Quan Trọng Nhất Trong Đời Người Bài khai thị đó Ngài dạy
phải hộ niệm, và hộ niệm là điểm quan trọng nhứt
. Tập sách
đó dày cũng khoảng chừng hai mươi mấy ba mươi trang, cũng khá dày. Ấy thế mà
ngày nay có người nói rằng làm gì có chuyện hộ niệm được vãng sanh? Họ đem việc
này ra bài bác! Đây là một nỗi khó khăn! Thật sự, tôi thấy làm đạo cái gì cũng
khó khăn hết, không có cái gì mà dễ dàng! Nói một lời cũng khó nữa, chớ đừng
nói chi tới chuyện lớn!…

Nhiều người không chịu tin tưởng vào pháp
hộ
niệm, cứ đòi hỏi tu cho đến chứng đắc để được vãng sanh. Nói về lý đạo thì
đúng, ta phải có công phu. Chứng tỏ mấy ngày hôm nay chúng ta cổ động chuyện
lập công cứ, để công phu được tinh tấn hơn nữa. Tăng thêm ngày tu tinh tấn.
Đúng! Nhưng vì không tin tưởng vào pháp hộ niệm, để trợ giúp tích cực cho người
lâm chung vãng sanh, nên suốt cuộc đời của họ, hình như khi gặp một người Phật
tử
nào ra đi cũng im lìm lặng lẽ!… Không biết đi về đâu? Một người thân thuộc
nào ra đi cũng im lìm lặng lẽ!… Mê man, bất tỉnh ra đi!… Không biết đi về
đâu? Thậm chí, sau cùng coi chừng chính mình ra đi, bên canh không có một người
nào hộ niệm cho mình. Tại vì sao? Tại vì trong suốt cuộc đời, mình không bao
giờ giảng giải về phương pháp hộ niệm cho những người chung quanh!… Rồi mình
ra đi cũng im lìm lặng lẽ!… Không biết đi về đâu?!!!…

Cái gì cũng có Nhân có Quả. Cái nhân mình
gieo ra như thế nào, thì cái quả mình gặt lại như thế đó. Cái nhân mình gieo ra
truyền bá phương pháp hộ niệm, thì cái quả là khi mình nằm xuống, mình cũng
được những người chung quanh tới hộ niệm cho mình.

Xin thưa thật, nói về “Khế Lý, thì
muốn nói sao nói, muốn lý luận sao cũng được. Vì nói về thì
không thể không hay. Nhưng mà “Khế Cơ”, là hợp căn cơ, thì nói
làm chi những “Lý Luận” cao siêu mà ngay cả chính mình chưa chắc gì thực hiện
được, thì làm sao những người chung quanh có thể thực hiện được? Thực hiện
không được, mà tham vào đó thì thường dễ đưa đến tình trạng gọi là Vọng
Tưởng!

Để biết được phương pháp hộ niệm quan
trọng như thế nào, thì chúng ta nên đọc quyển sách đó: Sự
Kiện
Quan Trọng Nhất Trong Đời Người
chính ngài
Tịnh-Không giảng hơn một tiếng đồng hồ. Ngài dặn là phải niệm Phật, phải hộ
niệm
cho người ta. Ngài chỉ từng chút, từng chút, căn bản, rất rõ ràng. Và cũng
để biết phương pháp hộ niệm quan trọng như thế nào, thì ở Tịnh-Tông-Học-Hội lúc
nào người ta cũng lập ban hộ niệm rất là cẩn thận, và nhứt là Tịnh-Tông-Học-Hội
tại Úc Châu này, cứ mỗi lần ngài Ngộ-Hạnh, là vị Pháp Sư rất uy tín, khi Ngài
về Tịnh-Tông thì phiên họp đầu tiên thường là Ngài họp ban hộ niệm. Hễ cứ về là
kêu ban hộ niệm họp. Chính tôi đã làm việc trong đó bảy, tám năm. Ngài giảng
rất kỹ và Ngài còn viết những lời khai thị mẫu, cho những người hộ niệm đọc để
thâm nhập vào tâm. Điều này chứng tỏ các Ngài chú trọng về pháp hộ niệm kỹ lắm.

Ví dụ như ở Việt Nam, có những người họ tu
hành
đâu có nhiều, nhưng mà nhờ thiện căn phước đức của họ trong quá khứ nó dồn
lại, nên gặp cái duyên hộ niệm này mà người ta vãng sanh bất khả tư nghì. Xin
thưa rằng, trước đây vài chục năm có nhiều người có được thiện căn phước đức
không? Có chứ, làm gì không!… Chắc chắn! Con người tiếp tục sinh, năm nào
cũng sinh, càng ngày càng tăng lên. Thời nào cũng có những người có thiện căn
phước đức, thời nào cũng có những người tạo ra nghiệp chướng hết. Thế mà những
người có thiện căn phước đức trước kia tại sao họ không vãng sanh? Phải chăng
vì họ không gặp được cái duyên hộ niệm. Không gặp cái duyên có người chỉ điểm
cho họ phải làm như thế nào để được vãng sanh!…

Thường thường khi lâm chung ta có thể thấy
Cha, thấy Mẹ, thấy Ông, thấy Bà tới… Có nhiều người đi khoe ra:

Ông
Bà của tôi đã được đắc đạo rồi. Bây giờ Ông Bà tôi về đây để dạy dỗ tôi, để
chuẩn bị tiếp dẫn tôi
….

Người ta mừng như vậy đó. Thì người biết
hộ niệm người ta đã hiểu rõ rồi…

Không phải đâu chị ơi!… Không phải
đâu anh ơi!…

Vì người ta biết là không phải, nên người
ta mới nói:

Anh ơi! Lo niệm Phật đi và hồi hướng
công đức
cho họ. Hãy chắp tay lại thưa với chư vị đó, là tôi với chư vị không
biết duyên như thế nào? Nếu mà tôi làm lỗi lầm với chư vị, thì bây giờ tôi xin
thành tâm sám hối. Xin chư vị hộ pháp cho tôi, hộ niệm cho tôi, tôi niệm Phật
tôi đem công đức niệm Phật của tôi hồi hướng cho chư vị, để chúng ta cùng về
Tây Phương, chứ nếu chư vị đến với tôi, tôi cũng không cứu được

Nhờ như vậy mà người thấy đó mới giật mình
tỉnh ngộ, người ta mới chắp tay lại thành tâm niệm Phật. Trước đó cũng có những
người thấy như vậy, nhưng vì không ai giảng giải cho họ biết sự thật, lại còn
xúi họ:

Đúng rồi đó, đi theo ông bà đi!...

Nhiều người đứng trước bàn thờ ông bà
thường khấn vái như vầy:

Ngày
nay là ngày giỗ của Cha Mẹ, xin Cha Mẹ linh hiển về đây cứu độ con!…

Càng khấn nguyện chừng nào thì Cha Mẹ,
những người thân đã chết của mình càng về nhiều để cứu độ mình! Nhưng xin thưa
thực, khi mình biết được pháp hộ niệm rồi, quý vị phải dặn dò cho rõ ràng:

Khi lâm chung chỉ đi theo
A-Di-Đà Phật, không được đi theo bất cứ một người nào
.

Được sự hướng dẫn này là vì phước phần của
những người trong giai đoạn này, nhờ có duyên hộ niệm mà người ta chỉ cho thấy
con đường vãng sanh, tránh đường lầm lạc. Thế thì tại sao có người nói rằng hộ
niệm
không quan trọng?

Bây giờ đây mình tu hành, có những người
nghĩ rằng mình sẽ chứng đắc để được này, được nọ. Có những người niệm Phật được
một tuần, nghe được âm vang A-Di-Đà Phật từ trong tâm phát ra(?). Từ chỗ nào nó
phát ra và hô hoán lên rằng tôi đã chứng đắc rồi, tôi đã nghe được âm thanh của
chơn tâm tự tánh rồi(?). Xin thưa thực, nói về lý đạo, thì chơn tâm tự tánh
chúng ta là Phật. Là Phật thì tự niệm Phật. Là Phật thì tự nhiên có tất cả.
Nhưng đó là nói về Lý mà thôi, (nghĩa là “Lý Tức Phật”). Chớ
còn có “Danh Tự Tức Phật”, còn có “Quán Hạnh Tức Phật”,
còn có “Tương Tự Tức Phật”, v.v… mình chưa đạt được. Ngay
cái chuyện “Thập Thiệnđơn giản kia mà mình cũng chưa làm
được… thì nói chi những chuyện xa vời! Nghĩa là cái chơn tâm tự tánh của mình
đang chìm trong trùng trùng lớp lớp của những gì đen tối nhứt. Thế mà mới niệm
có năm, bảy ngày thì ra tuyên bố:

Tôi niệm Phật đã được nhất tâm bất loạn rồi!

Nếu như những người này may mắn gặp được
ban hộ niệm, họ sẽ chỉ dẫn cho:

– Anh ơi! Ngài Ấn Quang Đại Sư
nói rằng, phải lo nhiếp cái tâm lại, thành tâm niệm Phật, thì anh sẽ được thiện
lợi. Nếu anh mở cái tâm tâm ra, anh hồ hởi lên… thì Ngài nói,
Thắng Cảnh đó sẽ biến thành Ma Sự ngay lập tức!

Ai dạy cho những người đó biết vậy? Chính
là những người hộ niệm. Người ta biết được những chuyện đó. Cho nên chúng ta
đây hô hào với nhau, là quyết lòng tinh tấn hơn nữa, nhưng càng tinh tấn phải
càng khiêm nhường. Có khiêm nhường mình mới cảm thông được với chư vị oan gia
trái chủ, và sau cùng mình mới cảm thông được với chư đại Bồ-Tát và cảm thông
được với A-Di-Đà Phật, chư đại Thánh-Chúng ứng ra gia trì cho mình. Chớ đừng có
bao giờ sơ ý, cho rằng chứng đắc này, chứng đắc nọ, nhất là trong thời kỳ này
đức Phật đã nói rõ rệt: “Vạn ức người tu hành
khó tìm ra một người chứng đắc
”. Không dễ gì
có người niệm Phật năm ngày, mười ngày là được chứng đắc? Có người niệm hai
tháng, ba tháng là chứng đắc? Không có bao giờ có chuyện đó đâu ạ! Nếu mà có
như vậy thì chư Tổ đã dạy cho mình rồi.

Ngài Ấn-Quang Đại Sư không bao giờ dạy cho
ai phải nhất tâm bất loạn. Ngài Ngẫu-Ích Đại Sư nói… Tín tâm cho thật vững, Nguyện cho thật tha
thiết, thì dù có loạn tâm niệm Phật cũng được vãng sanh. Nếu mà không chịu
Nguyện vãng sanh, Tín tâm mình không vững, thấy gì cũng chao đảo… dù niệm
Phật
cho đến “Nhất tâm bất loạn(!)” cũng không được vãng sanh
”.

Các Ngài nói giống giống nhau hết, là để
nhắc nhở cho những người phàm phu như chúng ta:

Luôn luôn khiêm nhường,

Luôn luôn kính cẩn,

Luôn luôn giữ niềm tin cho
vững. Cứ như vậy mà đi…

Rồi sau cùng, ban hộ niệm này sẽ hộ niệm,
sẽ nhắc nhở. Tất cả những kiến thức ta đã biết hết, nên ta vãng sanh
Bất Khả Tư Nghì
.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 28)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Mới đây có được tin bên New Zealand, một
nước sát bên chúng ta bị động đất. Nghe nói cũng khá nặng nề! Thế giới này “Vô
An”! Càng ngày những tai nạn này càng nhiều. Thấy như vậy thì nhắc nhở cho
chúng ta phải cố gắng tinh tấn niệm Phật.

Một là hồi
hướng
cho pháp giới chúng sanh, cầu tiêu tai giải nạn.

Hai là cầu
cho chính mình, sau khi xả bỏ báo thân này đừng có lọt lại đây làm chi nữa

Những thiên tai, họa hại này rất là kinh
khủng! Muốn vãng sanh về Tây Phương thì chúng ta cần phải cố gắng tinh tấn tu
hành
. Bên cạnh cũng cần phải nghiên cứu cho tường tận phương pháp hộ niệm. Nói
chung, chúng ta cần nên lịch lãm cái phương pháp này, nhờ đó chúng ta sẽ giải
được rất nhiều ách nạn cho chính mình và cho đồng tu. Vì vậy, khi gặp một ca hộ
niệm
, một người cần hộ niệm, thì chúng ta nên tham gia. Hay lắm! Cứ tham gia
nhiều lần đi, tự nhiên sau cùng khả năng hộ niệm của chúng ta sẽ có hiệu quả.

Hôm trước một người em của tôi dẫn một
nhóm hộ niệm ở trên Gia-Lai, Đăk-Lăk về đạo tràng của bà Mẹ tôi để niệm Phật
trong hai ngày tu tinh tấn. Những người em của tôi là những trưởng ban hộ niệm,
bây giờ chúng nó hộ niệm rất vững vàng. Trước kia thì tôi hướng dẫn chúng nó hộ
niệm
, nhưng bây giờ hình như tụi nó hộ niệm còn vững vàng hơn anh Năm của nó.
Em gái cũng vậy, em trai cũng vậy. Những người trong làng, những người em con
người
Cô… hầu hết đều là trưởng ban hộ niệm, một khi Mẹ già của Diệu Âm yếu
thì tất cả những người đó đều hứa sẽ về hộ niệm. Ngay những ban hộ niệm ở các
xã chung quanh đó cũng hứa rằng:

Anh Diệu Âm ơi! Đừng lo. Nhất định tôi
sẽ tới hộ niệm cho bà Cụ

Nghe vậy mà tôi cảm thấy an lòng! Rất là
an lòng! Bà Mẹ của Diệu Âm cũng biết hộ niệm rồi, vì chính bà Cụ là người ngồi
bên cạnh Cha tôi niệm Phật cho đến khi ông Cụ tắt hơi ra đi. Trải qua một kinh
nghiệm
như vậy, thì rõ ràng rằng bà Cụ cũng biết hộ niệm.

Mình thấy lợi ích của sự hộ niệm thật là
bất khả tư nghì! Giả sử như trước đây Diệu Âm không phổ biến phương pháp hộ
niệm
này, nghĩa là chỉ lo tu cho chính mình, không chú ý tới chuyện hộ niệm,
thì chắc chắn rằng ngày người Cha của Diệu Âm khi ra đi đã không cứu được, vì
một người không có kiến thức về hộ niệm thì không thể hướng dẫn được người bệnh
con đường vãng sanh!…

Ấy thế mà bây giờ những người ở Việt-Nam
họ rất lịch lãm về phương pháp hộ niệm. Chị Diệu Thường, một trưởng ban hộ niệm
ở chùa Hoằng Pháp, là người đầu tiên học cái phương pháp hộ niệm này. Ngay
trong lúc đang học thì chị đã cứu được một người, đó là bà Bùi Thị Gái ở tại
Quận 7. Người thứ hai là chị Thu Hương ở Đà-Nẵng, chị quyết tâm học phương pháp
hộ niệm. Chị đã học từ Đà-Nẵng, theo vô tới Sài-Gòn, theo lên tới Bình-Dương để
cố tình học cho được phương pháp hộ niệm. Học xong rồi về áp dụng liền. Diệu Âm
lúc đó chưa kịp qua tới Úc thì chị đã báo cáo: “Tôi đã hộ niệm được một
người vãng sanh rồi”
Vi diệu
quá! Không tưởng tượng được!

Thật sự ở Việt Nam có nhiều người phát
tâm
, thấy đó mà mình cảm động vô cùng!

Có một anh ở ngoài Quảng-Ninh, vào năm
2006 khi Diệu Âm về Hải-Phòng nói chuyện ở một đạo tràng về pháp hộ niệm, thì
anh ở Quảng-Ninh tới nghe. Nghe rồi thì về anh lập ban hộ niệm. Ảnh kéo cả một
đại gia đình của anh vào ban hộ niệm. Ảnh hộ niệm luôn… hình như bốn, năm
tháng gì đó, mà không có ca nào được kết quả hết. Ảnh tự hỏi, “Ủa tại sao kỳ
vậy”?
… Lạ lùng! Anh mới
kéo luôn cả một nhóm hộ niệm của ảnh đi vào Đà-Nẵng học nghề với chị Thu Hương.
Anh học đến một tháng rưỡi, đi hộ niệm chung với chị Thu Hương. Khi anh nắm
vững những nguyên tắc hộ niệm rồi, anh quay trở về Quảng-Ninh. Sau đó, hình như
là năm 2007, khi Diệu Âm về thì phái đoàn của ảnh đi theo Diệu Âm tới ba chiếc
xe bus, mỗi chiếc chở tới năm, sáu chục người… Anh nói:

Khi cháu
học xong rồi, chú Diệu Âm ơi! Cháu hộ niệm luôn hai mươi sáu ca, không có ca
nào mà không vãng sanh hết

Quý vị thấy không?… Nó có những sự tế nhị
trong đó. Hồi giờ anh nghiên cứu trong sách vở, anh cứ nghiên cứu như vậy…
như vậy… rồi đem ra áp dụng. Áp dụng đâu trật đó! Áp dụng đâu trật đó! Đến
khi theo chị Thu Hương học, chị Thu Hương huấn luyện cho anh bằng cách dẫn nhóm
của anh theo hộ niệm, ngồi đó mà nghe, có những lúc bắt anh lên khai thị. Ấy
thế mà qua một tháng rưỡi về… Anh hộ niệm hai mươi sáu ca liên tục, không có
một ca nào mà không có cái thoại tướng tốt.

Thực sự, pháp hộ niệm thấy đơn giản, nhưng
thực tế có những điều nhạy bén trong đó mà người ta không hay. Khi hướng dẫn
cho mấy đứa em của Diệu Âm hộ niệm. Mắc cười lắm! Tụi nó khai thị hướng dẫn dở
quá! Cũng bị la. Khai thị cho người bệnh mà cứng ngắc, coi như nghiêm quá! Cũng
bị la. Nói lớn quá! Cũng bị la. Nói nhỏ quá! Cũng bị la… Thật ra là để chú ý
rằng, cách khai thị hướng dẫn quan trọng vô cùng. Đi hộ niệmsơ ý chuyện
này, thì hộ niệm hoài cũng không bao giờ có người được vãng sanh hết. Ví dụ,
đối với người lãng tai mà mình nói nhỏ quá thì làm sao người ta nghe? Cho nên
nói nhỏ quá, bị la. Còn những người lỗ tai thông mà mình nói lớn quá, giống như
hét người ta, thì sao lại không la? Cho nên, điều nào cũng bị la hết! Có nhiều
lúc đùa giỡn quá đáng, thì cũng phải la chứ! Biết được điều này, thì người hộ
niệm
cần phải biết uyển chuyển. Sau những trận la như vậy, bây giờ mấy người em
biết hết trơn rồi, vững tâm hết trơn rồi, nên hộ niệm hay vô cùng!…

Có nhiều người nghĩ rằng, hộ niệm chỉ là
điều thứ yếu, không quan trọng!… Thì xin thưa rằng, coi chừng nhiều khi suốt
cuộc đời của họ không cứu được một người, ngay cả những người sát bên cạnh!…
Giờ đây lý luận, giảng giải… thì hay lắm! Mà thực tế thì không cứu được ai!

Họ coi thường pháp hộ niệm? Vì phải chăng
trong suốt cuộc đời của họ chưa từng trải qua một lần hộ niệm nào? Nếu có trải
qua
một lần hộ niệm đi nữa, thì có lẽ lần hộ niệm đó là lần thất bại! Tại vì
sao? Vì không chịu học hỏi trước! Không chịu nghiên cứu trước! Khi đi hộ niệm
thì hộ niệm với tinh thần “Vạn bất đắc dĩ!… Chính vì lòng tin không
có, nên khi ở trước bệnh nhân họ niệm thử! Họ niệm chơi! Họ giả đò khai thị!…
Không có tâm chân thành!…

Người không có tâm chân thành thì không có
cảm ứng. Họ cũng làm dáng chắp tay lại nói: “Nam Mô A-Di-Đà PhậtNguyện A-Di-Đà phật phóng
quang
tiếp độ cho bà này…
”, nhưng
thật sự tâm của họ không tin! Lòng không tin thì không có “Cảm”! Cảm
không có, thì không có tương ứng với đại nguyện của đức A-Di-Đà, thành ra không
có “Ứng”. Không Cảm thì không Ứng!.

Chính vì vậy, những lời niệm Phật của họ
nó trôi… trôi… trôi trong không gian như trò chơi thôi!…

Xin thưa rằng, một người đứng trước người
bệnh khuyên họ niệm
Phật

– Mà lòng
mình chân thành
.

– Mà lòng mình tha thiết.

– Mà lòng mình thèm muốn cho
người đó vãng sanh.

– Mình tha thiết cứu người.

Thì tự nhiên trong âm hưởng đó làm cho
người bệnh cảm động, làm cho người bệnh tin tưởng, tự nhiên người bệnh thành
tâm
niệm Phật theo. Đây là sự thật.

Có nhiều người cứ nói rằng, tu hành mới là
chính, làm gì có chuyện hộ niệm vãng sanh? Họ thường mơ tìm những cơ hội chứng
đắc
. Điều này cũng đúng đấy. Chúng ta cần phải tu hành, cũng như chúng ta đang
hô hào phải cố gắng niệm Phật cho nhiều, niệm Phật cho thành tâm. Chúng ta niệm
Phật
365 ngày một năm, mà còn phải thêm những ngày tinh tấn nữa để giải bớt ách
nạn. Nhưng nếu lơ là, khinh thường việc hộ niệm, thì coi chừng đến ngày chính
người Cha của mình ra đi, mình sẽ lúng túng không biết cách nào cứu đó!…

Trong những ngày qua có nhiều người gặp
tôi than thở và hỏi rằng:

Anh Diệu Âm ơi! Làm sao giới thiệu
cho tôi một ban hộ niệm?

Thật sự… một người xa lạ tới gặp một ban
hộ niệm… Muốn giới thiệu cho họ, mà chính người nhà của họ không tin, chính
người nhà không chịu tham dự, thì làm sao những người hộ niệm đó có thể hộ niệm
cho người nhà của họ được?…

Phải nói người nhà của mình tới tham gia
với ban hộ niệm. Người nhà phải tới hỏi han ban hộ niệm. Để chi vậy? Để kết
duyên
với họ. Để họ có dịp điều tra thử… Bà này còn bị kẹt chỗ nào? Bà này bị
vướng những cái gì? Được vậy họ mới tìm cách hóa giải ra. Trong lúc giảng giải,
thì họ lại có thêm những lời khuyên khác. Khuyên một lần không nghe thì họ
khuyên hai lần, khuyên ba lần… Khéo léo khuyên nhiều lần khiến cho người bệnh
cảm động. Nhờ thế người bệnh mới bắt đầu hạ quyết tâm niệm Phật. Chứ còn khơi
khơi tới kêu ban hộ niệm, thì ban hộ niệm làm sao biết được gia đình mình như
thế nào? Người bệnh như thế nào?…

Người hộ niệm rất cần gặp gia đình để tìm
hiểu
về:

– Có đứa em nào, có đứa cháu nào ngỗ
nghịch
hay không?

Bà Cụ này
quyến luyến chồng lắm không?

Ông Bác
này có thương đứa con gái lắm hay không?

Ông Cụ này
lo lắng cái nhà hay không?

Có thích
giữ tiền bạc hay không?…
 v.v… và v.v…

Nếu người hộ niệm hoàn toàn không biết gì
cả, thì làm sao có thể điều giải được? Làm sao có thể gỡ ra được? Chính vì vậy,
khi nghe biết những chuyện này rồi, chúng ta hãy đi hộ niệm. Tôi nghĩ rằng,
chắc chắn chư vị sau này sẽ là những người hộ niệm rất tài. Rất là tài! Cũng
như ở Việt Nam, đầu tiên họ hộ niệm hai ca, ba ca, năm ca đầu… thường thường
không có kết quả tốt! Nhưng sau những lần hộ niệm thất bại đó, họ mới bắt đầu
tìm tới những người có kinh nghiệm để hỏi:

Tại sao chị hộ niệm giỏi vậy?

À! Thì đến
đây đi hộ niệm chung với tôi

Khi đi hộ niệm chung với nhau, thì tự thấy
có điều khác liền.

Trong thời gian Cha của tôi sắp ra đi, có
nhiều người tới hộ niệm. Tôi thường thầm để ý đến những người mà tôi nghĩ họ có
năng khiếu hộ niệm ngon lành!… Khi thấy người đó tới, thì tôi không đứng ra
“Khai Thị” cho Ông già đâu, mà tôi mời:

-Chị ơi! Chị tới khai thị cho
Ông Già đi.

-Anh ơi! Anh lên khai thị giùm
cho Ông Già đi.

Tôi muốn tập cho người ta khai thị. Tôi
lấy ông Già của mình làm người mẫu để họ thực tập hộ niệm. Chính vì mấy đứa em
tôi được hộ niệm cho ông Già, chính những người được hộ niệm cho ông Già tôi,
một thời gian sau đó họ hộ niệm hay vô cùng!…

Tình thực, bây giờ ở Việt Nam có những ban
hộ niệm người ta hộ niệm trên một trăm người vãng sanh… Vững vàng! Mỗi khi
tôi về thì người ta cứ kêu, “Anh
Diệu Âm ơi! Đi… đi cứu độ
…”.
Tức là họ cầu cứu tôi! Nhưng mà thực ra là tôi tới đó để âm thầm học hỏi ở họ.
Họ hộ niệm còn giỏi hơn tôi nhiều. Tôi hộ niệm được hai, ba, bốn tiếng đồng hồ
thì khan tiếng, đành đi về, chịu không nổi! Trong khi đó, có người ngồi hộ niệm
suốt đêm. Có những bà Cụ bảy, tám mươi tuổi mà ngồi từ đầu đêm cho tới cuối đêm
để hộ niệm. Nếu có cuộc hộ niệm nào không kêu tới bà thì bà buồn. Hộ niệm xong,
sáng ra bà còn bưng cái rổ bánh ít đi rao bán ngoài đường phố. Vậy đó! Thế mà
Cụ cứ ngồi từ đầu đêm cho đến cuối đêm để hộ niệm cho người bệnh mà không bao
giờ biết mệt!…

Hộ niệm vi diệu quá! Khi chính mắt thấy
được những hiện tượng vãng sanh, thì niềm tin của người ta đã phát khởi mạnh
mẽ. Vậy thì chúng ta nên phát tín tâm mạnh mẽ lên, đừng chao đảo. Quyết lòng
niệm Phật cho chân thành, thành tâm đi hộ niệm cho người ta. Cứ tham dự đi, cứ
mạnh dạn nói chuyện với người bệnh đi, một, hai lần đầu mình có thể bị vấp,
nhưng sau đó mình sẽ là những chuyên gia hộ niệm cứu độ chúng sanh đi về Tây
Phương
, rồi mình cũng thành đạo luôn.

A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 29)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Chúng tôi ở đây có một tờ giấy in ra từ
một trang web chỉ cách hướng dẫn gia đình hộ niệm của ban hộ niệm Hoa-Sen ngoài
Đà-Nẵng. Hay lắm! Chúng tôi sẽ in ra và để trong hộp phía trước, chư vị có thể
lấy về để nghiên cứu, trong đó có những điều rất cụ thể. Càng cụ thể chừng nào
thì chúng ta càng biết rõ rệt để đi hộ niệm cho những người bệnh và đồng tu
vãng sanh.

Trở lại chủ đề của chúng ta trong mấy ngày
hôm nay: “Hộ Niệm: Khế Lý – Khế
.

Khế Lý” chính là câu A-Di-Đà Phật. Vì “Niệm Phật là nhân, thành Phật
là quả”
. Niệm Phật, chúng
ta
thành Phật luôn. Lý đạo này quá nhiệm mầu! Sâu thăm thẳm! Cao vời
vợi! Không ai có thể giải thích được viên mãn! Đức Thế Tôn thường hay dùng câu:
Bất Khả Tư Nghì”!
Chư Tổ nói, bất khả tư nghì, là không thể nào có thể bàn luận được. Bàn luận
sai! Bàn luận sẽ không đi tới đâu hết. Trong kinh Hoa-Nghiêm, Phật nói: Duy Phật dữ Phật phương năng cứu cánh”,
là nói cho câu A-Di-Đà Phật. Có nghĩa là chỉ có Phật với Phật mới biết được cái
vi diệu của câu A-Di-Đà Phật mà thôi. Chính chư vị đại Bồ-Tát cũng không hiểu
được, các vị Bồ-Tát còn phải lấy lòng tin mà niệm Phật để về Tây Phương Cực
Lạc
.

Nhắc nhở như vậy để củng cố thêm niềm tin
của chúng ta thật vững vàng, đừng nên hồ nghi. Chỉ cần một chút hồ nghi thôi
thì vô tình công phu chúng ta tu hành nhiều khi bị lạc mất, và sau cùng không
vãng sanh được. Đây là một điều hết sức là oan uổng!…

Nói về Khế Cơ tức là ta phải tìm một phương pháp nào thật
hợp với căn cơ của chính mình để được thành tựu. Nếu sơ ý, chúng ta đi vượt qua
khỏi căn cơ của mình thì chịu thua, không cách nào có thể giúp ích nhau được!
Trong đó, pháp hộ niệm rất hợp với căn cơ của chúng ta. Trong tám vạn bốn ngàn
pháp môn thì pháp niệm PhậtTam
căn
phổ bị, phàm thánh tề thâu
. ba hạng Thượng, Trung, Hạ đều có
phần. Chúng tađại hạ căn đi nữa cũng được câu A-Di-Đà Phật gia bị. Người
phàm cũng dùng câu A-Di-Đà Phật để thành Phật. Thánh nhân cũng dùng câu A-Di-Đà
Phật để thành Phật, gọi là “Tề Thâu”, “Bình Đẳng”.
Hay chính là ở chỗ bình đẳng này. Phàm Thánh tề thâu, chư đại Bồ-Tát và phàm
nhân
đều được bình đẳng vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Điều này hay lắm!
Tuyệt vời lắm!…

Tu theo pháp niệm Phật thì chắc chắn là mình
chọn lựa không sai. Nhưng bên cạnh đó, cái pháp hộ niệm còn thấp hơn nữa, còn
cụ thể hơn nữa. Vì trước những người bệnh sắp sửa rời bỏ báo thân, mình nhắc
nhở họ, mình dụ dỗ họ để họ phát tâm niệm được câu A-Di-Đà Phật, họ tin tưởng
vững vàng và họ tha thiết muốn vãng sanh. Làm sao giúp cho người đó có được cái
tâm này:

Nam Mô
A-Di-Đà Phật cho con đi liền hôm nay

Nam Mô
A-Di-Đà Phật con quyết lòng đi về Tây Phương

Chỉ vậy mà thôi! Tức là làm sao ba điểm
Tín-Nguyện-Hạnh này cho vững vàng trong tâm người bệnh, thì họ vãng sanh về Tây
Phương
. Đây là một chuyện mà xin thưa thật…

Không cách
nào có thể hiểu được!

Không cách
nào có thể bàn được!

Gọi là
“Bất Khả Tư Nghì!”

Đây chính là sự gia trì của A-Di-Đà Phật.
Chính là đại nguyện của đức A-Di-Đà Phật.

Làm sao một người trước những giây phút ra
đi niệm được câu A-Di-Đà Phật. Niệm thành tâm chứ không phải niệm giỡn. Phát
nguyện
vãng sanh tha thiết. Phải phát nguyện vãng sanh, nhất định đừng có chen
cái nguyện nào khác trong lúc sắp sửa buông xả báo thân và có niềm tin vững
vàng
thì A-Di-Đà Phật sẽ đến tiếp độ. Chỉ ba điểm này thôi xuất hiện ngay trong
thời điểm đó, thì người đó được vãng sanh. Cho nên tất cả những gì mà hổm nay
chúng ta nói, tất cả những điều chúng ta cộng tu ở đây… đều chuẩn bị cho cái
giây phút đó hết.

Nói về Khế Cơ thì liên quan rất nhiều đến những gút mắc,
những nghi vấn trong lòng, liên quan đến pháp vãng sanh, pháp hộ niệm, pháp
niệm Phật. Thì trong giai đoạn này, xin chư vị nào có câu hỏi nên viết ra rồi
để vào hộp ý kiến. Chúng ta sẽ cố gắng mổ xẻ càng sâu. Nếu có những thắc mắc
chứa chấp trong lòng không thố lộ ra, thì nhiều khi chúng ta cứ đắm vào đó mà
có thể bị trở ngại. Ví dụ như hôm qua, khi ở trên xe anh Hai có hỏi một câu mà
làm tôi ngộ! Anh hỏi, có phải mười hai lạy là liên quan đếnThập-Nhị-Nhân-Duyên” không?
Mười hai là thập nhị đó! Câu hỏi này rất là hay!

Chính những nghi vấn này mình nên khui ra.
Nhiều khi có những vấn đề mình hiểu rồi, nhưng cũng nên hỏi ra, vì biết rằng
còn có người chưa hiểu!

Thì xin thưa rằng, mười hai lạy đó không
phải là “Thập-Nhị-Nhân-Duyên”.
Thập-Nhị-Nhân-Duyên là pháp quán của các vị Bích-Chi-Phật trong hàng nhị thừa.
Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bích-Chi-Phật và thường thường các ngài Bích-Chi-Phật tu
theo cái pháp đó. Còn ở đây thì chúng ta tu pháp niệm Phật để đi về Tây Phương.
Hai đường đi, hai chứng đắc khác nhau. Bích-Chi-Phật, Thanh-Văn, Duyên-Giác Gọi
chung là A-La-Hán, thường thường các Ngài tu về Thiền Định để tự vượt qua
Tam-Giới. Đối với pháp Niệm Phật mà nói, thì các vị đó đã chứng tới chỗ gọi là Vị
Bất Thối
. “Vị
tức là “Phàm Phu Vị”, các Ngài đã vượt qua Phàm Phu Vị.

Còn chúng ta tu đây là tu theo
Bồ-Tát-Thừa, tiến thẳng đến Phật-Thừa luôn. Pháp Niệm Phật được gọi là “Nhất-Thừa
Thật-Tướng
”. Lạ lắm chư vị! Tu thì dễ mà chứng đắc thì cao!
Chứng đắc tới cảnh giới Phật luôn. Khi về Tây Phương Cực Lạc thì đầu tiên chúng
ta
thành Bồ-Tát Bất-Thối trước. Bồ-Tát Bất-Thối nếu so sánh ra thì… lạ lắm!
(Những lý đạo này cao quá, mình nên hiểu sơ như vậy thôi). So sánh ra, năng lực
của họ cao tới cỡ Thất-Địa, Bát-Địa Bồ-Tát. Tức là, những vị A-La-Hán còn kém
họ rất là xa. Những vị Sơ-Trụ Bồ-Tát, tức là khởi đầu của hàng Pháp-Thân Đại-Sĩ
trên cảnh Hoa-Nghiêm rồi vẫn còn thua họ tới ba mươi sáu bậc “Sanh Tướng Vô
Minh” cơ. Thật là Bất Khả Tư Nghì! Hòa Thượng Tịnh Không giảng, từ
Sơ-Trụ mà muốn tu cho tới chỗ đó phải tu tới hai đại A-Tăng-Kỳ kiếp, trong khi
đó thì mình ở đây vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, như là hạng thấp tẹt của
mình, thì có thể nhiều lắm là mười hai kiếp, mười hai kiếp mình có thể đạt được
Tam-Bất-Thối. (Tức là ba bậc bất thối). Điều này cao quá! Chúng tôi không dám
nói sâu hơn nữa. Chỉ xin chư vị hãy phát lòng tin tưởng cho vững vàng là được
rồi.

Trong thân phàm phu tục tử bệnh hoạn như
thế này, mà mình phát khởi niềm tin vững vàng, niệm câu A-Di-Đà Phật, thì trong
kinh Phật nói rằng, trong vô lượng kiếp về trước ta có thiện căn phước đức
cúng dường tới vô biên ức đức Phật Như-Lai rồi mới có hiện tượng này, chứ không
phải dễ gì đâu! Lạ lắm!
Nên nhớ, có những vị Bồ-Tát khi gặp câu A-Di-Đà
Phật cũng không tin. Thế mà nếu quý vị phát tâm tin tưởng vững vàng thì chứng
tỏ
công đức thiện căn trong quá khứ của quý vị đã bất khả tư nghì rồi. Chính
nhờ cái thiện căn bất khả tư nghì đó, nên trong một đời này chỉ tu như vậy,
nhiều khi một phẩm chấp trước không phá nổi, nhưng lại vượt về được tới Tây
Phương Cực Lạc
để đạt được cái năng lực như vậy.

Trở về vấn đề mười hai lạy. Phương pháp tu
niệm Phật của chư Tổ trong Tịnh-Độ-Tông để lại hay lắm, đơn giản lắm. Ví dụ như
mình dùng pháp này để tu. Chúng ta thấy có những lúc đi kinh hành, có những lúc
ngồi, có những lúc khai thị, có những lúc thư giãn để xoa bóp, rồi có những lúc
lạy Phật để cho thân thể của chúng ta được điều hòa, làm cho ba giờ cộng tu hay
cả ngày niệm Phật giống như trải qua chỉ có mấy tiếng đồng hồ. Nếu không
phương pháp này, mình tu một ngày không nổi. Thế mà nhờ pháp tu này, làm cho
mình hình như là một ngày, hai ngày, ba ngày tu hành trôi qua một cách đơn giản
dễ dàng. Nhờ vậy mà chúng ta dễ nhiếp tâm niệm PhậtBất khả tư nghì!

Thì pháp lạy mười hai lạy, là khi chúng ta
lạy thì luôn luôn hướng về Tây Phương Cực Lạc. Quý vị hãy nhìn lên bàn thờ, có
ba vị là: A-Di-Đà Phật, Quán-Âm, Thế-Chí, mỗi vị ta đảnh lễ Ngài ba lạy. Như
vậy ba vị ta đảnh lễ chín lễ. Bên cạnh đó có một câu là: “Hòa-Nam Thánh-Chúng”. Chư
Thánh-Chúng trên cõi Tây Phương chúng ta sẽ hội nhập với các Ngài. Bây giờ
chúng ta đảnh lễ chung các Ngài ba lễ nữa, thành ra tất cả là mười hai lễ. Ý
nghĩa
của nó là như vậy.

Còn nói về sự điều hòa, thì chúng ta ngồi
niệm Phật lâu quá, bây giờ lạy để được đứng lên, lạy xuống cho thân thể được
điều hòa. Thực ra chỉ là vậy mà thôi! Chứ không có liên can gì đến “Thập-Nhị-Nhân-Duyên”.

Nên nhớ, niệm Phật thì tất cả chúng ta đều
dồn hết vào câu A-Di-Đà Phật, dồn hết vào một đường để đi, đừng nên đi hai
đường! Hòa Thượng Tịnh-Không thường nói, tu pháp nào một pháp. Nghe pháp cũng
phải tuyển chọn để nghe. Những vị nghe nhiều pháp quá thì thường khó có chỗ
định. Ví dụ, nghe người ta giảng pháp Thập-Nhị-Nhân-Duyên thì thấy pháp
Thập-Nhị-Nhân-Duyên hay lắm! Nhưng thực ra chúng ta làm không nổi!

Tiện đây xin kể chuyện một chút xíu ra cho
vui. Ở Việt Nam có một ban hộ niệm, năm đó tôi đến đó nói chuyện, thì các vị đó
mới biếu cho một đĩa VCD, gọi là hộ niệm vãng sanh! Khi về mở ra xem mới thấy
vị Trưởng lão đó “Khai Thị” cho người bệnh mà giảng từ Tứ-Diệu-Đế, đến
Bát-Chánh-Đạo, rồi Thập-Nhị-Nhân-Duyên… Tức là nói luôn một dây như vậy. Khi
xem VCD đó rồi, tôi mới viết thư khuyên vị đó rằng, đừng “Khai Thị” như vậy
nữa. Đừng đem những lý đạo này ra “Khai Thị” cho người bệnh, vì người bệnh sắp
chết rồi, không bao giờ có thể tiếp nhận được đâu. Chỉ khuyên người ta là nhiếp
tâm
niệm Phật và cầu A-Di-Đà Phật phóng quang tiếp độ, nhờ vậy thì người ta mới
được vãng sanh. Thực tế thì cái phim đó cũng không phải là phim vãng sanh, vì
họ chỉ quay trong lúc người đó còn sống chứ chưa phải là ra đi. Nghe vậy thì
các vị đó mới trả lời, hứa sẽ sửa đổi lại. Khi sửa đổi lại rồi, thì
mười ngày sau đã phát hiện ra một người vãng sanh.

Tức là từ trước các vị đó chưa biết hộ
niệm
, khi biết được rồi điều chỉnh lại thì tự nhiên có người vãng sanh. Cũng
giống như hôm qua chúng ta nói, những ban hộ niệm mới, thường thường người ta
chưa có kinh nghiệm trong vấn đề khai thị, nên khi ngồi trước bệnh nhân người
ta cứ mở ra nào là Bát-Chánh-Đạo cũng giảng cho, Tứ-Diệu-Đế cũng giảng cho,
Thập-Nhị-Nhân-Duyên cũng giảng cho… Giảng những bước đi của các hàng Nhị Thừa
thì ta bị lạc đường đi về Tây Phương. Con đường về Tây Phương là nhắm thẳng tới:
Tín-Nguyện-Hạnh, cứ vậy
đi thì người ta được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Chuyện này mỗi ngày chúng ta mỗi nắm vững.
Nhất định ta sẽ thấy hình như đường đi về Tây Phương của chính mình, của người
thân của mình đang ở trong hào quang của A-Di-Đà Phật, và chúng ta đều được
vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc hết!…

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

KHẾ LÝ – KHẾ CƠ

(Tọa Đàm 30)

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

Hộ Niệm để được vãng sanh về Tây Phương
cực Lạc
chúng ta áp dụng cái phương pháp căn bản, cụ thể và gần gũi nhất đối
với người phàm phu tục tử nghiệp chướng sâu nặng.

Nếu là người căn cơ cao thượng thì không
bao giờ dùng đến phương pháp hộ niệm làm chi!… Ngay trong mỗi chúng ta, nếu
thật sự là hàng căn cơ cao thượng cũng khỏi cần. Tuy nhiên, nếu mình muốn độ
người
khác thì cũng phải nghiên cứu phương pháp hộ niệm để áp dụng. Vì ta có
thể thuộc hàng căn cơ cao?! Nhưng mà Mẹ ta, Cha ta, anh em, họ hàng… họ không
căn cơ cao. Không có căn cơ cao thì nghiệp chướng bao phủ, trước những giây
phút ra đi thường thường bị trở ngại. Nếu không nhờ đến sự hộ niệm thì sẽ bị
rối trong khi hấp hối, không cách nào vãng sanh được!

Khi hộ niệm chúng ta cố gắng phải nghiên
cứu
cho thật kỹ quy cách hộ niệm. Rất nhiều người không chịu nghiên cứu, cứ
thấy rằng ngồi bên cạnh người bệnh niệm Phật, cứ niệm A-Di-Đà Phật… A-Di-Đà Phật… Rồi vỗ tay mấy cái vui
vui, tưởng vậy là đơn giản! Thật ra, có khá nhiều sự sơ hở làm cho người bệnh
không thể tiếp nhận, không thực hiện được Tín-Nguyện-Hạnh. Không thực hiện được ba tư lương
này, thì người ta không được vãng sanh. Mỗi ngày chúng ta cố gắng khai thác một
chút, mong cho mọi người sau một thời gian sẽ nắm vững vấn đề.

Ngày hôm qua, trong lúc đang bàn chuyện hộ
niệm
ở phòng bên kia, chúng ta có khuyến cáo rằng khi hộ niệm cần phải cố gắng
làm sao cho người bệnh vui vẻ. Mình ráng cố gắng chiều người bệnh để cho họ vui
vẻ
ra đi. Nếu mình không có chiều theo ý của họ, làm cho họ phiền não thì không
thể vãng sanh. Ví dụ như Mẹ của chúng ta muốn tới cái nhà này để niệm Phật,
mình lại thấy căn nhà này không thích hợp, nên cứ bắt người Mẹ mình tới ở nhà
kia, nhưng nơi đó Mẹ mình lại không thích. Làm vậy phải chăng, khi hộ niệm mình
đã bắt người bệnh phải chiều theo ý muốn của mình? Làm vậy khiến cho người bệnh
phiền não! Một khi họ phiền não thì chắc chắn không cách nào có thể vãng sanh
được!

Do đó phải nhớ điều này, nhiều khi mình
thấy người bệnh thích một chuyện gì đó, dù không được thuận lợi lắm, nhưng
trước tiên ta cần phải cố gắng chiều người bệnh trước đã. Ví dụ, như trước
những ngày sắp chết, người bệnh lại đòi vào bệnh viện, họ muốn bác sĩ khám họ
thử như thế nào? Mình biết đây là cái tâm thoái hóa của người bệnh, nhưng một
khi người bệnh đã quyết đòi như vậy, mà mình lại ép buộc người bệnh phải ở nhà,
thì chắc chắn từ lúc đó cho đến khi chết không cách nào mà họ yên tâm niệm Phật
được!

Vì thế, khi gặp trường hợp này, việc đầu
tiên là nên đưa người bệnh vô trong bệnh viện trước đã. Đây có thể là do sau
một thời gian niệm Phật người bệnh bị thối tâm, người ta sợ chết hay sao đó?…
Tại sao mình không đưa họ vào trong bệnh viện, rồi nhờ bác sĩ khuyên người bệnh
vài câu. Ví dụ, Bác sĩ nói:

Anh ơi!
Chư vị ơi! Cái bệnh này chúng tôi chữa không được nữa rồi. Cho nên ở lại cũng
chết, về nhà cũng chết
.

Người bệnh nghe được bác sĩ nói một câu
như vậy, thì chính đây là lời khai thị rất tốt cho người bệnh, nhờ vậy mà họ an
tâm
về nhà lo niệm Phật vãng sanh.

một lần chính đứa em của Diệu Âm muốn
Cha Mẹ của Diệu Âm vào trong Sài-Gòn để niệm Phật, vì nhà ở thành phố thì có
máy lạnh, thoải mái hơn, mà lúc đó Ông già Bà già thì thích ở tại quê. Nó
khuyên không được, nên mới lập mưu như thế này… Nó mướn một chiếc xe Taxi từ
Sài-Gòn đi về tới Bình-Định. Về tới nhà, trước tiên đem bánh trái dọn ra ăn
uống
cho ngon lành, rồi sau đó mới dụ Cha Mẹ đi xuống Qui-Nhơn chơi, xuống
Qui-Nhơn để thăm biển chơi cho vui! Ông bà nghe nói đi Quy-Nhơn thì bằng lòng
đi.

Khi Ông già Bà già leo lên xe xong rồi, nó
chở tuốt vô Sài-Gòn luôn. Tức là lúc đó đã leo lên xe… Ông già Bà già đã yếu
rồi, đâu còn cách gì cưỡng lại được nữa! Khi Diệu Âm về nghe tin như vậy… Bên
cạnh thì ông bà già cứ đòi về lại quê. Diệu Âm kêu đứa em ra la rầy:

Em làm như vậy không được! Kỳ này nếu
anh không về, mà Ông già chết thì chắc chắn không cách nào vãng sanh được!

Do vậy, sau khi tẩm bổ cho Ông già khỏe
lại một chút, lại tìm cách đưa Ông về Bình-Định. Khi về lại Bình-Định thì lúc
đó trời nóng quá chịu không nổi! Ông về đến đó thì muốn xỉu liền. Vì thấy nắng
chịu không nổi, nên Ông giật mình! Ở tại quê không có máy lạnh! Thế thì, lại
tìm cách, nhờ chị Nhung ở từ Bình-Phước đem xe ra ngoài Bình-Định đưa Ông vô lại
trong Sài-Gòn. Lúc đó Ông ta mới an tâm niệm Phật!…

Thường khi mình phải chiều người bệnh, chứ
không thể nào bắt người bệnh phải chiều chúng ta. Có nhiều người quá sơ ý trong
phương pháp hộ niệm vãng sanh, không chịu nghiên cứu kỹ, cứ nghĩ sao làm vậy,
ý
tạo ra nhiều phiền não cho người bệnh. Một khi người bệnh phiền não rồi thì
thôi chịu thua! Cứu không được!

Ví dụ như trong bữa nói chuyện hôm qua,
sau khi nghe đến vấn đề này, bà Cụ đưa ra một cái câu giải quyết rất là hay. Bà
nói:

Mình quyết lòng niệm
Phật
đi về Tây Phương rồi, thì thôi ở nhà nào cũng được, tới chỗ nào cũng được,
không cần chấp nữa
.

Chính đây là câu giải quyết rất hay. Mình
biết rõ rệt là con cái mình sau này có thể đưa mình tới chỗ này, đưa mình tới
chỗ kia. Nhiều khi con cái biết tu nó đưa mình tới chỗ rất là tốt, nhưng vì
chấp mình muốn trở lại cái chỗ của mình. Vì cái chấp của mình mà làm cho chính
mình bị trở ngại, từ đó mà mình có thể mất phần vãng sanh. Cho nên bà Cụ nói
rất là hay:

Đừng có chấp nữa… Nhất
định
bây giờ con nó muốn đi vô Sài-Gòn thì ta đi vô Sài-Gòn, con nó muốn đi về
quê ta đi về quê.

Thoải mái như vậy thì tự nhiên người hộ
niệm
chúng ta cũng thoải mái, tới bất cứ chỗ nào ta cũng niệm Phật được.

Vậy thì, là một người hộ niệm, chúng ta
phải nhớ cố gắng uyển chuyển đừng nên gây phiền não cho người bệnh. Nếu ta là
người bệnh, ta cũng phải tập cái tánh gọi là không chấp. Một người tới niệm lớn
quá, điều này không đúng phương pháp hộ niệm, ta biết như vậy rồi nhưng lỡ có
một người nào tới niệm lớn quá thì ta cũng đừng có giận. Nếu mà hàng ngày thấy
người ta niệm lớn quá mà mình giận, thì lúc đó có nhiều người niệm lớn mình sẽ
nổi giận lên! Đây là do “Chấp” mà tự mình làm mất phần vãnh sanh. Tất cả
những đạo lý này không có gì là cao siêu cả, nó cụ thể vô cùng.

Ví dụ như ở nhà mình có một người bệnh.
Nên nhớ, người bệnh thường thường cảm thấy khó chịu dữ lắm, tại vì đau lưng, vì
nhức đầu, vì mệt mỏi… Điều quan trọng là ta nên cố gắng làm cho người đó vui
lên. Yểm trợ tinh thần họ, củng cố tinh thần họ. Đây là hộ niệm.

Ví dụ khác, như người bệnh niệm Phật không
nổi, mình khuyên hoài mà họ cũng không chịu niệm Phật, thì mình hãy làm gương,
mình niệm Phật trước. Mình niệm Phật ngày niệm Phật đêm, và nói:

Má ơi! Con
còn trẻ nè mà con còn niệm Phật như thế này, Má không niệm Phật làm sao Má vượt
qua
cái ách nạn đây?

Mình làm gương trước, rồi chính sự niệm
Phật
của mình sẽ có công đức. Nhờ có công đức đó mới hồi hướng cho Cha Mẹ.
Nhiều khi trước đó một tuần mình nói Mẹ mình không nghe, nhưng sau một tuần
niệm Phật, nhờ có công đức nên lời nói của mình hình như có hiệu lực hơn… Lạ
lắm!…

Chính vì vậy, muốn đi hộ niệm cho người
được vãng sanh, thì người hộ niệm chúng ta cũng phải cố gắng niệm Phật để có
công đức. Luôn luôn lúc nào cũng vậy. Khi mình tới ngồi hộ niệm… “Nam Mô
A-Di-Đà Phật… A-Di-Đà Phật… A-Di-Đà Phật
”. Nếu mình có công phu tu hành
thì thường thường chư Thiên-Long Hộ-Pháp gia trì cho mình, câu niệm Phật của
mình có giá trị, lời nói của mình được các Ngài gia trì luôn. Chính nhờ vậy,
khi mình khai thị cũng dễ làm cho người bệnh cảm động, làm cho người bệnh hình
như có một sự cảm ứng, và người ta dễ nghe theo.

Thông thường nhiều vị cứ để Mẹ mình nằm ở
nhà thương cho đến khi yếu thật yếu rồi mới tới kêu:

Anh Diệu Âm ơi! Bây giờ làm sao? Mẹ
tôi ở Sài-Gòn… Mẹ tôi ở Đà-Nẵng… bây giờ làm sao giới thiệu cho tôi ban hộ
niệm
….

Thật ra mình giới thiệuvị nểgiới
thiệu
thôi, chứ cũng chưa chắc gì cứu được người đó đâu! Vì hồi giờ người đó
không có niệm Phật! Đừng nên nghĩ sai lầm rằng ban hộ niệm có thể giải quyết
được! Cho nên, gặp những trường hợp này Diệu Âm thường thường khuyên người con
đó hãy phát tâm ra trước đã.

Chứ còn như, khi hỏi tới:

Hồi giờ Mẹ chị có niệm Phật không?

Có, nhưng
lười biếng lắm!

ăn chay
chưa?

Dạ chưa.

Còn vướng đủ thứ hết trơn! Vậy thì làm sao
bây giờ?…

Chính
mình phải lo niệm Phật
.

Chính mình
phải phát tâm phóng sanh
.

Chính mình
phải in kinh ấn tống
.

– Chính mình phải cầm xâu
chuỗi niệm Phật trước Mẹ mình…

Mẹ ơi! Con
niệm Phật để hồi hướng cho Mẹ, chứ nếu không lỡ Mẹ bị chết rồi, con không có
cách nào có thể cứu Mẹ được…

Chính cái tâm thành của người con cảm
ứng
đến Mẹ. Chính người con cũng nên dẫn người Mẹ tới gặp ban hộ niệm và hứa
với ban hộ niệm rằng:

Tôi sẽ cố hết sức để khuyên Mẹ tôi
niệm Phật. Xin chư vị giúp Mẹ tôi…

Chính lòng chân thành của người con mà làm
cho ban hộ niệm mới dám nhận cái ca này để hộ niệm. Chứ nếu mình ỷ lại ban hộ
niệm
, mình không chịu tham gia tích cực với họ thì nhiều khi ban hộ niệm đó họ
hộ niệm cũng không được.

Nói chung, nhất định đừng bao giờ
chờ đến phút cuối cùng rồi nhờ ban hộ niệm
… Không hay! Xin thưa chư
vị, phải lo trước…

Nhất định
phải niệm Phật trước
,

Nhất định
phải tạo công phu trước,

Nhất định
nhớ rằng, chúng ta ở đây toàn là những người trên trên sáu mươi tuổi hết trơn.
Một sớm một chiều là xong…

Nếu khôngcông đức để hóa giải những
ách nạn của chính mình, thì sau cùng rồi cũng phải chịu khó khăn! Nếu từ giờ
phút này chúng ta quyết lòng